Làm
thế nào để hình dung về Phạm Công Thiện? Một lần tôi
đã tự hỏi mình như thế. Và ngay lập tức trước mắt tôi
hiện ra một cặp kính cận dày cộm và chòm tóc trắng phất
phơ... Có lẽ, nếu vẽ vài nét trên giấy kiểu tốc hoạ
thì thế như dường là đủ. Không, chưa đủ. Vậy thì nghe
thêm giọng nói Nam bộ đặc biệt của anh. Hay là thêm khuôn
mặt tròn, và đôi mắt thơ ngây...
Nhưng
tận cùng, Phạm Công Thiện là một nhà thơ và là một thiền
sư – và đó là những phẩm chất rất khó hình dung, vì mỗi
nhà thơ và mỗi thiền sư đều có những độc đáo riêng.
Và tôi tin rằng, khi nào thân xác anh rời khỏi thế giới
đời thường này, rất nhiều người sẽ gọi Phạm Công Thiện
là một vị Bồ tát, một danh hiệu tôn quý trong Phật giáo
và là một hạnh nguyện để chỉ một người tái sinh từ
kiếp này sang kiếp khác để giúp cho mọi người hiểu được
thật nghĩa của vũ trụ. Trong những năm qua, rất nhiều tăng
ni Phật tử đã gọi nhà thơ Bùi Giáng là một vị Bồ tát,
và tôi tin là sau này, Phạm Công Thiện cũng sẽ được tôn
vinh như thế, bất chấp những đời thường bất toàn mà
chúng ta đôi khi gặp nơi anh.
Thực
sự, tôi đã nhìn anh như một vị Bồ tát từ những ngày
tôi mới lớn, và ngay khi lần đầu đọc cuốn Ý thức mới
trong văn nghệ và triết học. Lúc đó, tôi đang học lớp
đệ tứ, hay đệ tam ở Chu Văn An, Sài Gòn. Bây giờ gọi
là lớp 9 hay lớp 10. Ðâu đó, khoảng giữa thập niên 1960.
Dù là đọc ngấu nghiến, nhưng một ngày không đủ, và đọc
một tuần cũng không đủ. Vì có những dòng tôi phải đọc
đi đọc lại, không hoàn toàn vì tính bí hiểm triết lý,
mà chỉ vì tính thơ mộng dị thường trong ngòi bút của anh.
“Ði cho hết những đêm hoang vu trên mặt đất...” Thế
đấy, tôi đã đi như thế từ bốn thập niên trước trên
các trang sách của anh.
Tôi
đã ngồi ở sân Chùa Xá Lợi, dưới các tàng cây ngọc lan
và bông sứ lần giở từng trang sách đó. Và rồi lại ngồi
trong một quán cà phê cách trường Chu Văn An vài mươi bước,
ngay lối vào ký túc xá Minh Mạng của các anh chị sinh viên
lớn. Không phải chuyện ngồi đọc cho ra vẻ triết gia, mà
thực sự vì có những đoạn văn trong cuốn Ý thức mới làm
tôi run rẩy cả người. Từng trang một, giữa các dòng chữ
của Phạm Công Thiện toát ra một hơi lạnh của vũ trụ vô
cùng vô tận. Và tuy là văn xuôi, hầu hết, nhưng thi tính
vẫn dày đặc kinh ngạc.
Lúc
đó, tôi chưa từng gặp anh, nhưng lại có cảm giác Phạm
Công Thiện phải là một cái gì có màu xanh, phải liên hệ
tới màu xanh, thí dụ xanh da trời hay xanh lá cây. Không biết
tại sao, nhưng trong trí óc tôi lúc đó, là một thiếu niên
say mê đọc sách và cứ nghĩ tới triết gia Phạm Công Thiện
là thấy hiện lên một màu xanh. Phải màu xanh mới lạnh chứ.
Vì từng trang Ý thức mới đều mang theo hơi lạnh đó. Trong
đó, có hơi lạnh Ðà Lạt, có sương mù Paris, có ngồi thiền
trên đồi vắng, có chất vấn về triết lý với cái búa
của Nietzsche, với hiện sinh Camus, và vân vân, và vân vân.
