THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
.
NGƯỜI GÁNH NẮNG
Bút ký của Quách Giao
Nhà xuất bản: Hội Nhà Văn Hà Nội 2006

Thích nữ Nhất Chi Mai

Mãi đến sáng ngày rằm tháng tư năm Đinh Mùi tức ngày 23 tháng 5 năm 1967, nhân đi vào xóm Cù Lao lấy nước sư Viên Mãn mới biết rõ được ngọn ngành cái chết của nữ Phật tử Nhất Chi Mai.

Trong một gian nhà nhỏ, năm người tuổi trẻ đang ngồi quanh một bàn gỗ tre cùng đọc chung một cuốn sách có nhan đề: “ Chết Mới Được Ra Lời “. Đây là cuốn sách ghi  lại những bức thư của người nữ Phật tử đã tự thiêu mình lúc 7 giờ 20 sáng ngày 8 tháng tư năm Đinh Mùi tức ngày Phật Đản thứ 2511. Chị tên là Phan Thị Mai, sinh viên trường đại học Văn khoa Sài Gòn và đại học Vạn Hạnh, đã tự thiêu tại chùa Từ Nghiêm.

Chị Nhất Chi Mai đã viết lời cuối cùng:

Tôi viết tất cả 10 bức thư để lại.
Ngày mai tôi sẽ lo lắng một mình tôi, buổi lễ tự thiêu.
Tôi cho các nhà báo, nhiếp ảnh hay và một ít bạn thân đến nơi tôi dự định mà không cho họ biết trước chuyện gì sẽ xảy ra.
Tôi mua 10 lít xăng.
Địa điểm tôi chọn lựa là chùa Từ Nghiêm. Tôi có ý đến nhà thờ Đức Bà hay một nơi công cộng có tính cách lịch sử một chút, mà thôi !
Phía trước mặt tôi, tôi đặt hai bức tượng :
Đức Maria với hai bàn tay đưa ra.
Đức Quán Thế Âm với đôi mắt dịu hiền.
Cả hai nhìn tôi và ban ơn cho tôi tròn ước nguyện.
Trước mặt và sau lưng tôi có hai biểu ngữ tôi viết :
Con chấp tay quỳ xuống
Xin Đức Mẹ Maria
Đức Quán Âm Phổ Hiền
Cho con tròn ước nguyện

Xin đem thân làm đuốc
Xin soi sáng u minh
Xin tình người thức tỉnh
Xin Việt Nam hòa bình
Cầu xin cho tôi can đảm, bình tĩnh mà ngồi yên trong lửa đỏ.
Tôi sẽ quỳ xuống chấp tay niệm Phật và thầm gọi Việt Nam.
Người tự thiêu cầu hòa bình.
Thích Nữ Nhất Chi Mai tự Nhất Chi, pháp danh Diệu Huỳnh.
Sinh viên đại học Văn Khoa Sài Gòn.
Sinh viên đại học Vạn Hạnh.

Đây là bức thư ở cuối trong cuốn “lưu bút” dày 23 trang viết một mặt của Phan Nhất Chi Mai. Nghe đọc xong lời tự thuật sau cùng của Nhất Chi Mai, sư Viên Mãn vô cùng xúc động. Trước đây khi Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu vào ngày 20 tháng 4 năm Quí Mão (tức 11/6/1963) để cúng dường Phật pháp và thúc đẩy chính quyền Ngô Đình Diệm bình đẳng trong việc đối xử với Phật giáo, thì lòng của nhà sư tràn đầy niềm hân hoan cảm phục một vị bồ tát đã hiến thân cho chánh pháp. Khi nghe tin Nhất Chi Mai tự thiêu cho hòa bình và trên báo chí chỉ đăng những khoảng trắng lớn với cái tên Nhất Chi Mai, lòng sư Viên Mãn tự nhiên xôn xao cảm động. Cho nên khi nghe đọc đoạn văn trên nhà sư có ngay một tâm nguyện: phải ghi, phải thuộc tất cả những bức thư tuyệt mệnh của Nhất Chi Mai. Nhà sư đã tạm hoãn việc lấy nước lên cho đảo và đã chăm chỉ ngồi chép lại các tư liệu về Nhất Chi Mai. Có hai bài thơ mà sau khi chép xong thì nhà sư đã thuộc .

Bài thứ 1 :

Lời trăn trối của người yêu Việt Nam

Việt Nam, Việt Nam ơi
Nghe chăng lời trăn trối
Của người yêu Việt Nam
Yêu tiền nhân cách mạng
Yêu lứa tuổi hai mươi
Yêu cô nhi, quả phụ
Yêu thương nhất tù đày
Yêu khắp dãy non sông
Yêu từng giọt máu hồng
Cả người hiền kẻ dữ
Việt Nam, Việt Nam ơi
Sao cứ mãi thù hằn?
Sao bắn giết mà vui?
Nhưng rồi ai thua đó?
Vinh nhục này ai mong
Bỏ danh từ nhãn hiệu
Chúng mình người Việt Nam
Chân thành tay mình nắm
Quên mình lo nước non 
Việt Nam , Việt Nam ơi!

Thích nữ Nhất Chi Mai tự Nhất Chi di chúc
Sài Gòn 25.4.1967

Hình chụp bên phải (Click xem hình lớn hơn) là bia kỷ niệm Thích nữ Nhất Chi Mai tại khuôn viên chùa Pháp Vân Saigon

Bài thứ 2:

Chắp tay tôi quỳ xuống
Sao người Mỹ tự thiêu?
Sao thế giới biểu tình?
Sao Việt Nam im tiếng
Không dám nói hòa bình.

Tôi thấy mình hèn yếu
Tôi nghe lòng đắng cay
Sống mình không thể nói
Chết mới được ra lời.

Hòa bình là có tội!
Hòa bình là Cộng sản!
Tôi vị lòng nhân bản
Mà muốn nói hòa bình!
Chắp tay tôi quỳ xuống
Chịu đau đớn thân này
Mong thoát lời thống thiết!
Dừng tay lại người ơi!

Dừng tay lại người ơi!
Hai mươi năm nay rồi
Nhiều máu xương đã đổ
Đừng diệt chủng dân tôi!
Chắp tay tôi quỳ xuống.

Thích nữ Nhất Chi Mai tự Nhất Chi
Kính cáo.

Trước đây vào lúc 14 giờ 30 ngày 26 tháng 1 năm 1965 ( tức 24 tháng chạp năm Giáp Thìn ) tại vườn hoa trước tòa Hành chánh tỉnh Khánh Hòa cô Đào Thị Yến Phi con của ông Đào Trọng Bình và bà Lê Thị Vượng ngụ tại số nhà 20/30 hẻm Lê Thánh Tôn đã tự thiêu trước hàng ngàn người tụ hội tại đây để phản đối chính quyền Nguyễn Văn Hương. Đào Thị Yến Phi sinh ngày 6 tháng giêng năm Mậu Tý ( tức ngày 15  tháng 2 năm 1948 ) quê làng Đan Phượng tỉnh Hà Đông. Cô là Phật tử có pháp danh Nguyên Thường tự Diệu Mai. Cuộc tự thiêu của cô do tình nguyện và không được một đoàn thể nào tổ chức. Cô có để lại những bức tâm thư song không được phổ biến rộng rãi trong nhân dân.

Ngồi ngắm nhìn biển cả nhà sư liên tưởng đến sự hy sinh của hai nữ Phật tử. Cả hai đều là hai vị nữ bồ tát, công đức như nhau. Mỗi vị tùy duyên mà thành sự nghiệp. Bể cả mênh mông có trăm nghìn con sóng, tùy gió to biển động mà tạo thành, tuy nhiên sóng bao giờ cũng vẫn là sóng, tất cả vẫn thuộc về với biển xanh.


Đêm ba mươi Tết

Chiều ba mươi Tết, sư Viên Mãn đã có mặt trên núi Sinh Trung. Theo thông lệ tuy đã có chùa riêng để tiện viêc tu tập song các vị sư vốn xuất thân từ chùa Kỳ Viên Sinh Trung đều hội tụ về chùa chính. Mỗi tháng đều có mặt hai lần: ngày mồng một và ngày rằm. Cuối năm thường hiện diện trong các ngày trước Tết  để chăm lo Phật sự. Chiều ba mươi Tết sau khi chùa hành lễ xong, các vị sư mới trở về chùa riêng. Năm nay  sân chùa Kỳ Viên thiện nam tín nữ tập trung đông hơn mọi năm. Buổi lễ diễn ra rất trật tự và trang nghiêm. Khi mọi người ra về, sư chú Viên Mãn lên vấn an sư trụ trì và xin phép được về lại chùa Từ Tôn Hòn Đỏ.

Cu Hùng (con anh Sáu Sài Gòn) vẫn ngồi trên chiếc thuyền thúng đợi nhà sư. Buổi chiều ba mươi trên bến Hòn Đỏ dường như vắng lặng hơn. Gió hiu hiu thổi bóng chiều trên sóng nước. Màu trời xanh thắm hòa cùng màu nước biếc của trùng dương. Hòn Đảo cô đơn càng thêm xa vắng. Thuyền qua mau và trở về đất liền cũng mau. Thời gian chiều cuối năm như vội vàng thu ngắn lại. Sư Viên Mãn vẫn âm thầm nhẹ bước trên dốc mòn quanh co. Dáng đi thong thả trong bóng chiều đậm nhạt, bên tiếng sóng thầm thì. Chiều cuối năm trên hải đảo Hòn Đỏ vẫn quạnh hiu như những chiều thường nhật. Và buổi lễ cúng tất niên cũng đơn sơ và trôi mau trong dáng chiều tan dần trên sóng biếc. Lễ tất niên để đón giao thừa đã được chuẩn bị sẵn sàng, nhà sư ra ngồi nơi gành đá đăm chiêu nhìn về  thành phố Nha Trang.

Tuy chưa đến giờ giao thừa song một đôi nơi trong thành phố đã có đốt pháo mừng xuân. Có lẽ đó là tiếng pháo tiễn đưa năm cũ của những gia đình làm lụng cực nhọc cho đến  ngày cuối năm mới được  rảnh rang đưa tiễn ông bà.

Chiều nay biển khơi lặng sóng. Dáng núi Hòn Tre in đậm lên bầu trời và mặt biển có màu xanh thẫm. Trong tiếng sóng vỗ chung quanh Hòn Đỏ có tiếng reo vui, như sóng nước đang đón mừng năm mới sắp về. Mùa xuân rộng trải dáng xuân trên mặt biển bao la. Ngồi trong nhà chúng ta chỉ thấy mùa xuân phảng phất trên bàn thờ tổ tiên, trong khói trầm nghi ngút. Ngồi trên hải đảo Hòn Đỏ ta mới nhìn thấy mùa xuân ôm trùm lấy quê hương trong sự dịu dàng đằm thắm. Màu xanh của trời biển là màu xanh của mùa xuân, không riêng cho một ai, không dành cho một ai. Mọi người đều đón nhận, mọi người đều chung vui và là của chung tràn ngập cho tất cả mọi người. 

