Vào chuyện
Sư
Viên Mãn đưa khách xuống bến đò vào lúc mặt trời vừa
khuất non Tây.Trên vòm trời phía đông, rặng mây hồng đã
chìm sau đầu dãy núi, để lại trên vòm trời ánh hồng rực
rỡ đỏ thắm. Dãy đá nơi bến đò đỏ hồng, soi mình trên
sóng nước. Sư Viên Mãn ngước nhìn ráng hồng và quay lại
nhìn Phương nói nhỏ:
- Cậu
hãy nhìn các hòn đá trên bến đò để nhận rõ là bóng sắc
ráng hồng của trời chiều dường như đã nhuộm thắm bức
tường đá này. Đứng bên kia bờ chúng ta sẽ thấy khi
sắc mây hồng đã nhạt, bầu trời trở lại trong xanh, rồi
tím thẫm thì vách đá nơi bến đò vẫn còn đượm sắc hồng
thắm. Có lẽ vì thế nên người dân trên bờ ngày xưa gọi
hòn đảo nhỏ này là Hòn Đỏ chăng?
Khách
lặng nhìn mặt nước biển màu xanh thẫm rồi nói cùng nhà
sư:
-
Kính thầy, theo như ý của con thì có lẽ Hòn Đỏ là tên
xưa kia của các người đi biển làm nghề đánh cá, từ ngoài
khơi đã lấy hòn đảo này làm mục tiêu để vào bến và
vì đá trên hòn đảo có sắc đỏ nên họ gọi và luôn tiện
đặt tên cho hòn đảo.
Sư
Viên Mãn mỉm cười:
- Tôi
cũng đã từng nghe như vậy. Nhưng đây là nói đến những
người dân bên trong đất liền, không bao giờ bước chân
lên thuyền ra biển. Họ hằng ngày ngắm nhìn hòn đảo này
và trông vào sắc đá mà gọi tên.
Khách
vui vẻ:
- Thế
thì Hòn Đỏ là tên gọi của dân chúng nơi đất liền và
ngoài biển khơi. Dù sao cũng là tên do người dân lao động
nhìn cảnh thực tế mà gọi. Lâu thành tên chính thức
trên giấy tờ.
Như
vậy ta gồm cả hai lại thì hợp lý hơn. Người đi biển
thì nhìn thấy sắc đỏ của đảo từ ngoài khơi như một
ngọn hải đăng chỉ lối đường về. Người trong đất liền
thì trông hòn đảo như kết tụ bóng ráng chiều hôm.
Sư
Viên Mãn:
- Mô
Phật, cậu có tâm hồn thi sĩ quá. Nếu như có người nhờ
cậu đặt tên cho hòn đảo này theo ý thích của cậu thì
cậu đặt như thế nào?
- Thưa
thầy, con sẽ gọi đảo này là Đảo Ráng Chiều. Gọi như
vậy là vị hòn đảo này khác với các hòn đảo khác trên
vịnh Nha Trang. Các đảo khác khi về chiều có màu xanh
thắm phơi mình cùng với sóng nước thương man xanh lặc lìa
của biển cả. Còn riêng hòn đảo này thì lại có sắc đỏ
thật đặc biệt. Buổi sáng, nhìn từ phương đông, thấy
sắc đỏ hồng tươi, buổi chiều nhìn từ phương tây
thấy màu đỏ lại càng thêm hồng thắm.
Câu
chuyện trao đổi chưa xong thì thuyền đưa đò cũng vừa cặp
bến. Từ tạ nhà sư xuống đò, khách ngẩng nhìn thấy
phương
tây màu trời đã sẫm tối. Và khi ngồi im trên đò khách
lại nhìn thấy hòn đá lớn nhất trên bến đỏ au lên như
một ngọn đuốc. Bóng nước hồng rung rinh. Bóng nhà sư lặng
chìm vào bóng xanh thẫm của cây lá.
Con
đò lặng lẽ rời bến. Gió chiều thổi mạnh, sóng vỗ vào
mạn thuyền làm nước bắn lên tung tóe.
Một
mình đứng lặng trên bến, sư Viên Mãn bỗng nhớ đến những
ngày đầu tiên sư bước chân lên đảo này.
Đó
là vào năm 1960.
Sư
vốn người ở Phú Yên.
Quê hương
Tôi
được sinh ra trong một gia đình nghèo khó. Tôi mất cha từ
thuở ấu thơ. Mẹ tôi ở vậy, sống trong lam lũ, lao động
cực nhọc để nuôi tôi.
Làng
tôi cũng nghèo như những làng quê nằm ven chân núi. Núi ở
quê tôi trùng trùng chạy dài đến chân trời song không có
nhiều cây cao cổ thụ, không có nhiều rừng xanh rậm rạp.
Làng tôi ít ruộng lúa mà lại nhiều gò cùng với những ngọn
đồi trơ trọi, ít cây cao mà nhiều đá tảng. Đất phần
nhiều là đất sỏi, thật là hợp với câu ca: “Quê hương
tôi, đất cày lên sỏi đá”. Mỗi khi mưa đến thì đất
lại nhão nhòe nhão nhoẹt mà khi có nắng lên lại khô cứng
như kết chặt cùng nhau. Người ta thường gọi đó là đất
da bò.
Tôi
lớn lên trong nghèo khó. Thiếu cơm ăn và vải mặc. Nhưng
nhờ ở tấm lòng yêu thương của mẹ tôi mà tôi đã vui vẻ
sống hòa đồng cùng với các bạn đồng trang, đồng hoàn
cảnh trong làng.
Ngay
từ sáng tinh mơ, mẹ tôi đã ra đồng làm thuê cho hàng xóm.
Đầu vụ mùa thì đi cấy, làm cỏ lúa. Đến ngày mùa thì
đi gặt lúa. Không đúng vụ mùa thì lại đi xay lúa, giã gạo
thuê. Nhờ các công việc này mà gia đình tôi có được miếng
ăn, tuy không đầy đủ song khỏi phải vay mượn, thiếu thốn.
May nhờ mẹ tôi không ốm vặt nên công việc làm thuê ít
khi gián đoạn.
Nhiều
buổi sáng khi tôi tỉnh giấc thì mẹ tôi đã ra đồng. Rửa
mặt xong, tôi ngồi nhai thong thả vài củ khoai lang mà
mẹ tôi để sẵn trên bàn và chờ đợi tiếng hò reo kêu
réo của bè bạn trong làng. Chúng tôi kết thành từng nhóm
những bạn trẻ đồng tuổi và đồng tánh. Trẻ thơ thường
đến với nhau khi có cùng chung một vài sở thích. Đá bóng,
lội sông, chơi đá dế, thả diều là những thú chơi thường
dễ dàng kết bạn thân với nhau. Chúng tôi đều là con nhà
nghèo. Được sống cùng với thiên nhiên nên hòa hợp với
nhau rất dễ. Buổi sáng hội cùng nhau tại sân đình làng
để cùng chơi đánh bi, đánh đáo. Sân đình thường vắng
vẻ nên rất thích hợp với tuổi thơ. Trẻ em trong làng chia
làm nhiều nhóm: đi học, chăn bò, giữ em trông nhà. Nhóm bọn
chúng tôi không được đi học, không có bò mà chăn, nhà lại
trống trơn nên khỏi phải trông coi.
Nhóm
đi học thuộc thành phần gia đình khá giả, cha mẹ có công
ăn việc làm đủ sống nên cố gắng gởi con đến trường.
Có đôi gia đình tuy hoàn cảnh khó khăn nhưng vẫn cố gắng
cho con theo học.
Nhóm
chăn bò, phần đông là chăn bò cho gia đình hoặc chăn thuê
cho các gia đình khá giả đã cho cha mẹ chúng công ăn việc
làm và giúp đỡ chúng khỏi phải đi chơi. Nhóm này thường
tụ hội trên một gò mả rộng, có ngôi miếu nhỏ nép mình
dưới một gốc đa cổ thụ, tỏa bóng mát một vùng. Bò thì
được thả ăn tự do còn bọn trẻ thì quây quần dưới tàn
cây đa rậm mát. Chúng ít khi đánh bi mà lại đánh đáo, đánh
trổng hoặc bịt mắt bắt dê,
Đánh
đáo là cách đánh bằng các đồng xu thảy vào một cái lỗ
to gấp đôi đồng xu, đứng cách lỗ vài ba bước dài ngắn
tùy theo khổ người chơi. Cao thì đứng hơi xa, thấp thì đứng
hơi gần. Dưới lỗ đáo là một vạch ngang dùng để giới
hạn quyền ưu tiên sử dụng của người đang chơi. Thông
thường chỉ có hai người chơi. Nếu nhiều người thì phải
chia thành hai nhóm và lần lượt chơi theo thứ tự như chỉ
có hai người. Trò chơi ban đầu hai bên dùng một đồng xu
đứng cách xa lỗ đáo cùng ném vào lỗ. Khi đồng xu lọt
được vào lỗ đáo thì được giành quyền ưu tiên, khi không
ai ném vào được lỗ đáo thì phải đo xem đồng xu nào kề
gần lỗ nhất thì được ưu tiên: khi cả hai cùng vào lỗ
thì phải đi lại. Khi phân định ưu tiên xong thì các bên
chơi đậu tiền lại, khi thì hai xu và có khi nhiều hơn tùy
theo vốn của hai bên.
Cuộc
chơi bắt đầu bằng người ưu tiên đứng xa ném tiền vào
nơi lỗ đáo. Tiền xu nào chui vào lỗ thì được lấy ra thuộc
về người chơi. Khi có tiền chui vào lỗ đáo thì người
chơi được quyền lấy một đồng xu đặt bên mép lỗ đáo
và dùng đồng chì (một mảnh chì hình tròn như đồng xu nặng
nhẹ tùy theo người sử dụng) đánh văng đồng xu này mà
không được chạm vào các đồng xu khác. Khi những đồng
xu không vào được lỗ mà nằm chồng lên nhau thì được
gọi là tang, khi có hai đồng chồng lên nhau thì gọi là tang
hai, khi có ba thì gọi là tang ba v.v.. và ngưòi đang chơi được
quyền dùng đồng chì riêng của mình ném cho những đồng
xu chồng lên nhau rời nhau ra và không được chạm vào các
đồng xu khác. Khi không có “tang” thì người đang chơi được
đối thủ chỉ định: một là ném hòn chì vào lỗ, hoặc
ném hòn chì trúng vào một đồng xu nào trên vạch ngang mà
không được chạm vào các đồng xu khác.
Một
đôi khi đối thủ bắt người chơi dùng hòn chì ném vào một
đồng xu ở bên dưới vạch ngang để làm cho đồng xu này
văng lên khỏi vạch. Những khi có nhiều đồng xu ở quanh
miệng lỗ thì phần nhiều đối thủ đều bắt buộc người
chơi ném chì vào lỗ mà không được chạm vào các đồng
xu chung quanh. Khi thấy có nhiều đồng xu nằm khít vào nhau
thì việc yêu cầu ném trúng một đồng nằm ở giữa sẽ
nhất định xảy ra. Trong cuộc chơi nếu người đang chơi
có sai phạm thì chỉ được hưởng những đồng tiền đã
chui vào lỗ và phải nhường chỗ cho đối tượng cùng chơi.
Khi chỉ còn có một đồng xu thì người chơi phải tìm cách
ném đồng xu này vào được trong lỗ. Nếu không ném
được thì phải theo lời đối phương làm theo một trong ba
cách: một là dùng chì ném cho được vào lỗ, hai là ném cho
trúng đồng xu còn lại, ba là phải ném cho văng lên đồng
xu nằm dưới lằn vạch.
Trong
cuộc chơi chia hai phe thì mỗi phe phải cử ra một “cao thủ”
làm chủ và được đi đầu, tiếp đến là người của đối
thủ và cứ thế lần lượt cho đến khi hết tiền. Các trận
chơi phần nhiều tùy thuộc vào tay lành nghề và còn tùy thuộc
vào hòn chì nữa. Hòn chì nặng thì thích hợp cho việc phá
“tang”. Hòn chì mỏng thì thích hợp cho việc ném chì vào
lỗ hay đánh trúng mục tiêu giữa đám tiền bao quanh. Tuy nhiên
hòn chì lại tùy thuộc vào tay người chơi nghề: sự quen
tay là căn bản trong công việc sử dụng hòn chì.
Cách
đúc hòn chì cũng rất công phu. Nung chảy và đổ chì vào
một cái khuôn làm bằng đất sét có một cái lỗ do một
đồng xu được in sâu vào. Độ dày tùy thuộc vào người
thích sử dụng. Đem chì nấu chảy đổ vào khuôn rồi đợi
cho nguội đem đập vỡ ra và đem hòn chì ra mài nơi thềm
gạch để có một hòn chì cạnh sắc, mặt láng. Nhờ hòn
chì do sự khéo tay đúc mà nổi danh trong đám đánh đáo. Những
trẻ đánh đáo “chuyên nghiệp” đều thèm muốn có được
một hòn chì vừa đẹp, vừa hợp với lối đánh của mình.
Đôi lúc trên hòn chì lại còn ghi tên chủ và ngày tháng đúc.
Một đôi khi chúng phải dành dụm tiền để mua lại cho được
hòn chì “lý tưởng”. Có lúc chúng lại trao đổi bằng
hiện vật hợp với sở thích của nhau. Như trao đổi một
con sáo ra ràng, một con chim cu mới nở hoặc một con cò trắng
mới vừa bẫy được. Trong hoàn cảnh nghèo khó của tuổi
thơ vẫn có những sự trao đổi vừa là tình bạn, vừa hợp
theo sở thích.
Sau
trò chơi đánh đáo là trò đánh trổng. Sân chơi trổng cần
thoáng rộng. Thường là sân đình hoặc là một nổng gò rộng.
