Gánh đất
lên Đảo
Một
tuần, nhà sư chở nước lên đảo một lần và chở đất
lên đảo một lần. Chở nước thì vận chuyển từ đất
liền ra đến chân đảo dễ dàng thuận tiện song việc gánh
nước lên đến đỉnh đồi lại khó khăn. Còn chở đất
thì nghịch lại.
Muốn
có đất thì thuyền phải ngược lên tận các bãi đất hoang
gần chiếc cầu sắt Ngọc Hội chạy qua sông Cái. Tại đây
có những bãi đất hoang mọc đầy gai mắc cỡ và cỏ mần
trầu. Đất ở đây là đất sét pha lẫn đất cát dọc hai
bờ sông. Vì vậy nên đất rất xốp.
Từ
chiều hôm trước, nhà sư đã nhờ anh Sáu cho mượn chiếc
ghe và chuẩn bị 50 chiếc bao cát cùng với cuốc và xuổng.
Khi trời vừa hừng đông ghe đã vượt qua khỏi cửa sông
Cái, qua cầu xóm Bóng, rồi ngược giòng sông. Nơi cửa sông,
gió biển hiu hiu thổi. Thuyền đánh cá từ biển xa trở về.
Âm thanh của máy thuyền vang vọng trên sóng nước. Tiếng
máy có âm thanh trầm nặng là tiếng máy của chiếc thuyền
có cá nặng đầy khoang. Tiếng máy có âm thanh nhẹ và bổng
là tiếng máy của thuyền đánh cá ít gặp may mắn,
cá nhẹ lòng khoang. Bầu trời bình minh căng lòng tươi mát
đón đoàn ghe thân yêu trở về. Bến cá Cù Lao vui nhộn vì
vợ con các ngư dân ra đón cha, chồng và những người “rổi
cá” chen nhau trong chờ đợi.
Để
lại sau lưng tiếng reo hò vui vẻ, chiếc ghe của nhà sư vẫn
im lìm tiến thẳng về eo đất nằm giữa dòng sông. Đây là
một cồn đất nhỏ hoang vắng. Lau sậy và cỏ lát mọc đầy.
Đất phù sa của dòng sông Cái tích tụ nhiều năm. Lấy đất
ở đây không ai ngăn trở. Neo thuyền cặp sát bờ, nhà sư
đi sâu vào bên trong tìm vùng đất tốt. Nơi nào có cây to
và cỏ nhiều, nơi ấy có đất tốt cho trồng trọt. Đất
được cho vào bao cát, cột chặt miệng. Bao cát này làm bằng
một loại vải lâu mục của nhà binh thường dùng để làm
hầm trú ẩn hoặc hầm chiến đấu. Khi di chuyển đi nơi khác,
các hầm này được bỏ hoang, dân chúng thường đến đào
bới đổ cát đi và đem về bán để dùng vào nhiều công
việc
Đến
gần trưa thì ghe đã được chất đầy bao cát đựng đất
và ghe được xuôi về Hòn Đỏ. Ghé nhà anh Sáu, bữa cơm
trưa đã chờ sẵn. Tuy đạm bạc song nhờ lao động nên bữa
cơm với rau dền chấm xì dầu vẫn được xem là bữa cơm
đầy đủ. Ăn xong thì nước triều vừa lên, ghe nhờ thêm
một tay chèo là anh Sáu nên ghe cặp bến Hòn Đỏ rất nhanh.
Các bao đất được chuyền lên bến mau lẹ và anh Sáu lo trở
về nhà chuẩn bị cho chuyến đi thả lưới ban chiều. Còn
lại một mình, sư Viên Mãn, mỗi vai vác một bao đất, bắt
đầu leo dốc.
Vác
đất không nhọc công bằng gánh nước vì gánh nước thì
hai đầu gánh thường bị vướng các mỏm đá trên đường
lên dốc và nhất là phải chú tâm sợ nước vương vãi ra
đất. Vác đất tuy nặng hơn song lại gọn gàng khi di chuyển,
khi bước chân lên gộp đá và nhất là khi di chuyển qua các
khe đá chật hẹp. Hai bao đất cũng che được hai vai và một
phần lưng dưới ánh nắng gay gắt xế trưa. Trong không khí
hừng hực, bóng nhà sư lặng lẽ di chuyển, âm thầm, kiên
nhẫn, Cảnh mênh mông vắng vẻ của hoang đảo không hề làm
chùn bước của con người đã có quyết tâm thực hiện cho
được ước nguyện của mình.
Lên
đến đỉnh đồi, nhà sư đặt hai bao đất xuống đúng vào
vị trí đã dự định rồi lẳng lặng xuống đồi. Gió từ
biển khơi đã lồng lộng thổi về. Trên bầu trời trong xanh,
lênh đênh đôi dải mây trắng mỏng. Cơn nắng như hun vẫn
đổ xuống hòn đảo nhỏ nhoi này. Bên dưới là biển nước
mênh mông, trên này là không gian đầy nắng lửa. Trên đỉnh
đồi thì có gió thoảng song ở nơi các khe đá, đường mòn
ẩn khuất trong đá, không khí vẫn hừng hực khí nóng, lưng
của đá vẫn tỏa khí nóng. Khi vác đất qua những vùng
này, chân tự nhiên bước mau, lòng mong cho chóng đến vùng
có gió biển thổi qua. Nơi đây chân tự nhiên dừng lại,
gió như một nguồn nước mát xối xuống toàn thân. Mọi sự
mệt nhọc như tan biến, hai bao cát không còn đè nặng trên
hai vai. Bóng người trải dài trên vách đá, nhà sư trong thế
đứng nghỉ hơi, mắt hướng về bể khơi, lồng ngực hít
đầy gió biển. Rồi lại tiếp tục cất bước lên đồi.
Chuyến
cuối cùng vừa xong thì mặt trời đã khuất dưới chân trời.
Phương Tây rực rỡ ánh vàng. Biển ào ào con sóng. Hơi
mát đã tràn về. Nhà sư lại tiếp tục đem các bao đất
đổ vào các khe đá, lấp mặt các tảng đá tạo thành một
khoảnh đất bằng phẳng vuông vức. Xong việc thì trời đã
tối hẳn. Nhìn qua một lượt những công thành của một ngày
lao động, nhà sư xuống bến tắm gội những vết đất đã
gắn chặt trên lưng, trên tay chân. Dầm mình trong một vũng
nhỏ kín gió nhà sư cảm thấy sóng biển ấm áp đã âu yếm
vỗ nhẹ lưng mình. Cơn mệt mõi như tan vào lòng biển. Nhà
sư lặng lẽ trở về túp lều nhỏ trên đồi. Trong bầu trời
chạng vạng tối, giữa không gian xa vắng của đảo khơi,
tiếng tụng kinh tối vang lên rõ mồn một. Tiếng mõ nhịp
nhàng đều đặn. Thỉnh thoảng một tiếng chuông buông rơi
nhẹ nhàng nhưng trầm lắng. Mùi hương lan xa, tỏa lững lờ
trong bóng tối buông dày. Đêm đã phủ đầy trên hải
đảo.
Tư duy dưới
trăng
Nằm
gối đầu trên đá, nhà sư mơ màng lắng nghe tiếng dế vọng
xa xa, khi mơ hồ, khi như rõ bên tai. Những kỷ niệm xa xưa
của những ngày thơ ấu chợt thoảng về như đọng dưới
ánh trăng vàng. Lòng nhà sư nhẹ nhàng mở rộng đón lấy
sự thanh thản dưới trời khuya.
Sự
êm đẹp của thiên nhiên luôn luôn kề cận, quấn quít chung
quanh ta nhưng vì quá bận rộn với công việc hằng ngày nên
lòng ta quên đi cái đẹp của thiên nhiên, của cây cỏ chung
quanh ta.
Ngước
nhìn lên bầu trời trong xanh vằng vặc trong suốt như pha lê.
Ánh trăng dịu mát như mơn trớn, như xoa dịu cái nóng ban
ngày như vẫn còn phảng phất trên da thịt. Bù lại nóng bức
ban ngày, đêm trăng như rải sửa mát dịu trên toàn cảnh
Hòn Đỏ. Ánh trăng như mặt phải của cuộc đời mà sức
nóng ban trưa là mặt trái. Nhờ có nó ta mới hưởng được
những giờ phút thoải mái hoàn toàn hạnh phúc.
Giữa
trời biển bao la, giữa khó khăn cực nhọc ban ngày, sư Viên
Mãn lòng vui sướng ngộ ra một điều là con người không
cô đơn trước thiên nhiên. Thiên nhiên vô tình khi con người
không lưu ý đến song rất hữu tình với con người hằng
để tâm đến thiên nhiên. Lao động là môi trường để con
người gần gũi và yêu mến thiên nhiên. Nhờ lao động con
người mới thấy rõ ý nghĩa của cuộc đời, mới yêu mến
cuộc sống. Khi nội tâm ta hòa đồng cùng vũ trụ thì thiên
nhiên dù khắc nghiệt đến đâu cũng là bạn đồng hành với
ta trên cõi đời này. Khai phá hòn đảo này, sư Viên Mãn chỉ
muốn góp một phần nhỏ vào công việc lập một ngôi chùa
nhỏ trên đảo cùng với cảnh quan có cuộc sống như trên
đất liền với cỏ cây xanh tươi. Ngôi thiền viện sẽ là
nơi tu tâm dưỡng tánh cho tất cả ai ai mong muốn giữa
trời biển bao la có một nơi để tu niệm.
Trong
sạn đá, trong khô héo, hoang vu, chỉ có nắng và gai góc, tuy
gần đất liền mà không một dấu chân người. Hằng ngày
có thuyền câu quanh đảo nhưng không người đến thăm vì
thiếu nước, thiếu phương tiện tới lui và nhất là thiếu
nguồn sinh sống. Từ khi bước chân lên hải đảo không một
giây phút nào nhà sư chạnh lòng chán nản. Niềm hy vọng cất
được một ngôi chùa trên hoang đảo đã giúp nhà sư vượt
qua tất cả mọi gian khổ. Sư không bao giờ nghĩ đến một
ngôi chùa nguy nga đồ sộ mà chỉ mong có một ngôi chùa lợp
tranh thanh tịnh với một vài đệ tử mến cảnh mến thầy.
Sư nhớ lại những tháng ngày theo học nơi trường Bồ Đề,
trong giờ giảng văn, sư thích nhất là bài thơ Thú Hương
Sơn của Chu Mạnh Trinh có những câu :
Thỏ
thẻ rừng mai chim cúng trái
Lửng
lơ khe đá cá nghe kinh
Thoảng
bên tai một tiếng chày kình
Khách
tang hải giật mình trong giấc mộng…
Và
ở Nha Trang này không biết tìm đâu ra một động Hương Tích
vừa trần vừa tiên, cảnh, tình hòa quyện lấy nhau,
để cùng nép mình trước hiên Phật. Vị vậy nên khi đứng
trên đỉnh núi Sinh Trung, nhìn thấy Hòn Đỏ cô đơn trên
sóng nước, nhà sư đã có tâm nguyện ra đảo lập chùa. Với
một tình yêu thiên nhiên, với lòng khát vọng tìm ra một
nơi tu hành theo sở nguyện cho nên dù gian khổ đến bậc nào
nhà sư cũng quyết tâm thực hiện cho bằng được. Tự mình
khai phá, tự mình xây dựng là chính, còn nhờ ở người khác
là tùy duyên, tùy hoàn cảnh.
Trồng trỉa
trên Đảo
Sau
nhiều ngày dọn dẹp phát quang và làm nền, che chùa, khu đồi
trên đỉnh Hòn Đỏ tạm thời đã được dọn sạch. Gai góc
được chặt nhỏ phơi khô rồi đốt cháy bỏ vào các hố
đào sẵn để chuẩn bị cho việc trồng cây lưu niên. Đất
đưa từ đất liền lên đảo được chia thành khu vực để
chuẩn bị trồng rau.
Tháng
tám thời tiết thường hay thay đổi đột ngột. Trời đang
nắng chang chang bỗng nhiên phương Tây mây kéo về đen đặc
cả một bầu trời. Và mưa bắt đầu tuôn xuống. Nước mưa
ào ạt chảy theo các triền dốc cuốn theo những hạt đất,
hạt sỏi cùng các cọng cỏ khô. Mặt đất như bị bào mòn
dần dần để trơ lại những tảng đá lớn cùng với những
tảng đá nhỏ lô nhô chung quanh. Đã mấy trăm năm nay chỉ
có sự bào mòn mà chưa có một sự bù đắp nào để làm
cho đất trên đảo được thêm phì nhiêu màu mỡ. Cây
to trên đảo không có, chỉ có các bụi gai góc mà sự rụng
lá không thể bù vào sự mất mát xói mòn của các cơn mưa
lũ. Bởi vậy cho nên cần đến sự hướng dẫn dòng chảy
chậm để giảm bớt sự chảy ào ạt cuốn đi tất cả
đất đai trên mặt đảo. Cho nên đá nhỏ được xây
thành tường thấp chung quanh và các khe ngoằn ngoèo làm chảy
chậm bớt dòng nước mưa trên đảo. Sau cơn mưa dông trời
lại ửng nắng. Thời gian này rất thuận tiện cho việc trồng
tỉa.