Trong hương nồng biển cả thoang thoảng mùi hương trầm tự núi Chúa thoảng về. Nơi đỉnh Hòn Đỏ khói hương trầm từ Tháp Bà Thiên Y A Na thoảng đến, khi có khi không. Lòng sư Viên Mãn tràn ngập niềm vui, tràn ngập hạnh phúc của đất trời đem đến. Đêm đến trên hải đảo tự bao giờ. Màn đêm lặng lẽ bao trùm, các ánh sao trời đua nhau bừng nở. Trời trong và biển cũng trong xanh. Hương xuân mặn mà trong gió biển, âm thanh mùa xuân như thì thầm trong sóng biển và lòng người như bao la  cùng đại dương. Có ngồi trên Hòn Đỏ đón xuân, mới thấu hiểu được niềm vui lớn của con người trước vũ trụ bao la, mới thấu hiểu được sự yên lặng đón chào mùa xuân của các vị thiền sư khi nhập định: xuân có mặt khắp nơi, trong từng khoảnh khắc thời gian, khắp vũ trụ. Xuân có trong 4 mùa, có trong từng sát na bên cạnh chúng ta.

Năm nay tuy chưa đến giờ giao thừa mà tiếng pháo đón mừng xuân mới đã rộn ràng, nổ rang rang. Bỗng nhiên khắp nơi đều vang lên tiếng pháo. Xen lẫn có đôi tràng súng nổ. Xuân đã về. Xuân đã về.

Từ Hòn Đỏ, nhìn về đất liền ngoài những ánh chớp của pháo còn có những lằn đạn đạo màu đỏ vạch chằng chịt lên bầu trời. Về hướng đồi Sinh Trung thì hướng đạn đi từ trên xuống.Từ đồi Trại Thủy hướng đạn lại từ dưới lên trên và cũng có hướng từ trên xuống dưới. Chen trong tiếng pháo lại có tiếng súng nổ rõ mồn một. Người dân Nha Trang ngỡ rằng năm nay nhân dân đón mừng năm mới cùng với quân đội trú đóng nơi phố phường. Mùi thơm của hương pháo lẫn với mùi khét của khói đạn.

Người xuất hành du xuân đã xuất hiện trên các ngã đường đi về hướng Tháp Bà hoặc chùa Long Sơn hay mọi ngã đường ra biển Nha Trang. Từng đoàn xe gắn máy chạy nối đuôi theo nhau khắp ngã đường. Phần nhiều phía sau xe có kéo theo những chiếc lon sữa bò, những chiếc lon coca cola hoặc những lon bia trống lòng. Tại các khu quân sự có nhiều bóng người lặng lẽ như đang đứng chờ xuân đến, trong bóng đêm, trong tiếng pháo rộn ràng.

Đúng 23 giờ 30 đêm giao thừa 29 Tết tại sân bay Nha Trang có tiếng súng dòn dã và kho đạn tại sân bay bốc cháy. Bầu trời phía Tây Nha Trang nơi vùng khu sân bay rực sáng do pháo sáng của đèn dù từ máy bay C47. Lệnh báo động được được ban hành song rất ít người chú ý và cuộc đốt pháo đón xuân vẫn náo nức tiếp diễn. Xe cộ chở người đi hái lộc trên đường phố vẫn rộn ràng. Phối hợp với tình hình này, quân giải phóng tiến công vào các đồn bót đóng tại Nha Trang theo ba cánh quân:

Cánh quân A là cánh quân chủ yếu có nhiệm vụ đánh vào 3 mục tiêu quan trọng: Tỉnh đường,Tiểu khu và Bộ Chỉ huy Tiếp vận 5. Sau hơn 10 phút các mục tiêu bị chiếm lĩnh.

Cánh B tiến chiếm đài phát thanh song vì lạc đường nên mãi đến 2 giờ sáng mới chiếm được căn cứ trên đồi Trại Thủy và tấn công chiếm đài phát thanh, song không thành.

Cánh C có nhiệm vụ tiến chiếm tiểu đoàn 65 truyền tin, tiểu đoàn vận tải và đại đội công binh cầu nổi. Trận chiến xảy ra ác liệt. Một trung đội công binh có nhiệm vụ phá cầu Xóm Bóng bị phát hiện và có sự chống cự  kịch liệt nên cầu không thể phá được. Tình hình chiến sự mãi đến sáng mồng hai mới tạm thời lắng dịu.

Hằng năm, chùa Từ Tôn nơi Hòn Đỏ sáng mồng một, các bổn môn đệ tử cùng khách du lịch hành hương đã tấp nập qua đò lên núi, thăm chùa. Đây là một cuộc hành hương trong dịp đầu xuân giữa trời mây biển cả. Du khách đi từng toán nhỏ, dạo quanh chùa, ngắm biển cả và nhất là để thắp nhang đầu xuân. Ngôi chùa nhỏ nhắn nhưng tĩnh lặng trong hương khói uy nghiêm. Tiếng du khách nói thì thầm với nhau như hòa cùng tiếng sóng  vỗ nhẹ dưới chân đảo.

Năm nay (năm Mậu Thân) mãi đến ngày mồng năm mới có một vài đạo hữu qua đò lên đồi thắp hương. Trên thực tế đêm mồng một chùa đã có ba vị khách đặc biệt đến xông đất nhà chùa. Đó là ba chiến sĩ quân giải phóng thuộc trung đội công binh có nhiệm vụ phá cầu Xóm Bóng để chặn quân từ trường Hạ sĩ quan Đồng Đế sang tiếp viện cho thành phố Nha Trang. Lực lượng giải phóng từ Núi Sạn tiến qua Ngọc Thảo, khi gần tiếp cận với cầu thì bị  phát giác. Sau khi giao tranh và nhận thấy hỏa lực địch quá mạnh nên trung đội công binh buộc lòng phải rút lui về núi Sạn. Trong cuộc chiến có ba chiến sĩ bị lạc đồng đội và  nương tạm vào nơi Xóm Bóng. Nhân thấy có một chiếc thuyền thúng cột neo dưới nhà sàn nơi mé sông, ba chiến sĩ đặc công liền dùng làm phương tiện nhẹ nhàng chèo qua Hòn Đỏ. Giấu thuyền nơi một hốc đá khuất lấp, ba chiến sĩ leo được lên đến chùa Từ Tôn. Sư Viên Mãn đã tiếp đón ba chiến sĩ rất ân cần và tiếp tế thức ăn (chỉ có mì chay lá vị trai). Tối hôm sau ba chiến sĩ xuống thuyền thúng rời hải đảo Hòn Đỏ  trở về đơn vị.

Sau này khi kể lại câu chuyện, nhà sư đã tâm sự:

Ban đầu khi gặp ba vị quân giải phóng, tôi rất ngạc nhiên. Ngạc nhiên vị nơi hải đảo hẻo lánh và xa xôi này rất có ít khách tham quan thì làm sao các anh bộ đội ở tận nơi chiến khu xa thẳm biết được nơi này có chùa, có người trú ngụ mà ghé đến nương nhờ khi hoạn nạn. Sau khi trò chuyện, sư mới biết đây chỉ là một sự tình cờ. Ban đầu các anh chỉ định tạm trú trong hang đá để tối hôm sau lẻn về đất liền đi tìm đồng đội. Nhưng  mờ sáng hôm đó nghe được tiếng chuông tiếng mõ và tiếng tụng kinh vẳng từ trên chùa xuống nên ba chiến sĩ quyết định lên xin chùa giúp đỡ vị đói và khát.

Gặp sư Viên Mãn các anh không giấu giếm thân phận mình và đã được nhà chùa giúp đỡ. Được biết rằng chùa này chỉ có một mình sư Viên Mãn trụ trì và với tình hình hiện tại thì sẽ không có ai ra đảo cho nên ba chiến sĩ giải phóng yên tâm nằm đợi đến tối vào bờ trở về đơn vị.

Gần 40 năm trôi qua, sư Viên Mãn không gặp lại ba chiến sĩ năm xưa nhưng kỷ niệm cuộc gặp gỡ ba người vẫn còn in đậm như sóng nước quanh hải đảo Hòn Đỏ.


Nương chân trên Đảo

Con trăng thượng tuần nghiêng nghiêng về phía Tây. Màu trời trong xanh như thẫm lại. Cuối phương trời một ánh sao rực rỡ. Biển đông trầm lặng giữa đêm khuya. Dưới chân Hòn Đỏ tiếng sóng vỗ vào vách đá nhịp nhàng êm ả. Cảnh vật trên đảo hoàn toàn yên lặng. Vừa xong buổi kinh khuya, sư Viên Mãn lặng lẽ ra đứng dưới tàn xoài nhìn mảnh trăng khuya nương mình sau lưng pho tượng kim thân Phật tổ trên ngọn đồi Trại Thủy. Ánh trăng mờ nhạt bao phủ khắp trời. Biển khơi yên lặng triền miên dưới ánh trăng mờ nhạt. Bỗng nhiên trong không gian yên lặng nổi lên một loạt súng và tiếng la ơi ới từ hướng đất liền. Tiếp theo là tiếng máy thuyền nổ lớn và từ Hòn Chồng có bóng hai chiếc thuyền máy lướt sóng chạy ra khơi. Chiếc trước chiếc sau như đang đuổi bắt nhau. Thoáng một lát sau, tiếng động cơ như chìm hẳn vào lòng biển cả. Không gian lại trở nên yên lặng, nhà sư chậm rãi về căn lều nằm kề bên hiên chùa.

Tờ mờ sáng hôm sau, đang nằm yên lặng trong cơn gió ban mai hiu hiu mát, sư định trở dậy để tụng kinh sáng thì bỗng nghe như có tiếng động sau hiên chùa. Trong không gian tĩnh lặng tiếng động tuy nhẹ nhàng song không thể nào lẫn lộn với hơi gió sáng. Trăng đã khuất từ lâu và tuy đã gần mờ sáng song màn đêm vẫn còn bao phủ lấy không gian hải đảo. Thắp vội ngọn đèn dầu leo lét, sư trụ trì lần bước ra sân. Trên sân chùa có một thây người đang nằm sóng sượt. Áo quần ướt đẫm, đầu tóc rối bời. Vội vàng bưng đèn đến soi tận mặt nhà sư biết được là một người con gái còn đang thoi thóp. Dìu nạn nhân vào chùa và lo phần cứu chữa. May mắn thay nạn nhân chỉ ngất đi vị quá mệt.

Sáng hôm sau khi tỉnh dậy nạn nhân cho biết mình là một kẻ theo gia đình vượt biên, bị phát hiện và lên thuyền chạy trốn. Khi đến vùng biển khu vực Hòn Đỏ thấy ghe không thể nào chạy thoát, đương sự đã khẽ lén chuồi mình xuống biển và bơi vào bờ. Vào đến bờ, nương theo đợt sóng, bám được vào đá, đương sự chui mình vào ẩn giữa một khe đá. Tuy đã mệt mỏi song vị lý do sinh tồn nên đương sự đã cố gắng bò dần lên đến sân chùa và đã ngất đi.