Bộ trổng gồm có hai thanh gỗ dài ngắn khác nhau có đường
kính to bằng ngón tay cái người lớn, đôi khi lớn bằng đầu
ngón chân cái. Thanh dài có tên là trổng mẹ, dài độ 5 tấc,
thanh ngắn gọi là trổng con, dài khoảng 1 tấc (có khi ngắn
bằng 0,50 tấc). Đa số trổng đều làm bằng gỗ chà rang.
Cây chà rang là một loại cây thân bao giờ cũng thẳng, thường
hay mọc thành từng đám gần nơi suối nước. Gỗ chà rang
được sắp vào hàng danh mộc. Vì có thân mọc thẳng và đầu
đuôi bằng nhau nên được dùng làm cột kèo, rui mè cho những
ngôi nhà tranh cao cấp. Một ngôi nhà có mái làm toàn bằng
gỗ chà rang thì trông rất đẹp mắt vì thân thẳng và màu
trắng ngà của thân cây đã bóc vỏ. Mối mọt cũng rất ít
xâm phạm vì gỗ cứng. Màu gỗ đậm sắc theo thời gian. Thân
cây tròn láng và đồng đều từ đầu đến cuối nên có
người lầm tưởng là gỗ được thợ bào đẽo kỹ lưỡng.
Không gì thích thú bằng buổi trưa hè cột võng nằm
nơi hiên nhà trong cơn gió nồm hiu hiu thổi, tai nghe tiếng
cu cườm gáy vọng từ bụi tre đầu vườn vẳng lại, mắt
đăm đăm nhìn lên mái tranh ngắm những cây rui, cây mè, màu
vàng như ngà voi, suôn đuột đan xen nhau thẳng tắp trên mái
hiên nhà.
Người
đi rừng thường gặp chà rang mọc thành từng đám. Cây cao,
mọc thẳng vút và có thân lớn đường kính gần 0,50 mét.
Thân cao có đến 4, 5 mét. Ngọn và gốc gần như bằng nhau.
Vỏ cây chà rang rất mỏng, dễ lột khi còn tươi, để khô
khó lột, màu gỗ luôn luôn có màu vàng ngà. Vì mọc thẳng
nên chà rang ít có mắt nơi thân. Rừng chà rang trông giống
như rừng bạch đàn, nhiều khi mọc rậm nhưng bao giờ cũng
thoáng. Người đi chặt chà rang bao giờ cũng có hứng thú
vì cây tuy cứng song lại dễ chặt và nhất là khi bó lại
thành bó thì bó củi trông vô cùng thích mắt. Như là một
bó lồ ô vậy. Tuy nhiên vì là gỗ quí nên chà rang rất nặng.
Nhiều thợ rừng thường mất sức vì ham bó nhiều cây để
vác về nhà. Vì là loại cây thẳng nên thường bị chặt
ngay từ khi còn nhỏ nên rất ít khi có được các cây có
thân lớn để làm cột nhà (hơn nữa là vì chỉ có màu trắng
nên tuy là danh mộc song chà rang lại không được quí bằng
gỗ trắc, gỗ lim v.v.) Cho nên đa số cây chà rang chỉ dùng
để làm rui, mè cho đẹp mái nhà mà thôi.
Ở
thôn quê nhà thường là nhà tranh. Mái nhà, ngoài kèo và đòn
tay ra còn có rui mè làm căn bản. Sau khi dựng cột kèo
xong người ta thường bỏ đòn tay để làm sườn nhà. Xong
đòn tay thì phải bố trí rui mè để dùng làm sườn mái lợp
tranh hoặc rạ. Cây rui thường lớn bằng cổ tay, được xếp
dọc trên nóc mái chỗ cây đòn dông gióng xuống, nằm gác
trên các cây đòn tay được xếp nằm ngang. Cây mè thì nhỏ
hơn nhiều, chỉ bằng ngón tay cái là lớn nhất đặt nằm
song song với các cây đòn tay cách nhau chỉ độ một gang bàn
tay tùy theo độ lợp mái dày hay thưa.
Ngoài
việc làm mái nhà, chà rang còn rất thông dụng làm vật dụng
trong gia đình. Trước tiên là làm đũa bếp, đũa con để
ăn cơm. Sớ gỗ chà rang vừa cứng vừa thẳng nằm theo hàng
dọc thân cây nên rất dẻo, rất khó gãy. Hơn nữa vì thân
thẳng nên dễ dàng vót thành đũa. Sớ chà rang gần giống
như sớ của cây tre, cây cau (cũng thường dùng làm đũa ăn)
Đũa chà rang màu vàng ngà ít bị đổi màu nên nếu biết
gìn giữ thì có thể dùng đến 5, 10 năm mà vẫn còn
tốt. Lựa một khúc gỗ chà rang có độ dài bằng chiếc đũa
rồi dùng rựa chẻ ra làm nhiều cây nhỏ. Vì sớ gỗ thẳng
nên đa số cây đều bằng nhau và việc vót cho tròn rất dễ
dàng.
Ngoài
việc làm đũa, gỗ chà rang còn dùng trong việc “khớp
răng cối xay lúa”. Khi xưa, cối xay lúa là công cụ dùng
hằng ngày của thôn quê. Cối xay lúa gồm hai tấm thớt chạy
xoay trên nhau để làm hạt lúa được bóc vỏ. Hệ thống
bóc vỏ gồm nhiều thanh gỗ nằm xuôi chiều. Thớt trên lưu
động chung quanh một trục gọi là ngõng cối xay. Thớt dưới
cố định. Khi thớt trên di động thì lúa trên lòng cối theo
lỗ cối xuống đền các khe trống của thớt và được các
răng gỗ này chạm vào nhau đủ làm cho vỏ lúa bóc ra khỏi
hạt. Vì thế nên các thanh gỗ này thường hay mòn và xơ ra
nên cần có độ cứng bền lâu. Xay lúa trong một thời gian
thì “răng cối xay” mòn dần và lúa không còn được bóc
vỏ đều đặn nữa, khi đó gọi là lúa xay bị sống. (nghĩa
là nhiều hạt lúa còn nguyên). Khi ấy cần phải thay răng
cối xay. Và gỗ chà rang thường được đem ra sử dụng. Đất
dùng trong lòng cối thường là loại đất sét lấy ở các
đụn gò mối (đất này có độ cứng cao). Dần dần theo năm
tháng cối xay lúa đi vào quên lãng và chỉ còn nhìn thấy
trong các dịp triển lãm nông cụ cổ của nền nông nghiệp
Việt Nam.
Trong
văn học sử có bài thơ Vịnh Cái Cối Xay của vua Lê Thánh
Tôn:
Thóc
lúa kho trời vẫn sẵn đầy
Tạc
thành cái cối để mà xay
Thâu
tàng châu ngọc tư mùa đủ
Chuyển
vận âm dương một máy xoay
Đất
phẳng nổi đùng cơn sấm động
Vừng
to vung tóe hạt mưa bay
Đem
tài xoay xỏa ra tay giỏi
Lợi
dụng cho dân đủ tháng ngày.
Nhà
thơ Nguyễn Khuyến cũng có bài thơ Cối Xay :
Khen
con tạo hóa cũng tài thay
Khéo
tạc nên hình cái cối xay
Tiếng
nói ầm ầm như sấm động
Miệng
cười răng rắc tựa mưa bay
Lưng
đeo đai bạc trăm vành nặng
Dạ
chứa lòng vàng một ngõng ngay
Lại
có hai tai thông sáng cả
Gác
ngoài danh lợi lắc đầu quay.
Chúng
ta nhận thấy một nông cụ đã từng được một vị vua,
một ông Nghè tam nguyên làm thơ ca tụng thì xứng đáng được
người dân nhớ mãi dù tên tuổi đã bị thời gian vùi lấp.
Gỗ
chà rang được dùng nhiều trong gia dụng và giới trẻ cũng
đã dùng trong sinh hoạt vui chơi. Chúng thường lựa nơi các
đống củi của gia đình để tìm cho được một khúc củi
chà rang, thân to độ chừng ngón tay cái. Loại này thường
thẳng từ đầu đến ngọn và rất dễ dàng phân biệt trong
đám củi khô. Chọn xong cây gỗ chúng dùng mảnh chai chuốt
sạch vỏ mỏng bên ngoài rồi dùng gang tay phân độ dài trổng
mẹ và trổng con. Mẹ thường dài gấp 4 lần con. Một mẹ
thường có 4 con vị cần dự bị nhiều lúc đánh mạnh trổng
con có thể bay vào bụi rậm hoặc văng xuống ao, hồ. Chia
như thế để khi nạo vỏ xong thì chỉ cần chặt
cây chọn ra làm hai, một để làm trổng mẹ, một lại chặt
ra làm 4 để làm trổng con (chia cây làm đôi là một cách
làm đơn giản).
Có
con trổng rồi thì cách chơi được tổ chức như sau:
Cách
tại nơi đầu sân chơi một khoảng độ 1 mét khoét một lỗ
dài khoảng độ 1 gang tay sâu 2 đốt ngón tay. Thường thì
lấy độ dài của trổng con làm ni tấc. Lỗ dài và rộng
đủ để đặt trổng con nằm vào gọn trong lỗ. Người chơi
được chia làm hai. Một đứng cuối sân làm chủ, một đứng
giữa sân chuẩn bị bắt trổng con. Nhóm chủ lần lượt theo
từng người đặt trổng con nắm ngang miệng lỗ rồi dùng
trổng mẹ hất mạnh trổng con ra bất cứ phía nào cốt để
đối phương không đón bắt được trổng con. Phe đối phương
phân phối người đứng thế nào để có thể đón chận bắt
khi trổng con được hất văng ra. Nếu không bắt được
trổng con thì đối phương phải đứng tại nơi trổng con
nằm yên dưới đất và ném mạnh trổng con thế nào để
trổng con chạm đúng vào cây trổng mẹ được đặt nằm
ngang trên miệng lỗ. Mỗi khi ném trúng thì cuộc chơi thay
đổi chủ. Nếu ném không trúng thì giai đoạn 2 của cuộc
chơi được thực hiện.
Giai
đoạn 2 là đặt trổng con nằm xuôi theo trong miệng lỗ chỉ
ló lên một phần đầu. Người chơi dùng trổng mẹ khẻ đánh
cho trổng con văng lên khỏi miệng lỗ và dùng trổng
mẹ đánh văng trổng con, càng xa càng tốt. Khi đó đối phương
đã sẵn sàng phân tán ra khắp sân để đón bắt trổng con.
Đây là giai đoạn gay go và thích thú nhất của cuộc chơi.
Bên chủ cố gắng đánh văng xa và khác hướng để đối
phương không thể nào bắt được trổng con. Đối thủ cố
gắng bắt cho được trổng con để ngăn không cho đối phương
được thêm nhiều điểm. Có một điểm cần lưu ý trong giai
đoạn chơi này: Một khi phe chủ đánh bật trổng con
lên khỏi miệng lỗ thì dùng trổng mẹ nâng nhẹ trổng con
lên hai lần, một lần nâng, một lần đánh ra xa. Nếu làm
được như vậy thì số điểm sẽ được tính bằng
số đo trổng con (chớ không phải trổng mẹ) từ chỗ rơi
đến miệng lỗ. Nếu khi nâng mà trổng con rơi xuống ngay
thì chỉ được coi như đã đánh một lần và chỉ dùng trổng
mẹ để đo. Đa số đều nằm gần miệng lỗ nên nếu không
được một khoảng cách bằng trổng mẹ thì thay đổi chủ
chơi.
Phần
nhiều các thành viên đều dùng cách đánh ngay không qua khâu
nâng thêm một lần (cho nó chắc gạo). Theo đúng luật chơi
thì bên cầm trổng mẹ không được nhấc trổng mẹ rời
khỏi miệng lỗ đợi đối phương ném trổng con về miệng
lỗ và cố đánh văng trổng con ra xa . Khi trổng con chạm đất,
khoảng cách tính theo số đo của trổng mẹ. Các đối thủ
phân chia người đứng rải ra các hướng để đón bắt trổng
con, mỗi khi trổng con bị đối phương đánh trúng văng ra
xa. Khi bắt được trổng con thì cuộc chơi được đổi chủ.
Sự đón bắt kỳ này khó khăn hơn lúc ban đầu vị sức
bay của trổng con khi này rất nhanh và không thể định được
hướng như lúc ban đầu. Người ném trổng con cũng dùng đủ
mưu mẹo để lừa phỉnh đối phương như nhá nhá để đối
phương tưởng đã ném mà nhấc trổng mẹ lên để đánh trổng
con, khi đó thì quan sát viên kịp thời hô hoán lên để xin
thay đổi chủ chơi. Khi bị như vậy thì bên chủ phải thay
ngay người chơi (đó là thủ đoạn để thay người đánh
giỏi của đối phương) Tuy nhiên thủ đoạn này chỉ được
chấp thuận có ba lần và đối thủ cũng phải được thay
người.
Tục
ngữ có câu:
Đánh trổng mang u
Đánh cù lỗ óc.
Câu
tục ngữ này nói về sự tai hại của hai lối chơi. Mang u
là bị u đầu vị cây trổng con có thể văng vào đầu khiến
đầu có cục u. Còn đánh cù (là một cách chơi dùng gậy
đành vào trái banh bằng trái bưởi hoặc bằng dây chuối
quấn thành trái banh. Khi chơi gậy có thể đánh trúng
nhầm đầu).
Chơi
đánh trổng là một trò chơi dân dã không tốn kém và thích
hợp với tuổi thơ nơi nông thôn. Nó luyện cho trẻ thơ sự
nhạy bén của đôi mắt, sự nhanh tay và nhanh chân. Chơi trổng
cũng cần đến sự chung sức chung lòng của tập thể, Sự
phân công chiếm lĩnh các vị trí để đón bắt cây trổng
con và sự khôn lanh khi hất cây trổng con thoát khỏi sự đón
bắt của đối phương. Chơi đánh trổng gần giống như trò
chơi đánh khúc côn cầu của Tây phương.
