Thích nữ
Nhất Chi Mai
Mãi
đến sáng ngày rằm tháng tư năm Đinh Mùi tức ngày 23 tháng
5 năm 1967, nhân đi vào xóm Cù Lao lấy nước sư Viên Mãn mới
biết rõ được ngọn ngành cái chết của nữ Phật tử Nhất
Chi Mai.
Trong
một gian nhà nhỏ, năm người tuổi trẻ đang ngồi quanh một
bàn gỗ tre cùng đọc chung một cuốn sách có nhan đề: “
Chết
Mới Được Ra Lời “. Đây là cuốn sách ghi lại
những bức thư của người nữ Phật tử đã tự thiêu mình
lúc 7 giờ 20 sáng ngày 8 tháng tư năm Đinh Mùi tức ngày Phật
Đản thứ 2511. Chị tên là Phan Thị Mai, sinh viên trường
đại học Văn khoa Sài Gòn và đại học Vạn Hạnh, đã tự
thiêu tại chùa Từ Nghiêm.
Chị
Nhất Chi Mai đã viết lời cuối cùng:
Tôi
viết tất cả 10 bức thư để lại.
Ngày
mai tôi sẽ lo lắng một mình tôi, buổi lễ tự thiêu.
Tôi
cho các nhà báo, nhiếp ảnh hay và một ít bạn thân đến
nơi tôi dự định mà không cho họ biết trước chuyện gì
sẽ xảy ra.
Tôi
mua 10 lít xăng.
Địa
điểm tôi chọn lựa là chùa Từ Nghiêm. Tôi có ý đến nhà
thờ Đức Bà hay một nơi công cộng có tính cách lịch sử
một chút, mà thôi !
Phía
trước mặt tôi, tôi đặt hai bức tượng :
Đức
Maria với hai bàn tay đưa ra.
Đức
Quán Thế Âm với đôi mắt dịu hiền.
Cả
hai nhìn tôi và ban ơn cho tôi tròn ước nguyện.
Trước
mặt và sau lưng tôi có hai biểu ngữ tôi viết :
Con
chấp tay quỳ xuống
Xin
Đức Mẹ Maria
Đức
Quán Âm Phổ Hiền
Cho
con tròn ước nguyện
Và
Xin
đem thân làm đuốc
Xin
soi sáng u minh
Xin
tình người thức tỉnh
Xin
Việt Nam hòa bình
Cầu
xin cho tôi can đảm, bình tĩnh mà ngồi yên trong lửa đỏ.
Tôi
sẽ quỳ xuống chấp tay niệm Phật và thầm gọi Việt Nam.
Người
tự thiêu cầu hòa bình.
Thích
Nữ Nhất Chi Mai tự Nhất Chi, pháp danh Diệu Huỳnh.
Sinh
viên đại học Văn Khoa Sài Gòn.
Sinh
viên đại học Vạn Hạnh.
Đây
là bức thư ở cuối trong cuốn “lưu bút” dày 23 trang viết
một mặt của Phan Nhất Chi Mai. Nghe đọc xong lời tự thuật
sau cùng của Nhất Chi Mai, sư Viên Mãn vô cùng xúc động.
Trước đây khi Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu vào
ngày 20 tháng 4 năm Quí Mão (tức 11/6/1963) để cúng dường
Phật pháp và thúc đẩy chính quyền Ngô Đình Diệm bình đẳng
trong việc đối xử với Phật giáo, thì lòng của nhà sư
tràn đầy niềm hân hoan cảm phục một vị bồ tát đã hiến
thân cho chánh pháp. Khi nghe tin Nhất Chi Mai tự thiêu cho hòa
bình và trên báo chí chỉ đăng những khoảng trắng lớn với
cái tên Nhất Chi Mai, lòng sư Viên Mãn tự nhiên xôn xao cảm
động. Cho nên khi nghe đọc đoạn văn trên nhà sư có ngay
một tâm nguyện: phải ghi, phải thuộc tất cả những bức
thư tuyệt mệnh của Nhất Chi Mai. Nhà sư đã tạm hoãn việc
lấy nước lên cho đảo và đã chăm chỉ ngồi chép lại các
tư liệu về Nhất Chi Mai. Có hai bài thơ mà sau khi chép xong
thì nhà sư đã thuộc .
Bài
thứ 1 :
Lời
trăn trối của người yêu Việt Nam
Việt
Nam, Việt Nam ơi
Nghe
chăng lời trăn trối
Của
người yêu Việt Nam
Yêu
tiền nhân cách mạng
Yêu
lứa tuổi hai mươi
Yêu
cô nhi, quả phụ
Yêu
thương nhất tù đày
Yêu
khắp dãy non sông
Yêu
từng giọt máu hồng
Cả
người hiền kẻ dữ
Việt
Nam, Việt Nam ơi
Sao
cứ mãi thù hằn?
Sao
bắn giết mà vui?
Nhưng
rồi ai thua đó?
Vinh
nhục này ai mong
Bỏ
danh từ nhãn hiệu
Chúng
mình người Việt Nam
Chân
thành tay mình nắm
Quên
mình lo nước non
Việt
Nam , Việt Nam ơi!
Thích
nữ Nhất Chi Mai tự Nhất Chi di chúc
Sài
Gòn 25.4.1967
Hình
chụp bên phải (Click xem hình lớn hơn) là bia kỷ niệm Thích
nữ Nhất Chi Mai tại khuôn viên chùa Pháp Vân Saigon
Bài
thứ 2:
Chắp
tay tôi quỳ xuống
Sao
người Mỹ tự thiêu?
Sao
thế giới biểu tình?
Sao
Việt Nam im tiếng
Không
dám nói hòa bình.
Tôi
thấy mình hèn yếu
Tôi
nghe lòng đắng cay
Sống
mình không thể nói
Chết
mới được ra lời.
Hòa
bình là có tội!
Hòa
bình là Cộng sản!
Tôi
vị lòng nhân bản
Mà
muốn nói hòa bình!
Chắp
tay tôi quỳ xuống
Chịu
đau đớn thân này
Mong
thoát lời thống thiết!
Dừng
tay lại người ơi!
Dừng
tay lại người ơi!
Hai
mươi năm nay rồi
Nhiều
máu xương đã đổ
Đừng
diệt chủng dân tôi!
Chắp
tay tôi quỳ xuống.
Thích
nữ Nhất Chi Mai tự Nhất Chi
Kính
cáo.
Trước
đây vào lúc 14 giờ 30 ngày 26 tháng 1 năm 1965 ( tức 24 tháng
chạp năm Giáp Thìn ) tại vườn hoa trước tòa Hành chánh
tỉnh Khánh Hòa cô Đào Thị Yến Phi con của ông Đào Trọng
Bình và bà Lê Thị Vượng ngụ tại số nhà 20/30 hẻm Lê
Thánh Tôn đã tự thiêu trước hàng ngàn người tụ hội tại
đây để phản đối chính quyền Nguyễn Văn Hương. Đào Thị
Yến Phi sinh ngày 6 tháng giêng năm Mậu Tý ( tức ngày 15
tháng 2 năm 1948 ) quê làng Đan Phượng tỉnh Hà Đông. Cô là
Phật tử có pháp danh Nguyên Thường tự Diệu Mai. Cuộc tự
thiêu của cô do tình nguyện và không được một đoàn thể
nào tổ chức. Cô có để lại những bức tâm thư song không
được phổ biến rộng rãi trong nhân dân.
Ngồi
ngắm nhìn biển cả nhà sư liên tưởng đến sự hy sinh của
hai nữ Phật tử. Cả hai đều là hai vị nữ bồ tát, công
đức như nhau. Mỗi vị tùy duyên mà thành sự nghiệp. Bể
cả mênh mông có trăm nghìn con sóng, tùy gió to biển động
mà tạo thành, tuy nhiên sóng bao giờ cũng vẫn là sóng, tất
cả vẫn thuộc về với biển xanh.
Đêm ba mươi
Tết
Chiều
ba mươi Tết, sư Viên Mãn đã có mặt trên núi Sinh Trung. Theo
thông lệ tuy đã có chùa riêng để tiện viêc tu tập song
các vị sư vốn xuất thân từ chùa Kỳ Viên Sinh Trung đều
hội tụ về chùa chính. Mỗi tháng đều có mặt hai lần:
ngày mồng một và ngày rằm. Cuối năm thường hiện diện
trong các ngày trước Tết để chăm lo Phật sự. Chiều
ba mươi Tết sau khi chùa hành lễ xong, các vị sư mới trở
về chùa riêng. Năm nay sân chùa Kỳ Viên thiện nam tín
nữ tập trung đông hơn mọi năm. Buổi lễ diễn ra rất trật
tự và trang nghiêm. Khi mọi người ra về, sư chú Viên Mãn
lên vấn an sư trụ trì và xin phép được về lại chùa Từ
Tôn Hòn Đỏ.
Cu
Hùng (con anh Sáu Sài Gòn) vẫn ngồi trên chiếc thuyền thúng
đợi nhà sư. Buổi chiều ba mươi trên bến Hòn Đỏ dường
như vắng lặng hơn. Gió hiu hiu thổi bóng chiều trên sóng
nước. Màu trời xanh thắm hòa cùng màu nước biếc của trùng
dương. Hòn Đảo cô đơn càng thêm xa vắng. Thuyền qua mau
và trở về đất liền cũng mau. Thời gian chiều cuối năm
như vội vàng thu ngắn lại. Sư Viên Mãn vẫn âm thầm nhẹ
bước trên dốc mòn quanh co. Dáng đi thong thả trong bóng chiều
đậm nhạt, bên tiếng sóng thầm thì. Chiều cuối năm trên
hải đảo Hòn Đỏ vẫn quạnh hiu như những chiều thường
nhật. Và buổi lễ cúng tất niên cũng đơn sơ và trôi mau
trong dáng chiều tan dần trên sóng biếc. Lễ tất niên để
đón giao thừa đã được chuẩn bị sẵn sàng, nhà sư ra ngồi
nơi gành đá đăm chiêu nhìn về thành phố Nha Trang.
Tuy
chưa đến giờ giao thừa song một đôi nơi trong thành phố
đã có đốt pháo mừng xuân. Có lẽ đó là tiếng pháo tiễn
đưa năm cũ của những gia đình làm lụng cực nhọc cho đến
ngày cuối năm mới được rảnh rang đưa tiễn ông bà.
Chiều
nay biển khơi lặng sóng. Dáng núi Hòn Tre in đậm lên bầu
trời và mặt biển có màu xanh thẫm. Trong tiếng sóng vỗ
chung quanh Hòn Đỏ có tiếng reo vui, như sóng nước đang đón
mừng năm mới sắp về. Mùa xuân rộng trải dáng xuân trên
mặt biển bao la. Ngồi trong nhà chúng ta chỉ thấy mùa xuân
phảng phất trên bàn thờ tổ tiên, trong khói trầm nghi ngút.
Ngồi trên hải đảo Hòn Đỏ ta mới nhìn thấy mùa xuân ôm
trùm lấy quê hương trong sự dịu dàng đằm thắm. Màu xanh
của trời biển là màu xanh của mùa xuân, không riêng cho một
ai, không dành cho một ai. Mọi người đều đón nhận, mọi
người đều chung vui và là của chung tràn ngập cho tất cả
mọi người.