Sau đây là lời kể lại của nạn nhân:

- Thưa thầy, con tên là Liên. Gia đình con sống tại thành phố Hồ Chí Minh, gốc của gia đình tại tỉnh Long An. Cha con đi lính cho chính quyền miền Nam. Mẹ con là giáo viên dạy cấp một được nhà nước lưu dung song phải đi phục vụ tại vùng kinh tế mới Minh Xuân. Gia dình con gồm 4 người, con là con gái lớn duy nhất. Để giúp đỡ gia đình con tự thôi học năm lớp bảy, ở nhà theo bà con lối xóm đi buôn. Con từ Long An ra Nha Trang mua lưỡi câu, nhợ câu. Mỗi tuần đi một chuyến. Tiền lời kiếm được cũng đủ nuôi sống gia đình. Đi buôn được vài chuyến thì con quen biết với gia đình ông chủ tiệm buôn, ông hứa giúp con vượt biên cùng với gia đình. Thấy gia đình chủ hiệu thật lòng thương mến, nên con đã về thưa với  mẹ và tuy không muốn cho con ra đi tìm sinh kế nơi đất khách quê người song tình cảnh gia đình hiện tại đang lâm vào cơn nguy biến không có lối thoát nên mẹ con chấp thuận cho sự ra đi này. Gia đình ân nhân của con chỉ còn có hai vợ chồng. Các người con đều đã ra nước ngoài bằng đường biển hoặc bằng đường bộ qua ngõ Campuchia. Con ra Nha Trang ở được một ngày một đêm. Đêm hôm qua con theo một đoàn người  ra nhà một khách hàng ở cạnh Hòn Chồng. Chiều đó chúng con lên thăm Tháp Bà và ăn cơm chiều nơi một quán ăn nhỏ trong khu gần đường cái quan rẽ vào Hòn Chồng. Chúng con lặng lẽ đi từng người một ra đến mé biển Hòn Chồng. Chúng con ngồi trong những hốc đá, trong các lùm cây, yên lặng, hồi hộp.

Gần khuya thì có tiếng ghe máy ghé vào bờ. Khi rời khỏi nơi ẩn nấp con mới trông thấy còn có một số người đồng loạt xuất hiện. Chúng con lên hai chiếc ghe máy. Mỗi ghe chứa hơn 10 người. Khi ghe nổ máy chạy ra khơi thì trong bờ có tiếng người hò la kêu réo gọi ghe quay trở lại. Đồng thời có nhiều lọat súng bắn lên trời. Sau đó có tiếng động cơ của ghe máy nổ giòn giã xông thẳng về hướng ghe của chúng con. Chiếc ghe của bọn con chạy trước nhưng khi vượt qua mõm Hòn Chồng thì động cơ bị trục trặc. Chiếc ghe thứ hai vượt qua mặt và cứ thẳng tiến về hướng biển khơi. Chiếc ghe của con lại nổ được máy song chạy được vài mươi mét thì máy lại đứng. Phía sau, ghe biên phòng đuổi gần kịp. Bỗng nhiên toàn thể mọi người trên thuyền đều đồng loạt thốt lên tiếng khóc. 

Trong không gian tĩnh lặng của biển cả về khuya, tiếng khóc vang lên đầy não nùng và đau khổ. Kính thưa thầy, khi con nghe tràng tiếng khóc bi ai này thì lòng con chợt nhớ đến cha mẹ và các em con. Con cảm thấy trong tiếng khóc bi thương có tiếng khóc của gia đình con. Lòng thương yêu cha mẹ và gia đình lên đến tột cùng. Rồi bỗng nhiên con lao mình vào lòng nước. Mọi người trên thuyền đang sống trong tâm trạng lo sợ nên chắc đã tưởng rằng con bị ngã xuống biển trong cơn hoảng lọan. Thật tình con đã vì nghĩ đến gia đình nên đành tìm cách thoát thân bằng cách liều mình với biển cả, mong thoát được cảnh bị bắt khi vượt biên. Nhà con vốn ở gần bên bờ sông rạch nên từ nhỏ con đã quen với việc bơi lội. Tuy chưa từng bơi ở biển song con vẫn tin tưởng rằng nếu xuống được dưới nước thì con sẽ sống sót. Cho nên khi con lặng lẽ tuột xuống mạn thuyền mà không một ai để ý đến và khi đến mặt nước thì con âm thầm lặn ra xa chiếc thuyền đang bập bềnh trong tiếng khóc tuyệt vọng của hơn 10 con người chỉ toàn là đàn bà con nít.

May mắn cho con là màn đêm còn giăng kín mặt biển và nhất là bóng núi của Hòn Đỏ vẫn in hằn lên bầu trời thưa thớt ánh sao khuya. Tiếng khóc la bỗng nhiên im bặt khi tiếng máy của động cơ thuyền biên phòng đến sát mạn thuyền vượt biên. Và thuyền được kéo vào bờ. Con lặng lẽ bơi đứng một chỗ chờ cho thuyền chạy đi xa mới nhắm hướng Hòn Đỏ bơi vào. Lúc này còn một mình trong vùng đen của biển con mới thấy hoảng sợ và cô đơn. Tuy nhiên nhờ nơi lòng thương mẹ cha và gia đình nên con cố gắng lội cho đến khi chạm vào mảng đá đầu tiên trên Hòn Đỏ. Tuy mình đầy các vết xước vị hàu, vị đá nhọn song con vẫn tin rằng con đã được Trời Phật hộ trì nên bơi được đến đảo. Nhờ ở ý chí muốn sống mà con đã có đủ sức mạnh để nương theo những con sóng, trườn nhẹ lên bờ đá. Nhờ vào những khe đá đầy hàu nhọn mà con bám được để nhoi mình lên khỏi mặt nước. Lần mò con đã đến được hòn đá lớn đứng sừng sững bên mé nước. Dưới chân đá có bãi cát, con biết rằng mình đã thoát chết và đã đến được chân đảo. Yên tâm là mình được thoát nạn con nằm ngửa mặt nhìn bầu trời cao rộng. Rồi con thiếp đi lúc nào không hay.

Khi con thức giấc thì biển nơi phương đông đã hừng sáng. Một vài ngôi sao sáng rực trên vòm trời. Biết trời đã rạng đông và mình đã được sống sót song cần phải cố gắng tìm cách lánh thân. Con vội vàng nhổm dậy và nương ánh sao trời tìm hướng lên trên đồi. Trước đây con đã từng ra thăm Hòn Chồng và mắt con đã nhìn thấy Hòn Đỏ chập chờn trên sóng nước và trên đỉnh đảo có một ngôi chùa. Con hy vọng là nếu lên được đến chùa thì cuộc đời con sẽ thoát khỏi sự bắt bớ vì vượt biên và sẽ an toàn trở về quê cũ. Hơn một giờ lần mò đi trong ánh sao lờ mờ con đến được sân chùa. Con vừa quỳ xuống để tạ ơn đức Quán Thế Âm Bồ tát thì  bỗng nhiên con thấy trời đất chao đảo và con ngã xuống ngất đi.

 Sau một tuần tịnh dưỡng Liên đã rời chùa trở về Long An.


Về thăm chốn cũ

Buổi trưa hôm đó nằm dưới bóng cây xoài bên hiên chùa, nhà sư Viên Mãn đang trầm lặng nhìn bóng lá xoài lao xao trước gió. Bỗng nhiên nơi hiên chùa một bóng người hiện ra đứng yên lặng trên đầu chiếc ghế nằm của nhà sư.

- Bạch thầy, có lẽ thầy không còn nhớ con, nhưng con vẫn nhớ đến thầy suốt gần bốn mươi năm qua. Con xin tự giới thiệu, con là một trong  ba người lính miền Bắc đã được thầy cứu giúp trong những ngày tổng công kích Tết Mậu Thân. Anh em chúng con sống với sự che chở của thầy trong hai ngày đêm và mãi đến hôm nay con mới có dịp trở lại nơi hòn đảo này để cảm ơn thầy.

Nhà sư vui mừng ngồi nhổm dậy, cầm lấy tay người khách phương xa.

Qua câu chuyện hàn huyên nhà sư đã biết được rằng xưa kia có ba người nay chỉ còn có một. Trên con đường chinh chiến họ không được ở gần nhau và hai người kia đã anh dũng hi sinh nơi tiền tuyến.

- Bạch thầy, khi tổ quốc thống nhất con được phục viên và mãi chăm lo sinh kế nên con không có dịp vào Nam thăm lại những người cũ, nhất là những ân nhân đã giúp đỡ con trong những phút giây nguy biến. Hai người bạn năm xưa nay không còn nữa. Con vì mãi lo sinh kế cho gia đình nên  mặc dù rất nhớ miền Nam song khó có dịp vào thăm. Nay con đã đầy đủ về mặt tài chánh nên con nhất định vào Nha Trang thăm lại cảnh cũ cách đây gần bốn mươi năm.

Nhà sư yên lặng lắng nghe những nỗi niềm của chàng trai năm xưa. Sự gặp gỡ đột nhiên này đã gây không ít cảm động trong lòng vị sư già. Kỷ niệm gần bốn mươi năm xưa, mặc dù thời gian đã xóa đi nhiều chi tiết song khi người xưa trở về đột ngột thì hình ảnh xưa lại vụt trở về một cách  bất ngờ. Tình cảm này giống như tình cảm ruột thịt của những người thân thương lâu ngày xa nhau. Tuy gặp gỡ một thời gian ngắn song tình cảm thiêng liêng vì từ bi, vì nghĩa vụ cho nên tình cảm này đã trở thành tình cảm thân thương vô cùng sâu sắc. Người khách phương xa đã kể lại những tháng ngày chiến đấu trên khắp các chiến trường, những chiến công, những mất mát trong cuộc đời quân ngũ. Và nhất là sự thành công  khi tìm đúng hướng đi trong việc mưu sinh.

- Được giải ngũ về lập gia đình và cả nhà đã vui lòng đi lập nghiệp trên vùng núi rừng Tây Bắc. Ban đầu có những thất bại vị không có kinh nghiệm và nhất là không có cơ sở kinh tế và tài chánh nên gia đình nhiều năm đã lâm vào cơ cực. Mãi đến sau này gia đình mới thành công trong việc khai khẩn đất hoang, trồng cây ăn quả, nuôi cá và chăn nuôi súc vật. Con cái bây giờ đã vào đại học. Thu hoạch đã tạm ổn định. Cho nên con đã quyết định gởi nhà cho vợ và vào Nam một chuyến dài ngày.

Từ đất liền, người phương xa đứng ngắm hình bóng hòn đảo tuy đến có một lần song vô cùng thân thương. Những hình ảnh ngày xưa tị nạn bỗng chốc hiện về khiến lòng nao nao như sóng vỗ quanh đảo. Ân tình tuy không lớn lao, song niềm thương mến đã khắc sâu vào tâm khảm. Tình nghĩa quân với dân, đồng bào với bộ đội trong những tháng ngày chiến đấu, nhất là những ngày biến động Tết Mậu Thân. Một gói mì chay, một bát cháo trắng và nhất là một tấm lòng an lành trìu mến của nhà sư. Không nói nhiều, chỉ chăm sóc trong thầm lặng, trong  khả năng của một nhà tu hành nơi hẻo lánh đơn sơ. Lặng lẽ như một chiếc bóng, nhà sư vừa làm Phật sự vừa lo lắng cho sức khỏe từng người. 