Gia đình
anh Sáu Sài Gòn
Dưới
chân ngọn núi Cù Lao nơi mé biển có hai vợ chồng người
dân chài sống lẻ loi một mình. Đó là vợ chồng anh Sáu
Sài Gòn.
Anh
Sáu quê ở Long An. Nhà nghèo phải đi làm thuê. Suốt năm tháng
dầm mưa dãi nắng ngoài đồng mà vẫn không đủ miếng ăn.
Muốn đổi đời nên anh lên Sài Gòn kiếm sống. Bươn chải
giữa đô thị người khôn của khó, anh Sáu vẫn không có
một công việc ổn định. Tình cờ anh quen biết với một
cô gái người miền Trung vào Sài Gòn tìm việc làm sinh sống.
Cuộc tình duyên của những người nghèo khó xảy ra đơn giản
như bao cuộc tình duyên khác. Cùng một cảnh ngộ, cùng một
cuộc đời, hai người quen nhau nhanh chóng. Ban đầu, hỏi thăm
gia cảnh, hẹn nhau gặp gỡ ở công viên. Chủ nhật hoặc
ngày nghỉ, đi Sở thú, xem chiếu bóng, rồi trở thành
thân nhau.
Sài
Gòn có rất nhiều rạp chiếu bóng thường trực. Sáng bắt
đầu chiếu từ 7 giờ. Trưa chỉ nghỉ có nửa giờ rồi tiếp
tục cho đến 11 giờ khuya. Suốt cả ngày chỉ chiếu có một
phim. Hết phim chỉ nghỉ có mười lăm phút rồi bắt đầu
chiếu lại.Việc chiếu thường trực rất lợi cho người
cần xem phim. Vào rạp lúc nào cũng được. Xem bao nhiêu lần
trong một ngày cũng được. Có người ngồi luôn trong rạp
từ sáng cho đến khuya. Nhất là ở những rạp có máy lạnh.
Có thể vừa xem phim vừa ngủ trưa. Không muốn xem phim đứt
đoạn thì vào ngồi ngủ đợi đến lúc bắt đầu chiếu
lại coi luôn một thể. Rạp chiếu phim thường trực cũng
là nơi tiện cho việc hẹn hò gặp nhau của đôi lứa trai
gái cần một không gian tranh tối tranh sáng để được ngồi
gần nhau. Đây là nơi tiện lợi cho những mối tình nghèo.
Anh chị Sáu thân nhau nhờ những buổi xem phim thường trực
ấy.
Cuộc
sống gia đình tuy tạm yên ổn nhưng anh Sáu lại gặp phải
một trở ngại lớn lao. Đó là anh đang ở vào tuổi thi hành
quân dịch. Khi đó tuy thành phố Sài Gòn chưa có các cuộc
truy quét rầm rộ để bắt lính nhưng có nhiều cuộc khám
xét các cư dân trú ngụ bất hợp pháp thường xảy ra. Việc
không có chỗ cư trú và ở vào tuổi quân dịch khiến vợ
chồng anh Sáu sống thường trực trong sự lo âu. Cuối cùng
vợ chồng anh Sáu quyết định ra Nha Trang sinh sống bằng nghề
chài lưới. Cả ngày lênh đênh trên mặt biển thì việc bị
bắt đi quân dịch có thể tránh khỏi. Nha Trang là quê hương
của chị Sáu. Vợ chồng ban đầu tạm thời nương náu nơi
nhà bà cô già góa bụa của chị Sáu. Bà Hai ở thôn Cù Lao.
Thuở xưa bà có chồng làm nghề đi biển. Chồng theo thuyền
ra khơi, vợ ở nhà đan lưới. Trong một ngày mưa bão, chồng
bà mất tích giữa bể khơi. Tuy không con, bà vẫn ở một
mình cho đến tuổi già. Khi gặp hai vợ chồng anh chị Sáu
bà vui lòng nhận cho họ ở nhờ và coi như là con ruột.
Bà bày cho chị Sáu nghề rổi cá. Đó là một nghề buôn
bán cá tươi trực tiếp từ các ghe thuyền đi đánh cá từ
bể Đông trở về. Từ sáng sớm “nội rổi “đã chờ sẵn
nơi bến cá đợi thuyền về.
Chân
trời vừa hửng sáng, mặt biển yên lành gợn đôi nét sóng
lăn tăn. Nền trời màu xanh nhạt rồi ửng hồng. Mặt trời
sắp nhô lên ở chân trời. Trên mặt biển đã xuất
hiện một vài chiếc thuyền đánh cá trở về. Khi mặt trời
nhô lên khỏi mặt sóng thì đã có một đôi chiếc thuyền
cặp bến. Thuyền về từ xa, người trên bờ đã nhận ra
là thuyền của ai. Mỗi một con thuyền đều có một nét riêng,
một dáng riêng, một cách điều khiển khi thuyền chạy, đều
được nhiều người đón chờ trên bến phân biệt ngay từ
lúc thuyền còn ở xa. Nhìn thuyền chạy chậm hay nhanh, nhất
là thấy mạn thuyền thấp hay cao là họ biết ngay trúng cá
hay không. Khi thuyền cặp bến, thuyền nào có bạn nấy. Bạn
“rổi cá” đón lấy các mẻ cá từ dưới thuyền chuyển
lên rồi sau khi được chủ cá hay chủ thuyền dặn dò giá
cả họ nhanh chóng đem cá ra chợ. Ngày trước phương tiện
chuyên chở chưa đầy đủ như bây giờ, bạn “rổi cá”
phải gánh cá chạy từ bến cá ra chợ có khi đường dài
đến 10 cây số. Nay thì có xe ngựa, xe lam. Đôi khi được
người nhà chở bằng xe Honda. Những thuyền không có bạn
rổi bao mua thì có nhiều bạn hàng tranh mua. Trong lúc này tiếng
cãi nhau, tiếng trả giá, tiếng cười nói chen lẫn với tiếng
chửi thề khiến cho không khí chợ cá ồn ào náo nhiệt. Cho
nên tục ngữ có câu :
“
Ồn
ào hối hả như chợ rổi cá ban mai”.
Đặc
biệt chỉ có nhiều tiếng cãi cọ tranh nhau mà ít khi xảy
ra sự việc đánh nhau. To tiếng, cãi cọ, nói tục, nói cạnh
nói khoé như là thói quen hơn là ác ý. Cho nên khi mua được
cá rồi thì mạnh ai nấy chạy vội đi chợ mà không một
ai còn nhớ đến những cuộc cãi cọ tranh giành trước đó.
Buổi sáng hôm sau trong lúc ngồi đợi thuyền cá về họ lại
vui vẻ đùa giỡn cùng nhau, vui vẻ thắm thiết như bà con
trong nhà.
Chị
Sáu nhờ bà Hai chỉ bảo để theo nghề rổi cá. Tuy nhiên
vì ít vốn và bản tính hiền lành nên sau một thời gian chạy
rổi chị đành phải giải nghệ ở nhà học bà Hai nghề đan
lưới. Anh Sáu vóc người nhỏ nhắn, sức khỏe yếu nên sau
vài chuyến đi bạn anh cũng thôi việc, trở về đánh bắt
cá ven bờ. Anh nhờ vốn bà Hai cho mượn sắm được một
chiếc thuyền con, vài ba tay lưới. Buổi chiều anh chèo thuyền
đi thả lưới rồi về nhà nằm đợi đến nửa khuya lại
chèo thuyền đi thu lưới. Công việc tuy vất vả nhưng được
tự do. Mỗi khi trời động hay mùa mưa bão thì đành phải
nằm nhà ăn cơm với nước mắm. Cuộc sống tuy không giàu
có nhưng cũng không nghèo hèn. Chị Sáu mỗi buổi sáng đem
cá chồng lưới được bán ở chợ Cù Lao, trưa về lại tiếp
tục nghề đan lưới. Hai vợ chồng trẻ sống bồng bềnh
theo sóng nước trong niềm vui tự nhiên của một ngư dân.
Rồi
một hôm, vợ chồng anh Sáu sau khi bàn với nhau đồng thưa
với bà Hai xin cho ra ở riêng. Có hai lý do rất giản đơn,
một là vì nhà bà Hai ở hơi cách xa bến bãi nên việc neo
thuyền vì thiếu người trông coi nên thường bị người lạ
tạm mượn thuyền chèo đi trong một vài hôm rồi bỏ thuyền
nơi bến khác khiến anh Sáu phải đi tìm mất nhiều thời
gian, hai là nhà bà Hai quá chật nên việc sinh hoạt trong nhà
khó khăn.
Bà
Hai vui vẻ chấp thuận và giúp thêm cho một ít vốn để hai
vợ chồng ra bãi đá dưới chân núi Cù Lao, cận sát mé biển,
cất một túp lều bằng tranh. Nơi đây khi ấy chưa có
đường đi rộng mà chỉ có một lối mòn ven chân núi để
người dân qua lại sinh hoạt. Vùng này lại thiếu nước ngọt
nên không một ai thích sinh sống nơi đây. Chỉ có đôi mái
tranh đơn sơ che tạm để các ngư dân tạm trú trong những
ngày đánh cá trong vùng.
Tuy
thưa vắng người ở song hai vợ chồng anh Sáu sau khi cất
lều xong lòng rất vui mừng vị từ đây hai vợ chồng đã
có được một ngôi nhà riêng, một mảnh đất riêng và nhất
là một nơi ở rất thuận tiện cho công việc sinh sống hằng
ngày.
Ngôi
lều tranh, vách lá, cửa phên, bên trong chỉ kê vỏn vẹn một
cái giường tre nhỏ gọn và một cái bàn nhỏ bằng gỗ tạp
cũ kỹ. Trên vách lá, chỉ có vỏn vẹn một tấm gỗ dùng
làm bàn thờ, trên để một bình hoa bằng đất và một đèn
dầu. Vào ngày rằm, mồng một, bình hoa có cắm hoa điệp,
hoa sống lâu. Đôi lúc cũng có một nải chuối, một quả
bưởi tùy theo mùa trái cây. Cẩn thận sợ hỏa hoạn nên
một căn bếp nhỏ được cất cách xa lều chính.
Về
nước tiêu dùng, chị Sáu phải hằng ngày đi gánh ở tận
xóm Cù Lao, mỗi ngày một đôi. Khi cần giặt áo quần thì
chị phải đem vào tận trong giếng thôn Cù Lao. Anh Sáu thì
phải tắm bằng nước biển, chỉ có chị Sáu mới được
tắm bằng nước ngọt. Lâu ngày thành thói quen. Nhiều đêm
trời nóng nực chị Sáu theo anh Sáu ra tắm biển.
Trời
mùa nóng màu trời như xanh thắm hơn, lòng trời cao hơn và
trong suốt hơn, muôn vì sao lấp lánh như nhiều hơn, biển
bao la và dịu hiền hơn. Con sóng đêm nhẹ nhàng ve vuốt trên
làn da trắng muốt của chị Sáu khiến anh Sáu chợt nhận
thấy rằng vợ mình tươi trẻ hơn mọi ngày. Nước biển
ấm áp, gió biển ngọt ngào. Hai vợ chồng như sống lại
những giờ hạnh phúc lúc mới gần nhau.
Cuộc
sống êm đềm trôi qua, rồi một hôm chị Sáu bỗng nhiên
cảm thấy khó chịu trong người, thỉnh thoảng lại buồn
nôn khi ăn phải cá lạ. Chị đến nhà bà Hai tỉ mỉ
kể chuyện và được bà Hai vui mừng cho biết là chị đã
có thai. Sau câu chuyện kể lại với chồng, chị Sáu thấy
chồng chăm làm hơn trước, chèo thuyền đi thả lưới sớm
hơn và niềm vui rỡ ràng trên nét mặt. Anh lại giành làm
những công việc nặng nhọc hơn như là gánh nước, chặt
củi v.v. Lời nói thường ngày có phần dịu dàng, âu yếm
hơn. Chị Sáu ngày ngày vẫn ngồi đan lưới, bán cá, nấu
cơm. Cuộc sống đơn giản, hồn nhiên như khí trời và gió
biển.
Cuộc đối
thoại trên bãi biển.
Một
buổi chiều anh Sáu thấy một người trẻ tuổi vóc người
nhỏ nhắn, đứng nơi bãi cát gần mép biển, mắt đăm đăm
nhìn ra Hòn Đỏ. Ban đầu anh tưởng là một du khách đi qua
dừng chân đứng ngắm cảnh trời, mây, nước. Nhưng sau khi
quan sát kỹ anh thấy dường như đây là một vị sư vì bộ
quần áo màu nâu và có dáng đứng như quan sát nhiều hơn
là thưởng cảnh.
Anh
Sáu từ từ lại gần và gật đầu mỉm cười với vị
sư trẻ tuổi. Qua vài câu xã giao anh Sáu biết được danh
tánh của nhà sư cùng với tâm nguyện của nhà sư
mong muốn được ra thăm Hòn Đỏ để khai hoang và lập
chùa tu hành trên hải đảo.
Ráng
chiều đang xuống nhẹ nơi phương Tây, nhuộm thắm đỏ bầu
trời rực rỡ. Anh Sáu ngước nhìn những cánh mây đọng dưới
chân trời :
- Thưa
chú, mấy hôm nay biển động. Muốn ra thăm đảo phải đi
vào buổi sáng sớm. Buối chiều sóng dâng cao khó vào được
bến. Sáng mai chú cứ đến đây vào lúc rạng đông, tôi sẽ
đưa chú ra thăm Hòn Đỏ.
