CHƯƠNG
9
NGHIỆP
VÀ SỰ LIÊN HỆ VỚI VẠN TƯỢNG
Trong
phần trước nói về diện mạo, chúng ta đã nhận thấy rằng
nghiệp đời trước ghi dấu rất rõ nơi diện mạo của mỗi
người. Người tạo phước nhiều thì diện mạo rạng rỡ
đẹp đẽ. Người tạo tội nhiều thì diện mạo tối tăm
xấu xí. Người có trực giác mạnh sẽ thấy được mỗi
một nét nhỏ nơi hình dáng nói lên một nghiệp quả như thế
nào. Một ánh mắt hung ác nói lên một nghiệp nhân tàn bạo
trong quá khứ và cũng báo trước một quả báo bi thảm ở
tương lai. Lối đi nghênh ngang lắc vai nói lên thói quen kênh
kiệu trong quá khứ và báo trước sự hèn hạ sắp tới.
Rồi
theo thời gian dài tích lũy giữa trực giác và kinh nghiệm,
khoa tướng số hình thành với cả một hệ thống phức tạp,
chi li, chuyên biệt. Nhà tướng số có thể phân tích từng
nét lông mày, độ dày của vành tai, độ lớn nhỏ của tròng
mắt, màu da sáng tối... để nhìn ra nghiệp quả của mỗi
người, và có thể thấy được những nét tổng quát cuộc
đời của một người.
Chúng
ta đã biết, luật Nghiệp Báo ẩn dấu tận trong Bản Thể,
mà Bản Thể thì bao hàm toàn thể vạn hữu vũ trụ. Thế
nên dấu vết của nghiệp luôn luôn ghi lại trên mọi hiện
tượng, mọi khía cạnh của cuộc đời. Những người có
trực giác mạnh, có sự nhận xét tinh tế sẽ nhìn ra một
phần nào ý nghĩa của nghiệp khi dựa vào những hiện tượng
được bày ra nơi vạn tượng. Trên ý nghĩa đi tìm sự giải
thoát, đạo Phật không chú trọng vào việc khám phá dấu
vết của nghiệp hiện trên các hiện tượng đó vì e làm
mất thì giờ tu tập thiền định. Đó là lý do tại sao trong
các kinh điển luôn luôn bài xích các nghề nghiệp như bói
toán, xem thiên văn, địa lý, tướng số, xem ngày giờ tốt,
xấu, tử vi...
Các
nhà địa lý xem tướng nhà, tướng bếp, xem vị trí phong
cảnh chung quanh ngôi mộ tổ tiên để đoán được vận mệnh
của một gia đình, một dòng họ. Các nhà thiên văn xem tinh
tú có thể đoán được sự hưng suy của triều đại, của
các nhân vật quan trọng. Các nhà tử vi dựa vào thời điểm
ra đời của một người để lập nên một lá số gồm một
hệ thống sao sắp xếp quanh 12 cung, rồi từ đó luận đoán
ra cuộc đời của người đó.
Những
khoa thuật trên là dấu vết đặc thù của văn minh Đông phương
mà khoa học ngày nay vẫn chưa chấp nhận vì chưa chứng minh
được. Nhưng sự tồn tại của nó theo thời gian mấy nghìn
năm cũng nói lên một phần giá trị thực tế của nó. Nếu
đứng trên lập trường giải thoát, chúng ta không bận tâm
vì những khoa thuật này. Tuy nhiên, trong một luận bản khảo
sát về nghiệp, chúng ta cũng phải điểm qua sự liên hệ
giữa nghiệp và các dấu hiệu của nghiệp. Còn phương pháp
đọc các dấu hiệu đó gọi là các khoa thuật như trên.
Theo
Einstein, khi nói đến một sự vật nào, chúng ta phải nói
đến một tọa độ “không - thời gian”. Ví dụ như muốn
gặp ông A, chúng ta phải biết ông ở đâu, vào lúc nào, chứ
không phải chỉ biết địa chỉ (không gian) mà không biết
được lúc ông có mặt (thời gian). Như vậy, vũ trụ này
là một vũ trụ không-thời gian chứ không phải không gian
thời gian là có thể phân ly. Nói đến một sự kiện,
một sự vật, một sự việc, một nhân vật... chúng ta phải
nói đến nơi chốn và thời gian của nó chứ không thể bỏ
qua một yếu tố nào. Sự vật hiện diện bị kết dính chặt
chẽ bởi không gian và thời gian.