Gần bốn mươi năm qua mà như mới ngày nào khi người khách viễn phương gặp mặt lại nhà sư. Vẫn khổ người nhỏ nhoi ốm yếu, tuy thời gian đã để lại nhiều nếp nhăn trên gương mặt, sự chậm chạp trong dáng đi. Nhưng trí nhớ của nhà sư lại bền vững với thời gian. Vừa gặp nhau nhà sư đã  nhận ra  và đã kể lại những gì đã xảy ra đêm hôm đó. Nghẹn ngào vị cảm xúc, người khách phương xa cầm lấy tay sư cụ không thốt được nên lời. Bỗng nhiên như không cầm lòng được, vị khách viễn phương ôm chầm lấy sư cụ, miệng  thốt nên lời: “Con không bao giờ quên được sư cụ. Rất nhớ đến công ơn của sư cụ”. Rồi nghẹn ngào không nói được gì thêm.

Niềm thân thương khi gặp lại người ân nhân cũ vẫn trong khung cảnh xưa, vẫn là con người xưa không có chút gì thay đổi. Ngọn đảo này vẫn sóng và nắng bao quanh. Bóng mát chòm cây, ngôi chùa nhỏ nhoi vẫn không có gì thay đổi. Lòng người khách viễn phương nao nao như được trở lại mái nhà xưa.  Vị sư già và khách cùng nhau đi chung quanh đảo như hai người bạn cố tri. Trong lòng người khách có chút gì xao xuyến khi nhìn thấy những con sóng vỗ chập chờn lên dãy đá có màu đỏ đặc biệt bao quanh hải đảo. Gần bốn mươi năm rồi mà những con sóng này vẫn không có gì thay đổi, những dãy đá nằm phơi mình dưới nắng vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, sư cụ có già đi song tấm chân tình vẫn còn làm con tim người khách viễn phương tràn đầy trìu mến.

Trưa hôm đó hai người cùng nhau ngồi ăn dưới bóng cây xoài bên hiên chùa. Thức ăn vô cùng đạm bạc: một dĩa đậu khuôn, một chút nước tương và một lưng cơm trắng. Cả hai ăn trong niềm vui tương ngộ, trong niềm vui bất ngờ có được của một kỷ niệm đã qua, tình cờ đến và cũng tình cờ thoảng qua như bóng mây trôi trên hải đảo. Khi ba người lính giải phóng đến cũng như đi, không hò, không hẹn và lòng của sư cụ không còn vướng bận sự có không. Hôm nay chỉ còn có một người trở lại, hạnh phúc đoàn viên không được vẹn toàn song có vẫn hơn không, tấm lòng cố tri vẫn tràn đầy như biển cả.

Không ở chơi lâu được với sư cụ, người khách viễn phương từ giã lên đường. Đảo Hòn Đỏ vẫn cô đơn trên sóng biếc.


Trở lại thăm chốn ân tình

Một buổi ban mai nắng hồng vừa nhuộm thắm hòn Đỏ Từ Tôn thì sư cụ được một thiếu phụ đến thăm .Trông hình dáng bên ngoài thì có vẻ một du khách nước ngoài. Màu da trắng đỏ, đi đứng gọn gàng và nhất là cách ăn nói nhiều văn phong lễ độ. Vừa trông thấy sư ông người thiếu phụ vội sụp xuống lạy. Cảnh tượng lạy thầy thường xảy ra song hôm nay lòng sư ông bỗng nhiên có một cảm nhận khác lạ. Người thiếu phụ lạ này gợi trong lòng sư ông một hình dáng quen thuộc. Lạy xong người thiếu phụ bật lên tiếng khóc nức nở và rồi ôm chầm lấy sư ông. Sự cảm nhận bỗng chợt đến. Nhà sư thốt lên:

-  Có phải con là Liên đó không?

Ngưng ngay tiếng khóc, người thiếu phụ tên Liên sung sướng:

- Thưa ôn, chính con là Liên đây. Con là đứa con gái mà ôn đã cứu vớt và cưu mang khi con từ cõi chết trở về.

Hai ôn cháu cùng ngồi dưới hiên chùa chuyện trò thân mật. Thì ra sau khi từ biệt chùa Từ Tôn, Liên về lại quê nhà ở Long An và sống lại cuộc đời lao động. Hai năm sau Liên tình cờ gặp lại gia đình người chủ cũ đã mãn hạn tù vị tổ chức vượt biên. Họ lại tìm cách ra đi và lại đem theo Liên. Cả ba đều được định cư tại Hoa kỳ. Rồi Liên có gia đình và có công việc làm ăn cố định. Lòng bao giờ cũng muốn về thăm quê hương song cảnh nhà của Liên ở Long An, cha mẹ không còn nữa và bà con cũng đã phân tán đi nơi xa. Bạn bè thân quyến không có tin tức gì.  Đó là nguyên nhân làm cho Liên tuy đã trên 30 năm xa đất nước mà không có dịp trở về. Năm nay nhân có người con vừa tốt nghiệp đại học và để chuẩn bị  trước khi đi làm nên người con bèn đưa mẹ về thăm lại quê hương. Quê hương Long An không còn ai là thân thuộc cho nên mẹ con cốt ý ra Nha Trang để thăm lại vị sư và ngôi chùa trên hải đảo nơi mà mình được cứu sống và cưu mang trong những ngày lâm nạn.

Cảnh trí trên hải đảo xanh tươi hơn lúc trước song mái chùa xưa vẫn như ngày nào. Liên đã hứa cùng sư ông khi nào chùa đại trùng tu thì Liên sẽ về đóng góp một ít nhiều công của. Rồi Liên từ giã sư ông trở về đất liền.


Người thứ ba trở lại

Mùa Vu Lan năm Phât lịch 2550 đảo Hòn Đỏ (Từ Tôn) người người đến viếng thăm đông đảo. Một phần đi lễ chùa, một phần đi viếng cảnh.

Nhà sư Viên Mãn tuổi tuy đã già song vẫn còn ngồi tiếp chuyện với các đệ tử viếng thăm. Trong số quan khách có một người ngồi đăm chiêu nhìn ra trùng dương bát ngát xanh thẳm. Sư Viên Mãn chợt nhận ra và sau khi tiễn đưa khách, nhà sư đã đi đến ngồi bên cạnh vị khách .

-  Bây giờ tôi mới nhận ra ông là ông Phương. Ông đến chùa đã hơn hai mươi năm rồi. Ngày đó còn thưa khách nên được nói chuyện với ông, có rất nhiều thích thú.

 Sư cụ cùng với Phương ra ngồi nơi ghế đá dưới cội bồ đề phía đông Hòn Đỏ. Sau đây là câu chuyện của hai người tri kỷ về Hòn Đỏ và chùa Từ Tôn (thật ra là chỉ có ý kiến riêng của vị khách mà thôi)

- Thưa sư cụ, hai mươi năm trước con lần đầu tiên bước chân lên Hòn Đỏ, lòng con rất an nhiên và hạnh phúc vị con đã cảm nhận được nơi này là một cảnh đẹp tự nhiên nhờ có công thầy mà nên dáng một thắng cảnh của quê hương Khánh Hòa. Bên cạnh đó ngôi chùa Từ Tôn đơn sơ nhưng đầm ấm. Giữa cảnh hoang vu và khô héo này có được một ngôi chùa, một vị sư lấy sức lao động bản thân để xây dựng. Là một kỳ tích, là một minh chứng cho cõi đời đầy phức tạp này có một  công trình khiêm nhường nhưng rất đáng kính phục.

Hôm nay con trở lại nơi này, cảnh vật đã khác xưa nhưng con có một vài ý nghĩ cá biệt. Bạch sư cụ, cảm nghĩ đầu tiên của con là cảnh chùa hôm nay đẹp đẽ và tươi nhuận hơn mấy năm trước. Ở khắp nơi trên Hòn Đỏ đều có hình tượng bóng dáng của các chư vị Phật. Hòn Đỏ hôm nay có đầy đủ uy thế của một danh lam. Tuy nhiên con không khỏi nao lòng khi nhìn cảnh tượng khắp đó đây đều lưu quá nhiều bút tích, tượng Phật trên bãi đá, vách đá, hốc đá. Đã biết rằng nơi nào cũng là đất Phật, hiện thân của đấng từ bi hằng luôn có trong mọi nơi, mọi chốn.  Song lòng con không thể nào ngăn được ý nghĩ là chúng ta đã thế tục hóa Hòn Đỏ. Trước đây con có một ý nghĩ rằng Hòn Đỏ là một thắng cảnh để du khách đến chiêm ngưỡng cảnh trời mây biển nước và lắng lòng đón nhận hương vị thiền khi từ thế giới thiên nhiên bước chân vào chốn thiền viện. Con vẫn hằng ao ước rằng chùa Từ Tôn luôn luôn là một thiền viện, một ngôi chùa khiêm nhượng chào đón du khách sau khi đã ngắm no đủ cảnh sắc thiên nhiên, để bước vào tĩnh lặng của tâm hồn.

Con đã hằng ao ước chung quanh đảo, chung quanh chùa có những hàng cây được trồng quy mô có ích cho chùa và cho cảnh quan, những bãi đá để môn đồ ngồi tĩnh lặng tham thiền, để du khách có đôi phút giây ngồi trút bỏ những bận rộn của thế gian trước trời mây biển cả. 

Con vô cùng buồn bã khi con nhìn thấy nơi bãi đá trước kim thân Quán Thế Âm Bồ Tát, nơi chòm cây, ghế đá, nơi có thể coi như là đẹp nhất của đảo, đã có từng nhóm người ngồi ôm nhau, mùi cá thịt nướng xông bay nồng nặc lẫn với những tiếng cười đùa phàm tục nghe đến buồn nôn. Con biết đây là một nỗi buồn của nhà chùa, một bất lực không thể nào giải quyết, một thảm trạng của sự sa sút tâm linh của một số thanh niên hiện đại.

Theo con, ngày trước con  đã đi trong tĩnh lặng để nhìn ngắm cảnh trí trên đảo, lòng đã gặp thiên nhiên, hồn đã gặp được nét u trầm của chùa. Bóng chùa đã để lại trong hồn con một cảnh tượng xa xưa đã từng có trên chùa Linh Phong (còn gọi là chùa ông Núi ở Phù Cát, Bình Định.) Trong danh thắng có danh lam. Trong bóng mát của rừng có bóng ẩn hiện của mái chùa. Còn bây giờ thì dường như Hòn Đỏ đã bị thế tục hóa đi ít nhiều.

 Vẫn nhìn ra ngoài biển cả mênh mông, sư Viên Mãn chậm rãi nói trong suy tư:

- Tất cả đều là giả tạm. Cảnh con đang thấy trước mắt cũng là giả tạm. Nay đang có thì ngày mai có thể không còn nữa. Tất cả những điều con trông thấy là sự thật. Nhưng sự thật trong một giai đoạn nhất thời. Con nên biết: tất cả đều là vô thường. Những tượng Phật trên bãi đá, trong hốc đá, dưới bóng cây, trước đây bốn mươi năm không hề có. Rồi một mai cũng sẽ mất đi và chỉ còn biển và đá, trời và mây. Tất cả đều là giả tạm. Cái còn lại, chỉ còn trong tâm của con mà thôi. Để tâm hồn được yên tịnh, con nên suy ngẫm và chiêm nghiệm hai câu thơ này:

Nước mây hằng tự tại
 Vàng đá chẳng vô tri

Hãy tìm hiểu cho thật thâm sâu, con sẽ nhận thức được những ảo diệu của câu thơ. Và thông suốt tư duy về cõi đời này.