Trong
hương nồng biển cả thoang thoảng mùi hương trầm tự núi
Chúa thoảng về. Nơi đỉnh Hòn Đỏ khói hương trầm từ
Tháp Bà Thiên Y A Na thoảng đến, khi có khi không. Lòng sư
Viên Mãn tràn ngập niềm vui, tràn ngập hạnh phúc của đất
trời đem đến. Đêm đến trên hải đảo tự bao giờ. Màn
đêm lặng lẽ bao trùm, các ánh sao trời đua nhau bừng nở.
Trời trong và biển cũng trong xanh. Hương xuân mặn mà trong
gió biển, âm thanh mùa xuân như thì thầm trong sóng biển và
lòng người như bao la cùng đại dương. Có ngồi trên
Hòn Đỏ đón xuân, mới thấu hiểu được niềm vui lớn của
con người trước vũ trụ bao la, mới thấu hiểu được sự
yên lặng đón chào mùa xuân của các vị thiền sư khi nhập
định: xuân có mặt khắp nơi, trong từng khoảnh khắc thời
gian, khắp vũ trụ. Xuân có trong 4 mùa, có trong từng sát na
bên cạnh chúng ta.
Năm
nay tuy chưa đến giờ giao thừa mà tiếng pháo đón mừng xuân
mới đã rộn ràng, nổ rang rang. Bỗng nhiên khắp nơi đều
vang lên tiếng pháo. Xen lẫn có đôi tràng súng nổ. Xuân đã
về. Xuân đã về.
Từ
Hòn Đỏ, nhìn về đất liền ngoài những ánh chớp của pháo
còn có những lằn đạn đạo màu đỏ vạch chằng chịt lên
bầu trời. Về hướng đồi Sinh Trung thì hướng đạn đi
từ trên xuống.Từ đồi Trại Thủy hướng đạn lại từ
dưới lên trên và cũng có hướng từ trên xuống dưới. Chen
trong tiếng pháo lại có tiếng súng nổ rõ mồn một. Người
dân Nha Trang ngỡ rằng năm nay nhân dân đón mừng năm mới
cùng với quân đội trú đóng nơi phố phường. Mùi thơm của
hương pháo lẫn với mùi khét của khói đạn.
Người
xuất hành du xuân đã xuất hiện trên các ngã đường đi
về hướng Tháp Bà hoặc chùa Long Sơn hay mọi ngã đường
ra biển Nha Trang. Từng đoàn xe gắn máy chạy nối đuôi theo
nhau khắp ngã đường. Phần nhiều phía sau xe có kéo theo những
chiếc lon sữa bò, những chiếc lon coca cola hoặc những lon
bia trống lòng. Tại các khu quân sự có nhiều bóng người
lặng lẽ như đang đứng chờ xuân đến, trong bóng đêm, trong
tiếng pháo rộn ràng.
Đúng
23 giờ 30 đêm giao thừa 29 Tết tại sân bay Nha Trang có tiếng
súng dòn dã và kho đạn tại sân bay bốc cháy. Bầu trời
phía Tây Nha Trang nơi vùng khu sân bay rực sáng do pháo sáng
của đèn dù từ máy bay C47. Lệnh báo động được được
ban hành song rất ít người chú ý và cuộc đốt pháo đón
xuân vẫn náo nức tiếp diễn. Xe cộ chở người đi hái lộc
trên đường phố vẫn rộn ràng. Phối hợp với tình hình
này, quân giải phóng tiến công vào các đồn bót đóng tại
Nha Trang theo ba cánh quân:
Cánh
quân A là cánh quân chủ yếu có nhiệm vụ đánh vào 3 mục
tiêu quan trọng: Tỉnh đường,Tiểu khu và Bộ Chỉ huy Tiếp
vận 5. Sau hơn 10 phút các mục tiêu bị chiếm lĩnh.
Cánh
B tiến chiếm đài phát thanh song vì lạc đường nên mãi đến
2 giờ sáng mới chiếm được căn cứ trên đồi Trại Thủy
và tấn công chiếm đài phát thanh, song không thành.
Cánh
C có nhiệm vụ tiến chiếm tiểu đoàn 65 truyền tin, tiểu
đoàn vận tải và đại đội công binh cầu nổi. Trận chiến
xảy ra ác liệt. Một trung đội công binh có nhiệm vụ phá
cầu Xóm Bóng bị phát hiện và có sự chống cự kịch
liệt nên cầu không thể phá được. Tình hình chiến sự
mãi đến sáng mồng hai mới tạm thời lắng dịu.
Hằng
năm, chùa Từ Tôn nơi Hòn Đỏ sáng mồng một, các bổn môn
đệ tử cùng khách du lịch hành hương đã tấp nập qua đò
lên núi, thăm chùa. Đây là một cuộc hành hương trong dịp
đầu xuân giữa trời mây biển cả. Du khách đi từng toán
nhỏ, dạo quanh chùa, ngắm biển cả và nhất là để thắp
nhang đầu xuân. Ngôi chùa nhỏ nhắn nhưng tĩnh lặng trong
hương khói uy nghiêm. Tiếng du khách nói thì thầm với nhau
như hòa cùng tiếng sóng vỗ nhẹ dưới chân đảo.
Năm
nay (năm Mậu Thân) mãi đến ngày mồng năm mới có một vài
đạo hữu qua đò lên đồi thắp hương. Trên thực tế đêm
mồng một chùa đã có ba vị khách đặc biệt đến xông đất
nhà chùa. Đó là ba chiến sĩ quân giải phóng thuộc trung đội
công binh có nhiệm vụ phá cầu Xóm Bóng để chặn quân từ
trường Hạ sĩ quan Đồng Đế sang tiếp viện cho thành phố
Nha Trang. Lực lượng giải phóng từ Núi Sạn tiến qua Ngọc
Thảo, khi gần tiếp cận với cầu thì bị phát giác.
Sau khi giao tranh và nhận thấy hỏa lực địch quá mạnh nên
trung đội công binh buộc lòng phải rút lui về núi Sạn. Trong
cuộc chiến có ba chiến sĩ bị lạc đồng đội và nương
tạm vào nơi Xóm Bóng. Nhân thấy có một chiếc thuyền thúng
cột neo dưới nhà sàn nơi mé sông, ba chiến sĩ đặc công
liền dùng làm phương tiện nhẹ nhàng chèo qua Hòn Đỏ. Giấu
thuyền nơi một hốc đá khuất lấp, ba chiến sĩ leo được
lên đến chùa Từ Tôn. Sư Viên Mãn đã tiếp đón ba chiến
sĩ rất ân cần và tiếp tế thức ăn (chỉ có mì chay lá
vị trai). Tối hôm sau ba chiến sĩ xuống thuyền thúng rời
hải đảo Hòn Đỏ trở về đơn vị.
Sau
này khi kể lại câu chuyện, nhà sư đã tâm sự:
Ban
đầu khi gặp ba vị quân giải phóng, tôi rất ngạc nhiên.
Ngạc nhiên vị nơi hải đảo hẻo lánh và xa xôi này rất
có ít khách tham quan thì làm sao các anh bộ đội ở tận nơi
chiến khu xa thẳm biết được nơi này có chùa, có người
trú ngụ mà ghé đến nương nhờ khi hoạn nạn. Sau khi trò
chuyện, sư mới biết đây chỉ là một sự tình cờ. Ban đầu
các anh chỉ định tạm trú trong hang đá để tối hôm sau
lẻn về đất liền đi tìm đồng đội. Nhưng mờ sáng
hôm đó nghe được tiếng chuông tiếng mõ và tiếng tụng
kinh vẳng từ trên chùa xuống nên ba chiến sĩ quyết định
lên xin chùa giúp đỡ vị đói và khát.
Gặp
sư Viên Mãn các anh không giấu giếm thân phận mình và đã
được nhà chùa giúp đỡ. Được biết rằng chùa này chỉ
có một mình sư Viên Mãn trụ trì và với tình hình hiện
tại thì sẽ không có ai ra đảo cho nên ba chiến sĩ giải
phóng yên tâm nằm đợi đến tối vào bờ trở về đơn vị.
Gần
40 năm trôi qua, sư Viên Mãn không gặp lại ba chiến sĩ năm
xưa nhưng kỷ niệm cuộc gặp gỡ ba người vẫn còn in đậm
như sóng nước quanh hải đảo Hòn Đỏ.
Nương chân
trên Đảo
Con
trăng thượng tuần nghiêng nghiêng về phía Tây. Màu trời
trong xanh như thẫm lại. Cuối phương trời một ánh sao rực
rỡ. Biển đông trầm lặng giữa đêm khuya. Dưới chân Hòn
Đỏ tiếng sóng vỗ vào vách đá nhịp nhàng êm ả. Cảnh
vật trên đảo hoàn toàn yên lặng. Vừa xong buổi kinh khuya,
sư Viên Mãn lặng lẽ ra đứng dưới tàn xoài nhìn mảnh trăng
khuya nương mình sau lưng pho tượng kim thân Phật tổ trên
ngọn đồi Trại Thủy. Ánh trăng mờ nhạt bao phủ khắp trời.
Biển khơi yên lặng triền miên dưới ánh trăng mờ nhạt.
Bỗng nhiên trong không gian yên lặng nổi lên một loạt súng
và tiếng la ơi ới từ hướng đất liền. Tiếp theo là tiếng
máy thuyền nổ lớn và từ Hòn Chồng có bóng hai chiếc thuyền
máy lướt sóng chạy ra khơi. Chiếc trước chiếc sau như đang
đuổi bắt nhau. Thoáng một lát sau, tiếng động cơ như chìm
hẳn vào lòng biển cả. Không gian lại trở nên yên lặng,
nhà sư chậm rãi về căn lều nằm kề bên hiên chùa.
Tờ
mờ sáng hôm sau, đang nằm yên lặng trong cơn gió ban mai hiu
hiu mát, sư định trở dậy để tụng kinh sáng thì bỗng nghe
như có tiếng động sau hiên chùa. Trong không gian tĩnh lặng
tiếng động tuy nhẹ nhàng song không thể nào lẫn lộn với
hơi gió sáng. Trăng đã khuất từ lâu và tuy đã gần mờ
sáng song màn đêm vẫn còn bao phủ lấy không gian hải đảo.
Thắp vội ngọn đèn dầu leo lét, sư trụ trì lần bước
ra sân. Trên sân chùa có một thây người đang nằm sóng sượt.
Áo quần ướt đẫm, đầu tóc rối bời. Vội vàng bưng đèn
đến soi tận mặt nhà sư biết được là một người con
gái còn đang thoi thóp. Dìu nạn nhân vào chùa và lo phần cứu
chữa. May mắn thay nạn nhân chỉ ngất đi vị quá mệt.
Sáng
hôm sau khi tỉnh dậy nạn nhân cho biết mình là một kẻ theo
gia đình vượt biên, bị phát hiện và lên thuyền chạy trốn.
Khi đến vùng biển khu vực Hòn Đỏ thấy ghe không thể nào
chạy thoát, đương sự đã khẽ lén chuồi mình xuống biển
và bơi vào bờ. Vào đến bờ, nương theo đợt sóng, bám được
vào đá, đương sự chui mình vào ẩn giữa một khe đá. Tuy
đã mệt mỏi song vị lý do sinh tồn nên đương sự đã cố
gắng bò dần lên đến sân chùa và đã ngất đi.