Cũng
vậy, nghiệp cũng ghi dấu lên không gian và thời gian. Đọc
được dấu hiệu đó người ta biết được nghiệp quả của
con người.
Nếu
nghiệp đã in dấu lên diện mạo của một người thì nghiệp
cũng in dấu lên thời điểm ra đời của người đó. Khoa
tử vi xuất hiện từ luận cứ này. Vào đầu nhà Tống, Hy
Di Trần Đoàn đã khám phá ra phương pháp lập một lá số
tử vi dựa vào ngày giờ sinh của một người. Hơn 100 ngôi
sao sắp xếp quanh 12 cung. Các ngôi sao đó phối hợp lẫn nhau
để nói lên các tính chất nào đó. Gọi là sao, kỳ thực
chúng ta chỉ nên coi đó là một ký hiệu, một mật mã mà
thôi, và sự phối hợp các mật mã đó mới làm thành một
câu văn, một ý nghĩa đầy đủ. Ví dụ như trong khoa tử
vi nói rằng “Liêm trinh, Tham lang đóng tại cung Tỵ, Hợi
thì khó thoát được hình ngục” hoặc “sao Ân quang, Thiên
quý đóng tại cung Sửu, Mùi thì lừng danh thiên hạ”...
Các
nhà tử vi chỉ chú trọng vào quả báo mà không để ý đến
nghiệp nhân chứ thật ra khi quả báo hiện diện tức là nghiệp
nhân đã có mặt. Nếu lá số tử vi nói rằng người đó
giàu có thì có nghĩa là người này đã từng bố thí rất
nhiều trong quá khứ. Nếu lá số tử vi nói rằng người đó
sẽ gặp thất bại thì nó cũng có những ngôi sao (ký hiệu)
để nói lên rằng người này có tính xấu, ít kiên nhẫn,
hẹp hòi.
Một
khoa thuật khác cũng được chú ý là khoa địa lý phong thủy.
Nhìn phong cảnh chung quanh một ngôi nhà, một ngôi mộ, nhà
địa lý có thể biết được vận hưng suy của gia đình,
dòng họ đó. Những gò đống chung quanh báo hiệu điều gì,
dòng nước chảy ngang nói lên điều gì, con đường cái đi
gần đấy báo hiệu điều gì... Các dấu hiệu đó được
các nhà địa lý phân tích ý nghĩa để đoán được vận
số của những người có liên quan huyết thống.
Tuy
nhiên, về sau các nhà địa lý thay vì khách quan tìm hiểu,
đã tìm cách can thiệp để mong đạt được kết quả như
ý. Họ tìm các vị trí tốt để táng mả và hy vọng rằng
con cháu về sau sẽ thành đạt rực rỡ. Nhiều gia đình giàu
có đã bao thuê các nhà địa lý rất tốn kém để nhờ các
thầy tìm huyệt tốt.
Chúng
ta chưa vội phủ nhận hiệu quả của việc làm này, chỉ
cho rằng nếu quả thực việc táng mả vào vị trí tốt khiến
cho con cái phát đạt thì nó cũng không nằm ngoài luật Nghiệp
Báo. Chỉ người có phước mới sinh vào gia đình được mả.
Còn những người khổ công tìm mả mà thiếu phước lại
sẽ sinh qua dòng họ khác, bỏ cái mả tốt cho người khác
hưởng. Cũng vì hiểu được điều này nên các nhà địa
lý đã khuyên “tiên tích phúc nhi hậu tầm long”, trước
phải tích chứa phúc rồi sau đó mới tìm long mạch.
Nghiệp
cũng in dấu vào khung cảnh chung quanh chỗ ở của mỗi người.
Khoa thuật đọc các dấu hiệu này gọi là khoa đoán điềm.
Khi bước đến chỗ ở của một người, nhà đoán điềm
nhìn thấy lối đi, gốc cây, lu nước, cửa, cột, giếng nước,
màu sắc,... chung quanh chỗ ở của người đó và có thể
đoán được sự may rủi, buồn vui của người đó như thế
nào. Ví dụ như thấy lối đi đâm thẳng vào cửa chính họ
cho rằng nhà này thường xuyên xảy ra chuyện rắc rối. Hoặc
một giếng nước nằm sai chỗ có thể cho biết con trai trộm
cướp, con gái bán hoa.