Thay lời kết

Nơi vườn chùa, ngoài hoa cỏ tốt tươi còn có một cây cảnh bằng lăng được trồng trong một chiếc thuyền thúng. Chiếc thuyền nầy đã từng đưa nhà sư Viên Mãn qua lại từ đất liền đến Hòn Đỏ, nhất là trong công việc chuyển tải nước, đất trồng trọt trong những tháng ngày mới khai phá và xây dựng hoang đảo. Kỷ niệm ghi dấu ban đầu còn có cây bằng lăng mọc côi đơn trên đảo. Sau này chiếc thuyền thúng theo thời gian mà tàn tạ, nhà sư Viên Mãn mới dùng làm chậu hoa trồng cây bằng lăng để làm vật lưu niệm những tháng ngày đội nắng trên Hòn Đỏ.

Nhà giáo Phong Hương đã có đôi dòng xúc cảm:

Cây cảnh bằng lăng

Cây bằng lăng xưa
Khẳng khiu
Trong chiếc thuyền thúng
Nằm đơn độc
Bên cạnh vườn hoa
Chưa xóa nhòa
Cảnh  nắng trưa
Nhà sư trần lưng gánh nước
Bước từng bước
Từ chân dốc lên đồi
Ôi! những giọt mồ hôi
Chảy dài trên lưng Bồ tát.
Nắng chói chang
Lòng vẫn luôn rào rạt
Ước mong xanh mát bóng chùa…
Từ Tôn, Hòn Đỏ hương đưa
Cây bằng lăng vẫn dáng xưa một lòng.

Trần  Phong Hương

Nha Trang ngày 9 tháng 9 năm 2006
Quách Giao


Phụ bản:
Hòn Đỏ
(Trích từ cuốn Hướng Về Tháp Bà Thiên Y của Quách Giao, 
nxb Hội Nhà Văn năm 2005)

Từ đỉnh Sinh Trung phóng mắt nhìn về Đông Bắc, dưới chân dãy núi Cù Lao, nằm cách chân núi vào khoảng 500 m có hòn đảo nhỏ chập chờn trên sóng nước. Đảo vắng người vãng lai vì chung quanh chân đảo đá dựng chập chùng. Màu sắc của đá, dáng hình của đá có hình thái khác mọi nơi. Đá trên đảo và ven chân đảo phần nhiều đều có sắc đỏ. Nhiều nơi có từng mảng lớn màu đỏ như son tàu. Có lẽ do trong đá có nhiều chất sắt bị ôxy hóa lâu ngày mà thành. Những ngư dân từ biển cả bao la khi quay thuyền về bến cá Cù Lao trong ánh nắng bình minh đã nhìn thấy hòn hải đảo nhỏ xinh này đỏ rực đón ánh chiêu dương. Lấy sắc đá, nhìn cảnh đẹp lúc bình minh trên hải đảo, người dân chài đã gọi tên hải đảo này là Hòn Đỏ. Được mang tên đơn giản như các đảo đàn anh Hòn Mun, Hòn Rùa, Hòn Chồng, Hòn Én v.v.. Người dân địa phương đã đặt tên các hòn đảo theo hình dáng, theo sản vật có trên đảo. Một đôi khi lại có tên rất  văn học, như  đảo Trí Nguyên,  đảo Bích Đầm v.v..

Hòn Đỏ cũng được những người dân sống trên bờ gần đảo nhìn thấy hoàng hôn xuống, phía trời Tây hừng đỏ ráng chiều chiếu trên những tảng đá lớn đứng nơi bến đò làm cho đảo càng thêm đỏ thắm. Khi phương trời Tây sắc hồng đã phai và sắc tím hoàng hôn ngự trị trên bầu trời thì màu đỏ của đá lại càng thêm đậm đặc. Sắc đá không phai theo sắc trời, sắc biển mà dường như chứa đọng lại sắc ráng chiều và như ráng chiều đã xuống nằm ngủ nơi vách đá. Nhân dân địa phương đã nhìn cảnh mà đặt tên cho hải đảo: Hòn Đỏ. Khách văn chương lại đặt tên cho đảo là Hòn Ráng Chiều.  Khách phương xa đến viếng đảo đã gởi lại những vần thơ kỷ niệm:

Một áng Đường thi :

Hòn Đỏ Từ Tôn

Hòn Đỏ nằm bên cạnh Đá Chồng
Một bên liền đất một bên không
Thắm tươi sắc đỏ nên danh hiệu
Nhuần đượm màu xanh kết dải đồng
Phương Bắc gió về xua nắng bức
Gành Đông hương thoảng đón trăng lồng
Trông vời mây nước đâu xa cách
Mà chỉ  gần nhau một tấc lòng.
Vương  Kiều Thu

Hai vần Ngũ ngôn của Lê Triều Phương :

Triền miên, triền miên sóng
Nền đá nhẵn hồng tươi
Hòn Đỏ tên người gọi
Lòng son tự muôn đời

Nghênh ngang gió lồng lộng
Rung cây cành ngả nghiêng
Vòm xanh nằm ẩn bóng
Mái Từ Tôn tịnh yên

Thời tiền chiến nhà thơ Đường Quách Tấn cùng các bạn Chế Lan Viên, Yến Lan v.v.. thường đi ghe nhỏ ra viếng Hòn Chồng. Sau khi  ghé thăm Hòn Chữ nằm giữa sông Cù cận Tháp Bà, thuyền lại vượt qua cửa biển Đại Cù Huân. Đường đi trên sông nước, tuy rất ít người đi song cũng được nhà thơ giới thiệu với khách du lịch:

Hỡi ai viếng cảnh Nha Trang
Muốn tìm dấu cũ thì sang Tháp Bà
Muốn trông trời bể bao la
Con thuyền nho nhỏ bơi ra Hòn Chồng…
( Xứ Trầm Hương)

Vượt qua cửa sông (cửa Đại Cù Huân) thì du khách thấy ngay Hòn Đỏ trước khi đến Hòn Chồng. Bơi thuyền một vòng quanh Hòn Đỏ cảnh trí của Hòn Đỏ từ dưới biển trông lên vô cùng ngoạn mục. Tuy cảnh đẹp, tình muốn lên song vách đá dưới chân đảo lập nên dãy “vạn lý trường thành” nên khách du quan đành rẽ nước thẳng đến Hòn Chồng. Phần đông khách du lịch đều đến Hòn Chồng bằng đường bộ nên ít người được biết mặt Hòn Đỏ vị khi ấy chưa có con đường thuận tiện đi ngang qua bờ bên kia đảo.

Hòn Đỏ nằm song song với Hòn Chồng cách xa không đầy một cây số. Hòn Chồng thì thuận tiện đường đi, nằm nối với đất liền nên được khách du quan thường xuyên lui tới, và trở nên nổi danh là một thắng cảnh của Nha Trang.

Trước đây khách đến Hòn Chồng với tấm lòng bâng khuâng man mác trước trời biển bao la để ngắm nhìn dãy đá nằm nghiêng mình trên sóng nước. Khách đến với Hòn Chồng từng đôi, từng nhóm, với một tâm hồn thanh thản, một niềm vui hồn nhiên để  tâm hồn  rộng mở trước cảnh trời nước bao la. Từng tảng đá, từng hang đá đều mang một câu chuyện huyền thoại một nguồn vui, gợi lại trong  lòng ta, một thời kỳ hồng hoang khi mà con người còn cùng với thiên nhiên quấn quít thân tình. Thuở mà còn những bóng dáng học sinh cùng đến với trời mây để cho lòng nhẹ nhàng cùng sóng nước. Thuở mà đôi lứa cùng đến để ngồi bên nhau nghe sóng vỗ rì rầm, để cùng nhau đo xem bàn tay ông Khổng lồ lớn đến mấy gang tay. Việc viết tên kỷ niệm trên đá hay vứt bừa bãi rác bẩn hay các lon nước ngọt, lon bia xuống các khe đá không bao giờ xảy ra. Khách đến viếng còn để lại cho hậu thế những vần thơ đầy cảm mến :

Đất nắn trời nung khéo định đôi
Hòn Chồng đực cái phối hai ngôi.
Ông xây nên móng cây trồi mụt
Bà đúc ra chuông đá mọc chồi.
Mây núi  rũ giăng màn tịnh túc
Nước khe hầu rót chén giao bôi.
Non thề giai lão trơ trơ đó
Gió chẳng lung lay sóng chẳng dồi
Chí sĩ  Trần Cao Vân

Và :

Trời mây biển nước cảnh mênh mông
Chân núi giô ra đá mấy chồng.
Khắng khít thớt em nương thớt chị
Vững vàng hòn cháu đỡ hòn ông.
Sóng xô đẩy mãi bền gan sắt
Rêu buộc ràng thêm chặt dải đồng.
Gặp gỡ đá đây ta hỏi đá
Vá trời bao thuở mới nên công.
Quách Tấn

Hòn Đỏ đẹp hơn Hòn Chồng song vị đường đến đảo khó khăn nên đảo được sống một thời gian dài tĩnh lặng. Hằng ngày, vào lúc trời chiều khi thủy triều rút xuống,các rặng đá và san hô chung quanh đảo nhô cao thì người có thể lội bộ mà ra đến đảo. Những lúc nước dâng cao thì phải có đò đưa sang.

Diện tích đảo Hòn Đỏ rộng hơn 4000 mét vuông. Đảo có hình một củ khoai tây. Chiều dài từ Đông đến Tây độ 500 m, từ Bắc đến Nam dài độ 400 m. Trên đảo đá nhiều hơn đất, cây con cằn cỗi, cây cổ thụ chỉ lưa thưa. Cảnh quan trên đảo  đầy vẻ hoang sơ, nhưng thơ mộng. Tuy chỉ cách đất liền không quá 500 m mà khi du khách  đến viếng thăm đều có cái cảm giác như đang đặt chân lên một hải đảo xa xôi cách đất liền hàng vạn dặm vị  trước mắt ta chỉ toàn là trời biển bao la. Trước kia vị không có đường đi rộng rãi từ đất liền ra đến bờ bên kia đảo, nên  vắng tiếng động cơ máy móc, tiếng ồn ào của phồn hoa không bao giờ vọng đến. Cảnh đã tịnh mà âm thanh  lại càng  xa vắng như có như không. Cho nên trước năm 1960 đảo dường như hoàn toàn vắng bóng khách viễn du. Đến Hòn Đỏ ta chỉ nghe tiếng gió thì thầm cùng tiếng sóng vỗ dịu dàng lên vách đá và đôi tiếng chim thưa thớt thoảng  trong nắng ban trưa. Trước trời biển bao la, hải đảo Hòn Đỏ trở nên nhỏ nhoi xinh xắn. Sắc đá, màu cây trang trí cho đảo thêm phần diễm lệ.