Ðủ thứ mà bây giờ tôi không thể nhớ hết. Cứ mở trang
sách ra, là hơi lạnh của vũ trụ vô cùng vô tận lại toát
ra từ các dòng chữ của anh. Bất kể lúc đó, tôi đang ngồi
trong sân chùa Xá Lợi, hay vài tuần sau nữa tới la cà tại
các quán cà phê trên đường Nguyễn Thiện Thuật, nơi đó
có khi tôi ngồi ở quán cà phê Bình Minh và có khi bước sang
kế cận ngồi ở quán Hoàng Hôn, và nơi đó cứ mỗi chiều
trở về đêm là đèn đường hắt xuống màu vàng mờ nhạt
làm tôi cứ ngỡ mình đang ngồi giữa Paris đọc sách.
Mới
biết, văn chương mạnh như thế. Sau này, nhiều thập niên
sau, khoảng đầu thập niên 1990, được cơ duyên gặp nhà
thơ Phạm Công Thiện tại Quận Cam, California, tôi ngạc nhiên
không hiểu vì sao thời mới lớn mình lại cứ hình dung anh
ra một màu xanh. Nhớ lại mới ngạc nhiên. Ðúng ra, nếu phải
liên kết với màu sắc, nơi anh phải là một màu trắng. Tóc
trắng một chòm, kính trắng dày cộm, đôi mắt cực kỳ ngây
thơ, khuôn mặt bầu, lại thường mặc áo trắng hay màu sáng.
Và toàn thân Phạm Công Thiện toát ra cả một màu trắng hồn
nhiên, thơ ngây. Nhưng tới tuổi trung niên rồi, tôi không
còn bận tâm chuyện màu sắc nữa, dù là người hay chữ,
hay mực, hay giấy. Thêm nữa, khi đọc lại anh, tôi không còn
nhiều rung động mạnh mẽ như thời mới lớn, dù là lòng
tôn kính anh vẫn không mờ nhạt trong tôi.
Nếu
phải giải thích, có lẽ cảm giác màu trắng sau này nhiều
phần tôi có cũng từ một bài thơ của Phạm Công Thiện được
nhạc sĩ Lê Uyên Phương phổ nhạc. Trong bài thơ, tôi nhớ
có những câu dị thường như:
...
Mười năm qua gió thổi đồi tây
Tôi
long đong theo bóng chim gầy
Một
sớm em về ru giấc ngủ
Bông
trời bay trắng cả rừng cây...
Và
nhớ nhất là mấy chữ:
...
Tôi đứng trên đồi mây trổ bông...
Thực
sự, gọi Phạm Công Thiện bằng “anh” là điều không phải
lẽ đối với tôi, trên nguyên tắc. Vì tôi đã từng trực
tiếp nghe nhiều vị danh tăng gọi Phạm Công Thiện bằng danh
xưng “thầy” rất là tôn kính, trong những vị gọi như
thế có những thượng toạ hiện là tác giả và dịch giả
nhiều sách về Phật học. Dễ hiểu, Phạm Công Thiện đã
từng dạy ở Ðại học Vạn Hạnh, nơi đào tạo nhiều thế
hệ tăng ni và trí thức Phật giáo.
Ðứng
về mặt đời thường, lý ra tôi cũng phải gọi anh là thầy.
Vì thực tế, Phạm Công Thiện còn là thầy của vợ tôi –
nàng kể lại rằng trong thập niên 1980 vẫn thường mỗi tuần
sang Chùa Liên Hoa, trên đường Bixby, thị xã Garden Grove, Quận
Cam, để nghe thầy Thiện giảng Kinh Kim Cang.
“Không
hiểu gì cả, nhưng ông Phạm Công Thiện dạy hay hơn mấy
thầy khác nhiều, kể cả mấy thầy ở Ðại học Vạn Hạnh
hồi xưa.” Ðó là lời nàng kể, khi còn nhắc là năm 1974,
nàng đã từng học miệt mài ở Ðại học Vạn Hạnh...
Tại
sao không hiểu gì hết, mà lại thấy hay? Tôi nghĩ, chỉ có
Kinh Phật và thơ mới thế thôi.