-
Mô Phật, xin cảm ơn lòng hiếu khách của thí chủ. Đã từ
lâu tôi đã có tâm nguyện là sẽ ra viếng hòn đảo này và
nếu có cơ duyên thì tôi dự trù sẽ khai phá đất đai để
lập một ngôi chùa nhỏ tại đảo để tu hành.
- Thưa
chú, từ trước đến nay Hòn Đỏ vẫn còn hoang vu. Không một
người dân địa phương nào có ý định ra sinh sống hoặc
trồng tỉa vì trên đảo có rất nhiều đá mà lại ít đất,
ít cây. Phần nhiều chỉ toàn là các bụi gai cằn cỗi. Cái
khổ nhất là thiếu nước. Vùng này lại ít mưa nên khô hạn
vẫn luôn luôn là trở ngại cho người muốn khai hoang.
Hơn
nữa, dân trong vùng Cù Lao chuyên sống bằng nghề đánh cá.
Nếu có gia đình nào muốn sinh sống bằng nghề làm rẫy thì
đa số lại đi vào sinh sống gần các ngọn núi hoặc đồi
phía Bắc kề cận sông Cái. Vùng này đất đai màu mỡ và
nhất là nước ngọt lại có sẵn.
Trên
Hòn Đỏ chẳng những không có nước mà vấn đề lên xuống
rất cơ cực và phương tiện đi lại từ đất liền ra đảo
cũng khó khăn. Tôi, ngày ba bận bơi thuyền đi qua lại và
vòng theo bờ đá mà chỉ nhìn nhiều hơn là đặt chân leo
lên để chỉ được nhìn thấy mấy lùm gai góc và đá chồng
lên nhau.
- Mô
Phật, nếu trên đó gai cỏ mọc được thì con người có
thể sinh sống được. Tôi vốn cư ngụ trên núi Sinh Trung.
Hằng ngày tôi đều nhìn thấy Hòn Đỏ này. Sáng, trưa, chiều,
tối, nhất là những đêm có trăng, tôi đã trông thấy sinh
khí bốc lên từ Hòn Đỏ. Buổi bình minh, trong ánh hồng,
trên hải đảo này có muôn vàn giọt sương mai lóng lánh,
tôi nhận thức được rằng nơi nào có sương đọng thì nơi
đó sinh vật có thể sinh sống và phát triển.
Buổi
trưa, Hòn Đỏ như lắng mình trong vùng trời biển xanh
bát ngát. Màu xanh của biển trời hứa hẹn rằng con người
có thể yên lành sống trong màu hiền hòa đó. Với ánh nắng
ban trưa Hòn Đỏ như một ngư dân trần mình đội nắng cùng
với biển xanh.
Buổi
chiều khi biển xôn xao trước muôn ngàn con sóng thì Hòn Đỏ
vẫn yên lành đứng nhìn biến động của biển cả. Từ đỉnh
Sinh Trung, nhìn Hòn Đỏ vào buổi chiều khi ánh dương đã
dần khuất nơi chân trời mới thấy được sinh khí đã quy
tụ về đây. Những dãy đá dưới chân đảo như lắng đọng
sắc ráng đỏ của chiều tà, như những cánh hoa sen hồng
nổi trên lòng biển thắm xanh.
Buổi
tối trời Hòn Đỏ yên lặng dưới bầu trời đầy sao, đậm
nét trên mặt đại dương. Trong những đêm trăng sáng, Hòn
Đỏ phơi mình xanh tắm dưới ánh trăng vàng dịu dàng trong
sáng.
- Thưa
chú, như vậy Hòn Đỏ đối với chú là một địa linh song
đối với dân làm nghề biển của chúng tôi thì nơi đây
chúng tôi đã từng leo lên, đã từng quan sát, đã từng đi
chặt cây lấy củi cho nên chúng tôi thấy nó khô cằn, gai
góc, không có một chút hy vọng gì để lên đó lập nghiệp.
Tại nơi đây, cá dưới biển có thể nuôi sống chúng tôi,
nước ngọt trong làng có thể cung cấp đầy đủ cho cuộc
sống của chúng tôi thì hà cớ gì chúng tôi phải lên một
vùng thiếu nước thiếu đất để sinh sống.
Trong
cộng đồng người làng Cù Lao này đều có chung một ý tưởng
là vùng đất ở hải đảo Hòn Đỏ vẫn là một hải đảo
đầy đá, đầy cơ cực dành cho con người khi muốn khai phá
nó. Muốn khai khẩn đất đai thì lên non lên núi chớ ai lại
lên hòn đảo đầy đá này.
- Mô
Phật, tôi vẫn tin rằng bất cứ nơi nào có được con người
góp sức vào thì nơi đó có thể sinh sống được. Nhìn từ
xa, Hòn Đỏ là một hải đảo đầy sinh khí. Nhờ ở địa
thế gần bờ nên việc thiếu nước có thể khắc phục được
với quyết tâm của con người. Hòn Đỏ thiếu cây xanh thì
chúng ta trồng cây xanh. Hòn Đỏ thiếu đất thì chúng ta bồi
bổ thêm. Hòn Đỏ chỉ cần đến một tấm lòng yêu mến
thiên nhiên, một ý chí cương quyết biến nơi này có thể
sinh sống được. Khi cây cối mọc lên thì sẽ có con người
lai vãng, sẽ là nơi đến để thanh thản tâm hồn.
Đã
từ lâu tôi nguyện rằng cuộc đời tôi sẽ gắn liền với
hải đảo này. Nó trơ trọi với mọi người nhưng không trơ
trọi với tôi, Hôm nay gặp được anh, tôi tin rằng tôi đã
gặp được duyên lành. Mối lương duyên của tôi với Hòn
Đỏ sẽ nhờ có anh mà hợp thành. Sáng mai, tôi sẽ đợi
anh ở đây. Mong anh giúp cho tôi được toại nguyện.
- Thưa
chú, sáng mai tôi có thể giúp chú qua đảo và cùng chú lên
đảo quan sát địa thế. Còn việc khai thác thì vị tôi bận
kế sinh nhai nên chắc là không thể cùng chú khai hoang Hòn
Đỏ được vả lại tôi còn có gia đình. Chú cứ yên
tâm ở lại trên đảo một vài hôm, tôi sẽ tiếp tế nước
uống cho chú hằng ngày.
- Mô
Phật, vạn sự khởi đầu nan, tôi chấp nhận cảnh gian nan
lúc ban đầu. Được gặp anh ngày hôm nay tôi rất phấn khởi
và tin tưởng rằng sự mong ước của tôi sẽ thành hiện
thực.
Tôi
không phải là nhà địa lý, nhưng tôi nhìn cảnh vật bằng
tấm lòng, bằng đôi mắt của một nhà tu hành. Nơi nào tâm
hồn mình đã chan hòa thì nơi đó sẽ là nơi mình trú ngụ.
Tôi
không có tâm địa đi chiếm đất, vị đất là của trời,
của chung của mọi chúng sinh không dành riêng cho ai. Đất
chưa có duyên thì đất sẽ còn khô khan cằn cỗi. Khi đất
gặp được duyên lành thì đất sẽ trở thành hữu dụng,
sẽ trở thành cảnh quan tươi tốt để mọi người cùng chung
hưởng. Tôi mong muốn nơi hiu quạnh, cằn táo này sẽ có một
ngôi chùa, một cảnh quan xanh mát để tất cả mọi người
cùng đến tu tâm dưỡng tánh, học Phật, để giác ngộ trước
cuộc sống phức tạp của cuộc đời. Hòn đảo này dù có
khô cằn nhưng tâm hồn ta sẽ được thanh thản hơn trước
biển cả bao la, trước thiên nhiên rộng lớn. Mọi ưu phiền
trong lòng sẽ được vơi đi.
Tôi
không có tài thuyết pháp.Tôi đã được sư phụ Thích Phước
Ninh giảng dạy trong những ngày theo thầy đi đây đó. Sư
phụ tôi thường nhân thấy cảnh này đã chỉ dạy cho tôi
đoạn kinh nọ; nhân sự việc ấy để nói đến lời kệ
kia. Có nhiều vấn đề phức tạp mà thầy đã làm sáng
mắt tôi bằng những ví dụ giản đơn và chứng nghiệm lời
dạy của đức Phật thật thâm trầm. Nhiều câu nói tầm
thường mà thầy đã gợi trong lòng tôi những suy tư cả tuần
cả tháng tôi mới hiểu thấu đáo. Trong công việc hằng ngày
tôi đã học được nơi thầy tôi nhiều điều bổ ích cho
việc thấu hiểu kinh kệ. Tôi rất thích thú khi được nghe
thầy kể các câu chuyện về các bậc đại giác đã đắc
đạo trong khi lao động tầm thường như giã gạo, gánh nước,
chẻ củi v.v..
Câu
chuyện giữa hai người chấm dứt khi bóng tối đã tràn ngập
khắp vùng Hòn Đỏ.
Trên
Hòn Đỏ.
Khi
sư Viên Mãn gặp và làm quen với anh Sáu Sài Gòn thì chị
Sáu đã có thai được 8 tháng. Cho nên anh Sáu chỉ đi đánh
cá vào buổi chiều để có thể trở về vào giữa khuya với
mục đích là để được săn sóc vợ trong lúc tắt lửa tối
đèn. Bà Hai đi lại thường xuyên hơn cho nên anh Sáu có đủ
thời gian giúp đỡ sư Viên Mãn qua lại hải đảo hằng ngày.
Nước
trong vũng Hòn Đỏ lên xuống theo triều cường của biển.
Mỗi ngày lên xuống ít nhất là một lần. Khi nước xuống
lòng vũng nhô lên những rặng san hô, những vùng rong mắc
cạn và những cồn cát mịn màng. Mực nước chỉ cao đến
đầu gối. Người muốn qua đảo chỉ cần xăn quần là lội
qua được. Tuy nhiên nước lại lên cao chỉ trong một vài
giờ cho nên rất ít người dạn gan lội qua và leo lên đảo.
Buổi
sáng đầu tiên qua đảo khi nước triều đã dâng cao. Anh Sáu
và nhà sư đẩy nhẹ chiếc thuyền chở vật dụng gồm nước,
gạo, cuốc xẻng, rựa v.v.. Anh Sáu một bên, nhà sư một bên
hông ghe cùng đẩy ghe vượt qua cồn cát và các rặng đá
ngầm. Xa bờ độ 50 mét thì leo lên thuyền bơi qua đảo. Sóng
trong vũng không lớn, song vì phải tránh né các tảng đá nhấp
nhô trong vũng nên thuyền phải chèo quen tay mới mong khỏi
phải va vào đá. Chung quanh đảo, đá dựng đứng rất hiểm
trở. Sóng nơi đây đập mạnh khiến cho thuyền không thể
cặp vào bờ. Anh Sáu chọn được một nơi có vùng đá thấp
và kín đáo để có mực nước yên lặng dễ ra vào. Đây
là hướng gần bờ và dễ dàng leo lên Hòn Đỏ. Nơi đây
tạm gọi là bến. Từ trên đất liền nhìn ra thì nơi đây
có nhiều tảng đá to lớn đứng như một cổng chào chờ
đón khách lên thăm đảo. Nơi bến khi nước dâng cao thì thuyền
lại dễ cặp bến, khi nước rút cạn thì để lộ một vùng
đá bằng phẳng thuyền có thể đi an toàn trên đó. Khi biển
dậy sóng thì nơi đây nhờ có đá to chắn sóng nên an toàn
cho việc cặp bến. Anh Sáu là người đầu tiên tìm ra bến
này.
Đẩy
ghe vào giữa hai tảng đá để tránh sóng, anh Sáu buộc ghe
vào một tảng đá nhô cao và có hai đầu nhô lên như một
cái yên ngựa. Đây là một cọc neo thuyền thiên nhiên.
Cuộc
leo dốc bắt đầu sau khi đổ bộ lên đảo. Nhờ nhiều lần
leo lên tìm củi nên anh Sáu đã phát giác ra một lối đi lên
đỉnh do thiên nhiên tạo lập. Đó là lòng một con suối khô
được tạo ra khi mùa mưa đổ xuống trên đảo. Nước trên
cao chảy xuống tạo thành dòng lũ, bào thành lối mòn chạy
ngoằn ngoèo qua các khe đá, mương gai. Lâu đời dòng suối
tạm này trở thành lối mòn trèo lên đỉnh đảo. Lòng khe
lối đi đầy gai góc và đá sạn lởm chởm. Tuy vậy đó là
lối đi duy nhất thuận tiện cho việc lên đồi.
Anh
Sáu cầm rựa đi trước phát quang các bụi cây gai cho lối
đi được quang đãng. Nhà sư vai vác cuốc, vai mang bọc lương
thực và nước uống. Mỗi người tay cầm một cây gậy. Vừa
leo, anh Sáu vừa dẫn giải hình thế hòn đảo cùng với
cách leo dốc: phải cẩn thận từng bước. Bước từng bước
một, ngắn nhưng cần vững chắc. Cây gậy là một trợ
cụ cần thiết nhất để ta nương vào đó mà bước lên cao
hay xuống thấp. Nhiều lúc, chân lỡ vấp phải đá hay đạp
phải gai thì thân phải nương vào gậy để khỏi té nhào.
Muốn nương chắc vào gậy thì phải đi chậm, dùng gậy để
làm trụ vượt qua khe, leo qua đá.
Lên
đến đỉnh đồi, hai người ngồi trên một hòn đá nằm
nghiêng nghiêng trên bờ dốc nhìn xuống vũng nước giữa Hòn
Đỏ với đất liền. Nước vũng nằm yên lặng trong màu xanh
thắm của biển khơi. Cảnh yên lặng, bao la chỉ ở trên tầm
cao mới cảm nhận được. Trong ánh nắng vàng, màu xanh của
biển cả dịu dàng biết bao.
