KỆ
NGUYỆN HƯƠNG
(Quỳ
nguyện hương)
Trầm
thuỷ, rừng thiền hương sực nức,
Chiên
đàn vườn tuệ đã vun trồng.
Ðao
giới vót thành hình non thẳm,
Nguyện
đốt lò tâm mãi cúng dâng.
Nam
Mô Bồ Tát Hương cúng dường.
(3
lần rồi đứng lên)
TÁN
PHẬT
Ðại
từ, đại bi thương chúng sanh,
Ðại
hỷ, đại xả cứu hàm thức.
Tướng
đẹp sáng ngời dùng trang nghiêm,
Chúng
con chí tâm thành đảnh lễ:
- Chí
tâm đảnh lễ: Tất cả chư Phật ba đời, tột hư không khắp
pháp giới. (1 lạy)
- Chí
tâm đảnh lễ: Tất cả chánh pháp ba đời, tột hư không
khắp pháp giới. (1 lạy)
- Chí
tâm đảnh lễ: Tất cả Tăng, bậc Hiền thánh ba đời, tột
hư không khắp pháp giới. (1 lạy)
TÁN
PHÁP
Pháp
Phật sâu mầu chẳng gì hơn,
Trăm
ngàn muôn kiếp khó được gặp.
Nay
con nghe thấy vâng gìn giữ,
Nguyện
hiểu nghĩa chơn đức Thế Tôn.
Qui
kính Phật, Bồ Tát trên hội Bát Nhã.
(3
lần)
BÀI
SÁM HỐI SÁU CĂN
(Quỳ
tụng)
- Chí
tâm sám hối:
Chúng
con từ vô thủy kiếp đến nay,
Bỏ
mất bản tâm không biết chánh đạo.
Rơi
ba đường khổ, bởi sáu căn lầm;
Không
sám lỗi trước khó tránh lỗi sau.
1.-
Nghiệp căn Mắt là:
Nhân
ác xem kỹ, nghiệp thiện coi khinh,
Lầm
nhận hoa giả, quên ngắm trăng thật.
Yêu
ghét nổi dậy, đẹp xấu tranh dành,
Chợp
mắt dối sanh, mờ đường chánh kiến.
Trắng
qua xanh lại, tía phải vàng sai,
Nhìn
lệch các thứ, nào khác kẻ mù.
Gặp
người sắc đẹp, liếc trộm nhìn ngang,
Lòa
mắt chưa sanh, bản lai diện mục.
Thấy
ai giàu có, giương mắt mãi nhìn,
Gặp
kẻ bần cùng, lờ đi chẳng đoái.
Người
dưng chết chóc, nước mắt ráo khô,
Thân
quyến qua đời, đầm đìa lệ máu.
Hoặc
đến Tam bảo, hoặc vào chùa chiền,
Gần
tượng, thấy kinh mắt không thèm ngó.
Phòng
Tăng, điện Phật gặp gở gái trai,
Mắt
liếc mày đưa, đam mê sắc dục.
Không
ngại Hộ pháp, chẳng sợ Long thần,
Trố
mắt ham vui, đầu chưa từng cúi.
Những
tội như thế, vô lượng vô biên,
Ðều
từ mắt sanh, phải sa địa ngục.
Trải
hằng sa kiếp, mới được làm người,
Dù
được làm người, lại bị mù chột.
2.-
Nghiệp căn Tai là:
Ghét
nghe chánh pháp, thích lắng lời tà,
Mê
mất gốc chơn, đuổi theo ngoại vọng.
Sáo
đàn inh ỏi, Bảo khúc Long ngâm,
Văng
vẳng mõ chuông,coi như ếch nhái.
Câu
ví bài vè, bỗng nhiên để dạ,
Lời
kinh câu kệ, không chút lắng tai.
Thoảng
nghe khen hảo, khấp khởi mong cầu,
Biết
rõ lời lành, đâu từng ưng nhận.
Vài
ba bạn rượu, dăm bảy khách chơi,
Tán
ngắn bàn dài, châu đầu nghe thích.
Hoặc
gặp thầy bạn, dạy bảo đinh ninh,
Những
điều hiếu trung, che tai bỏ mặc.