Hướng Đông của đảo, trời nước bao la, màu xanh của biển hòa lẫn với sắc biếc của trời. Cận tầm mắt  là hải đảo Hòn Mun nằm oai vệ giữa biển khơi trông như một áng bình phong nằm  chắn gió cho Hòn Đỏ. Hòn Mun là nơi ghé lại của tầm nhìn từ Hòn Đỏ ra bể khơi. Trước biển Đông,  Hòn Đỏ không cô đơn vị chung quanh còn có nhiều hòn đảo khác to lớn hơn, kỳ vĩ hơn. Giữa bầu trời mênh mông với màu xanh của biển, của trời chen lẫn với màu trắng của mây, của muôn ngàn con sóng trùng dương chập chờn tung bọt hoa trắng xóa, Hòn Đỏ vẫn không thấy lẻ loi vì phía sau đảo còn có dãy núi Cù Lao, có Tháp Bà và xa hơn nữa còn có Hòn Bà đang uy nghiêm dõi nhìn về bể Đông.

Buổi bình minh ở Hòn Đỏ, đẹp nhất là về hướng Đông. Thiên nhiên đã tạo cho hòn đảo có một quang cảnh vô cùng diễm tuyệt. Bờ đá ở phía Đông không cao mà lại dài, nằm trải rộng im lìm để mặc cho sóng nước vỗ về xoa nắn. Mặt biển nhiều khi phẳng lặng như một mặt hồ mông mênh. Màu xanh của đại dương như trong suốt hòa với màu trời có sắc xanh thẫm lác đác những vị sao tắt muộn. Tuy mặt trời chưa rựng mọc song cái cảnh trong sáng của một bầu trời sắp rạng đông đã mang lại cho biển một màu sáng mơ hồ để phân biệt được giữa ngày và đêm.

Nhà thơ Lê Triều Phương sau một chuyến thăm Hòn Đỏ đã  viết nên một bài thơ :
Bình minh trên Hòn Đỏ

Dạo chơi trên Hòn Đỏ
Cận kề bên biển Đông
Giữa lòng trời mênh mông
Màu xanh chen sắc trắng
Cánh buồm mây phẳng lặng
Ngắm hoa biển chập chờn
Thuyền xa về cô đơn
Sóng vỗ quanh đảo nhỏ.
Bước chân lên Hòn Đỏ
Gặp vách đá ngàn xưa
An  lành  cùng nắng mưa.
Bờ phía Đông ửng nắng
Lòng biển xanh phẳng lặng
Tình biển cả bao la.
Mặt trời tự phương xa
Ửng hồng chân mây thắm.
Ngồi trên hòn đá phẳng
Chờ đợi ánh triêu dương
Đây là mảnh thiên đường
Buổi mai hồng dâng tặng .
Mây hồng phơn phớt trắng
Xanh biển xanh mặn mà
Vang vọng muôn lời ca
Đàn chim âu giăng cánh
Mặt nước hồng sóng sánh
Nâng ánh mặt trời lên
Hòn Đỏ bóng bồng bềnh
Cùng bình minh thức giấc.

Cần phải có một đêm sống trên đảo Hòn Đỏ, du khách mới cảm nhận được cái đẹp lúc bình minh, cái trong trẻo của ban mai và cái cảm giác của con người trước vũ trụ sau một đêm đen dày đặc. Được sống, được cảm nhận, được đọc thơ, lòng du khách mới cảm nhận được đầy vơi khi ngồi trên bờ đá nơi hướng Đông Hòn Đỏ trong bầu trời bình minh.

Có ngồi đón bình minh nơi Hòn Đỏ, du khách mới tận hưởng được màu sắc của đá để phân biệt được màu hồng của trời lẫn vào màu hồng của đá như thấp thoáng màu hồng của da thịt con người, da thịt của một bé thơ vừa mới tắm. Ngồi lắng lòng, mắt lim dim, du khách chắc chắn sẽ cảm nhận được, sẽ nhìn thấu suốt được sắc hồng tươi tắn của thiên nhiên với một cảm nhận rung động nhẹ nhàng giữa bình minh nguyên thủy trên hải đảo Hòn Đỏ Từ Tôn.
Trong thời gian từ lúc mặt trời lên cho đến khi đứng bóng, du khách có thể men theo đường mòn, theo bờ cỏ dại, vượt qua những chòm đá nằm rải rác im lìm dưới nắng để ngắm nhìn cảnh quan chung quanh đảo. Đến đâu cũng nhìn thấy mặt bể bao la, bầu trời xanh ngắt. Nhiều nơi cận kề sát mé biển du khách có thể trông thấy  bờ vách đá nơi chân núi với sóng nhẹ vỗ lên bờ đá, với hoa sóng tung tóe trên vách hồng của đá. Trước quang cảnh này du khách có cảm tưởng là mình đã rời xa chốn bụi trần để hoàn toàn sống cùng với trời mây biển cả.

Về phía Bắc đảo, du khách bắt gặp nhiều cảnh khác biệt. Nhìn gần thì thấy bờ đá khẳng khiu có dáng khắc khổ hơn mọi nơi trên đảo. Vách đá dựng đứng dưới nước, nhiều mũi đá nhọn nhô cao như một rừng chông bảo vệ cho đảo. Trên đảo thì cỏ cây khô héo lúc hạ sang và đợi đến đông về  mới xanh tươi trở laị. Mùa đông những cơn gió bấc hợp với sóng biển vỗ mạnh vào đá khiến cho đá phải lồi lõm, cây cỏ phải điêu tàn. Chỉ đợi đến mùa hạ đến thì mặt Bắc của đảo mới hưởng được cơn gió nồm đem cái hiu hắt, cái cơn mát dịu dàng đến ấp iu cùng hải đảo.

Nhìn xa xa  du khách bắt gặp Hòn Chồng nằm trải dài từ bờ ra đến biển. Nhấp nhô trên đá bóng những du khách dạo chơi ngắm cảnh đá nước Hòn Chồng. Và xa hơn nữa là chập chùng núi biếc.

Về hướng Nam của đảo, thật ra là hướng Tây Nam, thành phố Nha Trang nằm phơi mình trong nắng biển. Nắng biển không chói chang nên thành phố nằm êm đềm trong tĩnh lặng. Thành phố NhaTrang không cần đến những chung cư, cao ốc  vươn lên như chọc trời để khách du quan có thể từ hải đảo Hòn Đỏ ngắm nhìn pho tượng Kim thân Phật tổ ngự trên đỉnh đồi Trại Thủy in hình trên nền trời xanh thấp thoáng bóng mây trắng lững lờ bay quanh. Cùng lúc, chùa  Kỳ Viên Trung Nghĩa thắm đỏ trên ngọn núi Sinh Trung ngân đưa hồi chuông triêu mộ. Ngọn núi Sinh Trung hôm nay không còn soi mình trên mặt nước đầm Xương Huân, lặng lẽ nhìn bến nước Hà Ra lao xao trong nắng. Nhưng vẫn hiện diện cùng với trời mây trên thành phố Nha Trang.

Từ Hòn Đỏ ban đêm nhìn về thành phố Nha Trang ta thấy thân mến hơn, gần gũi hơn và nhất là rực rỡ hơn. Ánh đèn giăng mắc dọc theo bờ biển từ Chụt gần đến Bãi Tiên. Chiếc cầu vồng hoa đăng Trần Phú như một dãi đăng ten kết bằng sao trời lộng lẫy vắt ngang qua cửa sông Cù. Ban đêm từ hải đảo Hòn Đỏ nhìn thành phố Nha Trang tuy không to lớn rực rỡ bằng Hà Nội, Sài Gòn  mà là một thành phố đủ thương đủ nhớ cho những du khách  ghé lại một thời.

Trưa đến, khí nóng hừng hừng trên vách đá. Không thể phơi mình ngoài nắng nóng du khách đành nương bóng mát của các cây me, cây đa phủ bóng lên trên dãy đá.

Dưới bóng hai cành đa soãi mình trên lưng đá nơi hướng Tây Đông, chiếc võng đong đưa nâng hồn du khách vào thế giới bồng lai. Gió từ biển xa thổi về nhè nhẹ. Nằm nghiêng mình trên chiếc võng nhìn xuống vũng nằm giữa đảo và đất liền du khách ngắm nhìn những con thuyền đánh cá neo đậu đang chập chờn trên sóng nước.

Thuyền đậu không nhiều nhưng chứa đầy thơ mộng. Nó gợi cho ta một bến nước xa xưa chỉ có một vài chiếc thuyền neo đậu nghỉ trưa nơi hải đảo xa xôi. Khi nào lòng ta chán chê trước cảnh chen chúc đậu bừa bãi của các ghe thuyền khi vào bến ở Cù Lao, Cồn Giữa, Cửa Bé v.v.. thì  ta mới nhận ra rằng thấy một vài chiếc thuyền neo đậu nghỉ  trưa nơi bến Hòn Đỏ, trí ta liền nghĩ  đến cảnh một bến Tiêu Tương nào đấy hay một nơi bãi vắng của một hải đảo xa xôi, vắng vẻ khách phàm trần.

Qua khe lá ta bắt gặp được buổi trưa hè yên lành, buổi trưa của thời trẻ dại, ta được nằm dưới vòm lá hiu hiu gió mát, từ cánh đồng lúa mạ non thổi về. Ta sẽ nằm thiu thiu mà không ngủ để nghe chất mặn của bể khơi lẫn trong hơi mát tự trùng dương thổi đến để lòng đón nhận cái mênh mông của đất trời tỏa trên hải đảo. Tự nhiên lòng lại nhớ đến bài thơ của phu nhân nhà thơ Lê Triều Phương đã cùng chồng đến du lãm Hòn Đỏ Từ Tôn:

Hòn Đỏ ban trưa

Trên cành đa vững chắc
Chiếc võng nhẹ đu đưa
Mơn man gió mát đừa
Hương nồng từ biển cả
Hòa cùng hơi mát đá
Nâng giấc nồng lên khơi
Mây trắng bay dạo chơi
Giữa trời xanh sắc biển
Muôn ngàn con sóng lượn
Quanh đảo nhỏ chập chờn
Niềm vui nào vui hơn
Buổi trưa nằm nghe sóng
Dưới biển sắc trời đọng
Trong gió lá thì thào
Cánh  én vút trời cao
Đoàn ghe nằm trong vũng
Theo nhịp trưa xao động
Hiu hiu  giấc trưa nồng
Hồn hòa cùng mênh mông
Một tiếng chim vừa hót
Như pha lê nhỏ giọt
Trên phím đàn trời xanh
Buổi trưa  vàng yên lành
Hòn Đỏ đầy thơ mộng.
Đoàn Thị  Gái

Trên chiếc võng đu đưa ta sẽ thiếp dần vào giấc ngủ cùng với  nắng vàng trên Hòn Đỏ đầy thơ, đầy mộng. Và khi tỉnh giấc hồn ta cảm thấy sảng khoái, lòng ta cảm thấy vui vui để lắng nghe những câu chuyện hoang đường, những huyền thoại vô cùng thích thú.