Sau
đây là lời kể lại của nạn nhân:
- Thưa
thầy, con tên là Liên. Gia đình con sống tại thành phố Hồ
Chí Minh, gốc của gia đình tại tỉnh Long An. Cha con đi lính
cho chính quyền miền Nam. Mẹ con là giáo viên dạy cấp một
được nhà nước lưu dung song phải đi phục vụ tại vùng
kinh tế mới Minh Xuân. Gia dình con gồm 4 người, con là con
gái lớn duy nhất. Để giúp đỡ gia đình con tự thôi học
năm lớp bảy, ở nhà theo bà con lối xóm đi buôn. Con từ
Long An ra Nha Trang mua lưỡi câu, nhợ câu. Mỗi tuần đi một
chuyến. Tiền lời kiếm được cũng đủ nuôi sống gia đình.
Đi buôn được vài chuyến thì con quen biết với gia đình
ông chủ tiệm buôn, ông hứa giúp con vượt biên cùng với
gia đình. Thấy gia đình chủ hiệu thật lòng thương mến,
nên con đã về thưa với mẹ và tuy không muốn cho con
ra đi tìm sinh kế nơi đất khách quê người song tình cảnh
gia đình hiện tại đang lâm vào cơn nguy biến không có lối
thoát nên mẹ con chấp thuận cho sự ra đi này. Gia đình ân
nhân của con chỉ còn có hai vợ chồng. Các người con đều
đã ra nước ngoài bằng đường biển hoặc bằng đường
bộ qua ngõ Campuchia. Con ra Nha Trang ở được một ngày một
đêm. Đêm hôm qua con theo một đoàn người ra nhà một
khách hàng ở cạnh Hòn Chồng. Chiều đó chúng con lên thăm
Tháp Bà và ăn cơm chiều nơi một quán ăn nhỏ trong khu gần
đường cái quan rẽ vào Hòn Chồng. Chúng con lặng lẽ đi
từng người một ra đến mé biển Hòn Chồng. Chúng con ngồi
trong những hốc đá, trong các lùm cây, yên lặng, hồi hộp.
Gần
khuya thì có tiếng ghe máy ghé vào bờ. Khi rời khỏi nơi ẩn
nấp con mới trông thấy còn có một số người đồng loạt
xuất hiện. Chúng con lên hai chiếc ghe máy. Mỗi ghe chứa hơn
10 người. Khi ghe nổ máy chạy ra khơi thì trong bờ có tiếng
người hò la kêu réo gọi ghe quay trở lại. Đồng thời có
nhiều lọat súng bắn lên trời. Sau đó có tiếng động cơ
của ghe máy nổ giòn giã xông thẳng về hướng ghe của chúng
con. Chiếc ghe của bọn con chạy trước nhưng khi vượt qua
mõm Hòn Chồng thì động cơ bị trục trặc. Chiếc ghe thứ
hai vượt qua mặt và cứ thẳng tiến về hướng biển khơi.
Chiếc ghe của con lại nổ được máy song chạy được vài
mươi mét thì máy lại đứng. Phía sau, ghe biên phòng đuổi
gần kịp. Bỗng nhiên toàn thể mọi người trên thuyền đều
đồng
loạt thốt lên tiếng khóc.
Trong
không gian tĩnh lặng của biển cả về khuya, tiếng khóc vang
lên đầy não nùng và đau khổ. Kính thưa thầy, khi con nghe
tràng tiếng khóc bi ai này thì lòng con chợt nhớ đến cha
mẹ và các em con. Con cảm thấy trong tiếng khóc bi thương
có tiếng khóc của gia đình con. Lòng thương yêu cha mẹ và
gia đình lên đến tột cùng. Rồi bỗng nhiên con lao mình vào
lòng nước. Mọi người trên thuyền đang sống trong tâm trạng
lo sợ nên chắc đã tưởng rằng con bị ngã xuống biển trong
cơn hoảng lọan. Thật tình con đã vì nghĩ đến gia đình
nên đành tìm cách thoát thân bằng cách liều mình với biển
cả, mong thoát được cảnh bị bắt khi vượt biên. Nhà con
vốn ở gần bên bờ sông rạch nên từ nhỏ con đã quen với
việc bơi lội. Tuy chưa từng bơi ở biển song con vẫn tin
tưởng rằng nếu xuống được dưới nước thì con sẽ sống
sót. Cho nên khi con lặng lẽ tuột xuống mạn thuyền mà không
một ai để ý đến và khi đến mặt nước thì con âm thầm
lặn ra xa chiếc thuyền đang bập bềnh trong tiếng khóc tuyệt
vọng của hơn 10 con người chỉ toàn là đàn bà con nít.
May
mắn cho con là màn đêm còn giăng kín mặt biển và nhất là
bóng núi của Hòn Đỏ vẫn in hằn lên bầu trời thưa thớt
ánh sao khuya. Tiếng khóc la bỗng nhiên im bặt khi tiếng máy
của động cơ thuyền biên phòng đến sát mạn thuyền vượt
biên. Và thuyền được kéo vào bờ. Con lặng lẽ bơi đứng
một chỗ chờ cho thuyền chạy đi xa mới nhắm hướng Hòn
Đỏ bơi vào. Lúc này còn một mình trong vùng đen của biển
con mới thấy hoảng sợ và cô đơn. Tuy nhiên nhờ nơi lòng
thương mẹ cha và gia đình nên con cố gắng lội cho đến
khi chạm vào mảng đá đầu tiên trên Hòn Đỏ. Tuy mình đầy
các vết xước vị hàu, vị đá nhọn song con vẫn tin rằng
con đã được Trời Phật hộ trì nên bơi được đến đảo.
Nhờ ở ý chí muốn sống mà con đã có đủ sức mạnh để
nương theo những con sóng, trườn nhẹ lên bờ đá. Nhờ vào
những khe đá đầy hàu nhọn mà con bám được để nhoi mình
lên khỏi mặt nước. Lần mò con đã đến được hòn đá
lớn đứng sừng sững bên mé nước. Dưới chân đá có bãi
cát, con biết rằng mình đã thoát chết và đã đến được
chân đảo. Yên tâm là mình được thoát nạn con nằm ngửa
mặt nhìn bầu trời cao rộng. Rồi con thiếp đi lúc nào không
hay.
Khi
con thức giấc thì biển nơi phương đông đã hừng sáng. Một
vài ngôi sao sáng rực trên vòm trời. Biết trời đã rạng
đông và mình đã được sống sót song cần phải cố gắng
tìm cách lánh thân. Con vội vàng nhổm dậy và nương ánh sao
trời tìm hướng lên trên đồi. Trước đây con đã từng
ra thăm Hòn Chồng và mắt con đã nhìn thấy Hòn Đỏ chập
chờn trên sóng nước và trên đỉnh đảo có một ngôi chùa.
Con hy vọng là nếu lên được đến chùa thì cuộc đời con
sẽ thoát khỏi sự bắt bớ vì vượt biên và sẽ an toàn
trở về quê cũ. Hơn một giờ lần mò đi trong ánh sao lờ
mờ con đến được sân chùa. Con vừa quỳ xuống để tạ
ơn đức Quán Thế Âm Bồ tát thì bỗng nhiên con thấy
trời đất chao đảo và con ngã xuống ngất đi.
Sau
một tuần tịnh dưỡng Liên đã rời chùa trở về Long An.
Về thăm
chốn cũ
Buổi
trưa hôm đó nằm dưới bóng cây xoài bên hiên chùa, nhà sư
Viên Mãn đang trầm lặng nhìn bóng lá xoài lao xao trước gió.
Bỗng nhiên nơi hiên chùa một bóng người hiện ra đứng yên
lặng trên đầu chiếc ghế nằm của nhà sư.
- Bạch
thầy, có lẽ thầy không còn nhớ con, nhưng con vẫn nhớ đến
thầy suốt gần bốn mươi năm qua. Con xin tự giới thiệu,
con là một trong ba người lính miền Bắc đã được
thầy cứu giúp trong những ngày tổng công kích Tết Mậu Thân.
Anh em chúng con sống với sự che chở của thầy trong hai ngày
đêm và mãi đến hôm nay con mới có dịp trở lại nơi hòn
đảo này để cảm ơn thầy.
Nhà
sư vui mừng ngồi nhổm dậy, cầm lấy tay người khách phương
xa.
Qua
câu chuyện hàn huyên nhà sư đã biết được rằng xưa kia
có ba người nay chỉ còn có một. Trên con đường chinh chiến
họ không được ở gần nhau và hai người kia đã anh dũng
hi sinh nơi tiền tuyến.
- Bạch
thầy, khi tổ quốc thống nhất con được phục viên và mãi
chăm lo sinh kế nên con không có dịp vào Nam thăm lại những
người cũ, nhất là những ân nhân đã giúp đỡ con trong những
phút giây nguy biến. Hai người bạn năm xưa nay không còn nữa.
Con vì mãi lo sinh kế cho gia đình nên mặc dù rất nhớ
miền Nam song khó có dịp vào thăm. Nay con đã đầy đủ về
mặt tài chánh nên con nhất định vào Nha Trang thăm lại cảnh
cũ cách đây gần bốn mươi năm.
Nhà
sư yên lặng lắng nghe những nỗi niềm của chàng trai năm
xưa. Sự gặp gỡ đột nhiên này đã gây không ít cảm động
trong lòng vị sư già. Kỷ niệm gần bốn mươi năm xưa, mặc
dù thời gian đã xóa đi nhiều chi tiết song khi người xưa
trở về đột ngột thì hình ảnh xưa lại vụt trở về một
cách bất ngờ. Tình cảm này giống như tình cảm ruột
thịt của những người thân thương lâu ngày xa nhau. Tuy gặp
gỡ một thời gian ngắn song tình cảm thiêng liêng vì từ
bi, vì nghĩa vụ cho nên tình cảm này đã trở thành tình cảm
thân thương vô cùng sâu sắc. Người khách phương xa đã kể
lại những tháng ngày chiến đấu trên khắp các chiến trường,
những chiến công, những mất mát trong cuộc đời quân ngũ.
Và nhất là sự thành công khi tìm đúng hướng đi trong
việc mưu sinh.
- Được
giải ngũ về lập gia đình và cả nhà đã vui lòng đi lập
nghiệp trên vùng núi rừng Tây Bắc. Ban đầu có những thất
bại vị không có kinh nghiệm và nhất là không có cơ sở
kinh tế và tài chánh nên gia đình nhiều năm đã lâm vào cơ
cực. Mãi đến sau này gia đình mới thành công trong việc
khai khẩn đất hoang, trồng cây ăn quả, nuôi cá và chăn nuôi
súc vật. Con cái bây giờ đã vào đại học. Thu hoạch đã
tạm ổn định. Cho nên con đã quyết định gởi nhà cho vợ
và vào Nam một chuyến dài ngày.
Từ
đất liền, người phương xa đứng ngắm hình bóng hòn đảo
tuy đến có một lần song vô cùng thân thương. Những hình
ảnh ngày xưa tị nạn bỗng chốc hiện về khiến lòng nao
nao như sóng vỗ quanh đảo. Ân tình tuy không lớn lao, song
niềm thương mến đã khắc sâu vào tâm khảm. Tình nghĩa quân
với dân, đồng bào với bộ đội trong những tháng ngày chiến
đấu, nhất là những ngày biến động Tết Mậu Thân. Một
gói mì chay, một bát cháo trắng và nhất là một tấm lòng
an lành trìu mến của nhà sư. Không nói nhiều, chỉ chăm sóc
trong thầm lặng, trong khả năng của một nhà tu hành
nơi hẻo lánh đơn sơ. Lặng lẽ như một chiếc bóng, nhà
sư vừa làm Phật sự vừa lo lắng cho sức khỏe từng người.