Hoặc
nghe tiếng xuyến, bỗng nảy lòng dâm,
Nghe
nửa câu kinh, liền như tai ngựa.
Những
tội như thế, vô lượng vô biên,
Ðầy
ắp bụi trần, kể sao cho xiết.
Sau
khi mạng chung, rơi ba đường ác
Hết
nghiệp thọ sanh, lại làm người điếc.
3.-
Nghiệp căn Mũi là:
Thường
tham mùi lạ, trăm thứ ngạt ngào,
Chẳng
thích chơn hương, năm phần thanh tịnh.
Lan
xông xạ ướp, chỉ thích tìm tòi,
Giới
định huân hương, chưa từng để mũi.
Trầm
đàn thiêu đốt, đặt trước Phật đài,
Nghểnh
cổ hít hơi, trộm hương phẩy khói.
Theo
dõi hương trần, Long thần chẳng nể,
Chỉ
thích mùi xằng, trọn không chán mỏi.
Mặt
đào má hạnh, lôi kéo chẳng lìa,
Cây
giác hoa tâm, xoay đi không đoái.
Hoặc
ra phố chợ, hoặc vào bếp sau,
Thấy
bẩn thèm ăn, ưa nhơ kiếm nuốt.
Chẳng
ngại tanh hôi, không kiên hành tỏi,
Mê
mãi không thôi, như lợn nằm ổ.
Hoặc
chảy nước mũi, hoặc hỉ đàm vàng,
Bôi
cột quẹt thềm, làm nhơ đất sạch.
Hoặc
say nằm ngủ, điện Phật phòng Tăng,
Hai
mũi thở hơi, xông kinh nhơ tượng.
Ngửi
sen thành trộm, nghe mùi thành dâm,
Không
biết không hay, đều do nghiệp mũi,
Những
tội như thế, vô lượng vô biên,
Sau
khi mạng chung, đọa ba đường khổ.
Trải
ngàn muôn kiếp, mới được làm người,
Dù
được làm người, quả báo bệnh mũi
4.-
Nghiệp căn Lưỡi là:
Tham
đủ mọi thứ, thích xét ngon dở,
Nếm
hết các thứ, rõ biết béo gầy.
Sát
sanh hại vật, nuôi dưỡng thân mình,
Quay
rán cá chim, nấu hầm cầm thú.
Thịt
tanh béo miệng, hành tỏi ruột xông.
Ăn
rồi đòi nữa, nào thấy no lâu.
Hoặc
đến đàn chay, cầu thần lễ Phật,
Cố
cam bụng đói, đợi lúc việc xong.
Sáng
sớm ăn chay, cơm ít nước nhiều,
Giống
hệt người đau, gắng nuốt thuốc cháo.
Mắt
đầy mỡ thịt, cười nói hân hoan,
Rượu
chuốc cơm mời, nóng thay nguội đổi.
Bày
tiệc đãi khách, cưới gả cho con,
Giết
hại chúng sanh, vì ba tấc lưỡi.
Nói
dối bày điều, thêu dệt bịa thêm,
Hai
lưỡi bỗng sanh, ác khẩu dấy khởi.
Chửi
mắng Tam bảo, nguyền rủa mẹ cha,
Khinh
khi Hiền thánh, lừa dối mọi người.
Chê
bai người khác, che dấu lỗi mình,
Bàn
luận cổ kim, khen chê này nọ.
Khoe
khoang giàu có, lăng nhục người nghèo,
Xua
đuổi Tăng Ni, chửi mắng tôi tớ.
Lời
dèm thuốc độc, nói khéo tiếng đàn,
Tô
vẽ điều sai, nói không thành có.
Oán
hờn nóng lạnh, phỉ nhổ non sông,
Tán
dóc Tăng phòng, ba hoa điện Phật.
Những
tội như thế, vô lượng vô biên,
Ví
như cát bụi, đếm không thể cùng.
Sau
khi mạng chung, vào ngục Bạt thiệt
Cày
sắt kéo dài, nước đồng rót mãi.
Quả
báo hết rồi, muôn kiếp mới sanh,
Dù
được làm người, lại bị câm bặt.