Như
thế, đúng ra tôi phải gọi nhà thơ Phạm Công Thiện bằng
thầy. Nhưng cơ duyên lại là, lòng anh Thiện rất mực thoải
mái, không nghi lễ. Và tôi lại là bạn thân của các nhà
thơ Lê Giang Trần, Phạm Việt Cường... những người thân
tình và thường uống rượu với anh. Nói là uống rượu nghe
có vẻ trần gian lắm, nhưng phải nhìn thấy Phạm Công Thiện
mới thấy là hoàn toàn không có gì gọi là trần gian nữa.
Tất cả thế gian quanh anh đều thoạt hiện ra như thơ, như
văn, như nhạc, như hoạ... Và cả đôi khi tôi ghé nhà Lê
Giang Trần ở trong một khu mobile home chật chội, u tối, tại
Santa Ana và gặp anh Phạm Công Thiện đang ngồi trong nhà Trần
với chai rượu trên bàn. Tất cả thế gian đều như mộng,
như huyễn, như sương rơi, như điện chớp... Sự hiện diện
của anh Phạm Công Thiện như dường để nhắc tới tính vô
thường đó.
Khi
tôi tới Quận Cam năm 1990, anh Phạm Công Thiện đã tạm ngưng
các lớp Phật học ở Chùa Liên Hoa mấy năm rồi, nhưng thỉnh
thoảng tôi vẫn cơ may gặp nhà thơ dị thường này. Và nếu
sau này có ai muốn biết về các chuyện đời thường của
Phạm Công Thiện, tôi nghĩ rằng nhà thơ Lê Giang Trần có
thể kể lại trên cả ngàn trang sách, vì cứ hễ anh Thiện
về Quận Cam thì chỉ nghe về ở nhà Lê Giang Trần, một nhà
thơ cũng thơ mộng lạ lùng và dị thường. Còn thì, khi nghe
tin anh đi Úc, khi nghe nói anh lên ngụ ở chùa Diệu Pháp ở
Los Angeles, và khi thì nghe đủ thứ địa danh trên địa cầu.
Nói thế, không có nghĩa Trần là bạn đời thường của anh
Thiện. Thực sự, nhà thơ Lê Giang Trần nhìn nhà thơ Phạm
Công Thiện như một vị Bồ tát. Một hoá thân, không thể
khác hơn được, trong mắt của Trần.
Người
ta không thể hình dung hết những tôn kính mà nhiều người
dành cho Phạm Công Thiện. Bất kể là anh đã từng sống rất
đời thường, hệt như bao nhiêu người khác giữa phố chợ
trần gian. Bất kể là anh cũng viết báo lung tung, cũng một
thời tranh luận từ trước 1975 tại Sài Gòn, và rồi lại
viết báo tranh luận tại Los Angeles thời 1980 sau này. Và bất
kể là anh uống rượu cũng tưng bừng, cũng mấy lần vợ
con, cũng thích hút thuốc lá, cũng nhiều thứ rất trần gian...
Nên thấy, trong những người tôn kính Phạm Công Thiện có
nhiều vị sư, có nhiều nhà thơ, và tôi tin là không thể
đếm hết.
Không
phải những người đó tôn kính Phạm Công Thiện chỉ vì
anh từng là giáo sư Ðại học Vạn Hạnh (nơi này có cả
trăm giáo sư chứ), hay vì anh làm thơ hay (trước và sau anh
cũng có nhiều nhà thơ xuất sắc chứ), hay vì anh đã hùng
biện để bảo vệ Phật giáo (đâu có mấy ai nhớ anh đã
gây lộn với ai, và về đề tài gì), hay vì anh có thể vừa
mới rời một quán nhậu nơi đường Westminster là bước vào
ngôi chùa đường Bixby giảng Kinh Kim Cang mà vẫn dạy
hay hơn tất cả các ông sư trên đời này (có thể, nhưng
chi tiết này cần phải kiểm chứng, vì các vị giảng sư
chưa chắc đã đồng ý là có ai giảng Kinh này hay hơn họ),
hay vì anh mỗi lần vào thư viện Mỹ là mượn ra cùng một
lúc 30 cuốn về đọc tốc độ còn mau hơn các thiếu niên
Sài Gòn đọc truyện võ hiệp Kim Dung (tôi tin có người còn
đọc nhanh hơn), và vân vân...