Những
hạt giống được xin từ quê hương Phú Yên như: sắn nước,
hạt é, và những hạt rau cải, tần ô….Những luống đất
không thẳng hàng vì địa hình của mặt đất, được trộn
xới nhiều lần với những bọc phân ủ, đang thấm đẫm
nước mưa và ấm dần trong nắng. Các hốc trồng sắn nước,
nằm rải rác khắp nơi theo các thế đất và đá. Đất
đưa từ đất liền lên được dùng để trồng rau, trồng
khoai lang, khoai mì, đu đủ, cà, ớt v.v..
Sau
cơn mưa rào và một ngày nắng ấm, các hạt giống đã được
gieo trồng. Các hạt sắn nước có sắc vàng nhạt được
trộn với một ít tro để chống kiến được gieo vào các
hốc đất cạnh các tảng đá. Những hạt cải ly ti màu
nâu sẫm cũng được trộn với tro và rải đều trên các
luồng đất mịn bằng phẳng. Hom mì cũng được chặt ra thành
từng đoạn ngắn và được vùi trong các hốc đất ít đá.
Rút kinh nghiệm ở những vùng tự do khi kháng chiến chống
Pháp, sư đã dồn các lá cây, cỏ dại vào các hốc đá
to có trộn thêm đất ruộng để trồng các củ khoai sọ,
khoai mỡ, khoai tím v.v… Riêng về việc trồng khoai lang thì
sư chia ra hai cách trồng:
Loại
ăn lá thì được trồng trên những luống đắp thành vồng
có rãnh chung quanh để tụ nước. Loại lang ăn lá có những
phiến lá tròn dùng đế luộc ăn thay cơm hoặc dùng làm
món ăn hằng ngày.
Loại
ăn củ thì lá có khía răng cưa, lá ít phát triển nhìn lúc
ban đầu trông không đẹp mắt bằng lang ăn lá song lại cho
củ rất nhiều. Các vồng lang củ thường được vun to, giữa
các thân vồng luôn luôn có độn thân lá của các giống cây
mọc hoang trên đảo để làm phân cho củ và để làm cho đất
xốp. Vồng lang đầu tiên trên Hòn Đỏ chỉ vỏn vẹn có
một vồng dài khoảng 10 mét. Khoai lang chỉ trồng thích hợp
ở các vùng đất xốp. Nhiều nơi chỉ trồng lang trên
đất cát mà củ lại rất nhiều và tinh bột cũng rất nhiều.
Đặc biệt là khoai trồng trên đất thịt thì củ lớn song
thường bị sùng và nhiều lúc lại bị sượng vị ngập nước.
Riêng khoai trồng đất cát thì tuy có củ nhỏ song ăn rất
bùi và thu hoạch rất thuận tiện. Có nhiều vùng đất cát
song nhờ kinh nghiệm lót phân xanh (cành lá cây xanh) trong thân
vồng nên củ khoai lớn mà bao giờ cũng tràn đầy tinh bột
tuy khi nhìn trên mặt vồng ta chỉ thấy thưa thớt các lá
khoai .
Vốn
biết rằng đất nơi đảo không thích hợp với việc trồng
khoai ăn củ song khi nhớ đến những chiếc giỏ bằng tre trồng
khoai lang trong thời gian chống Pháp ở những vùng thiếu đất,
nhà sư đã áp dụng cách trồng này trong các giỏ có
lỗ thưa chung quanh, rộng 1 mét, cao nửa mét, dưới đáy có
lót lá dày và đổ đất dày khoảng một gang tay, trên mặt
xếp các dây khoai lang dài có hai đầu để thò ra ngoài giỏ.
Trên các cọng dây khoai phủ một lớp lá xanh dày và đè lên
trên là một lớp đất, rồi tiếp tục rải dây khoai. Cứ
thế mà trồng độ 4, 5 tầng. Giỏ khoai được đặt trên
một tảng đá, hằng ngày tưới nước như tưới một vồng
khoai. Tuy nhiên mỗi khi lang đã mọc nhiều thì việc tưới
nước có nhiều khi khỏi cần đến vì khi gặp trời mưa thì
giỏ lang không khi nào bị úng nước và khi trời nắng thì
trong lòng giỏ vẫn còn chứa nhiều độ ẩm. Khi lá khoai mọc
đầy bò dài xuống đất, giỏ khoai trông giống như một
ụ khoai lang trồng trên tảng đá, đôi khi trông giống như
một khóm lang mọc tự đá, bò lên đá. Cách trồng lang này
rất thích hợp nơi thiếu đất, thiếu nước.
Đến
mùa thu hoạch, sau khi cắt các ngọn lang bao quanh giỏ, sư chỉ
cần dùng lưỡi liềm cắt đứt các thanh tre đã ẩm mục
rồi dùng cuốc nhỏ đào xới đất trong giỏ ra. Khi xới tầng
đất trên cùng, các củ khoai lang hiện ra nằm chen chúc cạnh
nhau như một bầy heo con màu đỏ hồng, màu trắng vàng trông
thật dễ thương. Kết quả thu hoạch tùy theo cách trồng và
cách bón phân lá. Nếu các dây khoai đặt quá sát nhau thì
củ nhiều song lại có thân nhỏ. Nếu đặt thưa dây lang thì
củ lớn song lại ít củ. Lại còn việc đất và phân lá
tốt hay xấu, thích hợp với khoai hay không thích hợp. Phần
nhiều đều do kinh nghiệm của người trồng mà ra. Đôi lúc
không cần đào xới mà khi các nang tre đan được cắt, đất
trong giỏ vì phần nhiều là đất cát trộn với lá, cành
cây nên tự động bung ra và củ lang rơi nằm đầy trên mặt
đá.
Trên
Hòn Đỏ chỉ có thiếu đất chớ không thiếu nơi trồng.
Mỗi tuần chỉ một chuyến vận chuyển đất lên đảo cũng
đủ để trồng một vồng khoai.
Song
song với việc trồng lang, việc trồng sắn nước cũng
dễ dàng thành công hơn các loại giống khoai khác như khoai
sọ, khoai tím, khoai mỡ. Củ sắn nước dễ trồng song không
có lợi về kinh tế vì giá trị không cao, không thể thay thế
cho thực phẩm như khoai, mì. Tuy nhiên đó là một thức ăn
tạm thời vừa no, vừa đỡ khát nước. Củ sắn nước đã
giúp cho nhà sư trong khi nắng hạn, khi các lu nước đã vơi
đi mà chưa kịp vào bờ để lấy nước thì các củ sắn
nước này đã làm dịu cơn khát, vơi cơn đói, trong khi chờ
thuyền của anh Sáu chở thêm nước từ đất liền ra đảo
mỗi khi nhà sư vì nhiều công việc cần làm nên không thể
về đất liền mang gạo và chở nước ra đảo. Những lúc
này nhà sư chỉ còn nhờ vào sự tiếp tế của anh Sáu Sài
Gòn. Không có anh Sáu không có ghe thuyền ra đảo, không có
phương tiện chở nước, chở đất. Nhiều lúc chờ không
được vì một lẽ gì đó anh Sáu không ra đảo thì nhà sư
lại phải đợi nước thủy triều xuống, lội vào bờ.
Một
hôm khi lội vào bờ nhà sư mới hay anh Sáu Sài Gòn không ra
được đảo vị bận đưa chị Sáu đi nhà thương sinh sản.
Việc
lấy nước, gánh nước một mình trên đảo vắng vẫn âm
thầm trong quạnh vắng, trong hiu quạnh giữa trời đất bao
la nắng gió trùng trùng. Nhưng hạnh phúc đang lớn dần vị
công việc càng ngày càng tiến triển. Kết quả đã trông
thấy từng ngày. Vồng lang đã xanh lá, khoai mì đã xòe cánh
nõn. Trên luống cải đã đậm màu xanh tươi sống. Mầm
sống đã hiện diện. Niềm vui và hi vọng đã theo gió sớm
tràn về..,
Trồng xoài
trên Đảo
Gió
đưa mười tám lá xoài
Mười
hai lá mít lạc loài về đây.
Câu
ca dao này tuy không hiểu được cặn kẽ nguồn gốc và ý
nghĩa song cứ mỗi lần nghĩ đến, sư Viên Mãn vẫn thấy
bâng khuâng trong lòng. Lá mít, lá xoài của quê hương vẫn
bàng bạc trong hồn. Hình ảnh này thân thương như khi có người
nhắc đến bờ tre, con sông đầu làng. Hơn nữa hai tiếng
lạc loài đã nói lên thân phận của kẻ không nhà như cây
mít cây xoài xa vườn, xa nơi lớn lên. Nhà sư chợt nhớ đến
những cây xoài, cây mít trên chùa Linh Quang nơi núi Xuân Đài
tỉnh Phú Yên. Chùa Linh Quang nổi tiếng là một ngôi danh lam
có thắng cảnh đẹp. Núi Xuân Đài nằm ở phía Nam huyện
Đồng Xuân, nối tiếp từ Thạch Lãnh chạy xuống, núi gò
liên tục, làng xóm nối dài, ruộng vườn xen trộn. Chùa Linh
Quang còn có danh là chùa Đá Trắng, vì đá trên núi phần
nhiều mang sắc trắng. Trong sân chùa và quanh chùa có giống
xoài tượng rất ngon. Vỏ mỏng, thịt dẻ và hương thơm.
Đặc điểm là để được lâu, hương không phai và vị vẫn
thắm.
Trước
đây giống xoài này hằng năm phải đem về Huế cống vua.
Cho nên xoài trên chùa bị chức sắc trong làng quản lý. Khi
mùa xoài có trái, các phu dân phải túc trực tại chùa để
canh gác. Họ phải đếm từng nụ xoài lúc mới tượng trái
và chăm nom cho đến khi xoài già mới làm lễ hái trái và
dùng ngựa chở xoài trong các giỏ tre ủ xoài cùng với lá
sầu đông để đến khi về tới Huế thì xoài vừa chín vàng
da. Do được bảo vệ nghiêm nhặt cho nên tuy chùa có danh là
có xoài quý song nhà chùa không bao giờ được hái trái cúng
dâng Phật trong các mùa xoài. Tuy nhiên năm nào chùa cũng có
trái xoài để cúng. Đó là không rõ nguyên nhân nào khi
mùa xoài được hái sạch để dâng vua thì trên cây xoài luôn
luôn còn sót lại những trái chín vàng mắt thường không
bao giờ được thấy. Đêm trước đó, sư cụ nhà chùa sau
tuần kinh đêm ra đứng nơi hiên chùa. Bỗng một mùi hương
xoài chín dìu dịu thoảng đến. Sao trên trời như sáng tỏ
thêm, gió hiu hiu thổi nhẹ.
Sáng
hôm sau, thức dậy sớm, sư cụ ra đứng dưới gốc xoài đưa
mắt nhìn lên cành cao, thì bỗng nhiên thấy thấp thoáng trong
cành lá tươi xanh nhấp nháy ánh vàng dao động. Nhìn lên cây
thì sư cụ trông thấy một chùm xoài chín đang đong đưa trước
gió. Và từ đấy hằng năm sau ngày hái xoài hiến vua, chư
đệ tử trên chùa lại đua nhau quan sát cành xoài và nhất
là đêm đêm quanh quẩn bên gốc xoài để chờ đợi hương
xoài thoảng đến. Những người có tấm lòng mộ đạo
thì cho đó là tấm lòng che chở vật quí của đất để dâng
cho Phật. Kẻ có tấm lòng thực tế thì bảo rằng đó là
tấm lòng thành kính của những người canh giữ đã cố ý
khi hái trái đã để sót lại trong đám lá xanh rậm cho chùa
và phải đợi đến khi xoài chín, màu vàng mới lộ ra và
hương thơm của xoài mới báo thức cho nhà chùa tìm hái để
dâng Phật. Nhờ có những trái xoài còn sót lại mà giống
xoài trên chùa Đá Trắng mới được nhân rộng ra khắp vùng
núi Xuân Đài. Tuy đã xa chùa, song tiếng ngon của xoài Đá
Trắng vẫn lưu truyền trong nhân gian mãi mãi.
Sau
khi ổn định chỗ ăn ở trên Hòn Đỏ, sư Viên Mãn nhớ đến
giống xoài nơi chùa Đá Trắng nên có một ước nguyện là
sẽ trồng đầu tiên trên hải đảo này giống xoài quí của
quê hương. Nhân một chuyến về thăm quê nhà, bằng cách tháp
tùng một ghe thuyền buôn thương phẩm, đi từ bến Cù
Lao về Sông Cầu, nhà sư đã thoã ước nguyền.
Thuyền
rời bến vào buổi chiều tháng ba âm lịch. Gió nồm đã thổi
hiu hiu, thuyền ra khơi trong trời quang mây tạnh. Trên
thuyền chỉ có vị sư và ông thương gia có tiệm buôn ngay
dưới chân núi Sinh Trung. Tình cờ mẹ nhà sư khi đi làm, biết
được vị thương gia có chuyến ghe về Phú Yên nên tin cho
sư Viên Mãn biết và nhà sư đến xin được tháp tùng.
Thuyền
căng buồm ra khơi, xuôi theo chiều gió đi thẳng một mạch
đến sáng thì cặp bến Sông Cầu. Trong thời gian thuyền
cất hàng và mua hàng, nhà sư đã lên đường về thăm chùa
Bảo Sơn rồi ghé chùa Linh Quang để xin mua hột xoài giống.