Gần
bốn mươi năm qua mà như mới ngày nào khi người khách viễn
phương gặp mặt lại nhà sư. Vẫn khổ người nhỏ nhoi ốm
yếu, tuy thời gian đã để lại nhiều nếp nhăn trên gương
mặt, sự chậm chạp trong dáng đi. Nhưng trí nhớ của nhà
sư lại bền vững với thời gian. Vừa gặp nhau nhà sư đã
nhận ra và đã kể lại những gì đã xảy ra đêm hôm
đó. Nghẹn ngào vị cảm xúc, người khách phương xa cầm
lấy tay sư cụ không thốt được nên lời. Bỗng nhiên như
không cầm lòng được, vị khách viễn phương ôm chầm lấy
sư cụ, miệng thốt nên lời: “Con không bao giờ quên
được sư cụ. Rất nhớ đến công ơn của sư cụ”. Rồi
nghẹn ngào không nói được gì thêm.
Niềm
thân thương khi gặp lại người ân nhân cũ vẫn trong khung
cảnh xưa, vẫn là con người xưa không có chút gì thay đổi.
Ngọn đảo này vẫn sóng và nắng bao quanh. Bóng mát chòm cây,
ngôi chùa nhỏ nhoi vẫn không có gì thay đổi. Lòng người
khách viễn phương nao nao như được trở lại mái nhà xưa.
Vị sư già và khách cùng nhau đi chung quanh đảo như hai người
bạn cố tri. Trong lòng người khách có chút gì xao xuyến khi
nhìn thấy những con sóng vỗ chập chờn lên dãy đá có màu
đỏ đặc biệt bao quanh hải đảo. Gần bốn mươi năm rồi
mà những con sóng này vẫn không có gì thay đổi, những dãy
đá nằm phơi mình dưới nắng vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,
sư cụ có già đi song tấm chân tình vẫn còn làm con tim người
khách viễn phương tràn đầy trìu mến.
Trưa
hôm đó hai người cùng nhau ngồi ăn dưới bóng cây xoài bên
hiên chùa. Thức ăn vô cùng đạm bạc: một dĩa đậu khuôn,
một chút nước tương và một lưng cơm trắng. Cả hai ăn
trong niềm vui tương ngộ, trong niềm vui bất ngờ có được
của một kỷ niệm đã qua, tình cờ đến và cũng tình cờ
thoảng qua như bóng mây trôi trên hải đảo. Khi ba người
lính giải phóng đến cũng như đi, không hò, không hẹn và
lòng của sư cụ không còn vướng bận sự có không. Hôm nay
chỉ còn có một người trở lại, hạnh phúc đoàn viên không
được vẹn toàn song có vẫn hơn không, tấm lòng cố tri vẫn
tràn đầy như biển cả.
Không
ở chơi lâu được với sư cụ, người khách viễn phương
từ giã lên đường. Đảo Hòn Đỏ vẫn cô đơn trên sóng
biếc.
Trở lại
thăm chốn ân tình
Một
buổi ban mai nắng hồng vừa nhuộm thắm hòn Đỏ Từ Tôn
thì sư cụ được một thiếu phụ đến thăm .Trông hình dáng
bên ngoài thì có vẻ một du khách nước ngoài. Màu da trắng
đỏ, đi đứng gọn gàng và nhất là cách ăn nói nhiều văn
phong lễ độ. Vừa trông thấy sư ông người thiếu phụ vội
sụp xuống lạy. Cảnh tượng lạy thầy thường xảy ra song
hôm nay lòng sư ông bỗng nhiên có một cảm nhận khác lạ.
Người thiếu phụ lạ này gợi trong lòng sư ông một hình
dáng quen thuộc. Lạy xong người thiếu phụ bật lên tiếng
khóc nức nở và rồi ôm chầm lấy sư ông. Sự cảm nhận
bỗng chợt đến. Nhà sư thốt lên:
-
Có phải con là Liên đó không?
Ngưng
ngay tiếng khóc, người thiếu phụ tên Liên sung sướng:
- Thưa
ôn, chính con là Liên đây. Con là đứa con gái mà ôn đã cứu
vớt và cưu mang khi con từ cõi chết trở về.
Hai
ôn cháu cùng ngồi dưới hiên chùa chuyện trò thân mật. Thì
ra sau khi từ biệt chùa Từ Tôn, Liên về lại quê nhà ở
Long An và sống lại cuộc đời lao động. Hai năm sau Liên
tình cờ gặp lại gia đình người chủ cũ đã mãn hạn tù
vị tổ chức vượt biên. Họ lại tìm cách ra đi và lại
đem theo Liên. Cả ba đều được định cư tại Hoa kỳ. Rồi
Liên có gia đình và có công việc làm ăn cố định. Lòng
bao giờ cũng muốn về thăm quê hương song cảnh nhà của Liên
ở Long An, cha mẹ không còn nữa và bà con cũng đã phân tán
đi nơi xa. Bạn bè thân quyến không có tin tức gì. Đó
là nguyên nhân làm cho Liên tuy đã trên 30 năm xa đất nước
mà không có dịp trở về. Năm nay nhân có người con vừa
tốt nghiệp đại học và để chuẩn bị trước khi đi
làm nên người con bèn đưa mẹ về thăm lại quê hương. Quê
hương Long An không còn ai là thân thuộc cho nên mẹ con cốt
ý ra Nha Trang để thăm lại vị sư và ngôi chùa trên hải
đảo nơi mà mình được cứu sống và cưu mang trong những
ngày lâm nạn.
Cảnh
trí trên hải đảo xanh tươi hơn lúc trước song mái chùa
xưa vẫn như ngày nào. Liên đã hứa cùng sư ông khi nào chùa
đại trùng tu thì Liên sẽ về đóng góp một ít nhiều công
của. Rồi Liên từ giã sư ông trở về đất liền.
Người thứ
ba trở lại
Mùa
Vu Lan năm Phât lịch 2550 đảo Hòn Đỏ (Từ Tôn) người người
đến viếng thăm đông đảo. Một phần đi lễ chùa, một
phần đi viếng cảnh.
Nhà
sư Viên Mãn tuổi tuy đã già song vẫn còn ngồi tiếp chuyện
với các đệ tử viếng thăm. Trong số quan khách có một người
ngồi đăm chiêu nhìn ra trùng dương bát ngát xanh thẳm. Sư
Viên Mãn chợt nhận ra và sau khi tiễn đưa khách, nhà sư đã
đi đến ngồi bên cạnh vị khách .
-
Bây giờ tôi mới nhận ra ông là ông Phương. Ông đến chùa
đã hơn hai mươi năm rồi. Ngày đó còn thưa khách nên được
nói chuyện với ông, có rất nhiều thích thú.
Sư
cụ cùng với Phương ra ngồi nơi ghế đá dưới cội bồ
đề phía đông Hòn Đỏ. Sau đây là câu chuyện của hai người
tri kỷ về Hòn Đỏ và chùa Từ Tôn (thật ra là chỉ có ý
kiến riêng của vị khách mà thôi)
- Thưa
sư cụ, hai mươi năm trước con lần đầu tiên bước chân
lên Hòn Đỏ, lòng con rất an nhiên và hạnh phúc vị con đã
cảm nhận được nơi này là một cảnh đẹp tự nhiên nhờ
có công thầy mà nên dáng một thắng cảnh của quê hương
Khánh Hòa. Bên cạnh đó ngôi chùa Từ Tôn đơn sơ nhưng đầm
ấm. Giữa cảnh hoang vu và khô héo này có được một ngôi
chùa, một vị sư lấy sức lao động bản thân để xây dựng.
Là một kỳ tích, là một minh chứng cho cõi đời đầy phức
tạp này có một công trình khiêm nhường nhưng rất đáng
kính phục.
Hôm
nay con trở lại nơi này, cảnh vật đã khác xưa nhưng con
có một vài ý nghĩ cá biệt. Bạch sư cụ, cảm nghĩ đầu
tiên của con là cảnh chùa hôm nay đẹp đẽ và tươi nhuận
hơn mấy năm trước. Ở khắp nơi trên Hòn Đỏ đều có hình
tượng bóng dáng của các chư vị Phật. Hòn Đỏ hôm nay có
đầy đủ uy thế của một danh lam. Tuy nhiên con không khỏi
nao lòng khi nhìn cảnh tượng khắp đó đây đều lưu quá
nhiều bút tích, tượng Phật trên bãi đá, vách đá, hốc
đá. Đã biết rằng nơi nào cũng là đất Phật, hiện thân
của đấng từ bi hằng luôn có trong mọi nơi, mọi chốn.
Song lòng con không thể nào ngăn được ý nghĩ là chúng ta
đã thế tục hóa Hòn Đỏ. Trước đây con có một ý nghĩ
rằng Hòn Đỏ là một thắng cảnh để du khách đến chiêm
ngưỡng cảnh trời mây biển nước và lắng lòng đón nhận
hương vị thiền khi từ thế giới thiên nhiên bước chân
vào chốn thiền viện. Con vẫn hằng ao ước rằng chùa Từ
Tôn luôn luôn là một thiền viện, một ngôi chùa khiêm nhượng
chào đón du khách sau khi đã ngắm no đủ cảnh sắc thiên
nhiên, để bước vào tĩnh lặng của tâm hồn.
Con
đã hằng ao ước chung quanh đảo, chung quanh chùa có những
hàng cây được trồng quy mô có ích cho chùa và cho cảnh quan,
những bãi đá để môn đồ ngồi tĩnh lặng tham thiền, để
du khách có đôi phút giây ngồi trút bỏ những bận rộn của
thế gian trước trời mây biển cả.
Con
vô cùng buồn bã khi con nhìn thấy nơi bãi đá trước kim thân
Quán Thế Âm Bồ Tát, nơi chòm cây, ghế đá, nơi có thể
coi như là đẹp nhất của đảo, đã có từng nhóm người
ngồi ôm nhau, mùi cá thịt nướng xông bay nồng nặc lẫn
với những tiếng cười đùa phàm tục nghe đến buồn nôn.
Con biết đây là một nỗi buồn của nhà chùa, một bất lực
không thể nào giải quyết, một thảm trạng của sự sa sút
tâm linh của một số thanh niên hiện đại.
Theo
con, ngày trước con đã đi trong tĩnh lặng để nhìn ngắm
cảnh trí trên đảo, lòng đã gặp thiên nhiên, hồn đã gặp
được nét u trầm của chùa. Bóng chùa đã để lại trong
hồn con một cảnh tượng xa xưa đã từng có trên chùa Linh
Phong (còn gọi là chùa ông Núi ở Phù Cát, Bình Định.) Trong
danh thắng có danh lam. Trong bóng mát của rừng có bóng ẩn
hiện của mái chùa. Còn bây giờ thì dường như Hòn Đỏ
đã bị thế tục hóa đi ít nhiều.
Vẫn
nhìn ra ngoài biển cả mênh mông, sư Viên Mãn chậm rãi nói
trong suy tư:
- Tất
cả đều là giả tạm. Cảnh con đang thấy trước mắt cũng
là giả tạm. Nay đang có thì ngày mai có thể không còn nữa.
Tất cả những điều con trông thấy là sự thật. Nhưng sự
thật trong một giai đoạn nhất thời. Con nên biết: tất cả
đều là vô thường. Những tượng Phật trên bãi đá, trong
hốc đá, dưới bóng cây, trước đây bốn mươi năm không
hề có. Rồi một mai cũng sẽ mất đi và chỉ còn biển và
đá, trời và mây. Tất cả đều là giả tạm. Cái còn lại,
chỉ còn trong tâm của con mà thôi. Để tâm hồn được yên
tịnh, con nên suy ngẫm và chiêm nghiệm hai câu thơ này:
Nước
mây hằng tự tại
Vàng
đá chẳng vô tri
Hãy
tìm hiểu cho thật thâm sâu, con sẽ nhận thức được những
ảo diệu của câu thơ. Và thông suốt tư duy về cõi đời
này.