5.-
Nghiệp căn Thân là:
Tinh
cha huyết mẹ, chung hợp nên hình,
Năm
tạng trăm hài, cùng nhau kết hợp.
Chấp
cho là thật, quên mất pháp thân,
Sanh
dâm, sát, trộm, bèn thành ba nghiệp:
a.-
Nghiệp Sát Sanh là:
Luôn
làm bạo ngược, chẳng khởi nhân từ,
Giết
hại bốn loài, đâu biết một thể.
Lầm
hại cố giết, tự làm dạy người,
Hoặc
tìm thầy bùa, đem về ếm đối.
Hoặc
làm thuốc độc, để hại sanh linh,
Chỉ
cốt hại người, không hề thương vật.
Hoặc
đốt núi rừng, lấp cạn khe suối,
Buông
chài bủa lưới, huýt chó thả chim,
Thấy
nghe tùy hỷ, niệm dấy tưởng làm,
Cử
động vận hành, đều là tội lỗi.
b.-
Nghiệp Trộm Cắp là:
Thấy
tài bảo người, thầm khởi tâm tà,
Phá
khóa cạy then, sờ bao mò túi.
Thấy
của thường trụ, lòng dấy khởi tham,
Trộm
của nhà chùa, không sợ Thần giận.
Không
những vàng ngọc, mới mắc tội to,
Ngọn
cỏ cây kim, đều thành nghiệp trộm.
c.-
Nghiệp Tà Dâm là:
Lòng
mê nhan sắc, mắt đắm phấn son,
Chẳng
đoái liêm trinh, riêng sanh lòng dục.
Hoặc
nơi đất Phật, chánh điện phòng Tăng,
Cư
sĩ gái trai, đụng chạm đùa giỡn.
Tung
hoa ném quả, đạp cẳng kề vai,
Khoét
ngạch trèo tường, đều là dâm nghiệp.
Những
tội như thế, vô lượng vô biên,
Ðến
lúc mạng chung, đều vào địa ngục.
Gái
nằm giường sắt, trai ôm cột đồng,
Muôn
kiếp tái sanh, lại chịu tội báo.
6.-
Nghiệp căn Ý là:
Nghĩ
vơ, nghĩ vẩn, không lúc nào dừng,
Mắc
mưu tình trần, kẹt tâm chấp tướng.
Như
tầm kéo kén, càng buộc càng bền,
Như
bướm lao đèn, tự thiêu tự đốt.
Hôn
mê chẳng tỉnh, điên đảo dối sinh
Não
loạn tâm thần, đều do ba độc.
a.-
Tội keo tham là:
Âm
mưu ghen ghét, keo cú vét vơ,
Mười
vốn ngàn lời, còn cho chưa đủ.
Của
chứ tợ sông, lòng như hũ chảy,
Rót
vàolại hết, nên nói chưa đầy.
Tiền
mục lúa hư, không cứu đói rét,
Lụa
là chất đống, nào có giúp ai,
Ðược
người mấy trăm, chưa cho là nhiều,
Mất
mình một đồng, tưởng như hao lớn.
Trên
từ châu báu, dưới đến tơ gai,
Kho
đụn chất đầy, chưa từng bố thí.
Bao
nhiêu sự việc, ngày tính đêm lo,
Khổ
tứ lao thần, đều từ tham nghiệp.
b.-
Tội nóng giận là:
Do
tham làm gốc, lửa giận tự thiêu,
Quắc
mắt quát to, tiêu tan hòa khí.
Không
riêng người tục, cả đến thầy tu,
Kinh
luận tranh dành, cùng nhau công kích.
Chê
cả sư trưởng, nhiếc đến mẹ cha,
Cỏ
nhẫn héo vàng, lửa độc rực cháy.
Buông
lời hại vật, cất tiếng hại người,
Không
nhớ từ bi, chẳng theo luật cấm.
Bàn
thiền tợ Thánh, trước cảnh như ngu,
Dù
ở cửa Không, chưa thành vô ngã.
Như
cây sanh lửa, lửa cháy đốt cây,
Những
tội trên đây, đều do nghiệp giận.
c.-
Tội ngu si là:
Căn
tánh dần độn, ý thức tối tăm,
Chẳng
hiểu tôn ty, không phân thiện ác.