Nhà chùa biếu tặng được 14 hột và một cây rựa dày bản
để dùng trong việc phát hoang. Thành công trong việc có được
giống xoài đặc biệt, và nhất là được sự cổ võ nồng
nhiệt của chư tăng nơi chùa Linh Quang về ý định khai hoang
lập tự trên hải đảo Hòn Đỏ, sư Viên Mãn hăm hở trở
lại Sông Cầu theo thuyền về Nha Trang. Đi và về chỉ có
5 ngày đêm. Mọi việc êm xuôi như con thuyền thuận gió.
Sư
Viên Mãn đem mười bốn hột xoài ủ vào trong một bồn đất
nơi ang nước tại chùa Kỳ Viên Trung Nghĩa. Tại nơi
đây sẽ đầy đủ nước tưới, bóng mát và được
sư chăm sóc của mẹ già của sư mỗi khi sư bận trên hải
đảo. Kết quả rất khả quan là cả mười hột đều
nẩy mười mầm non xanh tốt. Và nhà sư đã đem hột xoài
nẩy mầm lên Hòn Đỏ.
Sáng
hôm nay, khi đem nước tưới đến khu ươm hột xoài thì nhà
sư phát hiện ra 14 hột xoài đã đâm rễ. Mỗi hạt xoài đều
có một rễ dài, trắng muốt to bằng mút đũa, cắm sâu vào
lòng đất. Hôm qua sự kiện này chưa có. Thế mà chỉ
trong một đêm mọi việc đã xảy ra. Thiên nhiên thật là
kỳ lạ. Khi ta chú tâm thì không nhận thấy, mà khi ta hờ
hững lơ là đôi phút thì hiện tượng lại hiện ra. Trong
vườn hoa đôi lúc ta bận việc không chú ý đến thì
bỗng một hôm ta thấy cả khóm hoa đã đầy nụ hoa. Cũng
như có nhiều khóm hoa ta chưa kịp thấy nụ thì hoa nở đã
đầy cành.
Những
rễ xoài đã đâm xuống đất song mãi đến mười hôm sau
hai lá xoài mới thoát ra khỏi cái vỏ cứng khô.. Cây xoài
con đã thành hình trọn vẹn . Mỗi cây xoài con lại được
đem trồng vào một chiếc giỏ mồm bò. Chiếc giỏ này được
đan bằng tre có nhiều lỗ dùng để đeo vào mồm con bò mỗi
khi đi ra đồng để tránh việc bò ăn lúa khi đi đường.
Đôi khi giỏ được đan bằng dây mây để có được độ
bền cao. Độ lớn của thân giỏ chỉ vừa khít với chiếc
mồm của con bò và được đeo vào mõm bằng một sợi dây
mây quấn ngang qua giữa hai sừng bò.
Ở
thôn quê khi ươm cây giống, người ta thường dùng giỏ này
để tiện việc di chuyển và nhất là để tiện dụng khi
cây đã lớn thì có thể đem trồng luôn với cây khỏi phải
bứng cây và nhờ ở giỏ có nhiều lỗ nên rễ cây thoải
mái mọc tự nhiên. Và vì làm bằng tre nên rất chóng mục
mỗi khi được chôn xuống đất.
Hố
trồng xoài đã được chuẩn bị từ lâu. Đó là những cái
hố được đào tại những vị trí thích hợp: nhiều đất
ít đá và gần các tảng đá to. Như vậy để tránh các cơn
gió mưa dữ dội trên đảo mỗi khi mùa dông bão tháng chín
tháng mười. Mỗi hố rộng hơn một mét đường kính và sâu
đến nửa mét. Một đôi chỗ bên dưới là một tảng đá
lớn, khi đó lại phải di chuyển vị trí trồng đến một
chỗ khác. Khó khăn như thế cho nên mỗi ngày chỉ đào
có một hố mà thôi.
Ba
tháng sau thì 14 cây xoài đã được trồng trong những hố
xoài khắp vùng trên đảo. Phải cần đến sự chăm sóc hằng
ngày kéo dài đến hai năm, 14 cây xoài mới chắc chắn được
sống trên Hòn Đỏ. Tuy nhiên trong khoảng thời gian này vì
thiếu nước nên xoài chỉ phát triển theo mùa mưa và vì bên
dưới đá tảng nhiều nên sau một thời gian cho trái được
vài năm thì đa số cây xoài đã chết dần. Hiện còn lại
duy nhất là cây xoài nằm trên khu đất gần nền chùa. Tàn
xoài tỏa rộng tươi mát xum xuê. Hằng ngày nhà sư kê ghế
bố nằm dưới gốc cây mắt nhìn ra bể để lòng nhớ về
quê hương Phú Yên, nơi có vườn xoài Đá Trắng (mặc dù
nay không còn nữa). Nằm dưới tàn xoài, nhìn những cành lá
lao xao trong nền trời xanh cao rộng, lòng nhà sư được ấm
êm sống lại những tháng năm có những buổi trưa hè nằm
dưới bóng xoài nơi chùa Linh Quang ở Đá Trắng.
Cây
xoài trên Hòn Đỏ này mỗi năm ra một lần trái, hương vị
trái chín vẫn còn đọng chất thanh ngọt của chùa xưa mặc
dù trái nhỏ hơn, ít sai hơn song vẫn còn hình dáng của những
trái xoài đã được đem về Huế dâng lên vua ngự thiện.
Đa số trái của cây xoài này đều được dâng lên cúng Phật
và đem về các chùa lớn như Long Sơn, Hải Đức, Kỳ Viên
v.v.. các nơi này đã từng cưu mang nhà sư Viên Mãn.
Khi
các cây xoài gốc Đá Trắng Phú Yên chết, nhà chùa được
các Phật tử miền Nam cung cấp cho hột giống xoài cát
Hòa Lộc để trồng thay thế. Tuy nhiên khí hậu và thổ nhưỡng
ở đây không được thích hợp cho nên giống xoài Hòa Lộc
chỉ có tàn chớ ít trái. Đây là sự trùng hợp với sở
nguyện của nhà chùa. Trồng cây cho bóng mát. Những cây xoài
phương Nam tuy trái không thắm ngọt như xoài Đá Trắng song
vẫn tỏa tàn che mát đạo chúng. Trồng xoài trên hải đảo
sư Viên Mãn chỉ có một ao ước là có bóng mát trên hoang
đảo này và nếu có được mùa trái thì trước là để cúng
Phật sau là để chia cho chúng sinh. Du khách mỗi lần thăm
viếng đảo đều có được một cảm giác lâng lâng khi đặt
mình đong đưa trên chiếc võng cột tòn ten dưới gốc xoài.
Nỗi nhớ quê hương Phú Yên được ru yên dưới bóng xoài
trên hoang đảo và làm dịu đi lòng thương nhớ quê nhà của
nhà sư sống một mình.
Những
cây xoài trước đây chỉ mọc chung quanh chùa mà bây giờ
đã được trồng lan xa ven dọc theo các con đường trên đảo.
Trôi giữa
biển khơi
Tháng
bảy năm nay, mùa thu sớm về cùng nhiều mây trên vòm trời.
Chùa Kỳ Viên Trung Nghĩa chuẩn bị lễ Vu Lan sớm hơn mọi
năm. Các vị chư tăng, ni đều được phân công chuẩn bị
tăng lễ. Sư Viên Mãn tuy có chùa Từ Tôn song vẫn hằng về
phục vụ tăng lễ như mọi năm. Buổi họp hôm nay có phần
chi tiết nên giờ vãn buổi họp có phần trễ hơn mọi chiều.
Trời
đã tối mịt, nhà sư mới đến được gian lều nhỏ của
gia đình anh Sáu Sài Gòn trên bờ vịnh Hòn Đỏ. Anh Sáu đã
chèo thuyền đi thả lưới. Nước triều đã dâng cao. Không
còn người đưa qua đảo, sư Viên Mãn đành phải tự túc
dùng một chiếc thùng xốp bơi sang. Đó là một chiếc thùng
lớn đựng đồ điện tử của quân đội phế thải đem ra
bán ở chợ Đầm Nha Trang. Thùng vuông vức một mét vuông,
có bờ cao 5 tấc. Thường ngày sư Viên Mãn gởi tấm
xốp nơi lều của vợ chồng anh Sáu. Mỗi khi qua đảo không
có đò thì sư lại dùng tấm xốp này thay cho thuyền chở
vật liệu gia dụng như gạo, rau, v.v..Không bao giờ sư dám
leo lên ngồi trên tấm xốp vị sợ hư hao. Sư luôn luôn lội
dưới nước và đẩy tấm xốp trôi đi.
Hôm
nay trên tấm xốp có chở thêm một cái “can” đựng nước
20 lít và hai nhánh chuối, quà của chùa Sinh Trung. Sau khi cẩn
thận chất đồ vào tấm xốp cùng với quần áo sư Viên Mãn
đẩy thuyền ra xa bờ. Mùa này biển thường có những cơn
gió lốc từ bờ thổi ra. Biển không có sóng cao song mặt
biển đầy con sóng. Nương theo con gió, nhà sư đẩy tấm xốp
thuận dòng trôi mau ra Hòn Đỏ. Bỗng nhiên một cơn gió lốc
từ bờ thổi mạnh cuốn theo chiếc thuyền xốp ra hướng
biển khơi. Không thể nào chống chọi được với cơn lốc
nhà sư đành bíu chặt lấy tấm xốp để mặc cho cơn lốc
thổi người và vật trôi theo luồng gió. Ban đầu nhà
sư tưởng mình và thuyền chỉ bị cuốn đi xa bờ trong chốc
lát rồi sẽ tìm cách bơi vào Hòn Đỏ, nhưng sau một giờ
vật lộn với cơn lốc nhà sư phát hiện ra mình đã quá xa
bờ. Bóng đèn điện đường nơi bờ biển Nha Trang không còn
lờ mờ trong đêm .
Bốn
mặt, biển mênh mông. Trên trời mây giăng mù mịt. Biển và
trời mù mịt tối tăm. Không biết tự bao giờ nhà sư đã
leo được lên chiếc thuyền xốp, ngồi co ro ôm lấy cái “can”
nước ngọt. Trời biển đen tối bao la không biết được
phương hướng đâu là bờ, đâu là chân trời. Mặt biển
yên lặng, không gian tối đen, không một tiếng sóng, không
một hơi gió. Nhà sư có cảm tưởng như mình đang ở trong
một vực thẳm. Để được yên lòng nhà sư bắt đầu tụng
kinh. Và trong đêm tăm tối những lời kinh trong kinh Từ Bi
bỗng nhiên sáng chói như một dòng sông tràn đầy ánh sao.
Hoàn toàn đắm mình trong câu kinh nhà sư bỗng nhiên thoát
ra ngoài cảnh tượng đen tối của đêm đen và lòng được
an nhiên như đang ngồi đọc kinh khuya trên hải đảo Hòn Đỏ.
Lòng không một chút lo sợ, nhà sư tin tưởng ở sự cứu
giúp của đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Trên bầu trời mây đã
tan và muôn vị sao lấp lánh. Nơi chân trời hừng đông đã
ửng sáng. Nhà sư đã định hướng được phương trời. Nhìn
về hướng đất liền vẫn thấy mờ mịt không một bóng
núi, chỉ nhìn thấy một màu xanh bát ngát. Vị không
nhìn thấy bến bờ nên nhà sư biết rằng mình đã trôi giạt
cách bờ khá xa và bây giờ chỉ còn hy vọng được một chiếc
thuyền đánh cá nào đi ngang qua trông thấy và cứu vớt lên.
Tin
tưởng vào sự phù trì của đức từ bi Quán Thế Âm Bồ
Tát, sư Viên Mãn lo chuẩn bị cho cuộc đợi chờ được cứu
vớt giữa biển khơi. Trước tiên, sư kiểm soát lại chiếc
can đựng nước. Nước vẫn còn đầy nguyên vẹn. Thứ đến
là hai nải chuối mốc đã vàng da. Vốn sống khắc khổ và
kiệm ước trên hải đảo nên với lượng nước và thức
ăn này sư có thể sống trên mười ngày giữa trùng dương
bao la. Nắng giữa biển khơi dịu dàng hơn nắng trên hoang
đảo Hòn Đỏ. Nơi đó nắng của trời hợp cùng nóng
của đất, của đá nung đốt con người. Khí nóng hừng hực
đổ từ trên trời xuống, hất từ dưới đất lên và như
đọng trên mặt đá. Giữa trùng dương chỉ có nắng nóng
của mặt trời, cái nóng như được màu biển xanh bao phủ,
được gió biển xua đuổi dịu dàng. Cho nên, nhà sư yên chí
là mình có thể chịu đựng được trong một khoảng thời
gian dài. Cái sợ duy nhất là bão tố, phong ba. Giữa trùng
dương trong sóng gió thân con người như bèo bọt, như mỏng
manh. Tuy nhiên niềm tin nơi số phận, nơi sự hằng cứu giúp
của đấng từ bi Quán Thế Âm Bồ Tát làm cho tâm nhà sư
được an như.