Thay lời
kết
Nơi
vườn chùa, ngoài hoa cỏ tốt tươi còn có một cây cảnh
bằng lăng được trồng trong một chiếc thuyền thúng. Chiếc
thuyền nầy đã từng đưa nhà sư Viên Mãn qua lại từ đất
liền đến Hòn Đỏ, nhất là trong công việc chuyển tải
nước, đất trồng trọt trong những tháng ngày mới khai phá
và xây dựng hoang đảo. Kỷ niệm ghi dấu ban đầu còn có
cây bằng lăng mọc côi đơn trên đảo. Sau này chiếc thuyền
thúng theo thời gian mà tàn tạ, nhà sư Viên Mãn mới dùng
làm chậu hoa trồng cây bằng lăng để làm vật lưu niệm
những tháng ngày đội nắng trên Hòn Đỏ.
Nhà
giáo Phong Hương đã có đôi dòng xúc cảm:
Cây
cảnh bằng lăng
Cây
bằng lăng xưa
Khẳng
khiu
Trong
chiếc thuyền thúng
Nằm
đơn độc
Bên
cạnh vườn hoa
Chưa
xóa nhòa
Cảnh
nắng trưa
Nhà
sư trần lưng gánh nước
Bước
từng bước
Từ
chân dốc lên đồi
Ôi!
những giọt mồ hôi
Chảy
dài trên lưng Bồ tát.
Nắng
chói chang
Lòng
vẫn luôn rào rạt
Ước
mong xanh mát bóng chùa…
Từ
Tôn, Hòn Đỏ hương đưa
Cây
bằng lăng vẫn dáng xưa một lòng.
Trần
Phong Hương
Nha
Trang ngày 9 tháng 9 năm 2006
Quách
Giao
Phụ bản:
Hòn Đỏ
(Trích
từ cuốn Hướng Về Tháp Bà Thiên Y của Quách Giao,
nxb
Hội Nhà Văn năm 2005)
Từ
đỉnh Sinh Trung phóng mắt nhìn về Đông Bắc, dưới chân
dãy núi Cù Lao, nằm cách chân núi vào khoảng 500 m có hòn
đảo nhỏ chập chờn trên sóng nước. Đảo vắng người
vãng lai vì chung quanh chân đảo đá dựng chập chùng. Màu
sắc của đá, dáng hình của đá có hình thái khác mọi nơi.
Đá trên đảo và ven chân đảo phần nhiều đều có sắc
đỏ. Nhiều nơi có từng mảng lớn màu đỏ như son tàu. Có
lẽ do trong đá có nhiều chất sắt bị ôxy hóa lâu ngày mà
thành. Những ngư dân từ biển cả bao la khi quay thuyền về
bến cá Cù Lao trong ánh nắng bình minh đã nhìn thấy hòn hải
đảo nhỏ xinh này đỏ rực đón ánh chiêu dương. Lấy sắc
đá, nhìn cảnh đẹp lúc bình minh trên hải đảo, người
dân chài đã gọi tên hải đảo này là Hòn Đỏ. Được mang
tên đơn giản như các đảo đàn anh Hòn Mun, Hòn Rùa, Hòn
Chồng, Hòn Én v.v.. Người dân địa phương đã đặt tên
các hòn đảo theo hình dáng, theo sản vật có trên đảo. Một
đôi khi lại có tên rất văn học, như đảo Trí
Nguyên, đảo Bích Đầm v.v..
Hòn
Đỏ cũng được những người dân sống trên bờ gần đảo
nhìn thấy hoàng hôn xuống, phía trời Tây hừng đỏ ráng
chiều chiếu trên những tảng đá lớn đứng nơi bến đò
làm cho đảo càng thêm đỏ thắm. Khi phương trời Tây sắc
hồng đã phai và sắc tím hoàng hôn ngự trị trên bầu trời
thì màu đỏ của đá lại càng thêm đậm đặc. Sắc đá
không phai theo sắc trời, sắc biển mà dường như chứa đọng
lại sắc ráng chiều và như ráng chiều đã xuống nằm ngủ
nơi vách đá. Nhân dân địa phương đã nhìn cảnh mà đặt
tên cho hải đảo: Hòn Đỏ. Khách văn chương lại đặt tên
cho đảo là Hòn Ráng Chiều. Khách phương xa đến viếng
đảo đã gởi lại những vần thơ kỷ niệm:
Một
áng Đường thi :
Hòn
Đỏ Từ Tôn
Hòn
Đỏ nằm bên cạnh Đá Chồng
Một
bên liền đất một bên không
Thắm
tươi sắc đỏ nên danh hiệu
Nhuần
đượm màu xanh kết dải đồng
Phương
Bắc gió về xua nắng bức
Gành
Đông hương thoảng đón trăng lồng
Trông
vời mây nước đâu xa cách
Mà
chỉ gần nhau một tấc lòng.
Vương
Kiều Thu
Hai
vần Ngũ ngôn của Lê Triều Phương :
Triền
miên, triền miên sóng
Nền
đá nhẵn hồng tươi
Hòn
Đỏ tên người gọi
Lòng
son tự muôn đời
Nghênh
ngang gió lồng lộng
Rung
cây cành ngả nghiêng
Vòm
xanh nằm ẩn bóng
Mái
Từ Tôn tịnh yên
Thời
tiền chiến nhà thơ Đường Quách Tấn cùng các bạn Chế
Lan Viên, Yến Lan v.v.. thường đi ghe nhỏ ra viếng Hòn Chồng.
Sau khi ghé thăm Hòn Chữ nằm giữa sông Cù cận Tháp
Bà, thuyền lại vượt qua cửa biển Đại Cù Huân. Đường
đi
trên sông nước, tuy rất ít người đi song cũng được nhà
thơ giới thiệu với khách du lịch:
Hỡi
ai viếng cảnh Nha Trang
Muốn
tìm dấu cũ thì sang Tháp Bà
Muốn
trông trời bể bao la
Con
thuyền nho nhỏ bơi ra Hòn Chồng…
(
Xứ Trầm Hương)
Vượt
qua cửa sông (cửa Đại Cù Huân) thì du khách thấy ngay Hòn
Đỏ trước khi đến Hòn Chồng. Bơi thuyền một vòng quanh
Hòn Đỏ cảnh trí của Hòn Đỏ từ dưới biển trông lên
vô cùng ngoạn mục. Tuy cảnh đẹp, tình muốn lên song vách
đá dưới chân đảo lập nên dãy “vạn lý trường thành”
nên khách du quan đành rẽ nước thẳng đến Hòn Chồng. Phần
đông khách du lịch đều đến Hòn Chồng bằng đường bộ
nên ít người được biết mặt Hòn Đỏ vị khi ấy chưa
có con đường thuận tiện đi ngang qua bờ bên kia đảo.
Hòn
Đỏ nằm song song với Hòn Chồng cách xa không đầy một cây
số. Hòn Chồng thì thuận tiện đường đi, nằm nối với
đất liền nên được khách du quan thường xuyên lui tới,
và trở nên nổi danh là một thắng cảnh của Nha Trang.
Trước
đây khách đến Hòn Chồng với tấm lòng bâng khuâng man mác
trước trời biển bao la để ngắm nhìn dãy đá nằm nghiêng
mình trên sóng nước. Khách đến với Hòn Chồng từng đôi,
từng nhóm, với một tâm hồn thanh thản, một niềm vui hồn
nhiên để tâm hồn rộng mở trước cảnh trời
nước bao la. Từng tảng đá, từng hang đá đều mang một
câu chuyện huyền thoại một nguồn vui, gợi lại trong
lòng ta, một thời kỳ hồng hoang khi mà con người còn cùng
với thiên nhiên quấn quít thân tình. Thuở mà còn những bóng
dáng học sinh cùng đến với trời mây để cho lòng nhẹ nhàng
cùng sóng nước. Thuở mà đôi lứa cùng đến để ngồi bên
nhau nghe sóng vỗ rì rầm, để cùng nhau đo xem bàn tay ông
Khổng lồ lớn đến mấy gang tay. Việc viết tên kỷ niệm
trên đá hay vứt bừa bãi rác bẩn hay các lon nước ngọt,
lon bia xuống các khe đá không bao giờ xảy ra. Khách đến
viếng còn để lại cho hậu thế những vần thơ đầy cảm
mến :
Đất
nắn trời nung khéo định đôi
Hòn
Chồng đực cái phối hai ngôi.
Ông
xây nên móng cây trồi mụt
Bà
đúc ra chuông đá mọc chồi.
Mây
núi rũ giăng màn tịnh túc
Nước
khe hầu rót chén giao bôi.
Non
thề giai lão trơ trơ đó
Gió
chẳng lung lay sóng chẳng dồi
Chí
sĩ Trần Cao Vân
Và
:
Trời
mây biển nước cảnh mênh mông
Chân
núi giô ra đá mấy chồng.
Khắng
khít thớt em nương thớt chị
Vững
vàng hòn cháu đỡ hòn ông.
Sóng
xô đẩy mãi bền gan sắt
Rêu
buộc ràng thêm chặt dải đồng.
Gặp
gỡ đá đây ta hỏi đá
Vá
trời bao thuở mới nên công.
Quách
Tấn
Hòn
Đỏ đẹp hơn Hòn Chồng song vị đường đến đảo khó khăn
nên đảo được sống một thời gian dài tĩnh lặng. Hằng
ngày, vào lúc trời chiều khi thủy triều rút xuống,các rặng
đá và san hô chung quanh đảo nhô cao thì người có thể lội
bộ mà ra đến đảo. Những lúc nước dâng cao thì phải có
đò đưa sang.
Diện
tích đảo Hòn Đỏ rộng hơn 4000 mét vuông. Đảo có hình
một củ khoai tây. Chiều dài từ Đông đến Tây độ 500 m,
từ Bắc đến Nam dài độ 400 m. Trên đảo đá nhiều hơn
đất, cây con cằn cỗi, cây cổ thụ chỉ lưa thưa. Cảnh
quan trên đảo đầy vẻ hoang sơ, nhưng thơ mộng. Tuy
chỉ cách đất liền không quá 500 m mà khi du khách đến
viếng thăm đều có cái cảm giác như đang đặt chân lên
một hải đảo xa xôi cách đất liền hàng vạn dặm vị
trước mắt ta chỉ toàn là trời biển bao la. Trước kia vị
không có đường đi rộng rãi từ đất liền ra đến bờ
bên kia đảo, nên vắng tiếng động cơ máy móc, tiếng
ồn ào của phồn hoa không bao giờ vọng đến. Cảnh đã tịnh
mà âm thanh lại càng xa vắng như có như không. Cho
nên trước năm 1960 đảo dường như hoàn toàn vắng bóng khách
viễn du. Đến Hòn Đỏ ta chỉ nghe tiếng gió thì thầm cùng
tiếng sóng vỗ dịu dàng lên vách đá và đôi tiếng chim thưa
thớt thoảng trong nắng ban trưa. Trước trời biển bao
la, hải đảo Hòn Đỏ trở nên nhỏ nhoi xinh xắn. Sắc đá,
màu cây trang trí cho đảo thêm phần diễm lệ.