Và
cũng như nhà địa lý, họ cũng tìm cách can thiệp bằng cách
sửa đổi lối đi, dời bếp, đổi cột,... Nhưng nếu nghiệp
của gia đình đó chưa hết thì điềm xấu vẫn hiện ra. Sửa
được chỗ này lại phạm phải chỗ khác. Còn những người
có phước, tự nhiên khung cảnh chung quanh hiện ra một cách
hài hòa hợp lý không cần phải thay đổi gì thêm.
Trong
khoa đoán điềm, họ cũng ghi nhận các dấu hiệu khác như
tiếng chim lạ từ đâu bay đến, cây cối tự nhiên héo úa,
ly tách bỗng dưng vỡ, hoặc những tặng vật của khách đem
đến, giếng nước đổi màu... Qua các dấu hiệu đó, họ
đoán được điều gì sắp xảy ra.
Người
Trung Hoa còn có khoa đoán khẩu khí. Trong những thời điểm
quan trọng như dịp lễ hội... nghe một người nói lên một
câu, họ có thể đoán được vận mệnh tổng quát của người
đó. Khoa này cũng lan sang Việt Nam. Ví dụ khi Thiền Sư Vạn
Hạnh nghe Lý Công Uẩn than:
“Đêm
khuya không dám dang chân ngủ
Vì
ngại non sông xã tắc xiêu”
Ông
kinh ngạc vì khẩu khí của một vị vua tương lai.
Hoặc
khi nghe Mạc Đỉnh Chi thốt lên câu:
“Hoàng
hôn xa lạc Kim ô”
Người
Tàu đoán về sau con cháu Mạc Đỉnh Chi sẽ cướp ngôi vua.
Quả nhiên về sau Mạc Đặng Dung cướp nhà Lê.
Hoặc
nghe người học trò là Nguyễn Đặng đối lại câu:
“Vũ
vô kiềm tỏa năng lưu khách”
(Mưa
không trói buộc nhưng có thể giữ khách).
Bằng
câu: “Sắc bất ba đào dị mịch nhân”
(Sắc
đẹp không phải là sóng gió mà vẫn dìm người).
Ông
thầy cho biết Nguyễn Đặng sẽ đỗ trạng nguyên, nhưng sẽ
ô danh vì nữ sắc. Điều đó đã xảy ra.
Ở
đây, chính vô thức đã báo trước sự kiện bằng những
khẩu khí như trên, và người tinh ý có thể nhìn ra.
Trong
truyền sử, nhiều khi người ta còn ghi nhận các điềm của
trời đất báo hiệu sự hưng vong của một đất nước như
cầu vồng lạ xuất hiện, nước sông đổi màu, các sao lạ
hiện ra hoặc tắt mất, sự sụp lỡ những ngọn núi truyền
thống, sự đổi dòng chảy của sông...
Như
vậy, nghiệp của mỗi người và của xã hội đều có liên
quan đến vạn tượng và quả thật có biểu lộ ra bằng các
dấu hiệu nào đó. Nhiều người đã để tâm nghiên cứu
các dấu hiệu này và thành hình những khoa thuật chuyên biệt.
Ấn Độ và Trung Hoa là nơi có nhiều khoa thuật loại này
hơn cả.
Tuy
nhiên, nếu hiểu Nghiệp Báo rồi, chúng ta chỉ bình tâm tu
dưỡng đạo đức và tạo phước. Mọi chuyện sẽ trở nên
tốt đẹp. Đó là lý do tại sao trong đạo Phật không chú
trọng đến các khoa thuật như trên, mặc dù nó không phải
hoàn toàn vô lý như một số người đã phủ nhận.
