Nam
Bộ là nơi hội tụ nhiều dòng chảy văn hoá của các thành
phần dân cư khác nhau, và cho đến nay, nơi đây vẫn là một
vùng dân cư – dân tộc hỗn hợp gồm các tộc người Việt,
Khmer, Hoa, Chăm cùng các tộc người bản địa như người
Chơro, người Stiêng và một số tộc người di cư đến như
người Nùng, v.v…
Các
cộng đồng tộc người này có những hoạt động tín ngưỡng
nảy nở trong bối cảnh sinh thái nhân văn đặc trưng ở Nam
Bộ từ thời kì khẩn hoang cho tới nay. Trong bài này chúng
tôi đề cập đến nghi lễ “Cầu siêu - cầu an”. Cầu siêu
là cầu siêu thoát cho vong linh người chết. Cầu an là cầu
bình yên cho người sống. Hai nghi lễ này thường đi đôi
với nhau trong tín ngưỡng các dân tộc ở Nam Bộ, nhưng tuỳ
theo tính chất mỗi cuộc lễ mà yếu tố cầu an hoặc cầu
siêu sẽ trội hơn.
Các
nghi lễ của là lễ hội (ritual) được tiến hành dưới dạng
nghi lễ tôn giáo hoặc nghi lễ thế tục hay kết hợp cả
hai. Nghi lễ thế tục, trong một phạm vi nào đó cũng như
phong tục tập quán, là quy ước lặp đi lặp lại thành thói
quen ăn sâu thành nếp vào tâm thức tôn giáo, vào đời sống
xã hội – văn hoá, trong sinh hoạt của cộng đồng, được
mọi thành viên trong cộng đồng thừa nhận và cùng làm theo,
tạo sự gắn kết bền vững của cộng đồng(1).
Nghi
lễ thế tục trong mỗi cộng đồng tộc người không giống
nhau, do đó, có thể phân biệt tộc người này với tộc người
khác qua tiêu chí nghi lễ. Có những nghi lễ truyền thống,
có nghi lễ được cách tân, có nghi lễ cho tới nay vẫn phù
hợp với cuộc sống đương đại, nhưng cũng có những nghi
lễ bị xem là lạc hậu, lỗi thời, v.v…
Đối
với trường phái lí thuyết chức năng, Malinowski nhấn mạnh
đến chức năng tâm sinh lí của lễ nghi. Từ ví dụ nổi
tiếng của Malinowski về đời sống của người Trobriand ở
một đảo của Thái Bình Dương đã rút ra nhận định là
phù phép để trấn an chính con người về mặt tâm lí, mong
được an toàn… Lí thuyết Malinowski đưa ra giả thuyết là
môi trường càng bất trắc và kết quả càng bấp bênh thì
con người lại càng cần đến lễ nghi, phù phép(2).
Trong
bối cảnh lịch sử, kinh tế, văn hoá, xã hội tại Nam Bộ,
nhất là thời kì khẩn hoang, con người đã chịu nhiều thử
thách nghiệt ngã của thiên nhiên và cuộc sống, với tâm
lí bất an, đầy đe doạ bởi bệnh tật, chiến tranh, tai nạn…
nên họ rất cần có những nghi lễ mang sắc thái tôn giáo,
tín ngưỡng, phù phép để họ được trấn an.
Theo
Hy Văn Lương, khi nghiên cứu về nghi lễ, lễ hội, người
nghiên cứu không dừng lại ở miêu tả dân tộc học những
chi tiết về cơ cấu tổ chức và diễn biến của các nghi
lễ thờ cúng và sinh hoạt cộng đồng, mà cần gắn các nghi
thức lễ hội với bối cảnh kinh tế, xã hội vĩ mô và vi
mô, cũng như lịch sử quá trình tương tác xã hội diễn ra
trên thực tế ở địa phương; ngoài ra còn cần tìm hiểu
những mâu thuẫn xã hội, trong đó có khía cạnh giới và
các hệ quy chiếu khác nhau như đẳng cấp, chức nghiệp, gia
đình, dòng tộc, làng xóm… trong quan hệ giữa các chủ thể
hành động tham gia vào lễ hội.
Trở
lại với nghi lễ cầu siêu – cầu an của các cộng đồng
dân tộc tại Nam Bộ thì bối cảnh kinh tế - văn hoá – xã
hội khi tín ngưỡng đó mới phát sinh là một Nam Bộ thời
khẩn hoang, thiên nhiên hoang dã, dịch bệnh lan tràn trong khi
y học còn vắng bóng, tiếp đó là chiến tranh gây chết chóc,
tang thương và hiện nay thì con người còn là nạn nhân của
tai nạn giao thông… Trong bối cảnh đó, trước đây một
bộ phận người dân tại Nam Bộ cho là do bàn tay của các
thần ôn dịch, cô hồn, ma quỷ quấy phá. Để đối phó với
các thế lực vô hình này, người dân Nam Bộ phải dựa vào
tôn giáo, phù phép và điều này đã đưa họ xích lại gần
nhau trong một khối cộng đồng cư dân có chung không gian nghi
lễ - nghi lễ cầu siêu, cầu an.
Ý
nghĩa của nghi lễ “Cầu siêu – cầu an” là thí thực và
cầu siêu các cô hồn vất vưởng, các vong linh ma quỷ để
chúng không làm hại con người và từ đó cũng đem lại sự
an lành cho dân cư, cho làng xóm.
Thời
điểm cư dân ở Nam Bộ tổ chức nghi lễ cầu siêu – cầu
an thường vào khoảng tháng 2, tháng 3 Âm lịch, là những tháng
đầu mùa viêm nhiệt, lúc thời tiết dễ xảy ra dịch bệnh.
Tuỳ
đặc trưng mỗi địa phương và tuỳ theo nhu cầu, tâm lí
của mỗi dân tộc mà nghi lễ cầu siêu – cầu an diễn ra
tại các cơ sở tôn giáo tín ngưỡng khác nhau như chùa, đình,
đền, miếu… Nhưng dù diễn ra ở đâu thì nghi lễ cầu siêu
– cầu an của các tộc người Việt, Khmer, Hoa cũng đều
có sự kết hợp giữa Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, và
đặc biệt là vai trò chủ yếu của Phật giáo trong việc
cúng tế.
1.
Nghi lễ cầu siêu-cầu an của
người Việt
Tín
ngưỡng cầu siêu – cầu an của người Việt Nam Bộ khá
đa dạng, dưới đây là một số nghi lễ tiêu biểu:
1.1.