Đợi
khô mồ hôi, sư Viên Mãn bắt đầu bò qua các lùm gai để
vào sâu trong chóp đảo. Không một bóng cây. Không một bụi
rậm có lá xanh. Toàn vùng chỉ toàn là đá lẫn vào các bụi
gai. Nào là gai mắc mèo, gai cắc cu. Gai mắc cỡ nhiều hơn
hết. Chỉ có loại gai này còn giữ được một màu xanh của
cây cỏ. Cảnh quan khô khốc, cỏ gai xác xơ. Bộ mặt khắc
nghiệt của cảnh thiếu nước lồ lộ khắp đảo. Nếu không
có cảnh biển nước mênh mông bao quanh, con người chắc sẽ
tưởng mình đang đứng nơi sa mạc hoang vắng.
Anh
Sáu ngồi thản nhiên nhìn cảnh vật. Trong trí anh đang nghĩ
đến sự so sánh khu đồi trơ trọi và hoang dã này với vùng
biển mênh mông của anh đang sinh sống. Anh lặng lẽ nhìn bóng
nhà sư Viên Mãn đang lần từng bước đi dạo khắp vùng đồi,
giống như hình ảnh của anh đang chèo chiếc thuyền con nhỏ
bé giữa vùng biển nước bao la. Cái thẳm sâu của biển cả
hiểm nguy chẳng khác gì cái khô khốc của núi đồi nơi đây.
Thân phận của anh đối với trùng dương sẽ cũng như cuộc
đời của nhà sư trên đồi Hòn Đỏ. Nếu không có sự kiên
trì vững chí thì sẽ bị cảnh thiên nhiên tàn khốc nuốt
chững đi. Cuộc đời của anh trên chiếc thuyền câu nhỏ
bé với đôi tay lưới cũ ngắn giữa biển cả bao la chẳng
khác gì cuộc đời cô độc của nhà sư Viên Mãn kia sẽ sống
giữa đá và gai góc trên đỉnh đồi. Tuy nhiên anh đã bắt
được cá thì nhà sư kia sẽ khai phá được mảnh đồi này
để trồng cho được cây xanh có bóng mát và ngôi chùa dù
có bé nhỏ đi nữa cũng đủ làm ấm lòng khách thập phương.
Sự cần lao của anh đã có kết quả thì sự cần cù lao khổ
của nhà sư chắc chắn sẽ thành công.
Anh
tự mỉm cười vì sự so sánh hoàn cảnh của anh với hoàn
cảnh của nhà sư tuy không giống nhau nhưng có được sự
tương tự nhau là làm việc tận lực với một quyết tâm
bền vững để đạt đến sự mong muốn của lòng mình.
Nghĩ
đến hoàn cảnh của mình, anh cảm thấy mình hạnh phúc hơn
nhà sư kia vì anh đang có một gia đình đầm ấm, đầy đủ
ấm êm.(anh sắp có con). Sau giờ phút lao động cực nhọc
anh lại được hạnh phúc bên gia đình. Còn nhà sư, giờ đây
sau những thời gian cực nhọc chỉ sống có một mình, tuy
có mẹ song không được sống cùng mẹ, tuy có đồng môn song
lại sống lẻ loi giữa nơi hoang đảo. Mỗi tuần chỉ gặp
mẹ một lần, bằng hữu một lần. Rồi suốt đời sẽ sống
nơi đây nếu tâm nguyện kia được thành tựu.
Đột
nhiên anh Sáu có một quyết định cương quyết: phải tận
tâm, tận lực giúp cho nhà sư Viên Mãn khai khẩn thành công
trên hải đảo Hòn Đỏ. Anh nguyền giúp được phần nhỏ
nào vào công việc khai hoang trên Hòn Đỏ thì phải thực hiện
cho kỳ được.
Gió
trên biển thổi vào khe đá từng hồi như cuộn lời tâm nguyện
của anh Sáu đưa đi khắp mười phương.
Sau
này anh cảm thấy thỏa nguyền khi nghe sư Viên Mãn tâm sự:
Tôi hằng khấn nguyện cùng đức Quán Thế Âm Bồ Tát rằng
nếu suốt cuộc đời mà tôi chưa hoàn thành việc khai hoang
để lập chùa trên hòn đảo khô cằn này thì kiếp sau nếu
được hồi sinh tôi vẫn tiếp tục công việc khai hoang lập
chùa. Tôi nguyền sẽ muôn đời kiếp kiếp thực hiện cho
được
tâm nguyện này.
Trên đỉnh
Đảo
Hòn
Đỏ là một hòn núi đá. Trước kia nối liền với dãy núi
Cù Lao. Sau nhiều năm tháng bị biển xâm thực cắt đôi
chia Hòn Đỏ ra khỏi đất liền. Nhìn những dãy đá đỏ
au trên sườn núi Cù Lao không một ai có thể phủ nhận là
Hòn Đỏ và núi Cù Lao là hai hòn núi có chung cội nguồn.
Hòn Đỏ trở thành một hải đảo và chung quanh đảo nước
triều lên xuống hằng ngày đã bào mòn tất cả những đất
cát. Chung quanh chân đảo nhiều tầng đá to lớn chồng chất
lên nhau. Nhiều nơi như có sự sắp đặt trớ trêu của tạo
hóa là có hòn nhỏ nằm nâng đỡ hòn lớn. Mới trông, khó
có ai tin được rằng những tảng đá này đã nằm như thế
từ xưa đến nay. Toàn thể cấu trúc giống như những hải
đảo khác. Đá dưới chân đều bị bào mòn và những hòn
trên đỉnh chỉ bị nắng mưa mài nhẵn mà thôi.Theo vết tích
còn để lại thì xưa kia mực nước biển đã dâng ngập đến
nửa hòn đảo. Cho nên đa số mặt bằng trên chóp đảo còn
xen lẫn giữa đá và đất. Mùa mưa ở Nha Trang không có nhiều
cơn mưa dữ dội hoặc kéo dài suốt tháng nên vẫn còn lại
một vùng rộng, đất chen lẫn với đá tảng.
Sư
Viên Mãn là người dân Phú Yên, sư đã từng sống trên những
ngọn đồi sỏi đá ở các huyện Tuy An, Sơn Hòa v.v..
nơi đã được dân cư địa phương khai phá bằng kinh nghiệm,
biến các sườn đồi thành những vùng canh tác cây màu. Việc
dùng đá xây thành cấp bậc để ngăn chận đất để
sản xuất đã là một đặc thù của các đồi núi Phú Yên.
Dùng kinh nghiệm này nhà sư đã thực hiện cách khai phá trên
đỉnh Hòn Đỏ.
Trước
tiên nhà sư lượm và chuyển những tảng đá nằm ngổn ngang
trên mặt đất, trong các lùm bụi để sắp thành một bức
tường đá chung quanh chỏm mặt đảo. Ban đầu là đi thu nhặt
những hòn đá có thể tích nhỏ. Sau phải dùng xà ben hoặc
cuốc có mỏ sắt nhọn như các phu đường sắt để trục
các tảng đá có chân ăn sâu dưới mặt đất. Nhiều hòn
đá trên mặt thì nhỏ nhắn song càng đào sâu xuống chân
đá càng to lớn ra. Nhiều lúc phải đào sâu đến 2, 3, mét
và mất cả hàng tuần. Khi đào xong được gốc thì còn phải
dùng cây làm đòn đứng xeo đá lăn xuống chân đảo. Lầm
lủi một mình, nhà sư đã đơn độc đối phó với thiên
nhiên khắc nghiệt. Đất đào được nhà sư đem đổ vào
một nơi bằng phẳng để dùng cho việc trồng tỉa.
Đôi
lúc công việc lăn đá cần phải nhờ đến sự giúp sức
của các bạn chài, bỏ lưới chung quanh đảo khi họ cặp
thuyền vào nghỉ trưa nơi các hốc đá dưới chân đảo. Nhiều
lúc nhà sư phải đào thành những con mương lớn để
di chuyển các hòn đá lớn bằng cách xeo lần lần, bằng cách
trượt từ từ trên một mặt bằng có độ xiên cao.. Rất
may mắn là độ nghiêng của sườn đồi lại khá thuận tiện
cho việc lăn đá xuống chân đảo. Những cây xeo đá thì đi
mua nơi các vựa cây nơi bờ đầm chợ Xương Huân. Vác được
cây xeo lên núi cũng là một kỳ công..
Cây
có độ dài từ 3 đến 4 mét cho nên đem được lên đến
đỉnh núi thì thật là gian lao. Nhiều lúc phải luồn cây
qua khe suối rồi leo lên dốc tìm cách kéo cây lên. Nhiều
khi không thể nào đem cây lên hướng này được nên đành
phải đưa cây xuống để tìm hướng khác đưa lên. Nhờ được
cây cứng và dài nên nhà sư có được một trợ lực về
sức đẩy nên nhiều tảng đá lớn mà chỉ có một mình nhà
sư cũng đẩy được đá xuống chân núi. Nhiều lúc cần làm
đường ray dẫn đường cho đá đi theo hướng cố định nhà
sư phải tốn công sức nhiều ngày. Công việc dời đá cứ
tuần tự mà tiến hành, không nôn nóng không chậm trễ như
là công việc hằng ngày. Cho nên phải cần đến thời gian
năm năm việc di dời đất đá để có mặt bằng mới thành
tựu. Du khách hôm nay đi lại thong thả ung dung trên đỉnh
hải đảo Hòn Đỏ đâu có biết rằng xưa kia nơi này đá
mọc chập chùng, lối đi chật hẹp, gai góc mọc đầy mà
con người cô độc này đã suốt nhiều năm dài cặm cụi
khuân từng viên đá, xeo từng tảng đá để có được một
mặt bằng rộng rãi đầy cây xanh bóng mát như hôm nay.
Công
việc dời đá song song với việc đắp nền cho khu dựng Phật
đàn. Những viên đá nhỏ, khi đào được đều dùng trong
việc làm nền cho khu Phật đàn.. Với diện tích độ 10 mét
vuông thì khu nền Phật đàn được thành hình nhanh chóng.
Chỉ trong vòng 3 tháng thì khu nền đã thành hình. Cứ một
lớp đá là một lớp đất xen vào để có mặt bằng phẳng..Những
đêm có trăng, đỉnh đồi tràn ngập ánh vàng, gió biển thổi
về ngào ngạt mùi mặn nồng, nhà sư lặng lẽ khuân đá đi
đắp các kệ lên xuống trên các con đường lên xuống hoặc
thành đá quanh sân.
Khi
trăng lên đúng đỉnh đồi, bầu trời xanh thẳm, gió khơi
đã thổi lạnh, trên các vách đá đã ướt đẫm sương khuya.
Nhà sư dừng tay ngồi nghỉ bên đống đá, ngước nhìn bầu
trời đầy sao, lòng thanh thản và yên tĩnh vô cùng. Những
cụm đá, bờ đất như thì thầm cùng nhà sư, trìu mến nhìn
nhà sư như các trẻ thơ nhìn thương yêu người tạo thành
ra nó. Cảnh vật trên đỉnh đảo trầm lặng, bất chợt từ
đâu vẳng lại tiếng con dế mèn gáy. Nơi xa vắng này tiếng
dế cất lên như gần gũi thân yêu. Kỷ niệm thời ấu thơ
phút chốc lại tràn về trong lòng người tu hành. Sư nhớ
đến tiếng dế gáy lẻ loi nơi cánh đồng vắng trong mùa
cày phơi đất tháng ba. Trong thời thơ ấu, nhiều lúc sư không
khỏi ngỡ ngàng tự hỏi là trong các vụ mùa, khi nước đồng
lênh láng thì các con dế mèn này sống ở đâu để đến
vụ cày phơi đất, lại râm ran gáy từ nơi này đến nơi
khác.
Cứ
mỗi buổi sáng tinh sương, sư cùng chúng bạn đi lật từng
hòn đất trên các luống cày để bắt những chú dế than
hoặc dế lửa. Lúc ban đầu sư không phân biệt được
đâu là dế cồ đâu là dế mái. Cứ thấy dế nhảy là vồ.
Bắt được con nào cho vào hộp diêm bọc sẵn trong túi. Sau
này được bè bạn chỉ cho: dế đực gọi là dế cồ, cánh
có vằn ngoằn ngoèo bóng láng như tóc các cậu có mái tóc
quăn. Cuối thân con cồ có ba cái lông nhỏ. Đầu dế đực
to và bóng láng. Còn dế cái gọi là dế mái thì cánh không
có vằn ngoằn ngoèo mà chỉ có các gân chạy xuôi từ trên
xuống dưới và sau lưng có một cọng dài, cuối có một nụ
nhỏ thường chổng lên trời. Khi biết được các điểm đặc
biệt này thì nhìn là biết ngay dế cồ hay dế mái. Dế cồ
còn phân biệt nhiều loại: dế cồ than màu đen bóng, dế
cồ lửa màu vàng óng, đôi khi có pha màu nâu đậm. Dế than
thường lớn con hơn dế lửa. Con dế nhỏ thường hay gọi
là dế ốc tiêu. Loại này gáy rất lớn và đánh nhau rất
hăng say. Do đó có danh từ ốc tiêu để dành cho các trẻ
em nhỏ bé mà dám đánh cả những bạn lớn hơn mình. Đó
là bé ốc tiêu.
Dế
bắt về, được nhốt riêng mỗi con trong một hộp diêm. Trên
nắp hộp thường có xoi một vài lỗ nhỏ để thông hơi.