CHƯƠNG
10
CÔNG
ĐỨC
Mặc
dù ở trình độ của ngày hôm nay chúng ta vẫn chưa thể chứng
minh hoàn toàn luật Nghiệp Báo một cách logic chặt chẽ với
sự thí nghiệm chính xác của máy móc, chúng ta chỉ gợi ý
về sự thật hữu của Nghiệp Báo và dùng trực cảm tâm
linh để suy diễn vấn đề. Nhưng cuối cùng, luật Nghiệp
Báo vẫn là chân lý, một chân lý dấu mặt tận trong Bản
Thể Tuyệt Đối, và âm thầm chi phối tất cả vạn hữu
vũ trụ, tất cả vận mệnh của kiếp người. Nhiều người
đã chứng kiến sự vận hành của Nghiệp Báo ngay trong hiện
đời và vững tin vào sự công bình của luật Nghiệp Báo.
Họ đã thấy kẻ ác, dù có xênh xang quyền lực, cuối cùng
sẽ phải chịu đau khổ. Người thiện, dù có gian nan vất
vả, rồi sẽ được đền bù. Trừ một số trường hợp
mà quả báo không đến được trong hiện đời, phải đợi
những kiếp về sau, thì không lý giải được.
Ở
đây, chúng ta nói đến sự lợi ích của vấn đề tin hiểu
luật Nghiệp Báo.
Một
người có lòng tin hiểu vững chắc đối với luật Nghiệp
Báo, chắc chắn không bao giờ là kẻ ác. Họ luôn luôn tính
đến quả báo của mỗi hành động và không cho phép mình
phạm sai lầm gây nhân xấu. Nếu họ muốn đi tìm hạnh phúc,
họ sẽ biết đem lại niềm vui cho mọi người trước đã
và luật Nghiệp Báo sẽ đền bù cho họ gấp bội lần ở
mai sau. Nó khác với người không tin hiểu Nghiệp Báo. Kẻ
không tin hiểu Nghiệp Báo sẽ mưu cầu hạnh phúc cho chính
mình bằng cách chiếm đoạt của người khác, cướp đi niềm
vui của kẻ khác làm niềm vui của mình. Chỉ so sánh thái
độ của hai hạng người này, chúng ta cũng thấy rõ tầm
quan trọng của việc tin hiểu luật Nghiệp Báo.
Nếu
trong một xã hội, người tin hiểu luật Nghiệp Báo chiếm
số đông, xã hội đó sẽ là một xã hội đạo đức thánh
thiện, phát triển, văn minh. Ngược lại, xã hội ít người
tin hiểu luật Nghiệp Báo, xã hội đó sẽ sa đọa, hỗn loạn,
tàn lụi.
Như
vậy, vấn đề truyền bá sự tin hiểu luật Nghiệp Báo không
phải là chuyện dư thừa của riêng các nhà hoạt động tôn
giáo, mà nó thật sự là vấn đề cốt tủy, là vấn đề
sống còn, là vấn đề hệ trọng đối với toàn xã hội.
Khi
đạo đức con người được cải thiện thông qua việc giáo
dục luật Nghiệp Báo, tự nhiên những vụ án hình sự sẽ
giảm hẳn, vì con người sẽ tự kiềm chế lấy mình; sẽ
tự biết tránh tội, làm phước. Chi phí giành cho an ninh sẽ
được tiết kiệm.
Khi
con người hiểu sâu sắc luật Nghiệp Báo, nền kinh tế quốc
dân tự nhiên chuyển mình mạnh mẽ vì ai cũng ý thức được
việc làm lợi ích cho xã hội tức là đã làm việc thiện
lớn lao rồi. Họ làm việc không phải vì đồng lương mà
vì lợi ích chung cho toàn xã hội. Chính những con người có
ý thức cộng đồng cao này mới là những người đưa xã
hội chuyển sang một hình thái văn minh mới mà bao nhiêu vĩ
nhân đều mong ước, đó là xã hội rất ít sự chiếm đoạt
tư hữu. Mọi người biết nhường nhịn lẫn nhau một cách
tự giác, tự nguyện, không phải do cơ chế bắt buộc.
Quyền
tự do tư hữu là quyền thiêng liêng của con người, nhưng
sự san sẽ tài vật cho công tác từ thiện, sự đóng góp
tài sản cho cộng đồng xã hội một cách tự nguyện là đạo
đức cao cả của con người. Đạo đức này chỉ được thành
hình do giáo dục chứ không phải do cơ chế.
Chỉ
khi nào đạo đức của toàn xã hội được nâng cao tột độ,
lúc đó không cần phải tranh đấu, chủ nghĩa xã hội bỗng
nhiên hiện diện một cách hoàn hảo, đẹp đẽ lạ lùng.