Chặt
cây hại mạng, giết gấu gãy tay,
Mắng
Phật chuốc ương, phun Trời ướt mặt.
Quên
ơn quên đức, bội nghĩa bội nhân,
Không
tỉnh không xét, đều do si nghiệp.
Những
tội như thế, rất nặng rất sâu,
Ðến
lúc mạng chung, rơi vào địa ngục.
Trải
trăm ngàn kiếp, mới được thọ sanh,
Dù
được thọ sanh, lại mắc ngu báo.
Nếu
không sám hối, đâu được tiêu trừ,
Nay
trước Phật đài, thành tâm sám hối .
TỤNG
TAM QUY, NGŨ GIỚI:
1.-
TAM QUY:
Chúng
con nguyện suốt đời quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. (1 chuông,
1 lạy)
- Quy
y Phật: Chúng con trọn đời tôn thờ kính trọng, tu theo đức
Phật Thích Ca Mâu Ni, là bậc thầy giác ngộ sáng suốt của
chúng con.
- Quy
y Pháp: Chúng con trọn đời tôn thờ kính trọng, tu theo chánh
pháp từ kim khẩu đức Phật nói ra.
- Quy
y Tăng: Chúng con trọn đời tôn thờ kính trọng, tu theo những
Tăng sĩ tu hành đúng chánh pháp của Như Lai.
* Quy
y Phật rồi, chúng con không kính trọng tu theo Trời, thần,
quỷ, vật.
* Quy
y Pháp rồi, chúng con không kính trọng tu theo ngoại đạo,
tà giáo.
* Quy
y Tăng rồi, chúng con không kính trọng, làm thân với bạn
dữ, nhóm ác.
(1
chuông, 1 lạy).
2.-
NGŨ GIỚI:
Chúng
con nguyện trọn đời giữ giới không sát sanh. Nghĩa là chúng
con không giết người bằng mọi cách, không sai bảo kẻ khác
giết người, không vui thích thấy nghe kẻ khác giết người.
Cho đến những con vật lớn, chúng con cũng không nhẫn tâm
giết hại; mà hằng bảo vệ sanh mạng chúng sanh.
Chúng
con nguyện trọn đời giữ giới không trộm cướp. Nghĩa là
chúng con thấy tài sản, vật dụng của người, không khởi
lòng tham, lén lấy hay giựt lấy; mà luôn luôn bảo vệ tài
sản của người như tài sản mình.
Chúng
con nguyện trọn đời giữ giới không tà dâm. Nghĩa là chúng
con chỉ một vợ một chồng, chớ không có lòng mê hoa đắm
sắc, làm điều tà vạy, gây đau khổ cho gia đình mình và
gia đình người; mà hằng tán thán ca ngợi đời sống trinh
bạch.
Chúng
con nguyện trọn đời giữ giới không nói dối. Nghĩa là chúng
con không do lòng tham nói lời dối trá lừa bịp người, không
do lòng nóng giận nói lời hung dữ khiến người buồn rầu,
không do lòng hiểm ác nói lời vu oan, vu cáo khiến người
bị khó khăn tù tội; mà hằng nói lời chân thật ngay thẳng.
Chúng
con nguyện trọn đời giữ giới không uống rượu. Nghĩa là
chúng con không uống các thứ ruợu mạnh và nhẹ khiến tâm
trí rối loạn mờ tối, thân thể sanh nhiều bệnh hoạn, chuốc
lỗi lầm với thân nhân quyến thuộc; cho đến các thứ á
phiện, xì ke, ma túy thảy đều tránh xa.
Cúi
xin Tam bảo hộ trì khiến chúng con đầy đủ nghị lực, giữ
gìn năm giới trong sạch để được làm người tốt trong
đời này và đời sau.
TÂM
KINH TRÍ TUỆ CỨU CÁNH RỘNG LỚN
Khi
Bồ tát Quán Tự Tại hành sâu Bát Nhã Ba la mật đa, ngài
soi thấy năm uẩn đều không, liền qua hết thảy khổ ách.
(1 chuông)
Này
Xá Lợi Phất! Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc.