Dế thường được nuôi bằng giá sống, cỏ mần trầu, cỏ
ống hoặc đôi khi nuôi bằng cơm. Dế thường gáy vào ban
đêm. Khi gặp địch thủ hoặc thắng trận thì dế gáy inh
ỏi. Trái lại khi gặp dế mái thì sau khi gáy vài tiếng chào
mừng, dế cồ thường cọ cánh rè rè vài cái ngắn gọn mà
bọn trẻ thường gọi là” tục mái” như các chú gà cồ.
Đa
số trẻ em đều thích chơi dế. Nhất là để được nghe
tiếng dế gáy ngoài việc cho chúng đá với nhau. Từ “đá
dế” thay cho việc hai con dế cắn nhau. Thật ra trong khi chúng
cắn nhau chúng cũng có đôi phen dùng hai chân sau (càng) để
hất đối thủ phải lăn nhào. Khi dế gáy thì chúng dùng đôi
cánh cọ vào nhau gây thành một loạt âm thanh giòn giã, đôi
khi lảnh lói và trầm bổng khác nhau. Trẻ chuyên môn có thể
nghe tiếng gáy của dế mà biết được con nào là dế than,
con nào là dế lửa và con nào là dế cụ, con nào là dế ốc
tiêu. Thường thì dế cồ than có cánh dày và lớn nên có
tiếng dài và trầm. Dế ốc tiêu có cánh mỏng nên âm thanh
lảnh lói, tiếng nghe rổn rảng và bay xa, như tiếng cười
của trẻ con, đôi khi như tiếng cười của các cô thôn nữ
trên cánh đồng lúa lúc sang mùa gặt.
Nhiều
trẻ em nơi thôn dã sống cùng với thiên nhiên nên rất thông
thuộc việc bắt dế. Ban đêm khi nghe một tiếng dế gáy thì
sáng hôm sau lập tức chạy ra nơi đã được định hướng
tìm thấy một viên đá, một đống cây khô hoặc một mô
đất cày, là lật lên túm lấy chú dế gáy khi hôm. Đặc
tính của loài dế là ít khi di chuyển chỗ ở, tối gáy nơi
nào là sáng trú tại nơi đó,
Ngoài
việc bắt dế để cho chúng đá nhau (ở ngoài Bắc gọi là
chọi) trẻ em còn có một sở thích là nghe dế gáy. Mỗi hộp
diêm nuôi một con dế. Ban đêm chúng thi nhau gáy suốt đêm,
khi một con gáy thì lần lượt các con khác cùng gáy theo như
một dàn hợp xướng, đầy âm điệu nhịp nhàng. Thời hậu
chiến đã có một nhà thơ sáng tác một tác phẩm có tên
là Nhạc Dế. Tuy thơ không tả nhạc của con dế mà chỉ nói
lên một thế giới âm nhạc thiên nhiên.
Ngoài
việc nghe dế gáy, các trẻ em còn say mê trong việc đá dế.Thật
ra là cho dế cắn nhau. Hai chú dế đá nhau (còn gọi là chọi
nhau) được bỏ vào một cái hộp không chật lắm mà cũng
không rộng lắm. Thường có tên gọi là sân đá dế. Trước
khi dế được đưa vào sân đá, chủ nhân thường dùng một
que nhỏ (đôi khi là một chân nhang) cắm nhẹ vào sau vòng
cổ của dế và thổi nhẹ cho chú dế phình rộng đôi cánh
và khi được thả vào sân thì dế khuỳnh cánh ra gáy re re.
Khi nhìn thấy đối thủ cũng được làm như mình, vừa xong
nhịp gáy thì đôi bên xông vào nhau. Trước tiên là đọ càng.
Gọi là trương càng đọ sức vì hai chú dế trước tiên giương
rộng hai càng cọ với nhau như để đo sự rộng hẹp của
cặp càng nhiều khi trông giống như hai võ sĩ thượng đài
cụng găng chào nhau. Hai chú dế ít khi nhân nhượng nhau tuy
đôi lúc càng hai bên chênh lệch một to một nhỏ.
Cái
dũng khí của dế là phải cắn nhau trước khi chịu thua. Chỉ
khi nào thua một vài độ chú dế thua mới chịu chạy dài
khi đụng râu cùng đối thủ mạnh hơn. Cặp râu của dế
rất quan trọng. Thường con dế nào bị mất râu hay bị cụt
râu thì khả năng chiến đấu có phần giảm sút. Trẻ em rất
thích thú khi nhìn thấy con dế nào trước khi lâm trận, vừa
gáy xong thì đưa chân trước ra vuốt hai cái râu trông giống
như vị nguyên soái trong tuồng hát bội đưa hai tay cuốn cong
hai lá cờ lệnh cắm sau lưng trước khi xưng tên họ để
giao chiến. Một đôi khi sau khi bị thổi gió và được đặt
xuống sân đá, dế vẫn không xù cánh gáy râm rang thì chú
chủ sẽ dùng một que con trên đầu có một cục sáp nhỏ
gắn vài sợi tóc vo qua lại cặp râu để kích thích. Lập
tức chú dế giương cao rộng đôi càng xông lên chiến đấu.
Lúc so càng đôi khi hai chú dế cũng so nhau tiếng gáy. Tiếng
gáy như reo vui, như khiêu khích, như thách đố trước khi xung
trận. So càng, gáy thi xong, chúng dùng đôi càng cắn chặt
lấy nhau. Nhiều khi trận chiến âm thầm chịu đựng cho đến
lúc một trong hai chú dế vùng ra bỏ chạy. Một đôi khi chúng
vừa cắn nhau vừa dùng chân, đá, búng và chồm lên nhau để
làm đối phương hoảng sợ bỏ chạy.
Cuộc
chiến đấu có khi còn dữ dội đến nỗi có kẻ bị
cắn gãy chân, lòi ruột. Thường thì cuộc giao đấu kết
thúc từ ban đầu vị khi thấy đối phương càng to, tiếng
gáy hùng dũng và thái độ chiến đấu hăng say nên đối thủ
bỏ chạy khỏi phải giao đấu. Sau nhiều lần thổi gió, nhiều
lúc chú dế bị nắm râu mép thổi vài hơi, đôi khi lại được
chủ cho nếm một ít nước bọt để gọi là “tăng lực”
song khi thả xuống thì chỉ kịp giơ càng đọ sức rồi lanh
chân chạy trốn. Kẻ chiến thắng bao giờ cũng giương cánh
gáy, vuốt râu và đôi lúc lại “túc túc gọi mái”.
Cái
thú chọi dế ngoài việc xem dế đá, bọn trẻ còn được
dịp hò reo cổ vũ cho dế “phe ta”. Có lúc sau trận đá
dế lại có trận đánh nhau vị ganh tức. Phe thắng thì hân
hoan, phe thua thì đổ lỗi cho nhau và cuối cùng thì xảy ra
trận ẩu đả. Rồi ai về nhà nấy cùng hẹn nhau vào sáng
hôm sau. Chiều và tối hôm ấy bọn trẻ lại đi sùng lục
khắp nơi để tìm ra tiếng gáy của những chú dế có tiếng
gáy lảnh lói và âm vang.
Phát quang
Sáng
hôm nay là ngày đầu tiên trong việc phát hoang. Trước tiên
là chọn ngay khoảnh đất chính giữa đỉnh đồi. Việc phát
quang cây cối không có gì khó khăn vị cây chỉ toàn là gai
mắt mèo mọc um tùm trên các kẽ đá. Bên trên là gai mắt
mèo bên dưới là gai mắc cỡ. Dẹp gai bên trên trước rồi
dùng cuốc dọn ngay cây bên dưới. Suốt cả buổi sáng mà
chỉ mới xong có một khoảnh nhỏ. Càng về trưa công việc
càng nặng nhọc. Đôi bàn tay đã rướm máu vị gai cào. Miệng
đã khô vì khát nước và nhất là lưng đau rát vì nắng xối.
Khi trời đứng bóng thì công việc dọn sạch lùm gai mắt
mèo đã hoàn tất. Nhà sư ngừng tay, đi nấu cơm trưa. Bữa
cơm trên đảo đầu tiên chỉ có muối đậu mà thơm ngon vô
cùng. Nhai thật chậm rãi, hương vị ngọt ngào của cơm trắng
lẫn với vị đậm đà của đậu phộng rang vừa cháy
vàng. Phần thức ăn do mẹ làm từ đầu hôm và gói vào lá
chuối để sư đem lên đảo.
Sư
vừa ăn vừa đưa mắt nhìn khoảnh đất mới được dọn
dẹp chỉ còn có đá. Đá lổn nhổn, đá trải dài, đá nằm
phơi mình dưới nắng. Ban đêm đá thu lấy khí lạnh, cô đọng
giọt sương để thấm vào lòng đất nuôi sống cây cỏ chung
quanh. Ban ngày đá thu nhận ánh mặt trời, hấp thụ nhiệt,
nung nóng Hòn Đỏ đến không còn sự sống. Nhà sư bỗng nghĩ
đến một phương pháp làm triệt tiêu cái nóng hừng hực
trên đảo. Đó là phải trồng cây để lấy bóng mát, để
tàng cây che kín không cho ánh nắng lọt xuống mình đá. Như
vậy ban ngày sẽ không còn nóng nữa và ban đêm tàng cây sẽ
cho những giọt sưong rơi rụng và đá vẫn tiếp tục hội
tụ hơi lạnh để tạo thành những giọt nước tuy ít oi song
vẫn đều đều cung cấp nguồn sống cho thực vật dưới
chân đá. Tuy nhiên muốn trồng cây cho có hiệu quả thì phải
có đất, muốn có đất thì phải moi đá và lăn đá đi xa.
Đến
xế chiều thì khu đất rộng hơn 25 mét vuông đã dọn sạch
cây cỏ gai góc và chỉ còn lại đá to, đá con lởm chởm.
Nắng
hoàng hôn nhuộm thắm bầu trời phương Tây. Gió trên biển
thổi về ào ạt. Cơn nóng bức ban trưa đã theo gió đi xa
như thấm vào màu đỏ của trời Tây. Do chỉ ăn một
ngày một bữa cơm (ăn đúng vào giữa trưa) nên nhà sư khỏi
phải lo nấu cơm chiều. Thời gian còn lại sư che lại tấm
bạt và làm nệm cỏ để nằm. Gom nhặt tất cả các cây
cỏ đã cuốc, chặt ban ngày để làm thành một nệm
cỏ khá dày rồi trải lên trên một chiếc chiếu cũ. Chiếc
giường đơn giản này đã giúp đỡ nhà sư suốt khoảng
thời gian khai phá Hòn Đỏ. Độ vài hôm thì loạt cỏ gai
mới được thay và cỏ cây cũ lại được chôn kỹ xuống
hố để chuẩn bị cho việc trồng cây có bóng mát.
Chuẩn
bị cho việc an giấc xong thì bóng hoàng hôn đã tràn ngập
khắp bầu trời hải đảo. Bóng tối vẫn còn trong sáng dưới
ánh sao. Biển khơi vẫn dịu dàng vỗ sóng. Gió khơi hiu hiu
thổi. Tiếng côn trùng râm rang khắp đảo. Mây trời bay từ
biển khơi vào đất liền, bay ngang qua đảo mây như hạ xuống
thấp hơn. Nhìn mây, nhìn trời, sư có cảm giác như mình đang
ngồi trên một chiếc thuyền lớn trôi trên biển cả. Không
một chút bềnh bồng, không một giây chao đảo. Đảo vẫn
trôi yên bình dưới mây trời, các vị sao nhấp nháy
nhiều hơn, trong sáng hơn, thỉnh thoảng ẩn mình vào làn mây
trắng nhẹ dịu dàng trôi trong lòng trời xanh thẳm.
Tuy
ngồi một mình trên đảo mà nhà sư không cảm thấy cô đơn.
Lòng sư như ấm lại, sư nghĩ đến niềm vui sướng và hạnh
phúc vì lần đầu tiên được nằm ngủ trên hải đảo mà
sau này sẽ gắn bó với cuộc đời mình. Ngọn đồi này xưa
nay chưa ấm bóng người, từ nay sẽ không còn cô đơn heo
hút nữa. Đêm kỷ niệm đầu tiên sẽ là nguồn an vui trong
những tháng ngày lao khổ trên mảnh đất này. Tự nhiên sư
ràn rụa nước mắt… Đêm đó nhà sư đã đọc trọn hồi
kinh Bát Nhã, đã nguyện khấn cùng Quán Thế Âm Bồ Tát phù
trợ cho mình đạt được ý nguyện khai hoang, lập chùa trên
hòn đảo hoang sơ này. Và sư thiếp vào giấc ngủ lúc nửa
khuya.
Trong
giấc ngủ, nhà sư đã trông thấy cảnh xanh tươi trên hải
đảo cùng với ngôi thiền tự xinh xắn tắm mình trong nắng
sớm giữa trời biển bao la. Bỗng nhiên cảnh mưa gió hãi
hùng lại ập đến, những đợt sóng to, hung dữ ào ào nhô
lên đổ ập xuống ngọn đồi. Lũ sâu bọ hùa hơi tràn đến
ăn hết cỏ cây xanh tươi trên đảo. Chúng ăn cả đất đá.
Giật
mình thức tỉnh, nhà sư thấy trời gần sáng. Chiếc mền
đã đẫm ướt sương khuya. Sư ngồi lên và bắt đầu đọc
kinh sáng.
Lâu
nay quen với không gian ấm áp của chùa khi đọc kinh, có khói
nhang, có mõ, có chuông, dưới ánh nến chập chờn, tiếng
tụng kinh vang trong gian phòng ấm cúng, nên hôm nay sư dường
như không nghe được tiếng tụng kinh của mình mà chỉ nghe
tiếng trầm trầm của sóng vỗ hòa cùng tiếng gió vi vu. Các
vị sao còn sót lại trên bầu trời, sáng lóng lánh. Vòm trời
cao rộng, thanh thoát và vô cùng an lành.