Nghi lễ Trai đàn cầu siêu–cầu an
Theo
niềm tin của cư dân, nghi lễ Trai đàn nhằm cầu siêu cho
người chết và qua đó cũng cầu an cho người sống. Trong
tín ngưỡng này không thể thiếu vai trò của Phật giáo vì
người dân quan niệm đạo Phật chuộng từ bi làm căn bản,
sự từ bi không chỉ với người sống mà còn với người
chết; đặc biệt là sự thương xót các vong linh khổ não,
vất vưởng. Chính vì lòng từ bi đó mà người ta lập Trai
đàn để cầu siêu cho các vong hồn được siêu thoát, hoá
giải sự quấy phá của ma quỷ, tránh được dịch bệnh,
tai ương để cuộc sống của cư dân được ấm no, yên ổn.
Hình
thức và quy mô của lễ hội diễn ra tại các địa phương
Nam Bộ cũng khác nhau. Ví dụ tại tỉnh Long An, lễ Trai đàn
(được dân gian hoá là lễ làm chay) tổ chức hằng năm tại
đình Tân Xuân, thị trấn Tầm Vu có quy mô rất lớn, không
chỉ bó hẹp trong phạm vi thị trấn mà còn mở rộng ra nhiều
địa phương khác trong vùng, số người tham dự khá đông,
khoảng 20.000 người. Còn tại những nơi khác như xã Khánh
Hậu (thị xã Tân An) thì nghi lễ Trai đàn tới 3 năm mới
đáo hạn một lần, số người tham dự chỉ khoảng vài trăm…
Hình
ảnh không thể thiếu của lễ Trai đàn chẩn tế cô hồn
là Tiêu diện đại sĩ (Tiêu diện có nghĩa là mặt xám, dân
gian gọi là ông Tiêu), được hiểu là vị Bồ Tát chuyên
hàng phục quỷ yêu, cứu độ chúng sanh. Tiêu diện đại sĩ
là một trong những hoá thân của đức Quán Thế Âm Bồ Tát(3).
Vị Bồ tát này từng phát nguyện đại bi: “Thệ cứu vớt
tất cả chúng sanh khổ nạn ở khắp mười phương để cho
đều được giải thoát an vui”. Hầu hết các hình tượng
về Quán Thế Âm Bồ Tát được thờ ở Việt Nam đều mang
sắc tướng nữ, rất mực từ bi, đôn hậu, dịu dàng, chỉ
riêng Tiêu diện đại sĩ thì thể hiện dưới sắc tướng
nam, là một vị thần dáng điệu oai nghiêm, trang phục võ
tướng Trung Hoa nhiều màu sắc sặc sỡ, tay phải cầm lá
cờ, tay trái chống nạnh, gương mặt quái dị hung dữ với
3 cái sừng nhọn trên đầu và trán, tượng trưng 3 ngọn núi
(tam sơn), hai mắt lồi to trợn ngược dữ tợn, sáng hoắc,
cái miệng rộng nhe răng lởm chởm, khạc ra lửa khói, đặc
biệt nhất là chiếc lưỡi thè cong dài xuống tới ngực.
Chiếc lưỡi là biểu tượng uy quyền, đặc trưng nhất của
ông Tiêu. Dân gian tin rằng lưỡi của Tiêu diện đại sĩ
có tác dụng “liếm” sạch cô hồn ma quỷ, sau đó ra điều
kiện nếu ma quỷ khuất phục thì được tha, còn không sẽ
bị ông Tiêu nuốt hết vào bụng. Niềm tin này được dân
gian xác tín, xem Tiêu diện đại sĩ quyền năng trừng trị,
thu phục, cải tạo ma quỷ. Có lẽ chính vì ý nghĩa đó mà
khi nhà chùa tổ chức chẩn tế cho cô hồn, ma quỷ, thì đều
dùng hình tượng ông Tiêu(4). ở đây cần phân biệt nghi lễ
cầu siêu – cầu an với nghi lễ cúng cô hồn “xá tội vong
nhân” vào rằm tháng Bảy. Nghi lễ cúng cô hồn vào rằm
tháng Bảy gắn với lễ “Vu Lan bồn” của Phật giáo, diễn
ra ở chùa mang tính chính thống của nghi lễ tôn giáo, còn
nghi lễ cầu siêu – cầu an không liên quan đến lễ Vu Lan,
tuy cũng cần đến vai trò của các nhà sư Phật giáo nhưng
nó là nghi lễ mang tính chất tín ngưỡng của cộng đồng
cư dân.
Ví
dụ “Lễ hội làm chay” ở thị trấn Tầm Vu, huyện Châu
Thành, tỉnh Long An, diễn ra vào rằm tháng Giêng với rất
nhiều nghi thức(5). Ngày đầu tiên, người dân tổ chức đám
rước, dẫn đầu là các vị chức sắc của đình bưng khay
trầu rượu đến chùa Linh Phước để thỉnh tượng Tiêu
diện đại sĩ. Tượng cao trên 2m, bằng giấy, được đưa
về Linh Võ tự, nơi thờ Quan Thánh đế quân. Ngày hôm sau,
người dân Thỉnh cổ bánh. Họ chuẩn bị nhiều mâm bánh
cấp, bánh cúng - là loại bánh thường dùng để cúng cô hồn.
Đoàn người lại tới Linh Võ tự rước hình tượng Tiêu
diện đại sĩ về sân đình. Sau đó, nhà sư thực hiện nghi
thức “Thỉnh cô hồn”, tức là đi rước vong (còn gọi
là chiêu, hay rao binh).
Theo
sự giải thích của các cụ già thì địa phương nào tổ
chức lễ Trai đàn nhiều thường nơi đó có nhiều người
chết. Ngày xưa, người ta chết vì dịch bệnh, sau đó chiến
tranh là nguyên nhân làm nhiều người chết, và hiện nay, tai
nạn giao thông là hiểm hoạ gây chết chóc cho con người nhiều
nhất. Người dân tin rằng, những nghi thức đi thỉnh
vong, rao binh rất nhân đạo, bởi vì vong linh những người
chết bờ, chết bụi, chết ngoài đường sá nếu không được
siêu thoát sẽ bơ vơ vất vưởng khổ não. Họ chỉ có thể
nghe được tiếng chuông, tiếng kêu gọi của nhà sư để
đi theo về chùa Phật, được nghe kinh cầu siêu, giải oan
và siêu thoát. Phải chăng chính vì ý nghĩa nhân văn đó mà
dân làng tham gia vào đoàn rước vong rất đông, dù phải đi
bộ cả chục cây số. Như vậy, Phật giáo tại địa phương
đã tìm được tiếng nói chung với tín ngưỡng dân gian.