Điều
chúng ta phải đấu tranh là giáo dục để nâng cao đạo đức
của mọi người lên gấp bội lần hiện nay, trong đó việc
truyền bá sự tin hiểu luật Nghiệp Báo là yếu tố quan trọng
nhất.
Đức
Phật đã tán thán công đức của việc truyền bá sự tin
hiểu luật Nghiệp Báo qua ẩn dụ sau đây.
Một
Bà La Môn hỏi Phật
“Có
một ai không phải đạo Phật
đã
được sinh Thiên chưa?”
Đức
Phật trả lời
“Chín
mươi mốt kiếp qua ta chưa từng
thấy
một ngoại đạo nào được sinh Thiên,
chỉ
trừ một người, vì người này hay
tuyên
giảng về Nghiệp Báo.”
Qua
mẫu đối thoại trên, Đức Phật đã xác nhận rằng công
đức của việc truyền bá sự tin hiểu về luật Nghiệp Báo
vô cùng lớn lao. Chúng ta bố thí một số tiền cho người
nghèo, có thể giúp cho người ấy sống lây lất qua vài ngày,
vài tháng. Nhưng một khi chúng ta giúp cho họ tin hiểu luật
Nghiệp Báo một cách VỮNG CHẮC SÂU SẮC, thì cuộc đời
họ sẽ thay đổi tận gốc rễ. Họ sẽ biết tránh tội làm
phứớc, và hạnh phúc sẽ đến với họ từ kiếp này sang
kiếp khác. Cái lợi ích của việc truyền đạt sự tin hiểu
luật Nghiệp Báo so với cái lợi ích của việc bố thí tài
vật là hoàn toàn không thể so sánh. Lợi ích của bố thí
chỉ tồn tại vài ngày trong khi lợi ích của việc giáo dục
Nghiệp Báo tồn tại vô hạn. Cái khuynh hướng đạo đức
trong tâm hồn họ sẽ kéo dài từ đời này sang đời khác
và càng lúc càng nẫy nở mạnh hơn. Lợi ích của họ LỚN
LAO thế nào, BỀN BỈ ra sao thì cái phước của người truyền
đạt sự tin hiểu Nghiệp Báo cũng to tát và miên viễn chừng
nấy.
Nếu
người kia, sau khi tin hiểu Nghiệp Báo, làm được một việc
phước thiện, thì người truyền đạt đương nhiên hưởng
được một phần ba công đức đó. Nói như vậy không có
nghĩa là người hành động chỉ còn hai phần ba công đức.
Họ vẫn hưởng trọn vẹn công đức của việc làm từ thiện,
nhưng người giáo dục cho họ tự nhiên được hưởng một
phần công đức do công lao giáo dục. Công đức không giống
như tiền. Tiền phải bị hao khi phải chia sẽ. Công đức
không bị hao khi chia sẽ. Nó giống như lửa, dù được mồi
từ ngọn đuốc này sang ngọn đuốc khác, ngọn lửa ban đầu
vẫn không bị giảm bớt chút nào.
Thế
nên, dù cho chính chúng ta không trực tiếp làm được việc
từ thiện, nhưng đã có công khuyến khích người khác làm
việc từ thiện, tránh được tội lỗi, phước của chúng
ta cũng rất lớn.
Một
người bắt đầu tin hiểu luật Nghiệp Báo, sự tốt đẹp
cũng bắt đầu hiện diện nơi đời họ và lan tỏa sang mọi
người chung quanh. Công đức của người giáo dục cho họ
sự tin hiểu đó thật sự vô cùng to lớn.
Nếu
chúng ta đã là người tin hiểu luật Nghiệp Báo rồi thì
chúng ta phải phát nguyện mạnh mẽ là sẽ truyền đạt sự
tin hiểu này cho tất cả mọi người trên thế giới cùng
có được sự tin hiểu như thế. Lời phát nguyện đó dù
không được thực hiện trong kiếp này, chúng ta sẽ tiếp
tục thực hiện trong những kiếp kế tiếp. Miễn là làm sao
cuối cùng thế giới này trở thành cõi đời thánh thiện,
hiền lương, đạo đức. Hãy thiết tha ấp ủ hoài bảo đem
luật Nghiệp Báo truyền đạt khắp nơi. Hãy lấy đó làm
lý tưởng cho cuộc sống của chúng ta. Hãy lấy đó làm niềm
vui cho cuộc đời của chúng ta.