Hướng
Đông của đảo, trời nước bao la, màu xanh của biển hòa
lẫn với sắc biếc của trời. Cận tầm mắt là hải
đảo Hòn Mun nằm oai vệ giữa biển khơi trông như một áng
bình phong nằm chắn gió cho Hòn Đỏ. Hòn Mun là nơi ghé
lại của tầm nhìn từ Hòn Đỏ ra bể khơi. Trước biển
Đông, Hòn Đỏ không cô đơn vị chung quanh còn có nhiều
hòn đảo khác to lớn hơn, kỳ vĩ hơn. Giữa bầu trời mênh
mông với màu xanh của biển, của trời chen lẫn với màu
trắng của mây, của muôn ngàn con sóng trùng dương chập chờn
tung bọt hoa trắng xóa, Hòn Đỏ vẫn không thấy lẻ loi vì
phía sau đảo còn có dãy núi Cù Lao, có Tháp Bà và xa hơn
nữa còn có Hòn Bà đang uy nghiêm dõi nhìn về bể Đông.
Buổi
bình minh ở Hòn Đỏ, đẹp nhất là về hướng Đông. Thiên
nhiên đã tạo cho hòn đảo có một quang cảnh vô cùng diễm
tuyệt. Bờ đá ở phía Đông không cao mà lại dài, nằm trải
rộng im lìm để mặc cho sóng nước vỗ về xoa nắn. Mặt
biển nhiều khi phẳng lặng như một mặt hồ mông mênh. Màu
xanh của đại dương như trong suốt hòa với màu trời có
sắc xanh thẫm lác đác những vị sao tắt muộn. Tuy mặt trời
chưa rựng mọc song cái cảnh trong sáng của một bầu trời
sắp rạng đông đã mang lại cho biển một màu sáng mơ hồ
để phân biệt được giữa ngày và đêm.
Nhà
thơ Lê Triều Phương sau một chuyến thăm Hòn Đỏ đã
viết nên một bài thơ :
Bình
minh trên Hòn Đỏ
Dạo
chơi trên Hòn Đỏ
Cận
kề bên biển Đông
Giữa
lòng trời mênh mông
Màu
xanh chen sắc trắng
Cánh
buồm mây phẳng lặng
Ngắm
hoa biển chập chờn
Thuyền
xa về cô đơn
Sóng
vỗ quanh đảo nhỏ.
Bước
chân lên Hòn Đỏ
Gặp
vách đá ngàn xưa
An
lành cùng nắng mưa.
Bờ
phía Đông ửng nắng
Lòng
biển xanh phẳng lặng
Tình
biển cả bao la.
Mặt
trời tự phương xa
Ửng
hồng chân mây thắm.
Ngồi
trên hòn đá phẳng
Chờ
đợi ánh triêu dương
Đây
là mảnh thiên đường
Buổi
mai hồng dâng tặng .
Mây
hồng phơn phớt trắng
Xanh
biển xanh mặn mà
Vang
vọng muôn lời ca
Đàn
chim âu giăng cánh
Mặt
nước hồng sóng sánh
Nâng
ánh mặt trời lên
Hòn
Đỏ bóng bồng bềnh
Cùng
bình minh thức giấc.
Cần
phải có một đêm sống trên đảo Hòn Đỏ, du khách mới
cảm nhận được cái đẹp lúc bình minh, cái trong trẻo của
ban mai và cái cảm giác của con người trước vũ trụ sau
một đêm đen dày đặc. Được sống, được cảm nhận, được
đọc thơ, lòng du khách mới cảm nhận được đầy vơi khi
ngồi trên bờ đá nơi hướng Đông Hòn Đỏ trong bầu trời
bình minh.
Có
ngồi đón bình minh nơi Hòn Đỏ, du khách mới tận hưởng
được màu sắc của đá để phân biệt được màu hồng
của trời lẫn vào màu hồng của đá như thấp thoáng màu
hồng của da thịt con người, da thịt của một bé thơ vừa
mới tắm. Ngồi lắng lòng, mắt lim dim, du khách chắc chắn
sẽ cảm nhận được, sẽ nhìn thấu suốt được sắc hồng
tươi tắn của thiên nhiên với một cảm nhận rung động
nhẹ nhàng giữa bình minh nguyên thủy trên hải đảo Hòn Đỏ
Từ Tôn.
Trong
thời gian từ lúc mặt trời lên cho đến khi đứng bóng, du
khách có thể men theo đường mòn, theo bờ cỏ dại, vượt
qua những chòm đá nằm rải rác im lìm dưới nắng để ngắm
nhìn cảnh quan chung quanh đảo. Đến đâu cũng nhìn thấy mặt
bể bao la, bầu trời xanh ngắt. Nhiều nơi cận kề sát mé
biển du khách có thể trông thấy bờ vách đá nơi chân
núi với sóng nhẹ vỗ lên bờ đá, với hoa sóng tung tóe trên
vách hồng của đá. Trước quang cảnh này du khách có cảm
tưởng là mình đã rời xa chốn bụi trần để hoàn toàn
sống cùng với trời mây biển cả.
Về
phía Bắc đảo, du khách bắt gặp nhiều cảnh khác biệt.
Nhìn gần thì thấy bờ đá khẳng khiu có dáng khắc khổ hơn
mọi nơi trên đảo. Vách đá dựng đứng dưới nước, nhiều
mũi đá nhọn nhô cao như một rừng chông bảo vệ cho đảo.
Trên đảo thì cỏ cây khô héo lúc hạ sang và đợi đến
đông về mới xanh tươi trở laị. Mùa đông những cơn
gió bấc hợp với sóng biển vỗ mạnh vào đá khiến cho đá
phải lồi lõm, cây cỏ phải điêu tàn. Chỉ đợi đến mùa
hạ đến thì mặt Bắc của đảo mới hưởng được cơn
gió nồm đem cái hiu hắt, cái cơn mát dịu dàng đến ấp
iu cùng hải đảo.
Nhìn
xa xa du khách bắt gặp Hòn Chồng nằm trải dài từ bờ
ra đến biển. Nhấp nhô trên đá bóng những du khách dạo
chơi ngắm cảnh đá nước Hòn Chồng. Và xa hơn nữa là chập
chùng núi biếc.
Về
hướng Nam của đảo, thật ra là hướng Tây Nam, thành phố
Nha Trang nằm phơi mình trong nắng biển. Nắng biển không chói
chang nên thành phố nằm êm đềm trong tĩnh lặng. Thành phố
NhaTrang không cần đến những chung cư, cao ốc vươn lên
như chọc trời để khách du quan có thể từ hải đảo Hòn
Đỏ ngắm nhìn pho tượng Kim thân Phật tổ ngự trên đỉnh
đồi Trại Thủy in hình trên nền trời xanh thấp thoáng bóng
mây trắng lững lờ bay quanh. Cùng lúc, chùa Kỳ Viên
Trung Nghĩa thắm đỏ trên ngọn núi Sinh Trung ngân đưa hồi
chuông triêu mộ. Ngọn núi Sinh Trung hôm nay không còn soi mình
trên mặt nước đầm Xương Huân, lặng lẽ nhìn bến nước
Hà Ra lao xao trong nắng. Nhưng vẫn hiện diện cùng với trời
mây trên thành phố Nha Trang.
Từ
Hòn Đỏ ban đêm nhìn về thành phố Nha Trang ta thấy thân
mến hơn, gần gũi hơn và nhất là rực rỡ hơn. Ánh đèn
giăng mắc dọc theo bờ biển từ Chụt gần đến Bãi Tiên.
Chiếc cầu vồng hoa đăng Trần Phú như một dãi đăng ten
kết bằng sao trời lộng lẫy vắt ngang qua cửa sông Cù. Ban
đêm từ hải đảo Hòn Đỏ nhìn thành phố Nha Trang tuy không
to lớn rực rỡ bằng Hà Nội, Sài Gòn mà là một thành
phố đủ thương đủ nhớ cho những du khách ghé lại
một thời.
Trưa
đến, khí nóng hừng hừng trên vách đá. Không thể phơi mình
ngoài nắng nóng du khách đành nương bóng mát của các cây
me, cây đa phủ bóng lên trên dãy đá.
Dưới
bóng hai cành đa soãi mình trên lưng đá nơi hướng Tây Đông,
chiếc võng đong đưa nâng hồn du khách vào thế giới bồng
lai. Gió từ biển xa thổi về nhè nhẹ. Nằm nghiêng mình trên
chiếc võng nhìn xuống vũng nằm giữa đảo và đất liền
du khách ngắm nhìn những con thuyền đánh cá neo đậu đang
chập chờn trên sóng nước.
Thuyền
đậu không nhiều nhưng chứa đầy thơ mộng. Nó gợi cho ta
một bến nước xa xưa chỉ có một vài chiếc thuyền neo đậu
nghỉ trưa nơi hải đảo xa xôi. Khi nào lòng ta chán chê trước
cảnh chen chúc đậu bừa bãi của các ghe thuyền khi vào bến
ở Cù Lao, Cồn Giữa, Cửa Bé v.v.. thì ta mới nhận ra
rằng thấy một vài chiếc thuyền neo đậu nghỉ trưa
nơi bến Hòn Đỏ, trí ta liền nghĩ đến cảnh một bến
Tiêu Tương nào đấy hay một nơi bãi vắng của một hải
đảo xa xôi, vắng vẻ khách phàm trần.
Qua
khe lá ta bắt gặp được buổi trưa hè yên lành, buổi trưa
của thời trẻ dại, ta được nằm dưới vòm lá hiu hiu gió
mát, từ cánh đồng lúa mạ non thổi về. Ta sẽ nằm thiu
thiu mà không ngủ để nghe chất mặn của bể khơi lẫn trong
hơi mát tự trùng dương thổi đến để lòng đón nhận cái
mênh mông của đất trời tỏa trên hải đảo. Tự nhiên lòng
lại nhớ đến bài thơ của phu nhân nhà thơ Lê Triều Phương
đã cùng chồng đến du lãm Hòn Đỏ Từ Tôn:
Hòn
Đỏ ban trưa
Trên
cành đa vững chắc
Chiếc
võng nhẹ đu đưa
Mơn
man gió mát đừa
Hương
nồng từ biển cả
Hòa
cùng hơi mát đá
Nâng
giấc nồng lên khơi
Mây
trắng bay dạo chơi
Giữa
trời xanh sắc biển
Muôn
ngàn con sóng lượn
Quanh
đảo nhỏ chập chờn
Niềm
vui nào vui hơn
Buổi
trưa nằm nghe sóng
Dưới
biển sắc trời đọng
Trong
gió lá thì thào
Cánh
én vút trời cao
Đoàn
ghe nằm trong vũng
Theo
nhịp trưa xao động
Hiu
hiu giấc trưa nồng
Hồn
hòa cùng mênh mông
Một
tiếng chim vừa hót
Như
pha lê nhỏ giọt
Trên
phím đàn trời xanh
Buổi
trưa vàng yên lành
Hòn
Đỏ đầy thơ mộng.
Đoàn
Thị Gái
Trên
chiếc võng đu đưa ta sẽ thiếp dần vào giấc ngủ cùng với
nắng vàng trên Hòn Đỏ đầy thơ, đầy mộng. Và khi tỉnh
giấc hồn ta cảm thấy sảng khoái, lòng ta cảm thấy vui vui
để lắng nghe những câu chuyện hoang đường, những huyền
thoại vô cùng thích thú.