Có
thể vì vai trò của Phạm Công Thiện trong sự phát triển
Phật giáo cũng lớn lao? Thực ra, có nhiều vị đã đóng góp
cho Phật giáo nhiều hơn anh nhiều. Thí dụ, như cư sĩ Tâm
Minh Lê Ðình Thám, HT Minh Châu, HT Trí Thủ, HT Thanh Từ, HT
Nhất Hạnh, TT Tuệ Sỹ, GS Lê Mạnh Thát... Thực sự, Phạm
Công Thiện không viết nhiều về Phật giáo.
Còn
nói về các chức vụ chính thức thì Phạm Công Thiện cũng
không hơn nhiều vị khác, dù anh từng là “nguyên Giáo sư
Triết học Tây phương Viện Ðại học Toulouse, Pháp
quốc, nguyên Giáo sư Phật giáo Viện College of Buddhist Studies,
Los Angeles, Hoa Kỳ, nguyên Giám đốc soạn thảo tất cả chương
trình giảng dạy cho tất cả phân khoa Viện Ðại học Vạn
Hạnh từ năm 1966-1968, nguyên khoa trưởng phân khoa Vn
học và Khoa học Nhân văn của Viện Ðại học Vạn Hạnh
từ năm 1968-1970, sáng lập viên và nguyên chủ trương biên
tập tạp chí Tư tưởng của Viện Ðại học Vạn Hạnh,
1966-1970” (theo phần chú thích trong bài “Hai vị thiền sư,”
Phạm Công Thiện viết tại California ngày 18.10.1988 về TT Tuệ
Sỹ và TT Trí Siêu, vị sau này thường dùng tên là GS Lê Mạnh
Thát. Báo Nguồn sống số 16-17, 1989, San Jose, California).
Vậy
mà, cũng như nhà thơ Lê Giang Trần nói trên, tôi tin Phạm
Công Thiện phải là một kiểu hoá thân Bồ tát. Nếu Tây
Tạng có các hoá thân Ðạt Lai Lạt Ma, Ban Thiền Lạt Ma, Karmapa,
Rinpoche, vân vân... thì Việt Nam mình ngay trong thời này cũng
có các hoá thân Bồ tát như các nhà thơ Tuệ Sỹ, Bùi Giáng,
Phạm Công Thiện... Bạn không tin? Hãy hỏi các vị sư Sài
Gòn ở thế hệ trung niên trở lên, như dường cũng có nhiều
vị sư chia sẻ niềm tin như thế.
Còn
nói theo kiểu bây giờ, thì Phạm Công Thiện đã xuất hiện
trong Phật giáo một cách “rất là ấn tượng.” Chuyện
Phạm Công Thiện trở thành nhà sư Thích Nguyên Tánh thì cũng
có nhiều người biết, và vẫn được truyền tụng hoài.
Nhưng nơi đây, để nghe tận nguồn, chúng ta hãy nghe nhà thơ
Quách Tấn kể lại, trong “Hồi ký về thượng toạ Thích
Trí Thủ” (http://www.phatviet.com/vanhoc/vh008.htm), khi giới thiệu
anh Thiện với thượng toạ Trí Thủ (lúc giữ chức Giám viện
Phật học Viện Hải Ðức, nơi thi sĩ Quách Tấn dạy các
tăng ni môn quốc văn), trích:
Khoảng
đầu năm 1964, Phạm Công Thiện bị khủng hoảng tinh thần,
ở Mỹ Tho ra Nha Trang an dưỡng. Lên chơi chùa Hải Ðức, Thiện
ước được sống trong cảnh u tịch trong ít lâu để lấy
lại sức khỏe. Tôi liền đến xin thượng toạ, và tỏ thật
rằng Thiện là một thiên tài và là người Cơ Ðốc giáo,
mọi người trong chùa tỏ ý không bằng lòng. Thượng toạ
cười:
“Không
hề gì, có bác Quách bảo đảm.”
Nhưng
để “đề phòng”, thượng toạ cho dọn một căn phòng dưới
xưởng làm hương để Thiện ở, trưa chiều lên chùa ăn cơm.
Ðược
nơi ăn chốn ở vừa ý, Thiện bảo tôi:
“Ðể
đền ơn ông, tôi xin hẹn trong sáu tháng sẽ đọc và hiểu
được kinh chữ Hán.”
Tôi
không dám tin, nhưng cũng không dám ngờ.