Có
nhiều cách để chúng ta góp phần truyền bá sự tin hiểu
luật Nghiệp Báo. Hoặc là chúng ta đóng góp tiền bạc, công
sức để in những luận bản nói về Nghiệp Báo. Chúng ta
lựa những luận bản có giá trị, có chiều sâu, có thể
gây ảnh hưởng mạnh cho người đọc, làm cho người đọc
chuyển biến mạnh mẽ, làm cho người đọc phát khởi niềm
tin đối với luật Nghiệp Báo. Chúng ta chọn những luận
bản có nhiều tính khoa học, có lý luận vững vàng, có khả
năng đào sâu về mọi khía cạnh của nghiệp để cho người
đọc có thể hiểu kỹ về đường đi của nghiệp. Bởi vì
sự hiểu biết càng sâu xa chừng nào, thì niềm tin càng vững
chắc chừng ấy. Niềm tin mà thiếu hiểu biết chỉ là mê
tín. Một luận bản nói về nghiệp phải cung cấp cho người
đọc nhiều kiến thức, nhiều luận cứ sắc bén để họ
đạt được sự hiểu biết kỹ càng về nghiệp, từ sự
hiểu biết đó, niềm tin của họ mới không bị lung lay.
Một
cuốn sách nói về nghiệp được in ra có thể được năm
bảy người đọc, chỉ cần năm bảy người phát tâm tin hiểu
Nghiệp Báo thì phước của người ấn tống cũng rất lớn
lao, huống nữa là hàng ngàn cuốn sách được in ra rồi lan
rộng trong mọi ngõ ngách của cuộc đời. Những cuốn sách
đó lan đến đâu thì tội ác được đẩy lùi, đạo đức
được thắp sáng đến đấy. Và như vậy, phước của người
ấn tống không thể nào kể xiết được. Có thể do phước
này, đời sau họ đạt được những địa vị cao quý có
nhiều người tuân phục, kính nể, bởi vì những người kia
đã chịu ơn của họ, đã nhờ họ mà được đạo đức
và làm được nhiều việc từ thiện. Người giáo dục đạo
đức và người được giáo dục nhiều đời sẽ quây quần
với nhau đề cùng nhau hưởng phước. Và người giáo dục
luôn luôn đứng ở vị trí hướng dẫn chỉ huy.
Hoặc
những ai có duyên tiếp xúc với nhiều người như các giáo
viên đứng lớp, như người có nhiều bạn bè thân hữu, thì
trong những lúc thuận tiện cũng có thể giải thích về nghiệp
cho người khác tin hiểu. Thông thường, muốn đi vào vấn
đề nghiệp, hãy khởi đầu bằng những câu chuyện có thực
mà chúng ta chứng kiến được trong đời sống của mình.
Những câu chuyện đó có sức thuyết phục mạnh mẽ để
chuẩn bị cho những lý luận trừu tượng kế tiếp. Nói về
nghiệp mà thiếu dẫn chứng chuyện tích là điều thiếu sót
lớn (Xem “Luận về Nhân Quả “Chơn Quang).
Ví
dụ câu chuyện rằng Một ông nọ lúc còn trẻ và khá giả,
thường đến bệnh viện vào dịp tết, tự tay chăm sóc, quét
dọn cho những người bệnh không có thân nhân giúp đỡ. Ông
này vốn là người cô độc, không hề có thân nhân ruột
thịt. Về sau ông bỏ về rẫy cất am tu một mình, chợt có
một tu sĩ trẻ tuổi đến ở chung, và đúng vào dịp tết,
ông ngã bệnh nặng, được người tu sĩ chăm sóc quét dọn
tận tình. Qua tết, ông ra đi. Quả báo đã đến với ông
trong hiện đời và lập lại chính xác cả cái thời gian vào
dịp tết. Thật sự, những gì chúng ta đã làm không bao giờ
mất. Nó vẫn còn đấy và đem lại một kết quả tương xứng.
Hoặc
câu chuyện khác. Người con dâu vì muốn ra riêng nên la toáng
lên là cha chồng hãm cô. Làng đem người cha chồng ra xử
đóng căng giữa làng. Quá xấu hổ, ông cắn lưỡi tự tử.