Đoàn
người đi rước vong tại thị trấn Tầm Vu rất đông. Ngày
xưa, dân làng chỉ đi bộ rước vong, ngày nay người ta đi
xe đò, xe máy. Trên các con đường liên xã bụi bốc mù trời
vì hàng mấy chục chiếc xe đò chở đông đúc người và
đi theo xe là hàng trăm chiếc xe máy. Mặc cho đám đông dân
chúng với cơn lốc xe cộ và khói bụi mù mịt đường đất,
các vị sư vẫn an nhiên tự tại làm nhiệm vụ của mình.
Đi đến các ngã tư giao lộ, các nhà sư lặng lẽ bày bàn
hương án, gióng chuông, đọc kinh kêu gọi vong hồn đi theo
mình. Song song với rước vong đường bộ là rước vong đường
sông, trên ghe cũng có nhà sư, có bàn hương án, cũng có chuông
gọi hồn… Ghe chở đầy người, xuôi đi một số ngả đường
sông để nhà sư rước vong cô hồn tử nạn trên sông nước.
Vì
sao cư dân Nam Bộ chú trọng đến tín ngưỡng “cô hồn đường
biển”, cúng “thuỷ đạo trường sa”? Phải chăng đó là
những hồi ức về tổ tiên người Việt từ miền Trung, Đàng
Trong đã vượt biển vào Nam Bộ tìm đất sống. Trên con đường
vượt biển vào Nam bằng ghe bầu, có lẽ họ đã gặp không
ít tai ương, nhiều người bỏ mạng, do đó nghi thức rước
vong đường biển, đường sông là một dấu ấn khá đặc
trưng của lịch sử và văn hoá Nam Bộ.
Ngày
xưa, các chùa làng thường tham gia rước vong đường thuỷ.
Nếu rước vong đường bộ chỉ diễn ra một ngày thì rước
vong đường sông phải mất một tháng. Ví dụ chùa Thiên Phước
(xã Khánh Hậu, thị xã Tân An, tỉnh Long An) vào khoảng trước
năm 1945 đã tổ chức Chiêu u đường sông rất lớn. Các nhà
sư đi trên 2 chiếc ghe to (loại ghe có thể chở khoảng 3 thiên
lúa), 2 chiếc ghép lại liền nhau như căn nhà. Trên ghe bày
đầy đủ bàn Phật, bàn vong, tượng Tiêu diện đại sĩ bằng
giấy. Ghe của dân làng nối đuôi nhau dài dằng dặc tháp
tùng đoàn rước vong.
Buổi
tối, người ta làm nghi thức “phóng đăng”. Trên ghe đặt
bàn hương án và thức cúng cô hồn, sau đó ghe từ từ đi
ra sông, thả đèn nến thắp sáng trên mặt nước. Đúng 12
giờ khuya, người ta thực hiện nghi thức xô giàn. Những chiếc
đụn tre treo đầy tiền, bánh kẹo, thức ăn được đẩy
xuống đất cho mọi người tranh giành. Từng thúng bánh cấp,
bánh cúng được bưng đổ tràn xuống cho đám đông chụp,
giật, tạo thành một cảnh tượng hỗn loạn. Người dân
tin rằng nếu có được những đồng tiền và bánh trái do
nhà sư cúng tế sẽ đem lại may mắn. Những thức cúng cho
cô hồn người Việt xưa còn gọi là cúng thí rế, vì thức
ăn để trên cái rế nồi.
Tiếp
theo, người ta phóng hoả tượng Tiêu diện đại sĩ. Giữa
đêm khuya, hình ảnh ông Tiêu cháy rực thành một đám lửa
dữ dội. Cuối cùng, người trong đình thực hiện nghi thức
“tống ôn tống phong” tống tiễn thần “ôn hoàng dịch
lệ, cô hồn các đẳng”. Một chiếc ghe bằng giấy khá to
đặt trên bè chuối. Trên ghe có đầu heo, rượu, nhang, gạo,
muối… Sau một hồi trống tống tiễn, chiếc ghe “tống
ôn tống phong” được thả trôi sông với ý nghĩa đem đi
theo nó mọi điều xui xẻo, dịch bệnh.
Nghi
lễ Trai đàn cầu siêu – cầu an nếu thực hiện ở chùa
thì không gian lễ hội mang màu sắc Phật giáo đậm nét hơn.
Các chùa lập đàn để thực hiện các nghi thức “Trai đàn
chẩn tế” cho những vong hồn bơ vơ, đói khát, không nơi
nương tựa.
Tấm
lòng thương xót những “vong linh” xiêu mồ lạc mả, nhất
là trong đời sống hiện nay, tai nạn giao thông xảy ra như
một nỗi ám ảnh lớn, nên nhà sư và cư dân địa phương
dành một ngày để đi gọi các vong linh vất vưởng về dưới
mái ấm của chùa để được cứu rỗi.
1.2.
Nghi lễ cầu an cúng bổn xóm
Cầu
mong thần linh - cụ thể là Thổ thần (Thần đất) – phù
hộ cho người dân trong vùng được an cư lạc nghiệp là một
dạng tín ngưỡng phổ biến tại Nam Bộ. Khi làm lễ cầu
an tức là nơi đó đã từng không bình an nên người ta mới
cần phải cúng lễ. Truy ngược về nguồn gốc tín ngưỡng
này có thể hiểu được bối cảnh lịch sử, kinh tế, xã
hội của một vùng đất vốn đã từng trải qua nhiều tai
ương. Ví dụ nghi lễ “Cúng bổn xóm” của người Việt
ở xã Tân Tây, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang, một
lễ hội được tổ chức vào hai ngày mùng 4 và mùng 5 tháng
Giêng hằng năm.
Lễ
hội diễn ra tiếp ngay sau Tết Nguyên Đán, mục đích cầu
an, cầu “phong điều vũ thuận” cho thôn xóm; bên cạnh đó
lễ cúng còn thực hiện nghi thức cầu siêu cho các linh hồn
bơ vơ đói lạnh.
Ngày
đầu tiên, người ta dựng rạp, quay lợn và làm một chiếc
tàu to bằng giấy màu hoặc kết bằng bè chuối. Trên tàu
bày các thức cúng như hoa quả, cơm vắt, muối, trà, gạo,
đặc biệt tàu phải vẽ hai con mắt như một hình thức “khai
quang điểm nhãn” (theo niềm tin của người dân, năm nào
quên điểm nhãn cho tàu thì năm đó mùa màng thất bát, đói
kém, dịch bệnh hoành hành). Sau khi làm xong, chiếc tàu sẽ
được nhà sư và các vị cao niên trong làng khiêng đặt lên
bàn thờ phủ lụa đỏ cùng các lễ vật cúng. Ngoài ra, người
ta còn bày cúng các món sau:
- Một
cây dao phay
-
Một cây phảng phạt cỏ
-
Một cây cuốc
-
Một cây búa
-
Một tấm thớt chặt thịt
Các
lễ vật này phần lớn là nông cụ, đặc biệt cây phảng
là dụng cụ phạt cỏ ở vùng môi sinh đất phèn, nơi không
thể sử dụng cày. Các nông cụ trên thể hiện công việc
đồng áng của người dân, phải chăng cúng bày các món đồ
vật này người dân cầu mong cho việc canh tác được thuận
lợi?