Trước
tiên là của các hòn đá. Nơi hướng Đông có một hòn đá
có tên là Hòn Chị Em. Hòn Em to lớn hơn Hòn Chị lại
nằm ở phía dưới trông như đang nâng đỡ chị để cùng
nhìn ra biển Đông.
Nơi
phía Hòn Chồng có Hòn Chồng Cái gồm hai pho đá đứng song
song với nhau xứng với câu thơ của nhà thơ Quách Tấn:
“Khắng
khít thớt em nương thớt chị”
còn
ở đây thì tương hợp với câu :
“Khắng
khít thớt em nâng thớt chị “
Vị
ở gần nhau nên cùng chung hưởng một tình thơ.
Kế
đến là hòn đá to lớn hình khối có tên gọi là Hòn Đá
Trắp. Gọi là trắp vị nó giống hình một cái trắp đựng
sách của các nhà nho xưa. Đó là cái trắp đựng các tập
thơ của một vị tiên thường hay đến hải đảo Hòn Đỏ
ngắm trăng làm thơ. Kế bên Hòn Đá Trắp là Hòn Đá Bàn
cờ. Từ Hòn Đá Bàn Cờ này sinh ra câu chuyện Ông Khổng
Lồ đánh cờ với tiên và thắng được Hòn Đỏ. Câu chuyện
như sau :
Nguyên
xưa kia nơi đây, đảo được nối liền với dãy núi Cù Lao
nhô ra tận biển Đông. Cảnh đầy thơ mộng, có nhiều cây
cổ thụ sống ngàn năm cùng với suối tuôn màu thúy bạch
và hoa cỏ thơm lừng. Cho nên các vị tiên mới cùng nhau tụ
hội để ngâm thơ ngắm trăng giữa trời nước mênh mông
và đánh cờ trong những ngày nhàn rỗi. Cai quản hòn
đảo này là một vị tiên đầy tánh tình của vị cờ
tiên Đế Thích. Vị tiên thích đánh cờ đến nổi
gặp ai cũng gạ đánh với mình, thua được không bận tâm,
chỉ cốt sao có người cùng ngồi đối diện trước bàn cờ.
Một
hôm đang ngồi buồn trên hải đảo Hòn Đỏ, vị tiên chợt
trông thấy ông Khổng lồ ngồi câu cá nơi Hòn Chồng. Thèm
muốn có người cùng đánh cờ nên vị tiên ông bèn bay
đến Hòn Chồng, gạ ông Khổng lồ đánh cờ cùng mình. Tánh
ông Khổng lồ lại không giống vị tiên ông. Ông Khổng lồ
chỉ thích câu cá. Một bên thích lao động trí óc còn một
bên lại thích lao động chân tay. Ông Khổng lồ từ chối
một cách dứt khóat .Mời không được, vị tiên ông bèn dụ
dỗ. Biết được thú vui duy nhất của ông Khổng lồ là câu
cá nên vị tiên mời ông Khổng lồ đến đảo Hòn Đỏ
để câu cá. Nghe vị tiên ông tả cảnh cây cối rậm
rạp tươi mát của Hòn Đỏ cùng với đàn cá dầy đặc nơi
bờ đá, ông Khổng lồ vui vẻ dời chỗ ngồi câu sang bên
Hòn Đỏ.
Trong
lúc ông Khổng lồ ngồi câu cá thì vị tiên ông làm thơ và
uống rượu. Nghĩ được câu thơ hay, làm được một vần
thơ ưng ý vị tiên ông lại đọc cho ông Khổng lồ nghe. Tuy
không thích thơ phú song ông Khổng lồ vị sợ mất lòng
vị tiên có tâm tốt cho mình ngồi câu nơi cảnh đẹp, cá
nhiều này nên ông Khổng lồ chú ý lắng nghe những vần thơ
đắc ý của vị tiên ông. Nhiều lúc mải theo dõi chiếc phao
chập chờn trên mặt sóng ông Khổng lồ quên đáp ứng với
lời thơ nên nhiều lúc làm vị tiên ông mất hứng thú đọc
thơ của mình cho bạn nghe. Mặc dù đã thành tiên song vị
tiên trên đảo vẫn còn lưu giữ cái tật của khách làm thơ
là luôn luôn muốn đọc thơ của mình cho người khác nghe
và muốn nhận nơi người nghe, lời khen tặng nồng nhiệt.
Cho nên khi không thấy ông Khổng lồ khen tặng lời khen tương
xứng nữa thì vị tiên đâm ra ngán ngẫm cho vị thơ của
mình và bỗng nhiên thèm đánh một ván cờ.
Sự
đam mê nồng cháy đến độ giá lúc ấy có người chịu cùng
đánh cờ với nhau thì vị tiên ông có thể tặng cả thế
gian này cho người chơi cờ. Biết không thể nào nài nỉ ông
Khổng lồ được nên vị tiên ông bèn nghĩ ra được
một mưu kế. Thấy ông Khổng lồ câu được nhiều cá và
tỏ ý thích thú nơi này, vị tiên bèn đề nghị đánh cờ
ăn cuộc: Nếu ông Khổng lồ thắng thì ông Khổng lồ sẽ
nhận được quyền sở hửu hải đảo Hòn Đỏ này. Còn nếu
ông Khổng lồ thua thì ông sẽ được đến đây câu cá thường
xuyên. Nghe như vậy ông Khổng lồ thích quá vị được
thua gì mình vẫn có lợi. Cái chính là câu cá. Thế thì tại
sao ta lại không đánh cờ kia chứ. Ông Khổng lồ nghĩ vậy
và chấp nhận vào cuộc. Bàn cờ được bày ra vị tiên
ông vừa uống rượu vừa ngâm thơ còn ông Khổng lồ vẫn
an nhiên ngồi câu cá, tâm không lưu ý đến bàn cờ.
Ván
cờ vừa đi được ba nước thì có một con cá vượt tung
mình lên không trung ông Khổng lồ mắt luyến tiếc ngó theo
tay hờ hững cầm lấy con cờ chủ tướng. Rồi ông xuất
tướng. Thoáng cau mày nhưng vị tiên lòng an nhiên trầm tư
suy nghĩ. Bóng chiều đã ngã về Tây. Hải đảo đỏ
au lên trong ráng chiều. Vị tiên ông ngồi yên lặng suy tư
trong bóng hoàng hôn. Ông Khổng lồ gác cần câu nằm
gối đầu trên đá ngáy ầm ầm như cùng hòa âm với sóng
chiều đang vỗ mạnh vào vách đá.
Một
đêm dài trôi qua. Ông Khổng lồ đã thức dậy từ lúc hừng
đông và tiếp tục câu cá. Vị tiên suốt đêm dài không ngủ,
ngồi suy nghĩ đến nước thứ 1000 mới gỡ được thế cờ
xuất tướng của ông Khổng lồ. Cuộc cờ lại tiếp tục.
Khoan khoái vị vừa câu được một con cá đuối lớn bằng
chiếc chiếu trải đình, ông KhổnglLồ đem xe vượt sông,
thí xe đổi lấy chốt đầu. Vị tiên ông lại phải ròng
rã ba đêm ngày suy nghĩ để hiểu nước cờ này và tìm ra
cách phá.
Với
những nước cờ tự nhiên không tính toán của ông Khổng
Lồ, với sự đắn đo suy tính của vị tiên ông, ván cờ
kéo dài đến khi râu tóc của vị tiên dài ra trắng xóa
bay phơi phới trên bầu trời trong vịnh Nha Trang. Cuối cùng
vị tiên ông đành chịu thua ông Khổng lồ, tuy ván cờ chưa
tàn cuộc. Vô tâm đã thắng hữu tâm, Hòn Đỏ từ đấy thuộc
về ông Khổng lồ. Khi rời đảo vị tiên ông đã để lại
cho ông Khổng lồ tất cả những vật chất cùng với
tinh ba của trời đất đọng chứa nơi hải đảo. Trên
Hòn Đỏ, Hòn Đá Chị Em, Hòn Trắp, Hòn Bàn Cờ vẫn mang
tên, mang hương vị của hồn xưa , còn Hòn Ấn nằm bên Hòn
Bàn Cờ lại còn mang thêm vết tích của dấu xưa. Đó là
dấu in ngón tay cái của vị tiên ông đã ấn vào Hòn Ấn
để làm bằng chứng nhường hải đảo Hòn Đỏ lại
cho ông Khổng lồ. Tại nơi Hòn Chồng còn vết bàn tay của
ông Khổng lồ in sâu vào đá và nơi hải đảo này còn
lưu vết ngón cái của thần tiên.
Ngồi
nghe câu chuyện thần tiên du khách lòng lại bâng khuâng nhớ
lời thơ của Cổ Bàn Nhân :
Chuyện
đời tuy có mà không
Tuy
không mà có chuyện ông Khổng lồ.
(
Nước Non Bình Định )
Kể
thêm một câu chuyện nữa về ông Khổng lồ cho vui. Có người
hỏi ông Khổng lồ rằng ông có tu đạo hay không? Ông Khổng
lồ đã trả lời: Khi được sinh ra, lòng ông vốn đã có
đạo rồi. Sở dĩ con người cần phải có đạo vì đạo
vốn có trong lòng song con người lại quên đi và như vậy
phải cần tu theo đạo. Lại hỏi thêm rằng sao ông Khổng
lồ đã có đạo trong lòng rồi mà còn bắt cá mà ăn trong
khi đó trên đảo có rất nhiều cây cỏ. Ông Khổng lồ
cười mà rằng :
Tất
cả cỏ cây, đất đá cũng đều là chúng sinh. Chúng cũng
được sinh ra và lớn lên. Mỗi chúng sinh đều có một cuộc
sống, một hòa đồng cùng chung với nhau, một sự liên hệ
mật thiết nhưng vì vô minh nên chúng ta chưa hiểu nhau mà
thôi. Như vậy tránh không ăn vật này để ăn vật khác thì
cũng không tránh được sát sinh. Ta ăn cá vì ta thích câu cá
và cá ta câu được bỏ đi cũng uổng nên ta ăn đó thôi.
Nếu ta ăn cỏ cây trên đảo thì còn đâu bóng mát cho ta ngồi,
màu xanh cho ta ngắm. Ta chỉ ăn khi cần và ăn theo tự nhiên,
sẵn có gì thì ăn cái ấy không kén lừa, không thích thú
vì miếng ăn.
Nghe
quan niệm coi cỏ cây như một sinh vật, biết thương yêu,
biết quyến luyến với con người, tôi bỗng nhớ đến một
câu chuyện có thật đã được nhà thơ Quách Tấn ghi trong
tập Hồi ký Bóng Ngày Qua:
Khóm
mận già
Đứng
giữa sân trước phòng khách ngay ngõ bước vào. Ba gốc đứng
sít nhau. Tôi gọi là Khóm Mận Ba Nhành.
Khóm
mận này do ông thân sinh người chủ cũ của ngôi nhà số
21 đường Bến Chợ trồng lúc người này còn nhỏ. Mà người
chủ cũ lớn hơn tôi đến 25, 27 tuổi, thì cây mận sanh trước
tôi ít ra cũng hai mươi năm. Tôi mua ngôi nhà năm 1937, lúc
ấy tôi đã 28 tuổi, thì cây mận ít ra cũng 48 tuổi rồi.
Cho nên lúc tôi dọn đến, thì gốc mận đã bị bộng ruột,
cành chỉ còn lơ thơ. Nhiều người bảo tôi đốn đi để
trồng cây khác. Nhưng tôi không nỡ, cứ để đó, chừng nào
gốc thật mục, cành thật khô sẽ hay.