Công
việc chống nắng được bắt đầu bằng việc cởi lấy tấm
áo để dùng làm tấm che đầu, che mặt. Che lưng thì
dùng chiếc quần. Như vậy, sư có thể ngồi hằng giờ trên
chiếc thuyền bé tí để mặc cho gió thổi thuyền trôi đi.
Khi đã mỏi chân thì sư nhẹ nhàng tháo bỏ quần áo quấn
quanh người rồi nhẹ nhàng chuồi mình xuống nước. Một
cảm giác khoan khoái dâng tràn trong cơ thể, cảm giác sung
sướng, mát mẻ như đưa con người từ nơi cơ cực đến
chốn hạnh phúc trên cõi trần gian. Sự mát mẻ của biển
xanh ôm ấp lấy toàn thân, khiến cho nhà sư không còn thấy
mình đang trôi giạt giữa cảnh mênh mông của trời đất
của nắng nóng giữa trùng dương. Nhà sư yên lặng tận hưởng
cái cảm giác hạnh phúc này và người đã thầm đọc kinh
cảm tạ Bồ Tát Quán Thế Âm.
Sự
sợ hãi giữa cô đơn không còn nữa mặc dù chỉ có một
mình giữa trời biển bao la. Hạnh phúc mát mẻ chỉ kéo dài
trong vài tiếng đồng hồ thì vị sư càng lúc càng thêm cảm
thấy cái lạnh từ trong ruột tràn ra cơ thể. Nước biển
bây giờ không còn mát nữa mà lạnh, lạnh đến không thể
chịu được. Cố gắng lắm nhà sư mới trèo được lên chiếc
thuyền bé tí và choàng vội lấy áo quần ôm chặt vào lòng.
Ánh nắng ban trưa hừng hực chiếu khắp cơ thể làm
vơi đi cơn lạnh. Chỉ một lát sau cảm giác nồng ấm
lại trở về với cơ thể. Hiện giờ mặt trời đã chiếu
thẳng trên đỉnh đầu. Cơn đói cồn cào và cơn khát sôi
sục bỗng nhiên ào ào kéo đến. Tuy đã quen với những cơn
đói khát trên Hòn Đỏ nhiều tháng năm rồi mà hôm nay lòng
nhà sư vẫn không kìm được sự thèm một hớp nước lạnh
và một trái chuối chín. Sau khi ăn chuối và uống nước,
nhà sư đã trở lại trạng thái bình thường và việc ngồi
nhập định dưới ánh nắng mặt trời gay gắt lại tiếp
tục.
Giờ
khắc trôi qua mau chóng. Mặt biển tuy không ào ạt sóng như
ở gần bờ song mặt biển vẫn lô nhô những con sóng cao.
Sóng ở ngoài khơi khác với sóng nơi bờ biển. Sóng
ngoài khơi chỉ nhô lên và hụp xuống, sóng chỉ đứng một
chỗ chớ không chạy từ ngoài khơi vào bờ. Giữa trùng dương
bao la biết đâu là bờ để cho sóng có hướng mà chạy. Sư
Viên Mãn đã suy tư như vậy khi nhìn thấy thuyền của mình
chỉ nhô lên hụp xuống tại một chỗ mà thôi. Sóng không
đưa thuyền đi mà chỉ có gió là đẩy thuyền trôi theo chiều
gió. Nhưng gió lại thổi không có hướng nhất định, khi
thì bên phải, khi thì bên trái mạn thuyền.
Buổi
trưa trên mặt đại dương bát ngát một màu xanh thẳm nối
tiếp với sắc trời cũng xanh thẳm. Tầm mắt người nhìn
vô cùng bát ngát mênh mông. Con người vô cùng bé nhỏ, vô
cùng cô đơn giữa không gian vô tận. Trong đất liền giữa
đồi núi và đồng bằng ta không có được cảm giác một
mình đứng giữa vô biên. Ngoài biển khơi, ta mới cảm nhận
được rằng kiếp người vốn đã ngắn ngủi mà đối với
trùng dương lại càng nhỏ bé vô ngần. Trong cái ngút ngàn
xanh thẳm kia, ta chỉ chực tan đi, chỉ chực hòa đồng vào
màu xanh thẳm kia vậy.
Buổi
chiều, mặt sóng trùng dương có sự thay đổi rõ rệt. Muôn
sóng nhấp nhô (thật đúng với từ nhấp nhô) và lòng người
thêm phần kinh hãi. Mọi sợ hãi như thu hẹp lại, cái
bát ngát giữa ban trưa không còn nữa mà chỉ còn có nỗi
lo âu như sánh đặc lại theo cùng thời gian. Bầu trời xanh
dịu mát lóng lánh muôn ngàn vị sao như vỗ về lòng người
trước cảnh. Càng về đêm lòng đại dương càng thêm đậm
đặc màu đen thẫm. Tầm mắt không nhìn được ra xa mà chỉ
nhấp nhô trên muôn ngàn con sóng. Sóng không trôi ra xa mà chỉ
ở quanh quẩn bên ta nhô lên hụp xuống nhịp nhàng. Ngồi
thiền định trên chiếc thuyền con và thầm đọc kinh Từ
Bi cứu độ. Nhà sư chìm đắm trong giấc ngủ mê say.
Khi
mở mắt, sư Viên Mãn đã trông thấy được chân trời. Giữa
màu xanh bao la của biển và của trời có một lằn ánh sáng
rộng lớn màu hồng nhạt. Ban đầu là màu trắng trong có
pha lẫn ánh hồng. Càng ngày ánh hồng càng đậm và tỏa sáng
khắp chân trời. Nơi chân trời phơi phới các dải mây trắng
xốp trôi lờ lững. Ngắm nhìn cảnh quan, nhà sư không còn
cảm thấy mình cô đơn nữa. Qua một đêm tăm tối, ánh sáng
lại hiện lên, màu biển lại xanh hiền hòa, màu mây lại
thay màu đổi sắc và lòng biển lại dịu hiền xanh trong vắt.
Trước cảnh bình minh rực rỡ lòng nhà sư bỗng nhiên an tịnh
vô cùng. Cảm giác cô đơn trên biển cả không còn nữa mà
chỉ còn tấm lòng thênh thang trước bao la. Khi tâm đã hòa
đồng cùng trời biển thì trí không còn gợn chút lo âu vị
sự sống còn. Thiên nhiên đã no đầy trong cuộc sống hiện
tại cho nên nếu ta có chết đi trong giờ phút này thì cuộc
đời ta đã hoàn toàn mãn nguyện. Cho nên lòng nhà sư hoàn
toàn yên tĩnh và chỉ lo chuẩn bị áo quần chống nắng và
gìn giữ cái can nước như một vật quí thiêng liêng.
Một
ngày nắng cũng nhanh chóng trôi qua và kế tiếp một đêm đen
êm ả trên biển cả. Khi còn trên Hòn Đỏ, sư Viên Mãn tuy
có nhiều đêm ngồi ngắm sao trời song không hề có được
một đêm yên tĩnh nào mà sư nhìn thấy bầu trời to rộng
mà hạ thấp gần gũi với con người đến thế. Bầu trời
như sát xuống hơn. Các vị sao trong sáng hơn, long lanh hơn
và nhất là hiện rõ hơn. Ánh sao lấp lánh như đang muốn
trò chuyện cùng người cô đơn trên biển cả, như thì thầm
khuyên nhủ, an ủi hãy tin tưởng, cố gắng đợi chờ một
sự cứu vớt đang tiến đến gần. Bỗng nhiên nhà sư đăm
đăm nhìn một vị sao gần nhất sáng nhất và tưởng
như đó là mẹ của mình đang dõi nhìn mình và như âu
yếm khuyên nhủ mình hãy yên tâm và tin tưởng nơi đức Quán
Thế Âm Bồ Tát. Thốt nhiên câu niệm Phật Quán Thế Âm bộc
phát từ nơi cửa miệng nhà sư. Và từ đó nhà sư không đọc
kinh nữa mà miệng luôn luôn niệm chú Quán Thế Âm rồi để
tâm hồn mình trôi dần vào yên tĩnh của đêm đen biển lặng.
Sáng
sớm hôm sau khi vừng hồng thái dương vừa ló dạng thì nhà
sư đã thấy rõ ở chân trời một chiếc tàu to lớn đang
tiến về phía mình. Niềm sung sướng vô biên như ánh hồng
rực rỡ tràn ngập trong lòng, nhà sư tưởng như đức Mẹ
Từ Bi đã hiện ra trong ánh hào quang lộng lẫy. Và sau đó
nhà sư được chiếc tàu viễn dương của Nhật Bản cứu
vớt. Hai ngày sau chiếc tàu gởi nhà sư cho một chiếc thuyền
đánh cá đưa về Nha Trang. Nhà sư cảm ơn vị thuyền trưởng
và các thủy thủ đã cứu sống mình và tuyệt đối không
nhận một món quà gì của chiếc tàu đã cứu vớt mình và
chỉ xin được đem về cùng với mình chiếc thuyền xốp và
chiếc “can” cũ để làm vật kỷ niệm cho cuộc trôi giạt
ra biển khơi.
Trên dốc
đồi
Con
suối cạn làm đường lên đảo nay đã thành lối mòn. Đá
nhọn được thay thế hoặc bị san bằng. Đám cỏ gai đã
chịu nép mình dưới bước chân đi. Tuy nắng trên hải đảo
vẫn nung đốt chiếc lưng trần; những giọt mồ hôi vẫn
lăn dài trên mặt trên lưng song cái nóng dường như dịu đi,
cái hừng hực của khí đá như phai đi. Nhà sư đã quen với
nắng nóng, cơ thể như chịu đựng được gian khổ. Con đường
quanh co lên đồi trở nên thân thương quen thuộc. Khoảng cách
dừng lại để nghỉ chân như định sẵn: lên, nghỉ 3 lần;
xuống, thì đi thẳng một hơi. Những nơi vịn vào vách đá
đều đã trở nên trơn tru bóng láng lưu lại vết tích
thân thương.
Bây
giờ mỗi lần lên xuống tuy không còn cần phải vịn vào
đá như trước song nhà sư vẫn theo thói quen hơn là cần thiết,
đưa tay vịn vào đá như một cái bắt tay chào. Câu thơ của
bà Huyện Thanh Quan chợt hiện về:
Đá
vẫn bền gan cùng tuế nguyệt
Nước
còn cau mặt với tang thương
Đã
trở thành:
Đá
và ta sẽ bền gan cùng tuế nguyệt
Biển
và ta không cau mặt với tang thương
Con
đường lên dốc ban đầu là con đường đầy gian khổ, hôm
nay trở nên quen thuộc thân yêu. Ngồi nhìn con đường dốc
nhà sư để lòng mình nao nức nhớ đến những lối mòn nơi
quê hương. Nhất là những lối mòn xuyên rừng lên núi chặt
củi. Những con đường quanh co vị phải tránh cây, lách đá,
men theo bờ suối, băng vượt sườn non. Dấu chân con người
đã làm mòn mép đá, đã vẹt thành lối đi. Lối chân người
theo năm tháng để lại trên mảnh đất núi rừng những con
đường ngoằn ngoèo, tránh cây, tránh đá, tránh cả những
mô đất gò mối không cần đến sức khai phá của con người.
Đi trên đường mòn cũng bởi do thói quen, cũng bởi do có
sẵn cho nên người dân quê không bao giờ có ý định làm
lại một con đường bằng phẳng, phát quang bụi rậm, bắc
cầu qua mương. Thời gian ở thôn dã dường như có thể co
giãn để thích hợp với nếp sống. Gặp một tảng đá thì
họ lại đi vòng để tránh, gặp một khúc sông cạn thì họ
sẵn sàng lội qua.
Nhìn
lối mòn lên dốc đảo, sư Viên Mãn nhớ đến thời ấu thơ,
nhớ đến những buổi sáng cùng bạn bè đi chặt củi. Gà
vừa gáy sáng, tiếng hú gọi nhau đi củi đã vang lên từ
đầu xóm. Không rửa mặt, không ăn sáng (đâu có gì mà ăn)
cả bọn đã hội nhau hồ hởi đi vào núi. Trên đường đi,
tiếng nói vang lên chen lẫn tiếng cười dòn dã. Tuổi thanh
niên thật tràn đầy vui vẻ. Thôn quê tràn đầy kỷ niệm.
Kỷ niệm đầy vui thú nhất là kỷ niệm của những con đường.
Có
những con đường băng qua đồng lúa, “sương mai ướt đẫm
cỏ đường”. Những hạt sương long lanh dưới nắng ban mai
như những hạt ngọc treo lơ lửng trên các cọng cỏ chỉ,
cỏ mần trầu, cỏ may v.v.. Trên lòng đường bao giờ cũng
đầy những chướng ngại vật tùy theo vụ mùa. Mùa cấy thì
cỏ và đất phát bờ được dồn chứa tạo thành những mô
lồi lõm. Mùa làm cỏ lúa, lòng đường lại được bồi
thêm một lớp cỏ. Chỉ có mùa gặt thì nhờ người qua lại
tấp nập cho nên lòng đường được phẳng phiu. Thời gian
này lại có những con đường mới tạo, băng qua những đám
ruộng mới gặt, do đoàn người gánh lúa đi tắt, băng ngang.
Rồi
mùa cày đến và trên lòng đường người lại đi, dưới
ruộng những con đường mòn trên gốc rạ biến mất nhường
cho những luống cày đất phơi dưới nắng vàng.