Đúng
12 giờ, nhà sư bắt đầu đọc kinh cầu siêu, mời các vong
linh cô hồn về hưởng vật thực cúng kiếng.
Tiếp
đó, nhà sư tụng kinh cầu an, nội dung cầu “quốc thái dân
an” cho người dân trong xóm được an bình, không bị nạn
binh đao chiến tranh. Tìm hiểu kĩ, các cụ già tại đây cho
biết cả thời kì chống Pháp và chống Mỹ vùng này thường
xảy ra giao tranh ác liệt, nhiều người dân vô tội bị thương
vong, nên trong vùng rất quan tâm tổ chức lễ cầu an. Cuối
buổi lễ là bữa cơm cộng cảm của cả dân làng, riêng lễ
vật là con heo quay dành lại cho buổi cúng tiếp ngày hôm sau,
tức ngày mùng 5 Tết là buổi chính lễ. Người ta xẻ heo
quay xếp thành 3 đĩa để đủ các bộ phận của heo, mỗi
thứ một miếng nhỏ, ngoài ra còn xếp 12 bát cháo vừa nấu
chín tới để cúng Thập nhị quỷ vương. Dân làng đứng
theo “nam tả nữ hữu”, già trước trẻ sau cùng quỳ lạy
lắng nghe nhà sư đọc văn tế quỷ thần, đọc kinh cầu siêu,
cầu an. Cuối cùng, cư dân tiến hành nghi thức “đưa tàu”
với ý nghĩa “tống ôn tống phong” cho ma quỷ và mọi điều
xui xẻo, rủi ro trôi đi xa. Để thực hiện nghi thức này,
một nhà sư đi đầu, tay cầm chuông mõ đọc kinh mở đường,
tiếp sau là các vị cao niên bưng khay nhang, đèn, trà, rượu
và trầu cau têm sẵn. Một nhóm thanh niên khiêng chiếc tàu
đi theo; cuối cùng là người thầy cúng vừa đi một quãng
vừa cắm xuống đất các lá bùa ếm, đó là những cây cờ
nhỏ bằng giấy màu đỏ. Đoàn người ra đến kênh rạch,
vị sư đọc kinh lần cuối, sau đó người ta đặt trầu cau,
nhang đèn, giấy tiền vàng mã, muối, gạo, hoa quả vào tàu
rồi kính cẩn thả tàu tống tiễn.
Như
vậy, nghi lễ “Cúng bổn xóm” là tín ngưỡng truyền thống
của người Việt, mang tính chất lễ nghi nông nghiệp, kết
hợp cầu an cho người sống và cầu siêu cho vong linh người
chết bằng tâm lí vừa kiêng sợ vừa thương xót.
2-
Nghi lễ cầu siêu – cầu an của người
Khmer
Hằng
năm, người Khmer Nam Bộ tổ chức lễ cầu an (bon kònsal) tại
các miếu Neak Tà của xóm, gọi là cúng “Ông Tà chủ xóm”.
Neak Tà là thần bảo hộ phum srock, khu vực dân cư, ruộng
đồng. Vào ngày cúng, các vị sư Khmer được thỉnh tới đọc
kinh cầu phúc ở miếu, người dân tề tựu đông đúc, dâng
cúng đầu heo, lễ vật trái cây cho Neak Tà.
Với
cư dân Khmer sống ở vùng biển, ví dụ tại xã Vĩnh Châu,
huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, người Khmer thực hiện nghi
thức cầu siêu – cầu an qua lễ cúng biển hoặc lễ phước
biển (Chrôi rum check). Lễ này tổ chức hằng năm vào ngày
rằm tháng 2 Âm lịch. Lễ này nhằm tạ ơn biển cả đã ban
cho con người tôm cá dồi dào và cầu an cho người đi biển
được thuận buồm xuôi gió, đánh bắt nhiều hải sản. Ngoài
ra, lễ cúng biển còn là nghi thức cầu siêu cho những ngư
dân bỏ mình ngoài biển cả. Các vị sư chùa Srei Cròsăng
và cư dân trong vùng đã xây một ngôi tháp hướng ra biển.
Vào lễ “cúng biển”, các vị sư và đồng bào Khmer lập
đàn làm phước tại tháp này để cầu siêu cho vong hồn những
ngư dân chết ngoài biển, cầu các vong hồn đó phù hộ cho
người đi biển bình an và thu hoạch được nhiều tôm cá.
Nghi thức cầu an, cầu phước được thể hiện qua tục đắp
núi cát(6).
Tại
những vùng đa dân tộc, tín ngưỡng cầu an – cầu siêu thể
hiện sự đan xen, giao lưu văn hoá khá đặc sắc. Ví dụ tại
huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng, lễ cầu an – cầu siêu pha
trộn sắc thái văn hoá Việt – Khmer đậm nét. Trước lễ
cúng chính vài ngày, sáng nào các vị sư Khmer cũng được
cư dân Việt – Khmer mời đến một số địa điểm, thường
là sân nhà người dân nào đó trong xóm để đọc kinh cầu
an. Cư dân ngồi nghe kính cẩn.
Lễ
cúng chính diễn ra tại ngôi miếu cổ của người Việt ở
ấp Phú Bình, xã Phú Tân, huyện Mỹ Tú. Nơi sân miếu người
ta che rạp để các vị sư Khmer đến tụng kinh từ sáng đến
tối. Theo người dân địa phương kể thì vùng này thời xưa
dịch bệnh lan tràn, người chết nhiều không kể xiết, do
đó hằng năm lễ cúng cầu siêu – cầu an nơi đây đều
được tổ chức quy mô. Người đến miếu cúng rất đông,
khói nhang nghi ngút. Một “tàu khách” bằng giấy khá to xếp
đầy lễ vật cúng cô hồn như thịt, trái cây, muối, gạo…(7)
Sau khi cúng, dân làng khiêng chiếc tàu ra sông thả cho trôi
đi thật xa để “tống ôn tống phong”.