Ở
Trại Thuỷ, cả ngày Thiện nằm đọc sách. Thỉnh thoảng
tôi đến thăm Thiện và thượng toạ Trí Thủ. Một hôm thượng
toạ bảo tôi:
“Anh
chàng có đạo tâm.”
Tôi
cười thầm trong bụng: “Ðạo Thiên Chúa hay đạo Phật.”
Ba
tháng sau, tôi lên Hải Ðức, không thấy Thiện nơi xưởng
hương. Hỏi người làm hương trong xưởng cho biết rằng thượng
toạ Trí Thủ đem anh lên ở nơi cốc của thượng toạ hơn
một tháng rồi.
Tôi
bèn leo dốc lên cốc: một nhà sư trẻ đang ngồi xếp bằng
ngay ngắn, mắt lim dim trên chiếc ghế dài nơi cốc. Nhìn kỹ
thì là Phạm Công Thiện! Rõ là một nhà sư 100 phần trăm.
Thiện ngồi yên, tôi lẳng lặng đi vào cốc. Thượng toạ
Trí Thủ mừng rỡ, muốn gọi Thiện. Tôi “xin đừng”. Sau
mấy câu hàn ôn như thường lệ, thượng toạ nói:
“Thiện
quy y với tôi rồi, tôi đặt cho pháp danh là Nguyên Tánh."
Tôi
không tỏ ý tán thành cũng không tỏ ý phản đối. Ðối với
Thiện quy y cũng thế mà không quy y vẫn thế.
Mấy
tháng sau – tháng 9 năm 1964. Tôi lên Hải Ðức một lần nữa.
Cốc đóng — người trong chùa cho biết thượng toạ cùng
Thiện vào Sài Gòn, còn lâu mới về. Tôi cảm thấy bùi ngùi
như nhớ nhung, như thương tiếc.
Tôi
ngẫu chiếm một tuyệt:
Lịu
địu
Áo
giũ ngày sương gió
Lên
chùa thăm cố nhân
Non
nghiêng thềm nắng xế
Lịu
địu bóng nhàn vân.
Sau
nghe tin Thiện dạy học ở Ðại học Vạn Hạnh, rồi đi Mỹ,
đi Pháp. Còn thượng toạ Thích Trí Thủ thì trụ trì chùa
Già Lam, rồi được phong hoà thượng, thỉnh thoảng mới về
Nha Trang thăm chùa cũ và nghỉ ngơi. Thiện thì từ ngày từ
giã Nha Trang, tôi không còn gặp lại...”
Bây
giờ Phạm Công Thiện không viết nhiều như ngày xưa nữa.
Những cuốn sách gần đây đa số là viết về Phật A Di Ðà
và Bồ tát Quan Thế Âm. Từ lâu, anh cũng không làm thơ nhiều
nữa. Những tác phẩm thời trẻ của anh, khoảng hơn hai mươi
cuốn, còn được quần chúng nhớ đặc biệt là vài cuốn,
như: Tiểu luận về Bồ Ðề Ðạt Ma, tổ sư Thiền tông (1964),
Ý thức mới trong văn nghệ và triết học (1965), Ngày sanh
của rắn (1967)... Cuốn được nhớ tên nhất tại hải ngoại
của Phạm Công Thiện, có lẽ là cuốn Ði cho hết một đêm
hoang vu trên mặt đất (1988)...
Nhưng
đêm hoang vu của anh vẫn chưa hết, cho nên vẫn thấy anh đi
liên tục. Ðể theo dõi bước đi một đoạn đời của anh,
hãy trích một chút sau đây từ cuốn Những bước chân nhẹ
nhàng trở về sự im lặng của Phạm Công Thiện, xuất bản
1994 tại Los Angeles, từ Lời nói đầu:
“Quyển
sách này được viết chậm rãi thong dong từ trên 10 năm nay,
từ năm 1983 tại Los Angeles và tại những vùng phụ cận Los
Angeles, California, Hoa Kỳ. Từ năm 1970 cho đến 1983, tôi đã
sống ở Do Thái, rồi ở Ðức quốc và ở lâu dài tại Pháp
quốc; đến năm 1983, qua một cơn chuyển động toàn diện
của tâm thức viễn ly, tôi đã trở lại Hoa Kỳ, trở lại
thành phố Los Angeles sau một thời gian xa vắng gần 20 năm;
từ năm 1983 cho đến năm 1994, trên 11 năm nay, lại qua nhiều
cơn chuyển động toàn diện liên tục của tâm thức viễn
ly, tôi vẫn tiếp tục sống ở thành phố Los Angeles; sau vài
chuyến lui về vùng đồi núi im lặng ở Úc châu, tôi vẫn
trở lại thành phố Los Angeles như trở về tập sống hồn
nhiên tự tại với những cơn động đất thường xuyên của
đời mình...”