Tôi
nhớ một chuyện xưa :
“Quan
Thái Thú đất Giang Tây toan hạ một cổ thọ trước dinh.
Một hành nhân thấy thợ đang sắp sửa ra tay, liền đề nơi
gốc cây một tuyệt:
Diêu
tri thử khứ đống lương tài
Vô
phục thanh âm phú lục đài
Chỉ
khủng nguyệt minh thu dạ lãnh
Ngộ
tha thiên tuế hạc qui lai
Nghĩa
là :
Một
đi nên cột nên rường
Không
còn bóng cả lợp đường rêu xanh
Chỉn
e thu lạnh lùng canh
Tuổi
già nương bóng trăng thanh hạc về.
Quan
Thái Thú xem thơ, cảm động, bèn sai thợ dừng búa.”
Nhớ
đến bài thơ tôi càng thương quí khóm mận. Những buổi mai
buổi chiều đẹp trời, những đêm trăng sáng, tôi cùng vợ
con bè bạn, thường bắc ghế, kê giường nằm ngồi dưới
gốc cây chung vui. Mấy tháng sau, những nhánh còn sống sót
tự nhiên đâm chồi nẩy lộc và to lớn lần lần. Gốc sanh
một lớp vỏ mới mỗi ngày mỗi dày thêm. Và không đầy
một năm, cành lá đã xum xuê, che mát cả sân thềm, mới trông
qua ai cũng ngỡ là một khóm mận tơ chịu thủy thổ.
Thiên
hạ trầm trồ. Kẻ thì bảo rằng: ”Vật chờ chủ”. Người
có óc phán đoán lại nói “ Cây mận nhờ có người canh
coi chăm sóc, lũ trẻ không bứt lá bẻ cành, nên phát trở
lại”. Người bạn Ấn Độ của tôi là Kicha Nassamy
lại giải thích:
Đó
là nhờ sức nhân điện của anh và gia đình anh mà cây mận
hồi xuân.
Không
biết lời nào đúng, tôi chỉ biết mừng được một cổ
thụ xanh tốt ở trong vườn.
Khi
cành lá đã sung, hoa bắt đầu trổ. Hoa trổ kỳ nhất vào
tháng mười âm lịch. Đến Tết trái chín.
Khi
trái kỳ nhất đã kết, thì hoa ra kỳ nhì vào tháng 11 và
trái chín vào tháng 2 hoặc tháng 3. Nhiều năm hoa
thêm một kỳ thứ 3 nữa vào tháng giêng.
Hoa
mận cánh trắng nhụy trắng. Mọi thứ hoa, hoa nào cũng đẹp
nhờ cánh. Hoa mận lại đẹp nhờ nhụy. Nhụy dài và thanh.
Chữ gọi là ba tu, tục gọi là râu mận. Khi hoa nở thì cánh
bị râu che lấp hết trông vào như một chùm ngân tuyến
có mùi hương.
Những
ngày hoa nở sắc trắng của hoa át hẳn màu xanh của lá. Nhìn
lên tàn mận, giống y mái đầu bà lão bảy mươi
cúp bum bê. Nhụy hoa cánh hoa rụng phơi phới như mưa tuyết.
Mùi hoa ngòn ngọt như mùi hoa xoài. Một buổi sáng thức dậy,
nhìn ra sân tôi có cảm giác đang ngồi nơi tiểu đình trên
Phú Sỹ Sơn ở Nhật hay Mont Blanc ở Pháp.
Thật
là thú. Nhưng lắm lúc man mác buồn vị có ý nghĩ “Không
có gì vĩnh viễn”, nhất là khi người nhà lo quét dọn sân
hè. Để hứng vị không pha lẫn cay chua, tôi bèn dặn con em
trong nhà đợi tôi đi làm hoặc đi chơi rồi mới quét râu
mận. Tôi có mấy câu ngẫu thành, gởi gắm ít nhiều tâm
sự :
Tuyết
phủ đầy sân hoa rụng đầy
Hương
sầu theo gió chập chờn bay
Em
ơi! đừng quét.. Em đừng quét
Anh
chỉ yêu hoa những phút này.
Ở
Nha Trang mùa đông ít lạnh và ít mưa to gió lớn như các tỉnh
bạn. Tuy vậy trăm hoa, cả hoa giấy chắc gan đều “lánh
mặt” chỉ riêng hoa mận là “đua cười gió đông”. Cho
nên tôi gọi hoa mận là hoa Tuế Hàn thay cho Bạch Mai của
cổ nhân mà Nha Trang không có.
Mùa
đông ít hoa nên ong bướm cũng ít. Bởi vậy kỳ mận tháng
10 tháng 11 ít khi bị quấy rầy vì loài có cánh. Nhưng đến
kỳ hoa tháng giêng thì lớp ong lớp bướm, kéo nhau đến từng
bầy. Ong phần nhiều là ong ruồi. Ong bầu cũng có song chỉ
năm bảy con mà thôi. Tôi không hiểu tại sao, khi mai nở chúng
lại kéo đến đông, còn lúc mận nở chúng chỉ “cử
đại biểu” đến. Và đối với mai chúng rất tàn nhẫn,
còn đối với mận chúng lại có vẻ “biết điều”? Có
người bảo rằng vì hoa mận lớn, chúng nằm vào lòng hoa
mà hút mật, mật lại nhiều nên không cần phải dụng sức
dụng công. Còn hoa mai nhỏ bị chúng ôm gọn vào lòng để
hút mật, vì mật ít nên phải vét cho “ráo máng cạn tàu”
mới đủ no. Có người lại nói rằng trên tàn mận ngoài
ong bầu còn có ong ruồi. Ong bầu sợ ong ruồi nên không dám
“làm tàng” với hoa. Thuyết trước e đúng hơn.
Còn
bướm thì “không thể chê” nhiều giống nhiều màu sắc.
Con thì vàng ánh như huỳnh kim. Con thì trắng phau phau như bông
gòn. Con thì đen nhánh như răng hạt huyền. Con thì nâu như
lông cánh bìm bịp. Con thì cánh trắng viền đỏ. Con thì cánh
vàng sắc hỏa hoàng điểm những hạt cườm đen hoặc cườm
trắng. Con thì rằn rịt, con thì vá quàng v.v.. Trông giấp
giới như một rừng phong lan.
Bươm
bướm là giống phong nhã. Chúng đối với hoa lịch sự như
những chàng thanh niên có giáo dục đối với tình nhân, lúc
nào cũng dịu dàng, cũng nhẹ nhàng , ung dung, tự tín. Đậu
vào hoa chỉ đậu phơn phớt, đưa vòi vào nhuỵ hoa chỉ
đưa một cách thưng thưng. Nhiều con chỉ bay lượn chung quanh
hoa dường như chỉ để hứng lấy hương chớ không màng đến
mật. Lại có con bám theo râu hoa rơi từ cành xuống đất,
rồi chớp cánh bay trở lên cành. Rơi xuống một cách nhẹ
nhàng mà bay lên cũng một cách nhẹ nhàng như mảnh giấy bay
theo gió. Đứng trước cảnh đó tôi chợt nhớ đến bài thơ
Haikai của Nhật mà Pháp dịch :
Illusion
Fleur
tombée
Retournant
à la branche?...
Oh
! c’était un papillon!
Con
tôi (Quách Giao) đã phỏng dịch thêm một lần nữa để
tôi ngâm trong lúc cùng cảnh chung vui:
Ảo
ảnh
Hoa
rơi vụt trở lại cành
Ồ
! Con bươm bướm nặng tình với hoa.
Khi
hoa đã thành quả thì ong và bướm bay đi hết, se sẻ lại
kéo đến đông đầy. Tiếng kêu chinh chích không bao giờ ngớt.
Bảo
rằng se sẻ kéo đến không đúng. Mùa đông chúng sợ mưa
gió chui núp nơi trần nhà, ở dưới mái hiên. Lúc tạnh bay
ra tìm mồi thì bay lẻ tẻ và lặng lẽ như chiếc bóng
qua ngang. Nếu không để ý thì tưởng chúng đã bay đi nơi
khác hết. Nhưng đến lúc xuân sang, nắng ấm, chúng rủ nhau
bay ra từng tốp, lớp bay lớp đậu, rộn rã tưng bừng. Chúng
đông nhưng không phá phách. Luồn qua lá mận, song không bao
giờ đụng vào trái lúc chín cũng như lúc còn xanh.
Bươm
bướm là tài tử giai nhân, se sẻ là tao nhân mặc khách, đem
tình xuân trang điểm cho ngày xuân của khóm mận thêm xuân.
Cho
nên trong mùa hoa nở, mùa trái chín, bạn bè thường họp nhau
dưới bóng mận. Và những lúc vắng người, tôi thường nằm
nơi võng cột trước hiên, nhìn cây mận để ôn lại chuyện
xưa hay tìm hưởng thú mới.
Vị
thế mà hình ảnh cây mận in sâu vào tâm khảm và tình mận
thường len vào tứ thơ, nhất là từ năm 1940 trở đi
sau khi đã gặp Liên Tâm và thường cùng Chế Lan Viên, Yến
Lan, Quách Tạo chung bóng dưới trời trưa mùa hè.
Khóm
mận đối với tôi cũng rất có tình.
Năm
1943, tôi ra Đà Nẵng và Huế chơi hơn nửa tháng. Lúc ấy
đã gần cuối đông, hoa mận đã kết quả. Khi tôi về trên
cành chỉ toàn lá. Tôi hỏi người nhà:
-
Sao hái mận sớm thế? Không đợi chín để ăn Tết?
Lũ
nhỏ thưa:
-
Ba đi được mấy hôm, hoa quả lần lần rụng sạch. Không
sót được trái nào cả!
Tôi
cho là tại thời tiết.
Đến
năm 1944, tôi đưa gia đình về Bình Định lánh nạn tàu bay
Mỹ khủng bố quân đội Nhật. Tôi gởi nhà cho ông Ba Lồ
Ô ở trước ngõ. Khi tôi đi thì mận lớp ra hoa, lớp kết
quả, xum oằn cả cây. Nhưng một tháng sau tôi trở vào thì
mận không còn một trái nhỏ. Tôi trách ông Ba:
-
Ông Ba ăn trái không nhớ kẻ trồng cây.
Ông
Ba cười:
-
Có được ăn trái nào đâu mà bảo nhớ với không nhớ. Bởi
thầy đi được ít lâu thì hoa lẫn trái già trái non rụng
đầy đất!
Một
ông bạn pha trò:
-
Chắc cây mận sống lâu năm đã thành tinh và là tinh đàn
bà nên vắng hơi anh, tương tư chớ gì!
Tôi
chợt nhớ lại khi bà thân tôi mất, hai cây trầu cùng mấy
cây cau bà trồng đều chết theo. Và khi bà nội của nhà tôi
mất, cây cam của bà trồng đương xanh tốt liền héo rồi
chết đứng và vườn chuốí rủ lá rồi lụn dần! Tôi
lại nhủ:
-
Thường ngày mình lân la bên mận, mận quen hơi quen hám. Đến
khi vắng mình, thiếu hơi hám đã quen, mận rụng trái rụng
hoa; đó là việc thường đối với người biết chút ít về
khoa học thực nghiệm.
Nghĩ
vậy để tự cho mình có óc thực tế, có óc khoa học. Đó
là trí nghĩ chớ trong thâm tâm tôi vẫn cho là “thảo mộc
hữu tình”. Do