Người
Khmer còn có những dạng “cầu siêu” mang nghi thức tôn giáo,
như Hội linh (Bôn Pchum bôn). Hằng năm, từ ngày 16 đến 30
tháng 8 Âm lịch, đồng bào lên chùa làm lễ pchum bôn để
tạo phước cho linh hồn thân nhân quá vãng. Người ta nấu
cơm nếp, vắt thành từng cái bánh tròn gọi là “bai banh”
rồi đem lên chùa nhờ sư sãi tụng kinh cầu siêu cho linh hồn
thân nhân, cho vong linh của cô hồn(8). Người Khmer quan niệm
nếu không ai dâng cúng “bai banh” và nếu các sư không cầu
siêu thì các linh hồn sẽ đói lạnh, không siêu thoát. Người
ta đem “bai banh” để ở cổng chùa cho người nghèo và còn
đem những bánh này bẻ nhỏ rắc ở ruộng để “cầu an”
cho mùa màng, ruộng vườn được tươi tốt.
Sâu
sắc hơn là lễ cầu siêu “Bôn Bang skâul”. Lễ này diễn
ra trong dịp Mừng năm mới (Chol chnam thmây) của người Khmer.
Là tín đồ Phật giáo, người Khmer tin tưởng rằng dù người
qua đời ở đâu hay chết như thế nào cũng đều là chúng
sinh của Phật, linh hồn người chết được Phật độ trì,
nên họ trông chờ được các vị sư cầu siêu cho siêu thoát.
Song song đó, người Khmer cũng thực hiện nghi thức cầu an,
cầu phước bằng tục đắp núi cát.
3.
Nghi lễ cầu siêu – cầu an của người
Hoa
Nghi
thức cúng cầu siêu – cầu an của người Hoa được lồng
trong các lễ hội có nội dung lớn hơn, mang tính chất tín
ngưỡng phức hợp. Hàng chuỗi nghi lễ diễn ra với rất nhiều
chi tiết mà để hiểu hết ý nghĩa các chi tiết ấy không
phải là điều dễ dàng.
3.1.
Tín ngưỡng cầu siêu – cầu an trong “lễ hội Chùa Bà”
Nghi
lễ diễn ra tại miếu Thiên Hậu, phường Bửu Long, thành
phố Biên Hoà. Tiền thân ngôi miếu này là miếu Tổ sư, có
niên đại xây dựng khoảng 200 năm nay, vốn thờ Ngũ Đăng
tổ sư (Tam vị tổ, gồm các Tổ sư nghề chạm đá, nghề
mộc và nghề rèn). Có lẽ để thu hút nhiều người đến
cúng bái nên từ lâu ngôi miếu này đã có sự phối thờ
Thiên Hậu Thánh Mẫu và Quan Thánh Đế quân ở bàn thờ tả
hữu hai bên của bàn thờ chính Tam vị tổ sư.
Đáo
lệ 3 năm một lần, nghi lễ cúng Tam vị tổ sư và Thiên Hậu
Thánh Mẫu diễn ra trọng thể trong 3 ngày, từ ngày 10 đến
ngày 13 tháng 6 Âm lịch. Nội dung chính của lễ hội là lập
trai đàn, giải oan, cầu siêu cho các vong linh, cô hồn và cầu
an - cầu phúc cho cộng đồng cư dân địa phương tránh được
những điều rủi, điều xấu, cho công việc làm ăn được
suôn sẻ.
Nghi
lễ cầu siêu – cầu an này của cộng đồng người Hoa khác
người Việt ở chỗ nếu lễ cầu an – cầu siêu của người
Việt thiên về vai trò của Phật giáo, thì ở người Hoa lại
thiên hơn về vai trò của Đạo giáo. ít nhất có khoảng 6
vị đạo sĩ người Hoa đóng vai trò chủ tế trong nghi lễ
cầu siêu – cầu an tại ngôi miếu này. Cuộc lễ được
định danh là “Lễ hội Chùa Bà”. Khuôn viên trước miếu
dựng 5 cây phướn treo 5 dãy lồng đèn hình ống bằng giấy
trắng, chữ Hán màu đỏ. Dãy ở giữa dài nhất với 20 chiếc
đèn lồng cúng Ngũ Đăng Tiên sư, 4 dãy đèn lồng hai bên,
mỗi bên 8 chiếc, cúng hai vị Tổ sư: Uất Trì tiên sư, Lỗ
Ban tiên sư cùng Thiên Hậu Thánh Mẫu và Quan Thánh Đế quân.
Dưới cây phướn bày bàn hương án để đạo sĩ cúng tế.
Thể
hiện rõ nét nhất nghi lễ cầu siêu vong linh cô hồn là tượng
Tiêu diện đại sĩ bằng giấy sặc sỡ đặt bên trái cây
phướng, cùng tượng các vị thần độ trì, giải oan cho cô
hồn đường sông, đường bộ.
Tín
ngưỡng cầu siêu cho vong linh theo quan niệm của Đạo giáo
được thể hiện như sau: Lập đàn cúng tế Tam Thánh, chủ
yếu là Thái Thượng Lão quân. Trong khuôn viên miếu còn đặt
bàn hương án của vị Phán Quan chuyên xử án ở nơi âm phủ.
Vị
chủ tế là đạo sĩ mặc áo đỏ tụng kinh Địa Tạng (bằng
tiếng Quảng Đông) để cầu siêu cho các vong linh.
Đám
rước kiệu Bà diễn ra theo lộ trình đường bộ, có thỉnh
bài vị của Thiên Hậu Thánh Mẫu cùng bài vị của Tiên cô
và Thổ công. Các gia đình trên lộ trình đám rước đi qua
đều bày mâm cúng hoa quả để nghinh đón và sau đó bưng
các mâm cúng đi theo đám rước vào miếu. Các mâm này đựng
phẩm vật để cúng cầu siêu cho các vong linh.