Bọn
trẻ đã thuộc nằm lòng những con đường ruộng đi vào núi
nên chúng vừa đi vừa trò chuyện vui vẻ lòng không chút
ngập ngừng. Sương mai mát lạnh đôi chân trần. Gió mai thổi
phơi phới tâm hồn. Con người nơi thôn dã như sống chan hòa
cùng thiên nhiên cho nên họ cảm nhận được những sự thay
đổi trên cánh đồng theo từng vụ mùa. Mùa cày, hương đất
nồng dưới ánh nắng pha lẫn mùi gốc rạ phơi khô. Mùa cấy
cánh đồng có màu xanh chen lẫn với màu vàng đất sét
của những khoảnh ruộng mới cấy, nước ruộng đục ngầu.
Cây lúa chưa bén rễ, có nhiều lá úa vàng gãy cúp xác xơ
trên mặt nước. Thế mà chỉ độ mươi ngày, ruộng lúa đã
xanh tươi rập rờn trước gió, buổi sáng lóng lánh giọt
sương mai. Đến mùa lúa trổ đòng đòng, các bông lúa ngẩng
cao đầu phơ phất theo gợn gió. Trên bông lúa những
hạt nhụy trắng rung rinh đón mừng ánh nắng ban mai. Chỉ
trong một thời gian ngắn gié lúa đòng đòng đã ngậm sữa
và trĩu mình đong đưa trước gió. Màu xanh trên cánh đồng
phơn phớt chuyển sang màu vàng.
Rồi
bất chợt vào một buổi trưa, màu vàng hiện rõ dưới ánh
nắng. Mùa lúa chín bắt đầu. Những gié lúa vàng óng quằn
trĩu hạt đong đưa rập rờn. Một biển đầy sóng vàng chạy
dập dờn đến tận cuối chân trời. Lúc bấy giờ lòng người
nông dân cũng tràn ngập nỗi vui mừng vị vụ mùa đã thành
đạt. Mùa gặt lại bắt đầu. Mọi công việc hằng ngày
tạm thời ngưng lại và tất cả nhân lực dồn vào công việc
gặt lúa mùa. Rồi vụ gặt qua và công việc đi rừng lấy
củi lại tiếp tục. Cánh đồng chỉ còn trơ gốc rạ nên
trên cánh đồng lại xuất hiện nhiều con đường đi tắt,
băng qua các thửa ruộng. Chỉ trong một vài ngày là con đường
tắt đã được hình thành. Rồi đến mùa cày vỡ những con
đường mòn băng ruộng lại bị xóa đi. Con đường mòn trên
bờ ruộng lại nhộn nhịp bước chân người.
Mùa
cày, cánh đồng có một màu xám chen màu vàng của đất. Cảnh
sắc trông đơn điệu nhưng âm thanh lại vui vẻ.Trong buổi
ban mai còn nặng sương sớm, trên ven lối cỏ đường đi,
tiếng dế gáy rộn ràng trong những luống cày. Mùa này là
mùa của tuổi thơ. Mùa của bắt dế và đá dế. Trên các
dãy ruộng khô cao, trong mỗi luống cày đều có dế. Nơi nào
có tiếng dế gáy thì nơi đó có ít nhất là hai chú dế cồ
đang rung cánh thách đố nhau. Chúng vừa thách đố nhau vừa
tranh gọi bạn tình. Cho nên khi lật một tảng đất lớn,
nếu khi bắt gặp một cô dế mái thì cứ kiên nhẫn lật
tiếp các tảng đất kế bên thì chắc chắn sẽ gặp ngay
ít nhất là một chú dế cồ đang xù cánh tục mái hoặc gáy
vang vang. Dế khác người ở chỗ dế gáy có mục đích
là gáy để kêu gọi bạn tình hay để so tiếng cùng
đối thủ. Còn người thì đôi khi chỉ hát nghêu ngao riêng
cho mình, hát để nhớ nhung, nhất là hát vì cảnh sinh tình.
Còn hát để khiêu khích tình địch thì rất hiếm khi xảy
ra.
Thời
gian đi băng ngang qua cánh đồng thường mau chóng. Đến ven
rừng, con đàng bao giờ cũng quanh co. Khi thì lượn qua các
mảnh rừng thưa, các đồi thấp cây cối cằn cỗi chỉ mọc
lưa thưa một vài bụi chà là rừng, một đôi chòm sim dại
luôn luôn nở hoa màu tím. Nhìn xa thì hoa sim có màu tím đẹp
song khi nhìn gần thì chỉ có màu tím đẹp còn cánh hoa, nhụy
hoa đều có hình dáng đơn sơ, cứng cáp không dịu dàng bằng
hoa hồng, hoa mai v.v.. Hơn nữa hoa sim lại không có hương.
Cho nên hoa sim chỉ đẹp nhờ ở sắc tím màu phơn phớt, nhờ
ở cây sim nở trên sườn đồi, nơi hoang vắng. Tuy không hương
nhưng hoa sim được màu của hoa đã thay cho hương.
Trước
cảnh hoang sơ, trời cao đất rộng, màu tím gợi nhớ đến
một mối tình dang dở, một nỗi buồn nhớ nhung xa vắng,
cho nên hoa không cần phải có hương. Hoa mọc đúng chỗ, hoa
nở đúng giờ là đủ cho lòng người rung cảm. Trên con đường
quạnh vắng thưa bóng người, qua khỏi một khu rừng hoang
vắng bổng gặp một ngọn đồi có hoa sim nở tím, nhất là
trong khoảng thời gian về chiều thì những kỷ niệm xưa lại
tràn về theo gió. Màu tím hoa sim trong bài thơ của Hữu Loan
là màu tím của “chiều hoang biền biệt“, của mối tình
tan vỡ, của nao nức kiếp người. Tuy nhiên vẫn có thi nhân
nhìn màu tím hoa sim trong niềm trong sáng, trong tình tươi sáng
sau cơn mưa, trong một khung trời xa vắng nhưng niềm tin vui
vẫn tràn đầy:
Mưa
xửng rừng thêm vắng
Mong
tìm một bóng chim
Gió
rung cành rụng nắng
Bừng
sáng cánh hoa sim.
(
Cánh Hoa Sim – Quách Tấn )
Nơi
thôn dã, màu tím hoa sim ít làm cho lòng người thôn quê bồi
hồi xúc động mà chỉ làm đẹp cho cuộc sống lao động.
Nhìn hoa để thư giản tâm hồn, để cảm nhận được là
khắp đó đây vẫn luôn luôn tồn tại màu hoa, sắc lá. Đặc
biệt cành hoa sim tím chưa bao giờ được người dân quê cắm
trên bàn thờ, chưng nơi phòng khách, và nhất là lấy hoa cài
lên mái tóc để trang điểm cho cô dâu hoặc cắm hoa trong
ngày vui, ngày hội. Có lẽ ngoài cái màu tím thi vị kia ra
không còn một nét đẹp nào chứa đọng trong cánh hoa sim.
Cánh hoa thì mỏng và chóng héo tàn. Nhụy hoa thì thưa thớt
không có màu vàng như hoa mai mà chỉ là một màu xám đen.
Hoa sim vừa không có hương vừa chóng tàn. Hoa sim chỉ xinh
đẹp khi đang nở trên cành. Một khi hái xuống thì lẻ loi
cô độc và úa tàn rất mau. Cho nên hoa sim chỉ đẹp khi ở
nguyên trạng thái trên cây, có mặt cùng nhau và nhất là chỉ
đẹp khi là một lùm cây trên đồi vắng, bên cạnh mương
nước trong veo chen lẫn với các bụi lau, bụi dứa. Hoa sim
không đẹp khi được cắm vào độc bình có lẽ một phần
vì lá sim không được mịn màng xanh tươi mà lại có
nhiều lông măng sờ đến nhám tay.
Tuy
nhiên hoa sim lại đẹp và duyên dáng khi hoa ở vào trong trạng
thái hòa hợp với thiên nhiên. Qua khoảng đồng ruộng xanh
rì sắc lúa bổng nhìn thấy khóm hoa sim nở tím cả bờ mương,
nước trong leo lẻo, lơ thơ mấy khóm dứa dại đong đưa
lá, chắc chắn du khách sẽ dừng chân thưởng thức vẻ đẹp
của hoa với màu tím đơn thuần của đồng quê mộc mạc.
Du khách đi qua một truông vắng không một hơi gió thổi, lồng
lộng trên đầu một màu nắng gay gắt, bỗng nhiên gặp một
dãy đồi thoáng gió, mọc đầy các bụi sim nở đầy hoa tím.
Thiên nhiên tươi đẹp trong cảnh vật đa tình. Trên cành hoa
sim, những cánh hoa hiu hiu rung động trong cơn gió nhẹ nhàng
đưa. Hoa như cười trong ánh nắng, hoa đang nhẹ nhàng phô
sắc, dịu dàng rung động trong yên tịnh của núi đồi. Cho
nên muốn thưởng thức cái đẹp của hoa sim, du khách cần
phải đến nơi không gian của hoa sống, đến đúng lúc con
người cần đến loài hoa tím đẹp này. Một buổi sáng tinh
mơ, một buổi chiều tắt nắng, một buổi tạnh mưa trong
nắng trưa.. Hoa sim sẽ làm bừng nở hương vị trong tâm hồn
ta khi ta bất chợt gặp gỡ, khi ta không chờ mong mà gặp gỡ,
khi ta đang khô héo mảnh lòng.
Ước
mong của nhà sư là sau này khi trên đồi có nước có cây
cỏ sinh sống thì trên lối mòn của chùa có đôi lùm
sim dại, đôi nhánh hoa bìm bìm để bốn mùa có hoa, có trái
gợi nhớ đến đồng quê, đơn sơ mộc mạc.
Hình
bóng quê hương không hề phai nhạt trong lòng vị sư. Quê hương
của nhà sư cũng khô cằn như ngọn đồi này song lại tràn
đầy kỷ niệm thân thương. Tự nhiên nhà sư mỉm cười sung
sướng vì đi đâu mình cũng mang trong lòng hình ảnh làng quê,
vẫn thương vẫn nhớ về quá khứ. Trên đỉnh đồi khô cằn
này mình vẫn ước vọng lập một quê hương bé nhỏ mà mình
đã từng sống trong những tháng ngày thơ ấu. Nụ cười
trên môi nhà sư nở tự nhiên. Một nụ cười vô ngại. Vô
ngại vì tự nó chợt đến và chợt đi trong khi trí không
có thời gian suy nghĩ phê phán. Hòn sỏi nằm bên sườn
dốc trông giống hệt như hòn sỏi trên sườn đồi chùa Đá
Trắng. Nó nằm yên lành giữa cỏ cây, không bơ vơ lạc lõng
và như đã từng vượt qua ngàn dặm để theo thầy đến đây.
Lòng nhà sư xao động như vừa gặp lại cố tri. Mọi đất
đá, cỏ cây trên Hòn Đỏ dường như là một phần của tạo
vật trên chùa Bửu Sơn nơi làng cũ đem phân chia cho nơi này.
Cúi xuống nắm lấy một ít đất, lòng nhà sư cảm thấy
ấm áp vô cùng. Nhà sư thầm nhủ: ta không xa lạ và đơn
chiếc nơi này. Đất đá nơi này cũng là đất đá nơi quê
hương chùa cũ, nơi ta đã qui y đầu tiên. Đất đá nơi này
đã chờ đợi ta từ lâu. Cuộc gặp gỡ ngày hôm nay chỉ
là cuộc trùng phùng sau nhiều tháng ngày xa cách.
Một
nguồn cảm khái nhè nhẹ theo gió biển từ bể xa đưa vào
len trong tâm trí. Nhà sư đứng lên, lần theo triền dốc lên
đỉnh đồi tiếp tục công việc hằng ngày.
Đào giếng
trên Đảo
Từ
lúc lên khai phá Hòn Đỏ năm 1960, nhà sư chùa Từ Tôn đã
phải gánh nước từ bến đò lên đỉnh đồi ròng rã
suốt sáu năm trường. Công việc gánh nước đã thành một
thói quen thường trực của cuộc sống trên đảo. Con đường
quanh co khúc khuỷu từ bến nước lên đến đỉnh đồi nay
đã trở thành một lối mòn dễ đi. Ngôi chùa đã hình thành
tuy đơn sơ nhưng đầm ấm.
Thỉnh
thoảng cũng có một vài du khách ghé thăm và có những đệ
tử từ các thôn xóm gần Hòn Đỏ lên chùa thắp hương và
đàm đạo cùng vị sư thầy. Càng ngày càng nhiều thiện nam
tín nữ lên chùa.
Một
hôm có hai bà cháu đến viếng chùa. Bà đã già trên 70 tuổi
và cháu chỉ khoảng mười hai. Sau khi lễ chùa, hai bà cháu
bước ra sân đến ngồi dưới bóng cây xoài bên hiên chùa,
ngắm cảnh. Dười chân gốc xoài, nhà chùa có đặt một vò
nước trong mát. Người cháu đến múc nước đổ vào bát
rồi bưng đến mời bà. Bà cụ bưng bát nước uống một
hơi ngon lành. Nước còn lại trong bát được người cháu
bưng uống tiếp một cách trân trọng. Nhìn thấy cảnh bà
cháu uống chắt chiu từng hớp nước, sư trụ trì lòng bỗng
thoáng bâng khuâng. Cảnh tuy đơn sơ, mà tâm lại dao động.