Trước tiên là của các hòn đá. Nơi hướng Đông có một hòn đá có tên là Hòn Chị Em. Hòn Em to lớn hơn Hòn Chị  lại nằm ở phía dưới trông như đang nâng đỡ chị để cùng nhìn ra biển Đông.

Nơi phía Hòn Chồng có Hòn Chồng Cái gồm hai pho đá đứng song song với nhau xứng với câu thơ của nhà thơ Quách Tấn:

Khắng khít thớt em nương thớt chị”

còn ở đây thì tương hợp với câu :

“Khắng khít thớt em nâng thớt chị “

Vị ở gần nhau nên  cùng chung hưởng  một tình thơ.

Kế đến là hòn đá to lớn hình khối có tên gọi là Hòn Đá Trắp. Gọi là trắp vị nó giống hình một cái trắp đựng sách của các nhà nho xưa. Đó là cái trắp đựng các tập thơ của một vị tiên thường hay đến hải đảo Hòn Đỏ ngắm trăng làm thơ. Kế bên Hòn Đá Trắp là Hòn Đá Bàn cờ. Từ Hòn Đá Bàn Cờ này sinh ra câu chuyện Ông Khổng Lồ đánh cờ với tiên và thắng được Hòn Đỏ. Câu chuyện như sau :

Nguyên xưa kia nơi đây, đảo được nối liền với dãy núi Cù Lao nhô ra tận biển Đông. Cảnh đầy thơ mộng, có nhiều cây cổ thụ sống ngàn năm cùng với suối tuôn màu thúy bạch và hoa cỏ thơm lừng. Cho nên các vị tiên mới cùng nhau tụ hội để ngâm thơ ngắm trăng giữa trời nước mênh mông và đánh cờ trong những ngày nhàn rỗi. Cai quản  hòn đảo này là một vị tiên đầy tánh  tình của vị cờ tiên  Đế Thích. Vị tiên thích đánh cờ đến nổi  gặp ai cũng gạ đánh với mình, thua được không bận tâm, chỉ cốt sao có người cùng ngồi đối diện trước bàn cờ.

Một hôm đang ngồi buồn trên hải đảo Hòn Đỏ, vị tiên chợt trông thấy ông Khổng lồ ngồi câu cá nơi Hòn Chồng. Thèm muốn có  người cùng đánh cờ nên vị tiên ông bèn bay đến Hòn Chồng, gạ ông Khổng lồ đánh cờ cùng mình. Tánh ông Khổng lồ lại không giống vị tiên ông. Ông Khổng lồ chỉ thích câu cá. Một bên thích lao động trí óc còn một bên lại thích lao động chân tay. Ông Khổng lồ từ chối một cách dứt khóat .Mời không được, vị tiên ông bèn dụ dỗ. Biết được thú vui duy nhất của ông Khổng lồ là câu cá nên vị tiên  mời ông Khổng lồ đến đảo Hòn Đỏ để câu cá. Nghe vị tiên ông tả cảnh  cây cối rậm rạp tươi mát của Hòn Đỏ cùng với đàn cá dầy đặc nơi bờ đá, ông Khổng lồ vui vẻ dời chỗ ngồi câu sang bên Hòn Đỏ.

Trong lúc ông Khổng lồ ngồi câu cá thì vị tiên ông làm thơ và uống rượu. Nghĩ được câu thơ hay, làm được một vần thơ ưng ý vị tiên ông lại đọc cho ông Khổng lồ nghe. Tuy không thích thơ phú song ông Khổng lồ vị  sợ mất lòng vị tiên có tâm tốt cho mình ngồi câu nơi cảnh đẹp, cá nhiều này nên ông Khổng lồ chú ý lắng nghe những vần thơ đắc ý của vị tiên ông. Nhiều lúc mải theo dõi chiếc phao chập chờn trên mặt sóng ông Khổng lồ quên đáp ứng với lời thơ nên nhiều lúc làm vị tiên ông mất hứng thú đọc thơ của mình cho bạn nghe. Mặc dù đã thành tiên song vị tiên trên đảo vẫn còn lưu giữ cái tật của khách làm thơ là luôn luôn muốn đọc thơ của mình cho người khác nghe và muốn nhận nơi  người nghe, lời khen tặng nồng nhiệt. Cho nên khi không thấy ông Khổng lồ khen tặng lời khen tương xứng nữa thì vị tiên đâm ra ngán ngẫm cho vị thơ của mình và bỗng nhiên thèm đánh một ván cờ. 

Sự đam mê nồng cháy đến độ giá lúc ấy có người chịu cùng đánh cờ với nhau thì vị tiên ông có thể tặng cả thế gian này cho người chơi cờ. Biết không thể nào nài nỉ ông Khổng lồ được nên vị tiên ông bèn  nghĩ ra được một mưu kế. Thấy ông Khổng lồ câu được nhiều cá và tỏ ý thích thú nơi này, vị tiên bèn đề nghị đánh cờ ăn cuộc: Nếu ông Khổng lồ thắng thì ông Khổng lồ sẽ nhận được quyền sở hửu hải đảo Hòn Đỏ này. Còn nếu ông Khổng lồ thua thì ông sẽ được đến đây câu cá thường xuyên. Nghe như vậy ông Khổng lồ thích quá  vị được thua gì mình vẫn có lợi. Cái chính là câu cá. Thế thì tại sao ta lại không đánh cờ kia chứ. Ông Khổng lồ nghĩ vậy và chấp nhận vào cuộc. Bàn cờ được bày ra  vị tiên ông vừa uống rượu vừa ngâm thơ còn ông Khổng lồ vẫn an nhiên ngồi câu cá, tâm không lưu ý đến bàn cờ.

Ván cờ vừa đi được ba nước thì có một con cá vượt tung mình lên không trung ông Khổng lồ mắt luyến tiếc ngó theo tay hờ hững cầm lấy con cờ chủ tướng. Rồi ông xuất tướng. Thoáng cau mày nhưng vị tiên lòng an nhiên trầm tư suy nghĩ. Bóng chiều đã ngã về Tây.  Hải đảo đỏ au lên trong ráng chiều. Vị tiên ông ngồi yên lặng suy tư trong bóng  hoàng hôn. Ông Khổng lồ gác cần câu nằm gối đầu trên đá ngáy ầm ầm như cùng hòa âm với sóng chiều đang vỗ mạnh vào vách đá.

Một đêm dài trôi qua. Ông Khổng lồ đã thức dậy từ lúc hừng đông và tiếp tục câu cá. Vị tiên suốt đêm dài không ngủ, ngồi suy nghĩ đến nước thứ 1000 mới gỡ được thế cờ xuất tướng của ông Khổng lồ. Cuộc cờ lại tiếp tục. Khoan khoái vị vừa câu được một con cá đuối lớn bằng chiếc chiếu trải đình, ông KhổnglLồ đem xe vượt sông, thí xe đổi lấy chốt đầu. Vị tiên ông lại phải ròng rã ba đêm ngày suy nghĩ để hiểu nước cờ này và tìm ra cách phá.

Với những nước cờ tự nhiên không tính toán của ông Khổng Lồ, với sự đắn đo suy tính của vị tiên ông, ván cờ kéo dài đến  khi râu tóc của vị tiên dài ra trắng xóa bay phơi phới trên bầu trời trong vịnh Nha Trang. Cuối cùng vị tiên ông đành chịu thua ông Khổng lồ, tuy ván cờ chưa tàn cuộc. Vô tâm đã thắng hữu tâm, Hòn Đỏ từ đấy thuộc về ông Khổng lồ. Khi rời đảo vị tiên ông đã để lại cho ông Khổng lồ tất cả những vật chất cùng với  tinh  ba của trời đất đọng chứa nơi hải đảo. Trên Hòn Đỏ, Hòn Đá Chị Em, Hòn Trắp, Hòn Bàn Cờ vẫn mang tên, mang hương vị của hồn xưa , còn Hòn Ấn nằm bên Hòn Bàn Cờ lại còn mang thêm vết tích của dấu xưa. Đó là dấu in ngón tay cái của vị tiên ông đã ấn vào Hòn Ấn để làm bằng chứng nhường hải đảo  Hòn Đỏ lại cho ông Khổng lồ. Tại nơi Hòn Chồng còn vết bàn tay của ông Khổng lồ in sâu vào đá và nơi hải đảo này còn  lưu vết ngón cái của thần tiên.

Ngồi nghe câu chuyện thần tiên du khách lòng lại bâng khuâng nhớ lời thơ của Cổ Bàn Nhân :

Chuyện đời tuy có mà không
Tuy không mà có chuyện ông Khổng lồ.
( Nước Non Bình Định )

Kể thêm một câu chuyện nữa về ông Khổng lồ cho vui. Có người hỏi ông Khổng lồ rằng ông có tu đạo hay không? Ông Khổng lồ đã trả lời: Khi được sinh ra, lòng ông vốn đã có đạo rồi. Sở dĩ con người cần phải có đạo vì đạo vốn có trong lòng song con người lại quên đi và như vậy phải cần tu theo đạo. Lại hỏi thêm rằng sao ông Khổng lồ đã có đạo trong lòng rồi mà còn bắt cá mà ăn trong khi đó trên đảo có rất nhiều cây cỏ.  Ông Khổng lồ cười mà rằng :

Tất cả cỏ cây, đất đá cũng đều là chúng sinh. Chúng cũng được sinh ra và lớn lên. Mỗi chúng sinh đều có một cuộc sống, một hòa đồng cùng chung với nhau, một sự liên hệ mật thiết nhưng vì vô minh nên chúng ta chưa hiểu nhau mà thôi. Như vậy tránh không ăn vật này để ăn vật khác thì cũng không tránh được sát sinh. Ta ăn cá vì ta thích câu cá và cá ta câu được bỏ đi cũng uổng nên ta ăn đó thôi. Nếu ta ăn cỏ cây trên đảo thì còn đâu bóng mát cho ta ngồi, màu xanh cho ta ngắm. Ta chỉ ăn khi cần và ăn theo tự nhiên, sẵn có gì thì ăn cái ấy không kén lừa, không thích thú vì miếng ăn.

Nghe quan niệm coi cỏ cây như một sinh vật, biết thương yêu, biết quyến luyến với con người, tôi bỗng nhớ đến một câu chuyện có thật đã được nhà thơ Quách Tấn ghi trong tập Hồi ký Bóng Ngày Qua:

Khóm mận già

Đứng giữa sân trước phòng khách ngay ngõ bước vào. Ba gốc đứng sít nhau. Tôi gọi là Khóm Mận Ba Nhành.

Khóm mận này do ông thân sinh người chủ cũ của ngôi nhà số 21 đường Bến Chợ trồng lúc người này còn nhỏ. Mà người chủ cũ lớn hơn tôi đến 25, 27 tuổi, thì cây mận sanh trước tôi ít ra cũng hai mươi năm. Tôi mua ngôi nhà năm 1937, lúc ấy tôi đã 28 tuổi, thì cây mận ít ra cũng 48 tuổi rồi. Cho nên lúc tôi dọn đến, thì gốc mận đã bị bộng ruột, cành chỉ còn lơ thơ. Nhiều người bảo tôi đốn đi để trồng cây khác. Nhưng tôi không nỡ, cứ để đó, chừng nào gốc thật mục, cành thật khô sẽ hay.