Bây
giờ Phạm Công Thiện vẫn còn đi. Và đôi khi vẫn còn viết
– như một nghiệp tiền định của anh.
Nếu
bạn nhớ rằng Phạm Công Thiện sinh năm 1941 thì mới kinh
ngạc, khi biết rằng anh in cuốn Tiểu luận về Bồ Ðề
Ðạt Ma năm 1964, nghĩa là khi mới 23 tuổi. Nơi đây, chúng
ta không nói chuyện cuốn sách anh viết đã có giúp gì cho
ai về mặt giác ngộ hay không (chuyện này, khó có thước
đo), nhưng chỉ nói về đề tài để khảo sát, suy nghĩ và
viết xuống thì đã là một điều hết sức dị thường.
Tôi từng đọc rằng khi anh còn ở tuổi vị thành niên, anh
đã soạn một cuốn Tự điển Anh ngữ tinh âm, nhưng vì tôi
chưa bao giờ đọc cuốn này cho nên không dám bàn. Nhưng ở
tuổi 23, mà anh viết sách Thiền tông thì phải có một tâm
hồn rất mực thơ mộng, một khát khao trí tuệ rất mực
mãnh liệt, dù là, đối với Thiền tông, đúng hay sai và mê
hay ngộ cũng là chuyện rất mực khó dò...
Nhưng
vì sao một người đời thường lại được cả các tăng
ni tôn kính? Mà người đời thường này, anh Phạm Công Thiện,
lại không hề biết cách kiếm tiền... Tôi nghĩ, nhiều phần
là trong các kiếp trước, Phạm Công Thiện đã từng là thầy,
từng là bậc tôn túc của các vị tăng ni kia, và của nhiều
cư sĩ đời thường như tôi...
Và
tôi tin rằng, khi Thiền sư Thi sĩ Phạm Công Thiện từ trần,
chắc chắn sẽ có rất nhiều người gọi anh là Bồ tát,
một danh hiệu rất mực tôn kính trong nhà Phật, chỉ đứng
sau danh hiệu Ðức Phật. Tại sao như thế? Tôi không thể
trả lời chính xác. Nhưng nhà thơ Bùi Giáng đã được tôn
xưng là Bồ tát, và tôi tin, chắc chắn rằng Phạm Công Thiện
cũng sẽ được tôn xưng như thế. Thêm nữa, Kinh Pháp Hoa
cũng viết rằng tất cả mọi người đều là Phật – và
bây giờ nhiều người trong chúng ta đã quen thuộc với cách
Phật giáo Tây Tạng gọi ngài Ðạt Lai Lạt Ma là Bồ tát
Quan Thế Âm, gọi ngài Ban Thiền Lạt Ma là Phật A Di Ðà hoá
thân...
Ðể
trả lời cho bớt vẻ thần bí hơn, có lẽ nên nói rằng nhà
thơ Phạm Công Thiện đã đánh thức được nơi rất nhiều
người niềm say đắm với cuộc đời. Bất kể là nhân loại
thường trực đối diện với biết bao nhiêu là hố thẳm
và hoang vu, chính niềm say đắm này đã và đang dẫn chúng
ta đi qua biết bao nhiêu là ngọn đồi mây trắng...
Một
số tác phẩm gần đây của Phạm Công Thiện có lưu trữ
tại:
http://thuvienhoasen.org/index-tacgia-phamcongthien.htm,
http://quangduc.com/tacgia/phamcongthien.html,
http://buddhismtoday.com/tacgia/phamcongthien.htm.
Tác
giả Phan Tấn Hải còn là một cư sĩ, có các tác phẩm về
Phật giáo lưu trữ ở trang:
http://thuvienhoasen.org/index-tacgia-nguyengiac.htm.