Những kỷ niệm ở quê hương bỗng ào ạt tràn về.
Ở
quê hương thôn dã, người dân bao giờ cũng thoải mái dùng
nước cho việc sinh hoạt. Nhà nào cũng có một giếng nước,
khách qua đường khi đi ngang qua thường được tự do sử
dụng để uống hoặc rửa tay chân, mặt mũi. Nhất là những
ngôi nhà ở cạnh đường ven chân núi. Đó là nơi tạm dừng
chân nghỉ ngơi khi những người đi chặt củi ở trong núi
ra khỏi rừng. Tự nhiên như người nhà họ dùng gàu múc nước
vừa uống vừa xối mát chân tay. Bên cạnh giếng, dưới gốc
cây có bóng mát chủ nhà luôn luôn để sẵn một vò nước
tràn đầy, bên cạnh một cành cây hoặc một trụ nhỏ móc
sẵn một cái gáo bằng sọ dừa khô. Bao giờ chiếc gáo cũng
gọn gàng xinh xắn. Đó là một chiếc sọ dừa khô có màu
đen bóng hoặc vàng đậm, tay cầm là một cái cán dài thường
làm bằng tre. Có đôi nơi cán làm bằng cây chà rang nhỏ bằng
ngón tay giữa, gỗ chà rang vừa thẳng tắp vừa có màu vàng
óng rất đẹp.
Thêm
một đặc điểm nữa là khi gần nước, gỗ không đổi
màu và nhất là không chóng mục nát dưới sự tàn phá của
nước. Cán gáo chà rang và sọ dừa càng dùng lâu, màu sẽ
trở nên bóng loáng. Thân gáo không bao giờ đóng rong rêu và
nhất là không có mùi hôi khi dùng lâu với nhiều năm tháng.
Còn vò dùng để đựng nước thì thường dùng các loại vò
đất nung còn sống, thường để nước thấm qua thành thân
vò. Vò lại được đặt dưới bóng mát và nơi có gió thổi.
Như vậy nước mau chóng bay hơi và gây nên sự hạ nhiệt
làm cho nước trong vò luôn luôn mát lạnh. Khách dùng nước
uống xong đều dùng nước dư để rửa mặt, chân tay. Đó
là hình ảnh quen thuộc nơi thôn dã. Nước mát nơi lòng giếng
hoặc trong vò nước là vật thể hiện lòng hiếu khách của
người dân thôn dã. Khi uống nước họ tự do uống thỏa
thích, không dè dặt, không tham lam dành riêng phần cho mình
hoặc lấy một ít làm phần của mình để đem về nhà. Chưa
bao giờ có cảnh uống nước chắt chiu từng hớp. Chưa bao
giờ có cảnh tranh nhau, có cảnh ganh nhau vì uống nước giếng.
Họ luôn luôn bình đẳng và tự do trong việc sử dụng nước
giếng dù không phải là giếng riêng của mình.
Vì
quen với nề nếp và cách sống như vậy nên khi nhìn thấy
hai bà cháu dùng dè dặt từng hớp nước một, sư Viên Mãn
bỗng nhiên thấy lòng trĩu nặng vì nhận thấy nhà chùa đã
thiếu đi một sự thỏa mãn cho nhu cầu bình thường nhất
là thiếu nước uống. Vẫn biết là không bao giờ nhà chùa
hạn chế nước uống song sự dè sẻn dùng nước nơi này
vốn do lòng thông cảm và tự nguyện của khách thập phương.
Từ sự trực ngộ này nhà sư chùa Từ Tôn lòng tự nguyện
lòng là dốc tâm đào cho được một cái giếng trên
hoang đảo này. Trước đây một lần nhân đến thăm chùa
Thiên Đức cất trên ngọn đồi thôn Bình Tây xã Ninh Hải
trong khu vực Hòn Khói huyện Ninh Hòa, nhà sư đã được nghe
chuyện Hòa thượng Liễu Đức, vị sư đã khai sơn ra chùa.
Chùa cất năm Minh Mạng nguyên niên (1820) Ngài Liễu Đức,
pháp hiệu là Huệ Giáo, người đương thời thường gọi
ngài là Hòa thượng Đò. Gọi như vậy là vị công của ngài
đã bắt cầu cho dân chúng được qua lại thuận tiện.
Nhân vùng Bình Tây gần biển và là vùng ruộng muối nên nước
uống có vị mặn, nhà sư cố công đào giếng trên núi đầy
đá tảng. Sau nhiều năm cần cù và kiên nhẫn một giếng
nước tuy sâu thăm thẳm song nước rất ngọt như nước cam
tuyền, lênh láng bốn mùa, giúp cho nhân dân quanh vùng đến
lấy về dùng quanh năm. Giếng được thành danh là giếng Thảo.
Theo
gương của Hòa thượng Liễu Đức, sư trụ trì chùa Từ Tôn
quyết tâm đào giếng trên Hòn Đỏ. Ban đầu sư tự đào
một mình song trải qua nhiều tháng gặp quá nhiều trắc trở
như thiếu dụng cụ đục đá và nhất là quá nhiều đá tảng
lo lớn. Giếng chỉ có thể đào rộng ra chớ không thể nào
đào sâu xuống dưới được. Nhà sư đem sự việc trở ngại
kể lại với mẹ và bà cụ thuận cấp cho một số tiền
để dành lâu nay, thuê mướn thợ chuyên môn. Một nhóm thợ
làm đá ở vùng chùa Hang được nhà sư đến tận nơi
mời tham dự. Công việc khởi sự vào dịp đầu xuân. Nhà
sư chỉ còn lo công việc chuyển nước từ đất liền ra hoang
đảo để phục vụ cho toán thợ đào giếng.Toán thợ làm
việc cần cù siêng năng. Lớp đá ban đầu vị nằm phía trên
nên dễ dàng được nạy lên và lăn đi. Song càng xuống
sâu thì đá càng to lớn và miệng giếng vị hẹp nên công
việc tiến triển khá chậm. Cuối cùng vị khối lượng đá
quá lớn nên thợ đào giếng đành phải dùng đến mìn để
đục đá. Tuy nhiên càng xuống sâu việc bắn đá cũng không
thể nào giúp cho công việc tiến triển khả quan. Sáu tháng
trôi qua tuy giếng đã có độ sâu khoảng 5 mét song
vẫn không thấy hiện tượng có nước mạch chảy ra. Công
việc đào giếng phải tạm ngừng vị mùa mưa đã đến.
Năm
ấy mùa mưa đến sớm hơn mọi năm. Có nhiều trận mưa kéo
dài đến nhiều ngày. Nước mưa trên đảo chảy tụ hội
vào lòng giếng chẳng mấy hôm thì giếng đầy nước. Lòng
nhà sư Viên Mãn vô cùng vui sướng. Mỗi sáng sau buổi kinh
mai, sư đều ra thăm giếng nước. Nhìn mực nước có độ
cạn rất chậm sư trụ trì có rất nhiều hi vọng là giếng
đã có thể giữ và chứa nước mưa lâu như một hồ nước
cho hải đảo Hòn Đỏ. Trong thời gian còn mưa thì giếng nước
này tích tụ nước và sau những cơn mưa thì nhà chùa có thể
dùng tạm trong một thời gian khá lâu. Quả như lòng ước
mong, nhờ thành giếng toàn đá nên mực nước vẫn luôn luôn
tràn đầy. Những buổi trưa, sư trụ trì ra ngồi bên bờ
giếng, nhìn chăm chắm vào lòng giếng, nhìn mặt nước lặng
yên thăm thẳm, lòng cầu mong đây sẽ là một giếng
nước thật sự. Sư mơ màng nghĩ đến mạch nước của chùa
Thiên Đức, mạch nước cam lồ nơi giếng Thảo của nhà sư
Liễu Đức và lòng cầu nguyện cho công việc đào giếng được
thành công.
Nhưng
rồi trời cũng hết mưa và toán thợ lại tiếp tục đào
giếng. Nhưng càng ngày công việc càng khó khăn và cuối cùng
toán thợ đành thú nhận sự bất lực của mình. Giếng đá
được đào dở dang nay chỉ còn lại một hố sâu kỷ niệm
bao công khổ nhọc của những con người bất lực trước
thiên nhiên.
Du
khách đến thăm chùa, cúi nhìn lòng giếng thẳm sâu, nhấp
nhô đá nhọn càng cảm động nhớ đến công lao khổ cực
của vị sư trụ trì có tấm lòng đôn hậu muốn chia sẻ
hạnh phúc tầm thường cho tất cả mọi người lên viếng
đảo.. Riêng khách đa tình trong làng thơ văn, lòng bồi hồi
nhớ đến nguồn nước mưa chứa trong lòng giếng và tưởng
đến sự cảm nhận được âm thanh thánh thót của những
giọt nước từ trong các khe đá nhỏ giọt xuống lòng giếng.
Các mạch nguồn của những dòng nước sau những cơn mưa sẽ
thấm sâu vào lòng đất để tháng ngày sau đó cùng nhỏ những
giọt nước trong vắt và ngọt lịm vào lòng giếng sâu thẳm
như nhỏ vào tâm linh của một ước vọng vị tha và bác ái.
Một dòng thơ đã chảy ra và rơi đọng vào trang thơ trong
bài thơ Cây cảnh bằng lăng của nhà giáo Phong Hương khiến
lòng du khách cảm thấy nao nao:
“Giếng
đá nhớ mưa nguồn”
Giếng
đá nhớ mưa nguồn vị giếng đá kia có sự liên quan mật
thiết đến mưa nguồn. Các giếng nước trên khắp cõi đời
này đều có mạch ngầm và lòng giếng bao giờ cũng đầy
ăm ắp nước. Riêng giếng nước trên Hòn Đỏ, phải chờ
đợi đến mùa mưa nguồn, phải có mưa nguồn, lòng giếng
mới đầy nước. Sau những cơn mưa nguồn, khách thập phương
mới nghe được âm thanh tí tách của những giọt nước từ
trong khe đá nhỏ thánh thót vào lòng giếng. Trong những ngày
nắng hanh, mây trắng vẫn bay trên bầu trời trong xanh, sóng
biển vẫn chập chờn quanh đảo, gió vẫn rì rào trên
cành lá xoài xanh nhưng ngồi trên bờ giếng, sư trụ trì nghe
như mơ hồ tiếng tí tách của giọt nước thánh thót rơi
vào lòng giếng như những giọt nhớ nhung rơi vào tim mình.
Trong âm thanh mơ hồ sư nghe như tiếng âm ỉ của những cơn
mưa nguồn về tuôn nước trên thành giếng. Con người có
thể quên đi kỷ niệm quá khứ song lòng của sư trụ trì
vẫn thương mến cái giếng đá này, những tháng ngày hì hục
đào đục gian lao. Lâu ngày thành ra thói quen, mỗi khi có một
cơn mưa nào tuôn xuống, vị sư lại ra đứng bên bờ giếng
nhìn xuống lòng giếng chờ mong nước ngập đầy như để
chờ mong người bạn cố tri.
Mẹ
Hôm
nay là ngày mười ba tháng tư âm lịch. Chỉ còn hai ngày nữa
là đến ngày Phật đản.
Sáng
nay, sư Viên Mãn ngồi dưới bóng xoài, nhìn những chùm xoài
đong đưa trước gió, chùm xoài tượng đầu mùa thay đổi
màu da và hình dáng theo từng ngày. Mới hôm nào chùm trái
xanh màu lá chuối non, thân bé bỏng đong đưa theo làn gió
ban mai mà bây giờ trái đã nõn nà, da xanh màu ngọc bích,
trĩu nặng dưới các cọng xoài thanh thanh. Trong nắng
biển, màu da xoài xanh mặn mà hơn. Bụi phấn mỏng sớm phai
dần theo sắc nắng. Nhà sư lòng bỗng nhiên nhớ đến mẹ
già. Mùa xoài sắp đến. Sau lễ dâng hương Phật, sư định
trong lòng sẽ về dâng mẹ trái chín đầu mùa. Gió biển thổi
về hiu hiu. Nắng vàng thắm đượm khắp nơi trên Hòn Đỏ.
Thốt nhiên, nhà sư nghe như có tiếng đá sỏi lăn nơi sườn
dốc trên đường đi xuống bến đò. Bóng lá xoài chập chờn
như vẫy chào đón. Nơi đầu dốc bóng mẹ già hiện ra nhòa
mờ trong ánh nắng. Gương mặt mẹ khắc rõ nét trên nền
trời. Những nét nhăn trên trán, trên đôi gò má và nhất
là cái miệng móm mém đang vừa nhai trầu vừa như mỉm cười
với trời đất. Những giọt mồ hôi chảy dài theo các lằn
nhăn trên má trên trán. Và trong hơi gió tiếng mẹ như thầm
thì:
- Ở
đây nhiều nắng quá. May lại cũng có nhiều gió. Mẹ ra thăm
con và đem cho con một trái mít chín cây mẹ vừa mới hái.
Nhà
sư nhìn mẹ cảm động. Chưa kịp nói với mẹ một câu nào
thì bóng mẹ đã nhòa đi trong ánh nắng. Bóng mẹ đến thật
nhanh và biến đi cũng thật nhanh. Bỗng nhiên không khí trên
đảo thơm lừng mùi mít chín. Mùi thơm ngọt ngào, có sắc
vàng óng như màu nắng. Một giấc mơ chợt thoảng như có
như không.