Tôi nhớ một chuyện xưa :

“Quan Thái Thú đất Giang Tây toan hạ một cổ thọ trước dinh. Một hành nhân thấy thợ đang sắp sửa ra tay, liền đề nơi gốc cây một tuyệt:

Diêu tri thử khứ đống lương tài
Vô phục thanh âm phú lục đài
Chỉ khủng nguyệt minh thu dạ lãnh
Ngộ tha thiên tuế hạc qui lai

Nghĩa là :

Một đi nên cột nên rường
Không còn bóng cả lợp đường  rêu xanh
Chỉn e thu lạnh lùng canh
Tuổi già nương bóng trăng thanh hạc về.

Quan Thái Thú xem thơ, cảm động, bèn sai thợ dừng búa.”

Nhớ đến bài thơ tôi càng thương quí khóm mận. Những buổi mai buổi chiều đẹp trời, những đêm trăng sáng, tôi cùng vợ con bè bạn, thường bắc ghế, kê giường nằm ngồi dưới gốc cây chung vui. Mấy tháng sau, những nhánh còn sống sót tự nhiên đâm chồi nẩy lộc và to lớn lần lần. Gốc sanh một lớp vỏ mới mỗi ngày mỗi dày thêm. Và không đầy một năm, cành lá đã xum xuê, che mát cả sân thềm, mới trông qua ai cũng ngỡ là một khóm mận tơ chịu thủy thổ.

Thiên hạ trầm trồ. Kẻ thì bảo rằng: ”Vật chờ chủ”. Người có óc phán đoán lại nói “ Cây mận nhờ có người canh coi chăm sóc, lũ trẻ không bứt lá bẻ cành, nên phát trở lại”. Người bạn Ấn Độ của tôi  là Kicha Nassamy lại giải thích:

Đó là nhờ sức nhân điện của anh và gia đình anh mà cây mận hồi xuân.

Không biết lời nào đúng, tôi chỉ biết mừng được một cổ thụ xanh tốt ở trong vườn.

Khi cành lá đã sung, hoa bắt đầu trổ. Hoa trổ kỳ nhất vào tháng mười âm lịch. Đến Tết trái chín.

Khi trái kỳ nhất đã kết, thì hoa ra kỳ nhì vào tháng 11 và trái chín vào tháng  2 hoặc tháng 3.  Nhiều năm hoa thêm một kỳ thứ 3 nữa vào tháng giêng.

Hoa mận cánh trắng nhụy trắng. Mọi thứ hoa, hoa nào cũng đẹp nhờ cánh. Hoa mận lại đẹp nhờ nhụy. Nhụy dài và thanh. Chữ gọi là ba tu, tục gọi là râu mận. Khi hoa nở thì cánh bị râu che lấp hết trông vào như một  chùm ngân tuyến có mùi hương.

Những ngày hoa nở sắc trắng của hoa át hẳn màu xanh của lá. Nhìn lên  tàn mận, giống y mái đầu bà lão  bảy mươi cúp bum bê. Nhụy hoa cánh hoa rụng phơi phới như mưa tuyết. Mùi hoa ngòn ngọt như mùi hoa xoài. Một buổi sáng thức dậy, nhìn ra sân tôi có cảm giác đang ngồi nơi tiểu đình trên  Phú Sỹ Sơn ở Nhật hay Mont Blanc ở Pháp.

Thật là thú. Nhưng lắm lúc man mác buồn vị có ý nghĩ “Không có gì vĩnh viễn”, nhất là khi người nhà lo quét dọn sân hè. Để hứng vị không pha lẫn cay chua, tôi bèn dặn con em trong nhà đợi tôi đi làm hoặc đi chơi rồi mới quét râu mận. Tôi có mấy câu ngẫu thành, gởi gắm ít nhiều tâm sự :

Tuyết phủ đầy sân hoa rụng đầy
Hương sầu theo gió chập chờn bay
Em ơi! đừng quét.. Em đừng quét
Anh chỉ yêu hoa  những phút này.

Ở Nha Trang mùa đông ít lạnh và ít mưa to gió lớn như các tỉnh bạn. Tuy vậy trăm hoa, cả hoa giấy chắc gan đều “lánh mặt” chỉ riêng hoa mận là “đua cười gió đông”. Cho nên tôi gọi hoa mận là hoa Tuế Hàn thay cho Bạch Mai của cổ nhân mà Nha Trang không có.

Mùa đông ít hoa nên ong bướm cũng ít. Bởi vậy kỳ mận tháng 10 tháng 11 ít khi bị quấy rầy vì loài có cánh. Nhưng đến kỳ hoa tháng giêng thì lớp ong lớp bướm, kéo nhau đến từng bầy. Ong phần nhiều là ong ruồi. Ong bầu cũng có song chỉ năm bảy con mà thôi. Tôi không hiểu tại sao, khi mai nở chúng lại kéo đến đông, còn lúc mận nở chúng chỉ  “cử đại biểu” đến. Và đối với mai chúng rất tàn nhẫn, còn đối với mận chúng lại có vẻ “biết điều”? Có người bảo rằng vì hoa mận lớn, chúng nằm vào lòng hoa mà hút mật, mật lại nhiều nên không cần phải dụng sức dụng công. Còn hoa mai nhỏ bị chúng ôm gọn vào lòng để hút mật, vì mật ít nên phải vét cho “ráo máng cạn tàu” mới  đủ no. Có người lại nói rằng trên tàn mận ngoài ong bầu còn có ong ruồi. Ong bầu sợ ong ruồi nên không dám “làm tàng” với hoa. Thuyết trước e đúng hơn.

Còn bướm thì “không thể chê” nhiều giống nhiều màu sắc. Con thì vàng ánh như huỳnh kim. Con thì trắng phau phau như bông gòn. Con thì đen nhánh như răng hạt huyền. Con thì nâu như  lông cánh bìm bịp. Con thì cánh trắng viền đỏ. Con thì cánh vàng sắc hỏa hoàng điểm những hạt cườm đen hoặc cườm trắng. Con thì rằn rịt, con thì vá quàng v.v.. Trông giấp giới như một rừng phong lan.

Bươm bướm là giống phong nhã. Chúng đối với hoa lịch sự như những chàng thanh niên có giáo dục đối với tình nhân, lúc nào cũng dịu dàng, cũng nhẹ nhàng , ung dung, tự tín. Đậu vào hoa chỉ đậu phơn phớt, đưa vòi vào nhuỵ hoa  chỉ đưa một cách thưng thưng. Nhiều con chỉ bay lượn chung quanh hoa dường như chỉ để hứng lấy hương chớ không màng đến mật. Lại có con bám theo râu hoa rơi từ cành xuống đất, rồi chớp cánh bay trở lên cành. Rơi xuống một cách nhẹ nhàng mà bay lên cũng một cách nhẹ nhàng như mảnh giấy bay theo gió. Đứng trước cảnh đó tôi chợt nhớ đến bài thơ Haikai của Nhật mà Pháp dịch :

Illusion

Fleur  tombée
Retournant à la branche?...
Oh ! c’était un papillon!
Con tôi  (Quách Giao) đã phỏng dịch thêm một lần nữa để tôi ngâm trong lúc cùng cảnh chung vui:

Ảo ảnh
Hoa rơi vụt trở lại cành
Ồ ! Con bươm bướm nặng tình với hoa.

Khi hoa đã thành quả thì ong và bướm bay đi hết, se sẻ lại kéo đến đông đầy. Tiếng kêu chinh chích không bao giờ ngớt.

Bảo rằng se sẻ kéo đến không đúng. Mùa đông chúng sợ mưa gió chui núp nơi trần nhà, ở dưới mái hiên. Lúc tạnh bay ra tìm mồi thì bay lẻ tẻ và lặng lẽ như chiếc  bóng  qua ngang. Nếu không để ý thì tưởng chúng đã bay đi nơi khác hết. Nhưng đến lúc xuân sang, nắng ấm, chúng rủ nhau bay ra từng tốp, lớp bay lớp đậu, rộn rã tưng bừng. Chúng đông nhưng không phá phách. Luồn qua lá mận, song không bao giờ đụng vào trái lúc chín cũng như lúc còn xanh.

Bươm bướm là tài tử giai nhân, se sẻ là tao nhân mặc khách, đem tình xuân trang điểm cho ngày xuân của khóm mận thêm xuân.

Cho nên trong mùa hoa nở, mùa trái chín, bạn bè thường họp nhau dưới bóng mận. Và những lúc vắng người, tôi thường nằm nơi võng cột trước hiên, nhìn cây mận để ôn lại chuyện xưa hay tìm hưởng thú mới.

Vị thế mà hình ảnh cây mận in sâu vào tâm khảm và tình mận thường len vào tứ thơ, nhất là từ năm 1940 trở đi  sau khi đã gặp Liên Tâm và thường cùng Chế Lan Viên, Yến Lan, Quách Tạo chung bóng dưới trời trưa mùa hè.

Khóm mận đối với tôi cũng rất có tình.

Năm 1943, tôi ra Đà Nẵng và Huế chơi hơn nửa tháng. Lúc ấy đã gần cuối đông, hoa mận đã kết quả. Khi tôi về trên cành chỉ toàn lá. Tôi hỏi người nhà:

-  Sao hái mận sớm thế? Không đợi chín để ăn Tết?

Lũ nhỏ thưa:

-  Ba đi được mấy hôm, hoa quả lần lần rụng sạch. Không sót được trái nào cả!

Tôi cho là tại thời tiết.

Đến năm 1944, tôi đưa gia đình về Bình Định lánh nạn tàu bay Mỹ khủng bố quân đội Nhật. Tôi gởi nhà cho ông Ba Lồ Ô ở trước ngõ. Khi tôi đi thì mận lớp ra hoa, lớp kết quả, xum oằn cả cây. Nhưng một tháng sau tôi trở vào thì mận không còn một trái nhỏ. Tôi trách ông Ba:

-  Ông Ba ăn trái không nhớ kẻ trồng cây.

Ông Ba cười:

-  Có được ăn trái nào đâu mà bảo nhớ với không nhớ. Bởi thầy đi được ít lâu thì hoa lẫn trái già trái non rụng đầy đất!

Một ông bạn pha trò:

-  Chắc cây mận sống lâu năm đã thành tinh và là tinh đàn bà nên vắng hơi anh, tương tư chớ gì!

Tôi chợt nhớ lại khi bà thân tôi mất, hai cây trầu cùng mấy cây cau bà trồng đều chết theo. Và khi bà nội của nhà tôi mất, cây cam của bà trồng đương xanh tốt liền héo rồi chết  đứng và vườn chuốí rủ lá rồi lụn dần! Tôi lại nhủ:

-  Thường ngày mình lân la bên mận, mận quen hơi quen hám. Đến khi vắng mình, thiếu hơi hám đã quen, mận rụng trái rụng hoa; đó là việc thường đối với người biết chút ít về khoa học thực nghiệm.

Nghĩ vậy để tự cho mình có óc thực tế, có óc khoa học. Đó là trí nghĩ chớ trong thâm tâm tôi vẫn cho là “thảo mộc hữu tình”. Do