Ngày
hôm sau, các đạo sĩ khai kinh cầu an tại Trai đàn, nơi để
hình ông Tiêu và các lễ vật của cư dân đem đến miếu
để cúng cô hồn, siêu độ chúng sinh. Sau đó, các đạo sĩ
nhập đàn, tụng kinh cầu siêu và thực hiện nhiều nghi thức
để trừ tà khí và xua đuổi ma quỷ. Đến tối, người ta
thực hiện nghi thức phóng đăng, phóng sinh cầu siêu cho vong
hồn, vốn là nghi thức có nguồn gốc Phật giáo. Người ta
tổ chức đám rước bằng đường thuỷ tượng trưng. Kiệu
Bà dừng lại ở bên sông Tân Thành. Nghi lễ cầu siêu –
cầu an diễn ra ở bến sông này vì tương truyền 300 năm trước,
tại vùng sông nước nơi đây có nhiều người Hoa (người
Hẹ) đã chết khi họ ngược sông Đồng Nai đi từ Cù Lao
Phố tới lập nghiệp. Do đó, bến sông này làm nơi phóng
đăng cầu siêu các cô hồn tử nạn đường sông, đường
biển. Người ta đặt phía trước đàn 360 bộ áo giấy trải
kín mặt đất, 18 bát thức ăn chay cúng cô hồn, gồm 5 món:
bún gạo, tàu hủ, củ cải muối, đậu que xào, đậu trắng
(tượng trưng ngũ hành). Vị pháp sư đọc kinh cầu siêu cô
hồn và bắt ấn xua ma quỷ, sau đó đốt giấy tiền và phóng
đăng 36 chiếc đèn hoa sen xuống sông, như một hình thức
ma thuật cầu siêu thoát cho vong linh, cô hồn. Ngoài phóng đăng,
người ta còn phóng sanh chim sẻ, quan niệm giải oan cho các
cô hồn, xua đi những điều xấu, điều rủi.
Nghi
thức quan trọng tiếp theo là lập Trai đàn và làm lễ bắc
cầu. Người ta dùng một tấm vải đỏ thật dài rắc bông
vạn thọ, tượng trưng cho nghi thức dẫn đường cho cô hồn.
Đến 2 giờ là lễ cúng thí xô giàn. Thức cúng có các đụn
đồ chay như bánh bao, cải xanh, xôi nếp trắng… Sau đó,
pháp sư vừa tụng kinh cầu siêu vừa rung chuông (tiếng chuông
thức tỉnh các cô hồn tề tựu lại để siêu thoát). Cuối
cùng, người ta phóng hoả tượng Tiêu diện đại sĩ, Phán
quan cùng các hình nhân khác và 52 chiếc đèn lồng. Đông đúc
dân cư ùa vào giành giật đèn lồng và những sản vật cúng
thí(9).
Nhìn
chung, nghi lễ cầu siêu – cầu an của người Hoa nổi trội
tính chất Đạo giáo, đồng thời nó vẫn thể hiện sắc
thái Phật giáo trong nghi thức cầu siêu, cúng cô hồn.
3.2.
Nghi lễ cầu siêu – cầu an của người Hoa Triều Châu
Nghi
lễ này được lồng vào nội dung của ngày cúng cô hồn vào
rằm tháng Bảy Âm lịch. Tại xã Vĩnh Hải, huyện Vĩnh Châu,
tỉnh Sóc Trăng, cộng đồng người Hoa Triều Châu tổ chức
cúng cô hồn tại miếu Thiên Hậu. Theo thông lệ, nghi lễ
cúng vong cô hồn được giao cho một nhà sư người Việt.
Từ sáng, vị sư này đến miếu tụng kinh. Sau đó, ông cùng
với các thành viên của Ban Quản trị miếu và đông đảo
người dân tháp tùng đi bộ từ ngã ba Lạc Hoà ra tới biển
rồi vòng trở lại miếu.Việc rước vong theo lộ trình này
có ý nghĩa là rước cả cô hồn đường bộ lẫn cô hồn
đường biển.
Nhà
sư vừa đi rước vong vừa tụng kinh, gõ chuông, mời chư vị
cô hồn về miếu để nhận lễ cúng thí thực. Trở về miếu,
người ta đã chuẩn bị sẵn cơm canh, chè xôi để cúng cô
hồn bằng thức mặn lẫn thức chay.
Khoảng
8 giờ, người ta bắt đầu nghi thức cúng Ông Bổn. Tại đền,
miếu, Ông Bổn là Phước Đức Chính thần, vị thần ban phước
đức tài lộc, bảo hộ dân cư(10).
Để
tiếp xúc được với Ông Bổn, có một người trong xóm chuyên
nhập đồng làm người trung gian truyền thông điệp của Ông
Bổn cho cư dân địa phương. Người nhập đồng này dân cư
cũng quen gọi là Ông Bổn. Người này có khả năng dị thường
là khi cúng tế Ông Bổn, ông ta có thể xỏ một chiếc cây
nhọn bằng bạc xuyên từ má bên này sang má bên kia nhưng
không đau, không chảy máu. Trong lễ cúng vào rằm tháng Bảy,
năm 2003, Quan Thánh Đế quân “nhập” vào ông này. Tay ông
ta cầm thanh long đao múa may, trèo lên cả bục cao trước miếu.
Dưới sự ứng nhập của thần linh, ông ta viết trên giấy
đỏ và phát cho người dân, giấy đó sẽ độ trì cho người
dân được an lành. Như vậy, Ông Bổn là người có khả năng
“nhập thần” và điều khiển được thần linh, ma quỷ
để đạt mong muốn của họ. Cuối cùng là nghi thức “xô
giàn”. Nghi thức này được thể hiện tại một thửa ruộng
trống, giữa ruộng người ta đóng một cái sàn cao, người
đứng trên đó bốc từng nắm thẻ đựng trong giỏ ném xuống
ruộng cho người dân tranh giành. Hàng ngàn người, hầu như
chỉ toàn nam giới xô nhau nhặt thẻ. Thẻ bằng gỗ, nhỏ
như quân bài tứ sắc, bên trên viết bằng chữ Hán những
sản vật cúng thí, ví dụ: gạo, thịt, rau, củ.
Người
Hoa ở xã Vĩnh Hải từ xưa tới nay tin rằng nếu năm nào
không tổ chức cúng thí giàn cô hồn và cầu an thì năm đó
trong làng sẽ xảy ra nhiều chuyện xui xẻo, rủi ro, làm ăn
khó khăn, do đó năm nào miếu cũng tổ chức cúng.
Như
vậy, nghi lễ cầu siêu – cầu an ở đây cũng thể hiện
rõ nét lòng mong ước của người dân được thần linh che
chở cho xóm làng, dân cư được bình yên, làm ăn thuận lợi,
đồng thời người ta cũng tin rằng ma quỷ, cô hồn có được
thí thực và siêu độ sẽ không làm hại dân lành, để cho
dân cư được bình yên.
4.
Nghi lễ cầu an – cầu siêu trong lễ
hội Tả tài phán của người Nùng
Nghi
lễ này của nhóm tộc người Nùng hiện cư trú tại quận
Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh, vùng Sông Mao tỉnh Bình Thuận, tỉnh
Đồng Nai, v.v…(11) Lễ hội Tả tài phán(12) diễn ra
tại miếu Quan Âm của cộng đồng cư dân này.