Sóng
biển như ngừng lại, mặt biển im lìm trải rộng. Màu xanh
của biển lẫn với sắc xanh của trời. Tâm nhà sư tự nhiên
xao động và sư chắp tay ngồi thiền định để nguôi đi
lòng xao xuyến bâng khuâng.
Chiều
hôm đó bé Xí con anh Sáu Sài Gòn ra đảo tin cho sư Viên Mãn
biết tin cụ bà bị té nặng và hiện đang nằm nơi chùa Kỳ
Viên Trung Nghĩa tại núi Sinh Trung. Không thể chờ đợi có
đò đưa, nhà sư đã cởi áo quần lội biển vào đất liền
lên Sinh Trung thăm mẹ.
Trong
một gian phòng nhỏ, sư Viên Mãn ngồi lắng nghe tiếng mẹ
kể bên tai:
Buổi
sáng khi công phu xong mẹ ra sân quét lá. Chợt mẹ thoáng ngưởi
thấy mùi mít chín. Ngẩng đầu nhìn lên cây mít nơi đầu
dốc mẹ thấy một trái mít có màu da vàng thắm. Trái mít
lớn chỉ khoảng bằng đầu một bé con song có vẻ già như
một trái mít đẹt. Mẹ đến gần thì ngửi thấy mùi thơm.
Khi đưa tay vỗ nhẹ lên trái mít thi có tiếng bịch bịch
của trái mít chín vang lên. Đúng là trái mít đã chín. Mẹ
đưa tay vói hái. Bỗng nhiên mắt mẹ như có một lằn
chớp hoa lên rồi mẹ chới với ngã ngồi xuống đất. Cả
bầu trời bỗng tối sầm và mẹ té nằm xoài ra đất. Vừa
may con bé Xí trông thấy bèn chạy vào chùa kêu mấy bà
đang làm công quả ra khiêng mẹ vào. Nhà sư cũng kể lại
cho mẹ nghe câu chuyện trông thấy mẹ khi sáng này. Hai mẹ
con chỉ còn biết nắm tay nhau trong im lặng.
Biết
rằng mình không thể nào qua khỏi, mẹ nhà sư báo cho con biết
số vàng mà bà đã dành dụm suốt cả cuộc đời chôn nơi
góc sân sau chùa. Số vàng này không nhiều song đã giúp cho
nhà sư tu bổ và xây dựng ngôi chùa Từ Tôn ngày một
khang trang.
Trong
nơi thanh vắng ở một hải đảo khô cằn, sư Viên Mãn thấm
thía nhận ra được sự cần thiết tình mẹ thiêng liêng.
Và người đã thầm tự nguyện:
Mẹ
tôi mất đi, tôi quyết tâm trụ lại chùa Từ Tôn vĩnh viễn
vì khi còn mẹ, tôi vẫn thường đi đi về về với chùa Kỳ
Viên Trung Nghĩa.
Kể
từ 1981 tôi đã đăng ký hộ tịch thường trú tại
chùa Từ Tôn Hòn Đỏ.
Cuộc
đời con người dù là thế thường hay tu hành, lòng nhớ thương
cha mẹ vẫn canh cánh bên lòng. Cuộc đời của tôi luôn luôn
gắn liền với biển đảo và tình mẫu tử thiêng liêng.
Có
nhiều đêm tôi ra ngồi một mình đối diện với biển Đông
(sống trên đảo nhiều năm tôi ít khi ngồi trước biển)
để suy tư về cuộc đời.
Đêm
nay, sau buổi kinh tối, tôi ra ngồi nơi gành đá hướng Đông.
Biển chìm lắng trong màn đêm thanh thoát trong suốt như pha
lê. Lòng tôi bỗng nhiên nhớ mẹ tôi tha thiết. Không biết
là vị nhớ đến mẹ mà tôi ra ngồi nhìn biển đêm hay là
vị ngồi nhìn biển đêm mà tôi nhớ đến mẹ tôi.. Trước
biển rộng mênh mông lòng tôi lại thiết tha nhớ mẹ. Trong
lòng tôi chợt vang lên câu hát mà từ lâu tôi đã được
nghe: “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình”. Bài hát này tôi
chỉ thích duy nhất có câu này.
Đêm
đen trên biển không thăm thẳm mà lại có màu đen trong ngần,
có lẽ nhờ ánh sáng của bầu trời có các vị sao. Lòng nhớ
mẹ thật mênh mông. Bây giờ mẹ không còn nữa tôi mới biết
được những giây phút gần mẹ là những giây phút hạnh
phúc nhất. Dù trước đây những tháng ngày bên mẹ là những
tháng ngày cơ cực nhất, nhưng bây giờ nhớ lại chính là
những giây phút hạnh phúc nhất của cuộc đời. Chỉ có
mẹ tôi là nguồn vui, niềm an ủi cho suốt cuộc đời thơ
ấu của tôi. Và mãi mãi cho đến tuổi đời khôn lớn.Tôi
đã sống dưới bóng mát của mẹ, hồn nhiên như thở khí
trời, thụ hưởng ánh sáng và cảnh vật chung quanh. Đến
khi mẹ mất, nỗi quặn đau tưởng đến đứt ruột, rồi
niềm đau cũng qua đi nhưng nỗi buồn chợt đền chợt về
để tâm hồn như xót như xa. Nhờ lao động, nhờ tu niệm
mà niềm thương nhớ mẹ của tôi như tan lẫn vào không gian,
vào khí trời quanh tôi. Hằng ngày tôi đã nhìn thấy những
khuôn mặt nhăn nheo, dáng đi khòm khòm trên chiếc lưng còng
cùng với đôi mắt lem nhem với cái miệng móm mém của các
cụ bà theo con cháu lên thăm chùa. Tôi đã thanh thản trong
lòng vị tôi như đã gặp lại dáng xưa của mẹ tôi.
Hôm
nay ngồi trước biển lòng tôi bỗng nhiên nhớ đến mẹ tôi
vô cùng. Mẹ ơi! suốt khoảng đời ấu thơ của con, mẹ đã
lao động cực nhọc để nuôi con. Và đến khi con khôn lớn,
mẹ vẫn còn lao động để giúp đỡ con miếng cơm manh áo
để khai hoang hòn đảo khô cằn này theo ước vọng của con.
Những tháng ngày gò lưng trên hải đảo trong nắng, trước
gió, bao giờ con cũng có mẹ đứng sau lưng, an ủi, động
viên và giúp đỡ lương thực để con có thể khắc phục
được gian khổ lập nên một mái chùa, đem màu xanh trùm lên
hòn đảo đầy gai, đầy đá này.
Giờ
đây, chùa đang thành lập, đất vừa mới hết gai, cây xanh
đã phủ kín lối đi, con đã có nơi tu tập thì mẹ không
còn nữa. Lẽ vô thường vốn đã có sẵn trong trần gian nhưng
tình thương nhớ, lòng biết ơn mẹ vẫn không bao giờ vơi
trong lòng con trẻ. Cũng như biển kia, nước khi vơi khi đầy,
nhưng lòng biển vẫn bao la, tình biển vẫn mặn nồng. Và
lòng nhớ thương mẹ tuy khi đậm khi lợt song vẫn đời đời
thiết tha, sâu thẳm.
Có
ngồi trước biển đông mới thấy lòng mình rộng mở. Có
nhìn thấy trời biển bao la mới hiểu được tấm lòng của
mẹ. Trước biển trời bao la, mới biết được con người
cần có một nơi để nương tựa cõi lòng. Đó chính là tấm
lòng của mẹ. Tiếng sóng vỗ thầm thì vào vách đá như tiếng
lòng của mẹ đang nói khẽ với tôi lời thân yêu trìu mến.
Có lẽ đã lâu rồi tôi không còn được nghe lời mẹ vỗ
về âu yếm cũng như bao nhiêu người đã xa biển cả, không
còn giờ phút ngồi nghe sóng vỗ rì rào nhưng tiếng thì thầm
ngàn năm kia vẫn đêm đêm không ngớt đồng vọng ngân dài
trong cõi lòng chúng ta.Ta không nghe tiếng sóng vỗ hằng đêm,
không phải vì không còn sóng vỗ mà chỉ vì ta không có được
một không gian, một thời gian, một dịp nào để ngồi nghe
sóng vỗ. Trong giây phút ấy ta sẽ gặp lại những kỷ niệm
xưa, những kỷ niệm về mẹ với tình yêu của mẹ, tiếng
dịu dàng ấm êm của mẹ trong tấm lòng bao la của mẹ.
Tôi
đã sống nhiều năm trên đảo giữa trời biển bao la mà mãi
đến hôm nay tôi mới nghe được tiếng thì thầm mến yêu
của mẹ trong tiếng sóng vỗ vào bờ đá. Thì ra mẹ đã ở
bên cạnh tôi mà tôi chưa hề có phút giây gặp gỡ.
Lâu nay tôi đã hờ hững với tình yêu của mẹ, tôi đã mịt
mờ giữa cái mất, cái còn của cuộc đời. Biển cả vẫn
hàm chứa cái hữu thường và cái vô thường của cuộc đời.
Song tình yêu của mẹ vẫn chứa chan trong cái hữu thường
và cái vô thường ấy.
Trong
cái không còn, linh hồn mẹ vẫn còn, tình thương của
mẹ vẫn còn mãi trong nỗi nhớ thương của người con. Nhờ
có biển cả, đêm nay tôi mới thấy rõ được tình thương
về mẹ. Biển cả mênh mông, sao trời rực rỡ, sóng vỗ bềnh
bồng như hòa đồng lòng nhớ mẹ của tôi vào cái rộng lớn
mênh mông này. Tôi cảm nhận được cái tôi như hòa đồng
vào vũ trụ. Trong khoảnh khắc lòng tôi trở nên thanh thản,
thân tôi nhẹ nhàng, trí tôi phiêu diêu và tôi cảm nhận được
Hòn Đỏ như đang chìm dần vào lòng đại dương, như lòng
tôi đã hòa tan vào lòng thương mênh mông của mẹ. Thuở nhỏ
không nhận biết được tình yêu của mẹ, lớn lên theo thầy
tu hành tôi lại phải xa tình yêu của mẹ, nhưng hôm nay trước
biển cả bao la, trước bầu trời đầy sao tôi mới thấu
nhận được lòng mẹ bao giờ cũng bao la như biển mà lòng
con chưa có được những khoảnh khắc cảm nhận.
Lễ Vu Lan
trên Đảo
Hằng
năm cứ vào mùa Vu lan thì các đệ tử chùa Kỳ Viên Trung
Nghĩa trên núi Sinh Trung đều tề tựu đông đủ tham
dự ngày đại lễ Vu lan. Sư Viên Mãn cũng từ Hòn Đỏ về
Sinh Trung chiều ngày mười ba tháng bảy. Sau đại lễ, sư
mới quay về chùa Từ Tôn. Năm nay sư về Hòn Đỏ hơi muộn
hơn mọi năm. Trăng mười bốn đã thắp sáng bầu trời. Biển
Nha Trang mênh mông. Sóng gợn lăn tăn. Hòn Đỏ lắng mình trong
yên thắm. Lòng nhớ mẹ lại rạt rào tha thiết. Trong buổi
kinh chiều, sư đã nguyền khấn tạ ơn người. Tuy nhiên khi
trực nhìn biển bao la dưới ánh trăng huyền diệu, lòng nhớ
thương mẹ lại xao xuyến tâm hồn. Tiếng sóng vỗ vào bờ
đá nghe rạt rào thắm thiết hơn mọi hôm, ánh trăng như trong
hơn và biển nồng nàn mùi muối mặn.
Đến
đảo, sư không lên chùa mà lắng mình ngồi trên bãi đá,
nhìn về ánh đèn nhạt phía NhaTrang. Bóng núi Sinh Trung in hằn
lên bầu trời trong sáng. Hình bóng mẹ già chợt hiện ra giữa
bầu trời cao rộng. Bỗng nhiên một ý tưởng chợt hiện
ra trong tâm tưởng: “Tại sao ta lại không thắp sáng một
ngọn nến thả trôi trên mặt biển để đón mẹ ta về với
ta trên hải đảo cô đơn và vắng vẻ này.”
Thực
hiện ngay ý tưởng thương nhớ, sư Viên Mãn lần mò lên ngôi
chùa nhỏ và dưới ánh trăng sáng tỏ, nhà sư ngồi cặm cụi
làm một chiếc đèn hoa sen. Đế đèn là một tấm xốp cắt
ra từ một nắp thùng xốp đựng vật dụng điện tử mà
nhà sư đã nhặt được ở dọc đường về. Đóa sen hồng
là tờ giấy bìa hồng đỏ dùng để viết các tờ sớ trong
những dịp cúng kính cho các môn đồ tín ngưỡng dâng lời
cảm tạ mẹ cha và thân tộc. Tờ giấy hồng được cắt
ra thành từng cánh hồng lớn và được ghép lại bằng những
chiếc gai dại mọc trên hoang đảo. Gắn vào đóa sen hồng
đơn giản một ngọn nến hồng bằng ngón tay cái và nhà sư
đem chiếc đèn sen hồng xuống tận bờ đá về hướng Đông.