Hôm
nay chính thật là một buổi tụng kinh sáng đầu tiên khởi
sự một hành trình khổ cực gian lao trên con đường
xây dựng một môi trường, một cảnh sắc, một ngôi chùa
trên một hoang đảo vắng người.
Một
tuần sau thì mặt bằng nền chùa đã xong.
Mặt
bằng dự trù lập chùa chỉ vỏn vẹn có 25 mét vuông. Mỗi
chiều dài chỉ độ 5 mét. Nền chỉ toàn bằng đá núi đập
nhỏ trộn lẫn với đá cuội cùng với cát đem từ đất
liền sang. Mặt trên của nền phủ một lớp đá cuội lượm
nơi bãi biển khi nước thủy triều xuống thấp. Nhìn mặt
nền người ngắm có cảm tưởng nhìn một mặt bằng được
thiên nhiên tạo thành bởi các hòn đá cuội bằng cỡ nhau.
Công việc này nhờ công chị Sáu đã nhiều ngày dành thì
giờ rảnh rổi đi lượm đá để dành. Anh Sáu có bổn phận
sắp đá vào bao cát và hằng ngày chở qua đảo tập trung
tại bến đá để cho nhà sư vác lần lên đỉnh đồi.. Đá
xây nền móng được tạo dựng tại chỗ, được chẻ ra từng
phiến vuông vức và sắp chồng lên nhau rất sít sao khỏi
cần phải dùng đến vôi hồ. Thấm thoát hơn một tuần trôi
qua nền chùa đã ổn định và 8 cột trụ được trồng vững
vàng chuẩn bị cho việc cất tạm ngôi lều dùng để làm
ngôi chùa nhỏ.
Ngày
dựng lều có anh Sáu lên phụ giúp. Và túp lều có mái lợp
vải lều của nhà binh đã hoàn tất trong ngày. Vách chung quanh
chỉ được che bằng những tấm giấy cát tông lấy từ các
thùng giấy bán ở chợ Đầm. Túp lều thờ Phật trên đảo
Hòn Đỏ được hoàn tất. Sư Viên Mãn dời chiếc nệm cỏ
lên nền lều và bắt đầu sống chính thức tại túp lều
đầu tiên trên hải đảo.
Nơi
chính diện, một chiếc bàn gỗ tạp cũ được kê vững vàng
làm án thờ Phật. Duy nhất chỉ có một tấm hình Phật tổ
được lồng kính trang nghiêm, một lư hương bằng đất nung,
một cây đèn dầu và một cái chuông, một chiếc mõ nhỏ
nhắn. Gia tài của nhà sư chỉ có chừng đó. Hằng tuần nhờ
ở sự tiếp tế của mẹ nên nhà sư yên tâm tiếp tục khai
phá Hòn Đỏ.
Gánh nước
lên đồi
Khi
bầu trời phía đông hừng sáng thì chiếc thuyền thúng đã
được chất đầy các thùng chứa nước. Trên bầu trời xanh
nhạt nhấp nháy đôi vị sao thưa thớt. Mặt biển yên lặng
bao la.
Lặng
lẽ đẩy chiếc thuyền thúng ra xa bờ, sư Viên Mãn ngước
nhìn Hòn Đỏ in hình trên nền bầu trời bình minh. Một dải
mây trắng nhẹ mỏng nằm lơ lửng giữa lòng trời nối liền
với đảo. Không gian vắng lặng. Nhà sư im lặng đẩy nhẹ
chiếc thuyền thúng. Bóng nước xao động rung rinh, bước chân
nhẹ nhàng nương theo chiều trôi của chiếc thuyền thúng.
Lòng vũng đầy đá và san hô. Bước chân lại càng khua nhẹ.
Hai tay vin chặt vào miệng thúng, nhà sư vừa đẩy vừa nương
mình theo trớn trôi của thuyền. Nhờ bám vào thuyền nên trọng
lượng của thân mình nhẹ đi và bàn chân chỉ khẽ chạm
nhẹ trên rặng đá san hô. Bàn chân đã có một vài mảnh
san hô cắt phải, cảm giác đau rát cứ tăng dần cho đến
lúc thuyền ra chỗ sâu. Vừa bơi hai chân, vừa đẩy thuyền
tiến về phía đảo. Từ bờ ra đến đảo chỉ độ 800 mét
mà phải gần đến nửa giờ đồng hồ mới tiếp cận được
với rặng đá nhấp nhô quanh đảo.
Mặt
trời đỏ hồng đã nhô cao trên mặt bể. Mây trắng từ xa
lần lượt kéo về. Mặt biển đã nhấp nhô con sóng.
Ven bờ đá, sóng đã vỗ cao. Chiếc thuyền thúng đã được
đưa vào neo giữa hai tảng đá nằm sàng sàng gần mép nước.
Thuyền được buộc vào một tảng đá có hình một chiếc
yên ngựa nằm nép trong bờ.
Trước
khi xuống nước đẩy thuyền, nhà sư đã bọc kỹ bộ quần
áo nâu vào trong một tấm nhựa ni lông và chỉ bận vỏn vẹn
có chiếc quần đùi.
Giấu
cẩn thận chiếc bọc ni lông vào một hốc đá cao, sư Viên
Mãn bắt đầu chuẩn bị cho việc gánh nước lên đồi. Đường
đi từ bến nước lên đến đỉnh đồi là một con đường
thiên nhiên nương theo một khe suối nước đã cạn giữa hai
dãy đá chạy quanh co. Mùa mưa, đây là một khe suối. Mùa
khô là lối đi thiên nhiên đầy đá và sạn. Một đôi đoạn
bằng phẳng, mặt đất đầy những lùm gai khô cằn lá nhỏ
li ti trông như những chiếc vảy cá dính vào các cành khẳng
khiu. Lá lưa thưa và lác đác có một vài nụ hoa trắng. Hoa
nở trông cô đơn và lẻ loi giữa hai vách đá. Tuy nhiên trong
khung cảnh hoang sơ, những nụ hoa nhỏ bé rung rinh trước gió
cũng đủ trang điểm cho buổi bình minh trên khe suối cạn
của Hòn Đỏ đẹp đẽ vô cùng.
Cuộc
chuyển vận nước bắt đầu. Hai đầu gánh là hai chiếc thùng
dầu lửa đặt gọn vào hai chiếc gióng bằng mây, cao khoảng
nửa mét. Đòn gánh là một thanh tre già hai đầu có móc và
có dây buộc chặt vào đầu gióng. Khi đặt đòn gánh lên
vai thì đáy hai thùng cách xa mặt đất, gọn gàng để dễ
bề xoay trở theo thế đi lên theo triền dốc. Nước đựng
trong thùng chỉ vào khoảng hai phần ba thùng để tránh nước
tạt ra ngoài. Gánh nước đặt trên vai phải, tay trái chống
một chiếc gậy tre vừa nhẹ vừa bền. Cuộc leo dốc bắt
đầu.
Đường
dốc nhiều đá và sạn. Hòn lớn, hòn bé, nhiều hòn có cạnh
sắc bén đâm tua tủa buộc bước chân người đi phải cẩn
thận, rón rén. Nhiều lúc cần phải bước dài như nhảy để
qua các mỏm đá nhọn khó đặt chân lên. Nhiều khi phải rụt
rè, nhẹ đặt bàn chân lên các khe đá để có thể lấy đó
làm điểm tựa mà bước lên thêm một bước nữa. Có nhiều
lùm gai lúc ban đầu phải dùng chân giẫm lên, cắn răng chịu
sự đau đớn do gai châm để rồi sau đó nơi lùm gai này sẽ
trở thành một vùng êm mát cho cơn nóng của đá lúc trời
trưa,
Đau
chân, nhọc nhằn vị nắng gắt không làm nhà sư nản lòng,
mà nhà sư chỉ sợ nước trong thùng rơi vãi ra ngoài. Vị
thế cho nên tuy mỗi khi đạp nhằm một cây gai hay viên đá
sắc cạnh nhà sư cố nén cơn đau mà không chồm lên hay nhảy
vọt lên để tránh mà phải cắn răng chịu đựng để gánh
nước khỏi phải chòng chành khiến cho nước tóe ra ngoài.
Nắng
mai đã bắt đầu nóng bỏng. Mây trắng trên bầu trời đã
trôi về tận cuối chân trời. Vách đá bắt đầu hừng hực
nóng. Gió biển vẫn im lìm và chỉ hiu hắt trên đỉnh đồi.
Đường dốc như một đường hầm lộ thiên. Sư Viên Mãn
bước từng bước cẩn thận, nặng nề. Mồ hôi đã bắt
đầu rướm trên chiếc lưng trần. Đầu đội một chiếc
mũ ni màu nâu che kín chỏm đầu không tóc, nhà sư lặng lẽ
chịu đựng sức nóng càng ngày càng gay gắt.
Tấm
thân nhỏ bé, gầy còm như đang “đánh vật” cùng đôi thùng
nước. Đường luôn luôn dốc, không có một đoạn phẳng
nào để dừng lại, đứng nghỉ lấy sức. Nhất là không
có được một nơi bằng phẳng để tạm đặt gánh xuống
đứng nghỉ ngơi. Nhiều lúc quá mệt, nhà sư chỉ còn có
thể dừng bước, chống gậy, để nguyên đòn gánh trên vai
mà đứng nghỉ. Lúc ấy nhà sư mới biết được mồ hôi
đang chảy ròng ròng trên mặt, trên chiếc lưng trần. Bỗng
một cơn gió dịu dàng thoảng đến. Cơn mệt nhọc như tan
biến đi và cuộc hành hương lên dốc lại tiếp tục. Hai
lần đứng nghỉ là hai lần được thay vai. Cái nặng và cái
nhọc sau mỗi lần thay vai dường như được vơi bớt, nhưng
nó lại nhanh chóng trở về trên đôi vai đang gánh, mà không
hề vơi đi sự nặng nhọc.
Hai
bàn chân không còn mang nặng cảm giác đau rát vị đá nhọn,
sạn và gai. Sự mệt nhọc đã trung hòa sự đau rát. Chỉ
một đôi khi, chân lỡ bước nhầm lên trên một mảnh
đá nhọn thì sự đau nhói lại tràn về, bước chân đi chậm
lại và cơn mệt như chợt tan đi, nhường chỗ cho cảm giác
đau nhức hoành hành trong đôi chân. Rồi sự mệt nhọc lại
trở về và cơn đau nơi bàn chân lại vơi bớt. Cứ như vậy
liên tiếp, tiếp diễn cho đến khi lên được đến đỉnh
đồi.
Vừa
đặt đôi thùng xuống khỏi vai, nhà sư đã nhận thấy thân
hình mình nhẹ nhõm. Mệt nhọc và đau nhức như tan biến.
Gió từ biển khơi thoang thoảng thổi về. Cảm giác khoan khoái
nhẹ nhàng đến thật nhanh. Giờ đây nhà sư mới thấu hiểu
được hạnh phúc trong cõi trần là ở tại đây, trong lúc
này. Chân có giẫm trên gai, đá nhọn, vai phải quằn dưới
gánh nặng, mồ hôi phải chảy giọt trên thân mình giữa một
không gian cơ cực: nắng nung đến rát da mặt, cháy da lưng,
thì khi lên được đến đỉnh dốc ta mới nhận ra được
hạnh phúc của cần lao khi được ngơi nghỉ là quý đến
dường nào.
Nghỉ
chân được vài phút nhà sư lại xuống đồi để tiếp
tục gánh nước. Mấy bận sau như đã quen với gian lao nên
việc leo dốc thuận tiện, không vất vả như ban
đầu. Ban đầu vì chưa quen với địa thế, nhưng sau khi đã
quen với con đường, với gai, đá nhọn thì nhà sư lại còn
nhận thêm cái nóng bức, cái nắng chói chang của ban trưa.
Nắng
và nóng ở biển được phân chia theo từng vùng. Trên trùng
dương, giữa biển khơi nắng dường như được chan hòa cùng
với sắc xanh của biển nên sức nóng dịu dàng. Bao bọc lấy
sức nóng như có một làn hơi nước che chắn. Cho nên cái
nắng giữa trùng dương chỉ gặm mòn cơ thể một cách nhẹ
nhàng và từ từ. Nếu con người đủ nước cho cơ thể thì
việc chống chọi với sức nắng còn có thể chịu đựng
dài lâu.
Cái
nắng trên bãi tắm lại làm tăng sự mát lạnh của làn nước
biển. Sau vài phút nằm tắm nắng rồi lao mình vào lòng biển,
con người sẽ nhận được sự mát mẻ của biển khơi tăng
gấp bội phần.
Còn
cái nắng và nóng trên sườn đồi Hòn Đỏ thì khác hẳn
với mọi nơi. Đường lên dốc trong lòng khe nhỏ hẹp, giữa
những tảng đá phơi mình dưới nắng trưa. Khí nóng hừng
hực tràn lan, toả rộng khắp nơi. Đá hấp thụ nhiệt khá
nhanh và cũng tỏa nhiệt rất chóng. Dường như chúng thu nhiệt
thì ít mà tỏa ra lại nhiều. Không khí trên mặt đá rung
rinh, linh động như đang bốc hơi. Đá nằm trải dài nên không
cho bóng mát. Đá uỡn mình như chờ đón nắng trời. Gió không
về nên sức nóng đọng lại trên từng phiến đá. Trong lòng
khe nhỏ hẹp, nóng và nắng đang cuộn mình giao nhau. Thuở
xưa nơi trận Xích Bích, Chu Du đã đốt thuyền quân Tào Tháo
nóng cháy đến độ đỏ cả vách đá. Trong lòng khe, nhìn
sắc đỏ của đá chói chang và hừng hực nóng, sư Viên Mãn
cũng có cảm tưởng như mình đang bị vây hãm vào cuộc chiến
tàn khốc này.