Người
đóng vai trò quan trọng trong lễ hội là thầy cúng. Dân gian
tin rằng các ông thầy cúng của cộng đồng dân cư này có
sức mạnh chi phối, trấn áp được ma quỷ. Có thể nói,
các thầy cúng trong cộng đồng cư dân này ở Nam Bộ là những
Shaman. Thời gian cuộc lễ không quy định sẵn mà tuỳ thuộc
vào tình hình từng vùng, đặc biệt mỗi khi trong vùng có
dịch bệnh, mất mùa hay có điều gì bất an là cư dân trong
vùng tổ chức cúng. Mục đích của lễ hội Tả tài phán
là cầu an cho xóm làng, cho cư dân và cầu siêu cho vong linh
người chết.
Nếu
trong nghi thức cúng của người Việt, người Hoa thường dùng
tượng Tiêu diện đại sĩ để chiêu nạp vong hồn thì người
Nùng trong lễ hội Tả tài phán dùng hình tượng Sơn đại
nhân, đó là một người cao lớn, nét mặt dữ tợn. Sơn đại
nhân có nhiệm vụ cung thỉnh cô hồn trong khu vực dân cư
sinh sống, đồng thời có trách nhiệm trấn giữ nơi hành
lễ không cho tà ma xâm nhập. Hai bên tả hữu của Sơn đại
nhân có những cây nêu cầu thí của các gia chủ (là cây tre
treo tấm vải đỏ dài viết nội dung cầu tế). Nếu nhằm
mục đích cầu phúc thì vải đó nối vào Văn đàn (nơi thờ
Tam Bảo), còn cầu thọ thì nối vào võ đàn (nơi thờ Ngọc
Hoàng và các vị thần linh). Khu vực gian thờ cúng chính của
lễ hội là trung tổ đường, nơi được lập trai đàn.
Ngày
thứ hai, người ta cúng thí thực cho cô hồn, rải tiền bạc
vàng mã, gạo, muối, bánh kẹo khắp nơi làm lễ. Các thầy
cúng làm lễ trấn đàn, các pháp sư vừa đi vừa làm động
tác múa trừ tà, trấn quỷ để ma quỷ không xâm phạm.
Ngày
thứ ba, người ta thỉnh Sơn đại nhân chiêu vong hồn. Các
pháp sư thỉnh rước Sơn đại nhân đi trong thôn xóm để
chiêu u, dân chúng đi theo rước vong rất đông. Nơi nào Sơn
đại nhân được đặt dừng lại thì nơi đó các pháp sư
làm phép, tụng niệm pháp chú thu phục vong hồn.
Ngày
thứ tư, nhiều nghi thức cúng cầu an, cầu phúc được cử
hành. Người ta làm lễ rước thuỷ thần và dựng cây nêu
lớn gọi là Cửu lườn trúc. Sau cùng là lễ trảm tế vật
hiến sinh (bò, heo). Các thày cúng thực hiện nghi trảm, xách
đầu con vật tế rải huyết trên hai hàng chén đựng lễ
vật như gạo, mắm, muối, bánh kẹo… bày dọc sân thí thực
cho các vong hồn. Nghi thức hiến sinh ở đây có lẽ là tế
thần rừng và cô hồn để cầu bình yên. Các pháp sư tụng
niệm kinh chú và làm nghi thức tượng trưng khởi binh
phá ngục để cứu rỗi các vong hồn được siêu thoát. Các
gia chủ cầu siêu chuyền bát nhang luồn qua những cửa ngục
cho đến khi từng ngục bị phá. Người ta gọi đó là lễ
giải oan.
Cửu
lườn trúc là biểu tượng điềm lành cho nghi thức cúng cầu
an – cầu siêu, xem như có Thần, Phật chứng giám.
Ngày
thứ năm, các thàgy cúng thực hiện nghi thức đi qua đống
lửa than hồng dài 3m, đã được chuẩn bị và làm phép cúng(13).
Khi xin keo được ứng, những người bưng bát nhang đi theo
pháp sư làm lễ rửa chân, tẩy uế và nối bước chậm rãi
qua dãy than cháy rực. Mọi người tham dự lễ có tâm niệm
hướng cầu điều phúc đều có thể đi trên đống than hồng.
Cho tới nay chưa hiểu vì sao người ta có thể đi và "chạy
lửa" như thế mà không bị bỏng. Nghi thức sau cùng là cúng
thí, xô giàn. Các hình nộm, hàng mã, bùa chú đều hoả kết
và rải thí khắp sân lễ. Người dân dự lễ tranh giành nhau
để lấy những vật cúng với sở nguyện giữ được cho
mình những lộc mà các vị Thần, Tiên, Phật đã chứng giám.
Nhìn
chung, nghi lễ cầu siêu cho người chết và cầu an cho người
sống rất phổ biến trong đời sống các dân tộc tại Nam
Bộ. Dưới tính chất chung của tam giáo Phật, Nho, Đạo kết
hợp với rất nhiều nghi thức shaman bùa chú thì yếu tố
Phật giáo vẫn thể hiện nổi trội nhất, vì cư dân quan
niệm chỉ có Đức Phật mới cứu rỗi được chúng sinh và
linh hồn con người. Nói như nhà văn Sơn Nam, “Chết giữa
rừng hoang cũng vui vẻ chấp nhận nhưng với điều kiện là
phải có nhà sư tụng kinh cầu siêu, dù ngày xưa khó tìm được
nhà sư đúng nghĩa, phần lớn là dạng mà ngày nay người
ta gọi bôi bác là “Thầy cúng”. Miễn là khi động quan,
khi hạ huyệt có tiếng chuông, tiếng mõ thì được “Tây
phương tiếp dẫn” với tiếng Nam mô A Di Đà Phật mà ý
nghĩa chẳng ai hiểu rõ. Chết mà được Phật chiếu cố là
đã mãn nguyện đối với thân nhân. Thiếu nghi thức ấy là
vô phước, trở thành cô hồn, “thập loại chúng sinh” mà
thi hào Nguyễn Du đã nhắc nhở, nhờ Đức Phật cứu rỗi(14).