Gió
trên biển vẫn hiu hiu, trăng vẫn long lanh trên muôn ngàn ngọn
sóng nhỏ lăn tăn trên mặt biển. Trời và biển mênh mông.
Chọn một khoảng đá bằng, sư thắp lên ngọn nến và quỳ
xuống đọc kinh cầu nguyện. Đọc xong lời khấn nguyện,
sư từ từ lội xuống nước và đẩy chiếc đèn sen hồng
ra xa bờ đá. Đại dương mở rộng lòng. Ngọn gió hiu hiu
thổi nhẹ chiếc đèn hoa sen hồng ra xa bờ hải đảo. Ánh
nến bập bùng, chập chờn trong bóng trăng sáng dịu mông lung.
Lòng thương nhớ mẹ cứ theo chiếc đèn hoa và ngọn nến
trôi xa, xa mãi.
Nhìn
cánh đèn hoa sen lung linh, sư Viên Mãn lòng thốt ra lời nguyện:
“Nếu
sau này có dịp thì hằng năm hễ đến mùa Vu lan con sẽ tổ
chức một đêm phóng hoa đăng trong đêm mười bốn để
các đệ tử con Phật đến tham dự và mỗi người con Phật
sẽ thả xuống lòng biển này một chiếc đèn có hình dáng
một đóa sen hồng với một ngọn nến cháy lung linh như lời
nguyện cầu nhớ ơn cha mẹ.”
Lời
nguyện vừa dứt bỗng nhiên trước mắt nhà sư bừng sáng
lên khung cảnh các thuyền hoa chở đầy Phật tử bồng bềnh
trên vịnh Hòn Đỏ và cảnh thả hoa đăng tưng bừng mở hội.
Các Phật tử lớp ở trên thuyền, lớp lội dưới nước
chung quanh Hòn Đỏ ân cần thả nổi trên biển những chiếc
đèn hình hoa sen có cắm ngọn đèn sáp cháy sáng. Gió hiu hiu
thổi các đóa sen hồng trôi trên sóng nước, tỏa rộng bồng
bềnh khắp nơi trên mặt biển. Trên bờ nơi hải đảo, các
bà mẹ già không thể lội nước thả sen hồng thì cầm nến,
lấy thân che gió để giữ lấy mồi lửa cho con cháu. Cảnh
đèn hoa bị gió thổi tắt và được vớt lên đi vội vàng
đến nơi các bà mẹ đứng che gió để mồi lại ngọn đèn.
Đó là hình ảnh cảm động của các bà cụ ngồi ôm
lấy ngọn nến để giữ lửa cho đám trẻ đang thả hoa đèn
chuyển tấm lòng báo hiếu vào biển đông thắp sáng những
tấm lòng thương nhớ mẹ cha. Những người con hôm nay mới
có dịp trở về gởi vào đại dương lòng thương nhớ kính
yêu của mình. Công ơn cha mẹ như trời biển. Một chiếc
hoa đăng chở nặng tâm tình trôi trên biển như là chở
tình yêu của con về với tấm lòng bao la của mẹ cha.
Đột
nhiên sư Viên Mãn giật mình trở về với thực tế. Chiếc
đèn sen hồng chở ngọn nến hắt hiu trên biển rộng đã
ra tít tận ngoài khơi chỉ còn là một điểm hồng dưới
ánh trăng rằm. Trong gợn gió hiu hiu nhà sư đang gởi lời
thì thầm của mình đến với mẹ:
Ngày
trước, khi con ra hải đảo này, mẹ đã từng khuyến khích
con, mẹ đã từng nuôi nấng con, giúp đỡ con trong những ngày
cơ cực thiếu thốn. Mẹ đã từng chắt chiu mua cho con, lọ
chao, chai tương, mớ rau và nhất là gạo hẩm (gạo loại hai
). Hôm nay con đã có một mái chùa, một khoảnh đất để
trồng tỉa nuôi sống thân con. Và mẹ đã không còn nữa.
Mẹ đã không đến chia vui cùng con trên đất Phật này. Vẫn
biết rằng mẹ đã về lại cõi vĩnh hằng, mẹ đã gặp lại
mọi người thân yêu, nhất là cha. Nhưng con vẫn hằng nhớ
đến mẹ. Nhất là trong đêm Vu Lan này. Là người con đã
xuất gia nhưng tấm lòng thương yêu kính mến mẹ con vẫn
hằng gìn giữ trong tâm. Trên hải đảo cô đơn này mẹ vẫn
luôn luôn có mặt trong tim con.
Ánh
đèn sáng trong chiếc hoa đăng đang thắp sáng lòng con đang
hướng về với mẹ. Trong ánh lửa cô đơn kia chắc mẹ sẽ
hiểu thấu tấm lòng con và cầu xin mẹ giúp cho con chóng thành
toại nguyện để hằng năm vào dịp lễ Vu Lan không phải
một mình con thả hoa đăng để thương nhớ mẹ mà hàng
trăm, hàng nghìn đệ tử cũng như những người con hiếu có
dịp ra đảo Hòn Đỏ này thắp sáng lên ngọn nến gởi tấm
lòng vào đóa hoa sen hồng thả hoa trôi ra biển khơi để nhớ
thương và biết đến công ơn của mẹ. Trên thế gian này
có hàng triệu tấm lòng của những người con chí hiếu vẫn
hằng mong muốn có dịp thể hiện sự biết ơn và tưởng
nhớ cha mẹ trong dịp Vu Lan.
Xin
mẹ giúp cho con tròn ước nguyện tạo ra một dịp phóng hoa
đăng để nhớ đến công cha mẹ trên hải đảo Hòn Đỏ
này. Bóng mẹ sẽ hiện về lấp lánh trong những chiếc đèn
hình hoa sen đỏ trôi bềnh bồng trên sóng nước trùng dương
dưới ánh trăng vàng rực rỡ.
Sáng
hôm sau khi tỉnh giấc sư Viên Mãn nhặt được nơi hốc
đá khi hôm mình ngồi thả hoa đăng nhớ mẹ, hai bài thơ không
đề tên tác giả:
Bài
số 1:
Thả một đóa sen hồng
Con
thả đóa sen hồng
Trên mặt biển mênh mông
Giữa màu xanh của biển
Như màu xanh của lòng
Ngọn nến trôi bập bềnh
Ánh trăng vàng mông mênh
Đóa hoa trôi theo gió
Đưa lòng con lênh đênh
Theo con sóng lang thang
Ánh nến rung nhịp nhàng
Ru con từng bước nhẹ
Biển trời đêm Vu Lan
Nhớ ngày mẹ ra đi
Ánh mắt mẹ từ bi
Lòng con như mặt biển
Lao xao muôn sóng quỳ.
Thả một đóa sen hồng
Đưa ngọn nến mông lung
Ơn cao dày của mẹ
Hòa cùng ánh trăng trong.
Mùa Vu Lan nhớ mẹ
Xao xuyến tấm lòng con
Như trăm nghìn ngọn nến
Trôi trên biển chập chờn
Ngàn giọt trăng long lanh
Một ánh đèn hiu hắt
Sóng Vu Lan dìu dặt
Biển trời xanh trong xanh.
Đêm phóng nghìn hoa đăng
Dịu dàng trong ánh trăng
Mẹ đi trên sóng nhẹ
Mênh mông cõi vĩnh hằng
Vu Lan mùa Vu Lan
Trời thẳm xanh ngút ngàn
Như biển nơi Hòn Đỏ
Sen hồng trôi trong gió
Mẹ đã về trong ta
Lòng trời biển bao la.
Bài
số 2:
Đêm
phóng hoa đăng
Con
thả một đóa sen hồng
Trên
mặt sóng mênh mông
Màu
xanh của biển
Như
màu xanh của lòng.
Ngọn
nến bập bềnh
Dưới
ánh trăng trong.
Đêm
Vu Lan
Nghìn
đóa hoa lòng trôi trong gió
Giữa
những làn sóng nhỏ
Gợn
dưới bước chân mẹ đi
Mẹ
về với đời
Ánh
mắt từ bi
Xao
xuyến lòng con như mặt biển
Mênh
mông hồn con như ánh trăng vàng.
Thả
một đóa sen hồng
Với
ngọn nến hắt hiu
Mùa
Vu Lan lòng thương nhớ trăm chiều
Công
ơn cao dày của mẹ.
Một
giọt trăng long lanh trên sóng bể
Một
ánh đèn hiu hắt giữa trùng dương
Mẹ
yêu thương
Con
gởi cả thế gian này
Để
nhớ về công ơn của mẹ
Trăng
mùa Vu Lan
Lấp
lánh ánh đèn hiu hắt
Trên
nghìn đóa sen hồng
Trôi
bềnh bồng
Dưới
ánh trăng trong
Trên
đại dương nhẹ sóng
Mẹ
đã về giữa trời biển bao la
Sóng
Hòn Đỏ thao thức mãi lòng ta
Mùa
Vu Lan mùa nhớ thương về mẹ.
Khóm mai
Mãi
đến chiều mười sáu tháng tư sư Viên Giác mới được phép
bổn sư Thích Phước Ninh ra thăm chùa Từ Tôn nơi
Hòn Đỏ. Gọi là chùa song hiện chỉ là một túp lều tranh
đơn sơ giống như một lều chăn vịt nơi thôn dã. Đêm hôm
ấy vành trăng mười sáu cùng trời mây cao rộng trên Hòn
Đỏ chứng kiến một lễ cúng đơn sơ nhưng vô cùng chân
thiết. Tiếng tụng kinh hòa cùng tiếng mõ đều đều của
nhà sư làm ấm lại bầu không khí cô quạnh trên một hải
đảo đìu hiu. Mặt nước biển như xanh đặc quánh lại, lóng
lánh sóng nước. Đôi tiếng chim mơ hồ vọng lại dưới trời
trăng. Sau chầu kinh, nhà sư lững thững đi một vòng trên
sườn núi. Đến bờ phía Tây gần con đường chạy quanh co
xuống chân đảo nơi có bến đò tạm. Dưới bóng trăng sáng
vằng vặc nhà sư sửng sốt nhìn thấy nơi khóm mai độc
nhất trên đảo, nở hoa vàng ánh dưới trăng. Hoa trên cành
nở vàng rực rỡ. Bóng hoa vàng tươi sáng, ánh trăng vàng
lung linh trên khóm mai. Gió biển hiu hiu thổi về nhè nhẹ.
Cành mai xao động, hoa lá rung rinh. Lặng lẽ đứng nhìn khóm
mai nở thạnh, nhà sư đắm mình trong thế giới mơ huyền.
Màu vàng của hoa cùng với sắc trắng trong của ánh trăng
phủ kín cả khóm mai khiến cho nhà sư ngỡ là khóm mai đang
được khoác một chiếc áo cà sa vàng quí báu của đức Phật
ban cho nhà sư Huyền Trang khi đến được Tây phương Phật
thỉnh kinh về Trung thổ.
Khi
khai hoang hòn đảo sư Viên Mãn đã trông thấy khóm mai nầy.
Khóm mai không biết mọc từ năm nào song nhìn cội mai đã
cằn và nhánh mai đã cỗi thì sư biết là mai mọc ở đây
đã từ lâu. Thân và cành có màu xanh đen mướt. Mới thoạt
nhìn cứ ngỡ là một khóm cây hoang dại song khi nhìn kỹ thì
mới biết là một khóm mai. Thân mai giống như loài mai núi
nhưng cành mai thì suôn sẻ như giống mai biển. Cành dài mà
không khẳng khiu. Lá dày không mỏng như mai vườn. Thân lá
ngắn, xa trông giống như chè xanh lá lớn. Sắc xanh đậm đà,
mới nhìn qua không thể phân biệt được là mai hay chè. Tuy
không biết chắc là khóm hoa mai nhưng sư Viên Mãn vẫn để
nguyên không phá đi vì đó là một cây xanh mọc giữa đám
gai góc trên đảo. Một màu xanh tuy nhỏ nhoi song sẽ làm
dịu mắt nhìn trong ánh sáng chói lòa trên hoang đảo.
Mùa
xuân khóm mai nầy không nở hoa khiến cho nhà sư ngạc nhiên
và tưởng đó chỉ là một khóm cây có vóc dáng giống như
là mai. Tuy nhiên cây cũng được thường xuyên tưới nước
và khóm cây cứ theo năm tháng mà nẩy nở. Sư Viên Mãn rất
ít khi ở luôn trên đảo mà chỉ lên một vài hôm rồi trở
về chùa Kỳ Viên Trung Nghĩa trên núi Sinh Trung. Hôm nay tình
cờ nhà sư đi dạo dưới trăng trên Hòn Đỏ rồi thình lình
bắt gặp được cảnh mai nở vàng trong dịp lễ Phật Đản.
Thật là hi hữu, thật là kỳ lạ.
Khi
còn theo học nơi trường Phật học Hải Đức tại đồi Trại
Thủy, sư Viên Mãn, một hôm tình cờ được nghe nhà thơ Quách
Tấn ngồi đàm đạo cùng Thượng tọa Thích Trí Thủ về
rừng mai trên đồi Trại Thủy:
Khi
xưa mai trên đồi Trại Thủy mọc đầy kín như một khu rừng.
Mùa xuân đến mai nở vàng cả núi ch