Sắc tức là không, không tức là sắc, thọ, tưởng, hành,
thức cũng lại như thế. (1chuông)
Này
Xá Lợi Phất! Tướng không của các pháp không sanh, không
diệt, không dơ, không sạch, không thêm, không bớt. Cho nên
trong tướng không, không có sắc, không có thọ, tưởng, hành,
thức; không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không có sắc,
thinh, hương, vị, xúc, pháp; không có nhãn giới cho đến không
có ý thức giới; không có vô minh cũng không có hết vô minh
cho đến không có già chết cũng không có hết già chết; không
có khổ, tập, diệt, đạo; không có trí huệ, cũng không có
chứng đắc. (1 chuông)
Vì
không có chỗ được, nên Bồ tát y theo Bát Nhã Ba la mật
đa, tâm không ngăn ngại. Vì không ngăn ngại nên không sợ
hãi, xa lìa hẳn điên đảo mộng tưởng, đạt đến cứu
cánh Niết bàn. Chư Phật trong ba đời cũng nương Bát Nhã
Ba la mật đa, được đạo quả Vô thượng Chánh đẳng chánh
giác. Nên biết Bát Nhã Ba la mật đa là đại thần chú, là
đại minh chú, là vô thượng chú, là vô đẳng đẳng chú,
hay trừ được hết thảy khổ, chơn thật không dối.
Vì
vậy, nói chú Bát Nhã Ba la mật đa, liền nói chú rằng:
"Yết
đế, yết đế, Ba la yết đế, ba la tăng yết đế, Bồ đề
tát bà ha". (3 lần)
LỄ
PHẬT TỔ
- Chí
tâm đảnh lễ: Quá khứ Phật Tỳ Bà Thi.
-
Chí tâm đảnh lễ: Hiện tại Phật Thích Ca Mâu Ni.
-
Chí tâm đảnh lễ: Vị lai Phật Di Lặc Tôn.
-
Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư Ca Diếp.
-
Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư A Nan.
-
Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư Bồ Ðề Ðạt Ma.
-
Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư Huệ Khả.
-
Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư Huệ Năng.
-
Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư Trúc Lâm Ðại Ðầu Ðà.
-
Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư Pháp Loa.
-
Chí tâm đảnh lễ: Tổ sư Huyền Quang.
-
Chí tâm đảnh lễ: Tất cả chư vị Tổ sư Ấn Ðộ, Trung
Hoa, Việt Nam.
CHÍ
TÂM PHÁT NGUYỆN
Một
nguyện nguồn linh thường trong lặng.
Hai
nguyện tạng thức dứt lăng xăng.
Ba
nguyện khối nghi đều tan nát.
Bốn
nguyện trăng định mãi tròn đầy.
Năm
nguyện pháp trần không khởi diệt.
Sáu
nguyện lưới ái lìa buộc ráng.
Bảy
nguyện suy nghĩ hành Thập địa.
Tám
nguyện nghe suốt bỏ tam thiên.
Chín
nguyện tâm vượn thôi nhảy nhót.
Mười
nguyện ý ngựa dứt cương yên.
Mười
một nguyện mở lòng nghe Phật dạy.
Mười
hai nguyện mến thích Tổ sư Thiền.
CHÍ
TÂM HỒI HƯỚNG
Chúng
con hồi tâm về Thánh chúng,
Ân
cần đầu cúi lễ Từ tôn.
Thềm
thang Thập địa nguyện sớm lên,
Chơn
tâm Bồ đề không thối chuyển.
PHỤC
NGUYỆN
(Chủ
lễ đọc)
Cửa
Thiền thường nghiêm tịnh,
Toàn
chúng mãi thuận hòa.
Phật
huệ chiếu sáng ngời,
Mưa
pháp hằng nhuần gội.
Phật
tử lòng tin sâu,
Ruộng
phước càng tăng trưởng.
Chúng
sanh sống an lạc,
Vui
hưởng cảnh thái bình.
Nơi
nơi dứt đao binh,
Mỗi
mỗi đều thành Phật.
(Ðứng
dậy lễ Phật).
Chí
tâm quy mạng lễ, mười phương vô thượng Tam Bảo. (3 lạy)