Thực sự, trong Phật giáo không có kinh nào là kinh cầu siêu,
kinh cầu an mà các nhà sư chỉ vận dụng các loại kinh khác
nhau cho hai mục đích vừa nêu, ví dụ kinh Di Đà, kinh Địa
Tạng để cầu siêu; kinh Phổ Môn, kinh Dược Sư để cầu
an, v.v… Phải chăng, cầu siêu thực chất là để cho người
sống được an tâm? Ngoài vấn đề do tình cảm thương xót
thân nhân quá vãng, thương xót đồng bào tử nạn, thương
xót những cô hồn đói lạnh nên người sống cầu siêu cho
người chết, đồng thời cũng trấn áp, hạn chế sự tác
hại của ma quỷ, của các vong linh, cô hồn để cuộc sống
được bình an. Nhưng sâu xa hơn, phải chăng nghi thức này
đã phản ánh một cuộc sống còn đầy bất trắc, bấp bênh,
cư dân muốn trấn an, xoa dịu nỗi khổ của chính họ, an
ủi chính họ? Điều này gần với lí thuyết chức năng mà
Malinowski đã nhận định: “Phù phép để trấn an chính con
người về mặt tâm lí, mong được an toàn”(15).
Là
người nghiên cứu văn hoá các cư dân tại Nam Bộ, nếu tham
dự nghi lễ “cầu siêu – cầu an” của các dân tộc Việt,
Khmer, Hoa, v.v… chúng ta sẽ thực sự thú vị. Nếu không hiểu
văn hoá của cư dân Nam Bộ, không hiểu tâm thức của một
cộng đồng cư dân bắt đầu từ sự lưu lạc, gian khổ để
khẩn hoang, đối mặt với rừng thiêng nước độc, dịch
bệnh, tai ương, chiến tranh, nghèo đói, đầy bất trắc…
thì sẽ cho rằng các nghi thức diễn ra trong cuộc lễ là “mê
tín”, là hủ tục, là tầm thường cần dẹp bỏ. Nhưng nếu
hiểu được ý nghĩa của những nghi lễ diễn ra trong các
lễ hội này thì chúng ta sẽ thực sự đồng cảm với cộng
đồng cư dân ở đây./.
Phan
Thị Yến Tuyết (*)
*.
TS., Bộ môn Nhân học, Trường Đại học KHXH&NV, Đại
học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.
1.
Đặng Nghiêm Vạn. Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn
giáo ở Việt Nam. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.
13, 104-105.
2.
Trích ý kiến của GS.TS. Hy Văn Lương (Lương Văn Hy), Trưởng
khoa Nhân học, Trường Đại học Toronto, Canada, trong tham luận
khoa học: “Những tiếp diễn và chuyển đổi về nghi lễ
cộng đồng ở một làng đồng bằng sông Hồng, trường hợp
thôn Hoài Thị, xã Liên Bảo, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
3.
Quán Thế Âm Bồ Tát là tiếng Hán, được phiên âm từ Phạn
ngữ là Avalokitesvara, còn gọi là Quán Thế Âm Tự Tại. Mỗi
quốc gia Phật giáo đều có cách thể hiện hình tượng Quán
Thế Âm Bồ Tát tương đối khác nhau… nhưng tựu trung đều
nhấn mạnh đến sự vị tha, thông cảm, hi sinh và lòng nhẫn
nhục vô hạn của người. Các hình tượng Quán Thế Âm Bồ
Tát được thờ phổ biến là Bạch Y Quán Âm (còn gọi là
Phật Bà Quan Âm), Quán Âm Chuẩn Đề; Tiêu diện đại sĩ
Quán Âm… (Tài liệu của Nguyễn Xuân Hậu).
4.
Có chùa còn dán thêm chiếc lưỡi bằng giấy thật dài trên
cái lưỡi của tượng gốm Tiêu diện đại sĩ. Khi lễ cúng
hoàn mãn, người dân giành nhau xé lưỡi ông Tiêu đem về
nhà để trong túi vải cho trẻ sơ sinh đeo, và tin rằng lá
bùa đó sẽ trừ được tà ma quấy phá, trẻ nhỏ không khóc
đêm, không giật mình.
5.
Xem thêm: Tâm thức của cư dân Nam Bộ qua lễ hội trai đàn
cầu siêu - cầu an của Phan Thị Yến Tuyết. Trong sách: "Tìm
hiểu đặc trưng di sản văn hoá văn nghệ dân gian Nam Bộ".
Nxb KHXH, Hà Nội 2004, tr. 101-116.
6.
Viện Nghiên cứu Văn hoá Nghệ thuật. Sổ tay hành hương đất
phương Nam. Nxb TP. HCM, 2002, tr. 428-429.
7.
Tại đình Khánh Hậu, thị xã Tân An, tỉnh Long An khi "cúng
đưa tên", ngoài thức ăn, lễ vật còn có thuốc lá, bài tứ
sắc, bài cào để cô hồn vui chơi giải trí.
8.
Thạch Voi, Hoàng Túc. Phong tục lễ nghi của người Khmer đồng
bằng sông Cửu Long. Trong sách: Tìm hiểu vốn văn hoá dân
tộc Khmer Nam Bộ. Nxb Tổng hợp Hậu Giang, 1998, tr. 154-159.
9.
Báo cáo Khoa học cán bộ trẻ, Trường Đại học Khoa học
Xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. HCM. 2003.
10.
Tại đền, miếu, Ông Bổn là hiện thân của “Phước Đức
Chính thần”, tượng một ông già râu tóc bạc phơ, tay cầm
nén vàng. Còn tại nhà người Hoa, tín ngưỡng thờ Ông Bổn
thể hiện một chữ Thần (chữ Hán), có nghĩa là thần minh,
một biểu tượng của Thổ công (Thần đất), có chức năng
bảo hộ người dân trong nhà, trong làng xóm.
11.
Nhóm tộc người này còn được gọi là “Hoa Nùng” hoặc
“Hoa”, chủ yếu di dân từ miền Bắc vào Nam thời điểm
năm 1954.
12.
Tham khảo tài liệu: “Tín ngưỡng và lễ hội của người
Hoa ở Đồng Nai. Tư liệu của Bảo tàng tỉnh Đồng Nai.
13.
Tại miếu Ông Bổn của cộng đồng người Hoa Hải Nam ở
xã Bình An, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang diễn ra nghi
lễ “Nhảy lửa”. Củi đốt cháy cao có ngọn, vừa bớt
lửa, “Ông Bổn” chạy trước và dân trong vùng ai muốn
thì chạy theo sau trên đống than hừng hực đỏ rực. Điều
kì lạ không ai bị bỏng.
14.
Sơn Nam. Một vài nét xưa và nay của Phật giáo Gia Định –
Sài Gòn – TP. Hồ Chí Minh. Trong: Hội thảo khoa học 300 năm
Phật giáo Gia Định – Sài Gòn – TP. HCM. Nxb TP. Hồ Chí Minh
2002, tr. 27.
15.
Theo: Hy Văn Lương. Tài liệu đã dẫn.
Tạp
chí Nghiên cứu Tôn giáo (Số 4(34)/2005)