Hai vợ chồng trẻ được ra riêng và được hưởng gia tài.
Về già bà vợ đổ bệnh không cách nào chữa được, phải
nằm tiêu tiểu một chổ. Con cháu chán ghét, đóng một cái
sạp ló ra bờ sông cho bà nằm đấy để tiêu tiểu tùy thích.
Trong tình cảnh này, bà ngậm ngùi nhớ lại nghiệp cũ và
thấy hối hận. Bà gọi một người bạn đến thú nhận câu
chuyện mấy mươi năm về trước và nghĩ rằng sở dỉ bà
bị hành hạ và bị con cháu xa lánh chán ghét là quả báo
do bà đã vu khống người cha chồng đáng thương nọ.
Rất
nhiều những câu chuyện thực tế như thế có thể dẫn dắt
người khác tin hiểu Nghiệp Báo dần dần.
Khi
nói về nghiệp chúng ta cũng phải tùy đối tượng để có
những lý luận thích hợp. Với người có sẵn khuynh hướng
tín ngưỡng thì rất dễ, họ dễ dàng chấp nhận sự chi
phối âm thầm của nghiệp, giống như họ đã chấp nhận
các thần thánh vô hình. Còn đối với người không có khuynh
hướng tín ngưỡng, họ thích có những chứng minh cụ thể.
Với hạng người này, chúng ta sẽ kể nhiều các mẫu chuyện
Nghiệp Báo và kết luận rằng:
“Đó
là sự công bình tự nhiên của vũ trụ”.
Bản
chất của vũ trụ là công bình, là đền bù hợp lý. Năng
lượng và vật chất thay đổi qua lại mà không hề bị mất
đi. Nó vắng ở chổ này và xuất hiện ở chổ khác. Cũng
vậy, người tạo nhân ở chổ này sẽ đón nhận kết quả
ở chổ khác. Không có gì biến mất, vũ trụ vốn công bằng
và hợp lý.
Trong
một gia đình, một dòng tộc, nếu người cha hay khuyên bảo
đạo đức, nhắc nhở về Nghiệp Báo cho con cháu, chắc chắn,
gia đình đó, dòng họ đó sẽ càng lúc càng thịnh đạt.
Một ông cụ trước khi mất đã nói với con cháu rằng:
“Ta
không có gì nhiều để lại cho các con, chỉ có một chữ
phước ( ) viết ở giữa nhà để làm
gia tài cho các con mà thôi !”
Quả
nhiên, càng về sau con cháu của ông cụ có rất nhiều người
hiển đạt.
Thế
nên, nơi mà chúng ta phải truyền bá sự tin hiểu Nghiệp Báo
trước hết là gia đình của mình. Hãy giúp cho cha mẹ, anh
em, vợ chồng, con cái của mình có được niềm tin vững chắc
đối với luật Nghiệp Báo. Được như vậy là chúng ta đã
làm tròn bổn phận hiếu nghĩa đối với gia đình mình. Dù
chúng ta có nuôi dưỡng cha mẹ mình bằng bao nhiêu thức ngon
vật lạ cũng không bằng hướng dẫn cha mẹ mình tin hiểu
Nghiệp Báo. Dù chúng ta có nuông chiều con cái của mình bằng
bao nhiêu sự thương yêu đùm bọc, cũng không bằng dạy cho
con mình sự tin hiểu Nghiệp Báo. Bởi vì chỉ có sự tin hiểu
Nghiệp Báo mới gây được một nền tảng đạo đức vững
bền trong lòng họ. Nhờ nền tảng đạo đức này, những
người thân của ta sẽ được an lạc từ đời này sang đời
khác.
Tóm
lại, nếu chúng ta đã đạt được cái diễm phước là người
có niềm tin hiểu sâu sắc đối với luật Nghiệp Báo mầu
nhiệm, thì điều còn lại là hãy thiết tha đem trọn đời
mình tuyên giảng về Nghiệp Báo cho mọi người để đạo
đức được sáng tỏ, tội lỗi được đẩy lui, để thế
giới này vĩnh viễn trở thành cõi thiên đường bình an, thánh
thiện.
Viết
xong ngày 20 tháng giêng Nhâm Thân.
CHÂN
QUANG