Có
những tảng đá nằm trải bằng phẳng giữa đường, song
nhà sư không dám bước lên vị thân đá như đang nung lửa.
Bên cạnh đá trải dài một đám cỏ gai. Đành phải bước
lên gai để tránh cái nóng đến cháy bàn chân người. Chấp
nhận cái đau nhức còn hơn giẫm lên cái nóng thiêu đốt.
Trong cái đau nhức, bàn chân còn hy vọng được chạm đến
sự mát lạnh của đất, của lá cỏ xanh. Mặc dù đó chỉ
là cảm giác thoáng qua nhưng sự lựa chọn vẫn là cần thiết.
Cho nên nhiều khi dừng chân đứng nghỉ, sư Viên Mãn đã đứng
giữa một lùm gai để nghỉ chân tạm bợ.
Dưới
chân thì đá đang đọng lửa, còn bên trên thì nắng chói
chang như suối nóng đang rót xuống chiếc lưng trần. Những
giọt mồ hôi chảy dài trên mặt trên lưng như xoa dịu ít
nhiều cơn nóng bức. Trời càng nóng thân thể càng đổ mồ
hôi. Thế quân bình của phản ứng con người giúp cho nhà
sư thích nghi với khắc nghiệt của thiên nhiên. Với lòng
kiên nhẫn, với chiếc lưng trần, sư Viên Mãn lặng lẽ bước
từng bước một như người đang gánh nắng đi hành hương.
Trên chiếc lưng trần những giọt mồ hôi long lanh ánh nắng,
nối tiếp nhau chảy dọc xuống ướt đẫm cả chiếc quần
đùi màu nâu. Có nhiều giọt mồ hôi trên mặt, trên cổ chưa
kịp chảy xuống đến thắt lưng đã khô đi dưới sức nóng
hừng hực giữa ban trưa để nhường chỗ cho những giọt
mồ hôi lớn hơn, nặng hơn nối tiếp nhau chảy xuống.
Trên
đôi vai chật hẹp, xương xẩu, thịt da đỏ au lên vì chiếc
đòn gánh đè nặng dù đã được sang vai nhiều lần. Càng
lên cao sự trĩu nặng mỗi lúc một oằn thêm. Trong nắng nóng
ban trưa trên lưng dốc Hòn Đỏ, sư Viên Mãn cặm cụi gánh
nắng, cô đơn giữa bầu trời chói chang, lầm lủi giữa đá
nóng lẫn cùng gai góc. Hai thùng nước chứa chan sắc nắng,
sóng sánh theo bước chân đi chậm chạp. Trời cao lồng lộng
như đang ngắm nhìn nhà sư gánh hai thùng nắng đọng lại
thành nước, trong cái chói chang, oi bức, như cười cợt với
tấm lưng trần thấm đẫm mồ hôi.
Trong
công việc cần lao cực khổ, nét mặt của nhà sư vô cùng
tĩnh lặng. Đôi mắt mở to nhìn thẳng về phía trước, không
một nét băn khoăn, lo nghĩ. Lặng lẽ mà đi như một vị sư
hành hương đi trong sa mạc vắng người. Sự cực khổ dường
như chỉ tập trung trên đôi vai gầy đỏ au lên vì nắng,
vì nặng. Đôi mắt lặng lẽ, cam chịu khác với những đôi
mắt của các vị sư đang yên lặng quét sân chùa, lau bàn
thờ hay gánh nước tưới rau, tưới cây kiểng của chùa.
Đôi mắt sáng ngời trên khuôn mặt khắc khổ, gầy guộc
đen đủi. Đôi mắt sâu thẳm như chỉ nhìn vào hư không,
yên thắm của sự sống an lành. Có những vị sư trẻ ngồi
bên bếp lửa nấu cơm với gương mặt bình thản, đôi mắt
linh động thấp thoáng ánh lửa hồng. Có những vị sư già
buổi sáng ngồi tụng kinh, ánh bình minh đã bừng trong đôi
mắt. Trong đôi mắt của nhà sư lúc này đã hàm chứa tất
cả ánh mắt của biết bao nhiêu vị sư đã từng chịu khổ
hạnh trong việc tu hành. Vui có, khổ có song không hề có một
chút gợn của sự thất vọng, của sự chán nản, của sự
thiếu đi niềm hy vọng. Đôi mắt đã làm cho nét mặt của
nhà sư Viên Mãn bình thản và an nhiên.
Trong
khung cảnh nắng nóng, đường dốc cheo leo, gập ghềnh gai
góc mà sự mệt nhọc chỉ hiển hiện trên từng giọt mồ
hôi, trên bước chân chậm chạp và trong hơi thở dồn dập
nặng nề, còn nét mặt của nhà sư vẫn an nhiên bình thản.
Nét mặt lúc bấy giờ giống tựa như nét mặt của các vị
cha, mẹ đang cần cù lao động vì bầy con nhỏ. Những nét
cơ cực như lắng xuống, tan biến đi vị tình thương con vô
bờ bến của mẹ cha. Cuộc đời nếu vị một mục đích
cao cả thì dù có cam khổ đến đâu nét mặt của những người
cha mẹ vẫn an vui khi phải lao động cho con mình được hạnh
phúc. Sự so sánh giữa nhà sư gánh nước lên trên đồi với
cha mẹ lao động để nuôi con gần như chính xác. Tính chất
vị tha vẫn luôn luôn trong sáng. Gánh nước lên xây dựng
chùa cũng gian khổ như cha mẹ lao động nuôi con. Giọt mồ
hôi nào chảy xuống trong lao động cũng là giọt mồ hôi vì
ta, vì người, vì một mục đích cần thiết, cao cả.
Khi
gánh được đôi nước lên đến đỉnh đồi, sư Viên Mãn
ngồi trên một túm cỏ khô nhìn xuống mặt biển xanh bao la
để thấy rằng lòng mình thênh thang nhẹ, tấm thân mình khoan
khoái trước trời biển mênh mông. Những sự nhọc nhằn như
thoát ra ngoài thân thể, hòa tan vào sắc biếc của trời biển.
Cơn gió hiu hiu đã mang đi những giọt mồ hôi, làm dịu cái
nóng nung giữa trưa nóng. Lòng nhà sư đằm thắm như sắc
nắng dịu dàng không còn gay gắt nữa và thân thương trìu
mến với người biết bao nhiêu. Nắng bây giờ không như nắng
lúc gánh nước khi leo đồi. Cũng là cùng một luồng nắng
nhưng tùy tâm con người, khi thì nắng nóng rát da khi thì nắng
dịu dàng ấm áp.
Sau
khi đem đôi nước đổ vào ba cái chum lớn kê trong một hốc
đá là nơi an toàn cho việc trữ nước, nhà sư lại quảy
đôi thùng tiếp tục xuống núi gánh nước. Khi lên có cái
khó của người gánh nặng, khi xuống có cái khó của người
xuống dốc mà phải gánh đôi thùng tuy nhẹ nhưng cồng kềnh.
Nương vào cây gậy để giữ được thế thăng bằng và làm
điểm tựa khi bước xuống dốc cao thẳng đứng. Lên cẩn
thận thì khi xuống lại càng cẩn thận hơn. Lên dốc ít khi
bị té song khi xuống dốc thì thường hay có lắm lúc lăn
nhào.
Công
việc gánh nước cứ tiếp tục mỗi lúc chậm dần. Khi đưa
hai thùng nước cuối cùng lên đến đỉnh thì trời vừa đứng
bóng. Ngồi nghỉ được một chốc thì buổi ăn trưa bắt
đầu. Món ăn chỉ là một gói bắp nấu mà mẹ sư Viên Mãn
đã nấu lúc ban chiều. Nhai chậm rãi từng hạt bắp, nhà
sư cảm nhận được chất ngọt và vị bùi trộn lẫn vào
nhau thấm dần vào vòm miệng. Đây là một phương thức ăn
để cảm nhận được sự đầy đủ trong sinh hoạt ăn uống
của người tu hành. Nhớ lại có một thời, sư đã được
bổn sư giảng dạy về cách ăn uống trong việc tu hành và
việc một nhà sư chỉ ăn mỗi ngày có một hột mè mà vẫn
sống trong thời gian tu tập. Một vị sư chỉ ăn rau (ăn mỗi
ngày một cọng rau) mà sống. Việc ăn rong biển để sống
qua cơn thiếu thốn nhà sư đã thực nghiệm trên Hòn Đỏ
trong những ngày bão tố khi không thể liên lạc được với
đất liền. Anh Sáu Sài Gòn (người đã giúp nhà sư đi qua
hải đảo) đã dạy nhà sư ăn món rong biển này.
Miệng
nhai bắp, mắt nhìn ra biển khơi lồng lộng màu xanh thắm,
lòng nhà sư thật thanh thản. Trong giây phút này nhà sư cảm
nhận được tất cả hạnh phúc của riêng mình và tin tưởng
nơi công việc mình đang làm sẽ không phí phạm (và nhất
là sẽ) không vô nghĩa. Gánh được nước lên đồi là giải
quyết được một phần cơ bản nhất cho công việc khai phá
hoang đảo này. Mặc dù rất gian khổ song nhà sư vẫn tin rằng
sức mình có thể thực hiện được.
Nước
sinh hoạt cho mỗi ngày là một đôi, gồm để ăn uống và
tưới cây. Như vậy mỗi tuần sẽ chỉ phải gánh nước có
một lần và những ngày còn lại sẽ dồn hết cho lao động
khai phá và trồng tỉa. Ngoài ra mỗi khi lên đảo thì nhà
sư lại mang theo một phần nước cho việc sinh hoạt trong ngày
đó. Thời gian lao động trên đảo rất cần nên mỗi tuần
sư chỉ về đất liền một lần để lấy lương thực và
tiếp tế nước.
Suốt
10 năm liền công việc gánh nước vẫn tiến hành đều đặn
nhờ vào ý chí và tâm nguyện của nhà sư .
Ăn rong trên
Đảo
Ăn
uống xong sư Viên Mãn chú tâm vào việc chuẩn bị tân tạo
chỗ tạm trú của mình trong thời gian khai thác, khẩn hoang
ở trên đồi. Đó là một cái hốc ăn sâu vào một tảng
đá nhô cao có nhiều bụi tầm xuân leo mọc tạo thành
một chỗ ẩn náu lý tưởng: nắng thì có bóng mát và mưa
thì có chỗ tạm nương. Muốn cho an toàn khi mưa đến nhà
sư đã che phía dưới lùm cây một tấm vải bạt ni lông như
một cái lều ẩn trong lùm tầm xuân. Mặt đất bên dưới
là một tảng đá bằng phẳng như một tấm phản rộng. Tuy
không được hoàn toàn bằng phẳng nhưng cũng đủ để đặt
lưng nằm ngơi nghỉ trong những giờ sau lao động. Vách đá
là chỗ tựa để tránh gió mưa.
Trời
đang trong xanh bỗng nhiên mây ở chân trời ùn ùn kéo nhau
che kín bầu trời. Rồi cơn mưa bất chợt ào ào đổ
xuống. Mưa giăng màn che kín không gian biển rộng.. Hòn Tre,
Hòn Mun và các đảo khác mờ đi trong làn mưa để rồi quanh
đảo chỉ còn có màn mưa trắng giăng giăng. Mưa vây
quanh đảo nhỏ như hợp sức với những cơn sóng ào ạt quanh
chân đảo. Giữa cơn mưa Hòn Đỏ như cô đơn song vẫn an
nhiên trước sóng gió bão bùng. Gió mưa làm tấm bạt ni lông
run lên bần bật khiến sư Viên Mãn phải ngồi nép mình bên
vách đá, lặng nhìn dòng nước chảy trên tấm bạt ni lông
và cùng tuôn chảy vào chiếc thùng hứng bên dưới. Niềm
vui của nhà sư là được có thêm nước dự trữ cho những
ngày khai phá trên đảo. Ít nhất là có được một tuần
khỏi phải gánh nước.
Nha
Trang không có mưa dầm, chỉ có những cơn mưa chợt đến
rồi chợt đi. Nhiều lúc cơn mưa kéo dài chỉ trong vòng đôi
ba ngày là cùng. Những lúc đó đảo Hòn Đỏ bị cô lập
giữa biển động. Sóng vỗ ầm ầm quanh chân đảo nên không
có một chiếc thuyền nào có thể cặp vào. Đảo như bị
cô lập, như trôi ra xa giữa sóng gió trùng dương.
Mỗi
khi cơn mưa kéo dài, đảo bị cô lập với đất liền sư
Viên Mãn phải chấp nhận tình trạng thiếu lương thực trên
đảo. Hàng tuần sư ra đảo chỉ mang theo một ít gạo và
một ít tương chao và xì dầu. Sư chỉ ăn mỗi ngày một bữa,
đúng vào giờ ngọ. Nhiều lúc bị cô lập trên đảo, sư
phải ăn những lá rong xanh mọc nơi mép đá ven biển. Sóng
lớn đánh tạt rong lên các mỏm đá cao, nhà sư đã lựa những
mảnh rong còn non xếp từng chồng trên một dĩa nhựa
rồi mỗi lúc dùng bữa sư ngồi nhai chậm rãi như ăn
bắp nấu. Từng lá rong xanh được nhai chậm rãi, nhai thong
thả như để tận hưởng hương vị thơm ngon của rong biển.
Thật ra nhà sư nhai chậm rãi là vị thói quen hơn là muốn
tận hưởng hương vị của rong vì hương vị này nhạt pha
lẫn vị đắng và chát. Nhìn vị sư ngồi nhai rong biển, ta
có cảm tưởng là mình đang bắt chợt thấy được hình
ảnh một vị chơn tu thuở trước, trong câu chuyện một vị
sư ngồi nhai một hột mè mà đủ sống trong một ngày.