CHƯƠNG
8
CHUYỂN
NGHIỆP
Một
khi đứa bé vừa lọt lòng mẹ, nó đã được đặt vào định
mệnh do chính nó tạo ra từ kiếp trước. Chúng ta dùng “định
mệnh” nghe có vẻ nặng nề; kỳ thực sự tình cũng không
khác bao nhiêu. Đây là một định mệnh không do thần linh
áp đặt mà do chính mỗi người tự tạo lấy cho mình.
Với
những nghiệp đã hình thành, chúng ta bị sức mạnh của nghiệp
cuốn trôi khó cưỡng lại nổi. Phải nhìn nhận rằng sự
tự do của chúng ta trong việc định hướng cuộc đời mình
rất là ít ỏi. Mọi sự dường như đã được an bài. Ở
phần trước chúng ta đã đưa ra thang giá trị tượng trưng
có ý nghĩa Định và Bất định của nghiệp, trong đó hoàn
cảnh được qui định hầu như 100%, hành động được qui
định 70%, chỉ còn 30% để chúng ta còn cân nhắc lần cuối.
Chỉ có trong tư tưởng, sự qui định của nghiệp là 50%,
còn 50% để chúng ta tự do chọn lựa tư tưởng tốt xấu
mà suy nghĩ.
Hiểu
được điều này chúng ta có một nhân sinh quan khá ổn định,
không bận tâm nhiều về sự may rủi thành bại trong đời.
Điều đáng cho chúng ta phải bận tâm là giữ vững được
50% tự do trong tư tưởng để chiến thắng hẳn 50% tập khí
để lại. Chúng ta phải bắt đầu chuyển nghiệp bằng cách
chuyển hóa nội tâm mình trước đã, rồi hành động và hoàn
cảnh sẽ dần dần thay đổi theo sau.
Từ
nhiều kiếp, tâm ta tích lũy những khuynh hướng vị kỷ, tham
lam, thù hận, đố kỵ, hơn thua, kiêu kỳ... Bây giờ những
khuynh hướng đó vẫn còn tồn đọng và luôn luôn thôi thúc
lập lại trong hiện tại .Nếu chúng ta dễ duôi buông thả,
những khuynh hướng cũ sẽ chiếm ưu thế và kéo chúng ta mãi
mãi vào tối tăm tội lỗi. Nhưng điều may mắn là trong tư
tưởng, sức mạnh của khuynh hướng quá khứ chỉ có 50%.
Chúng ta còn 50% để cưỡng lại, để tạo cho mình một khuynh
hướng đạo đức mới, chiến thắng hẳn những khuynh hướng
vô minh từ trước.
Muốn
chuyển hóa nội tâm mình trước hết chúng ta phải tìm đọc
nhiều về cuộc đời của những bậc hiền thánh khắp Đông
Tây kim cổ. Cuộc đời cao cả của những vị đó sẽ gợi
ý cho ta nhiều điều hay lẽ phải để suy nghĩ. Chính những
điều đáng suy nghĩ đó là khởi điểm của công cuộc chuyển
hóa nội tâm. Ví dụ, khi chiếm được xứ Syrie, Đại đế
Alexandre le Grande nghe danh nhà hiền triết Diogène, Nhà hiền
triết này không có một tài sản nào ngoài một cái bát để
uống nước. Ông ngủ trong một cái thùng gỗ ở ven đường.
Khi Alexandre le Grande cùng với tùy tùng đến thì Diogène đang
phơi nắng buổi sáng. Ông bình thản ngồi phơi nắng mặc
dù trước mắt ông là một hoàng đế chinh phục cả phần
lớn đất đai từ Hy Lạp sang Ấn Độ. Thái độ bình thản
của Diogène làm cho Alexandre le Grande phải nể phục và hỏi
ông có mong muốn điều gì.
“Có”
Diogène đáp “Tôi mong muốn ngày hãy làm ơn tránh ra xa một
bên đừng che khuất ánh nắng mặt trời mà tôi đang phơi.”
Alaxandre
quay lại nói với tuỳ tùng :
“Nếu
ta không là Alexandre, ta sẽ là Diogène.”
Về
sau Diogène chết bằng cách nhập định, dừng hơi thở lại.
Có
bao nhiêu điều đáng cho chúng ta phân tích suy gẫm từ câu
chuyện trên đây ? Chúng ta so sánh mình còn bao nhiêu điều
kém cỏi cần phải sữa đổi.
Hoặc
một câu chuyện khác. Nhiều nhà hoạt động xã hội chủ
trương rằng muốn cải cách ruộng đất, muốn san bằng bớt
tài sản sở hữu của mọi người thì cần phải dùng đến
bạo lực. Nhưng nhà hiền triết Vinoba-Ấn Độ đã chủ trương
dùng tình thương để cải cách tình trạng này. Ông đi bộ
với manh áo đơn sơ, cầm chiếc đèn lồng từ vùng này đến
vùng khác. Ông đến gặp các địa chủ tại đấy, và với
gương mặt hiền lành phúc hậu, với ánh mắt từ ái yêu
thương, với cử chỉ lễ độ từ tốn Ông đã gây một ấn
tượng tốt đẹp với chủ nhà. Ông nói nhiều về sự cực
khổ của các nông dân phải vất vả làm lụng nhưng không
bao giờ đủ ăn, vì không có đất đai sở hữu, phải làm
thuê, làm mướn, đóng địa tô. Ông kêu gọi lòng trắc ẩn
của các địa chủ, ông dùng đến tín ngưỡng với sự chứng
giám của ơn trên. Cuối cùng ông nói:
“Thưa
ông, ông có sáu người con. Xin ông hãy xem tôi như người
con thứ bảy và cho tôi bớt một phần đất của ông để
tôi chia lại những nông dân nghèo khổ ở đây!”
Với
phương pháp này ông đã xin được từ các địa chủ rất
nhiều đất đai. Ông gọi những nông dân tại đó đến và
chia cho họ. Rồi ông lại lên đường đi đến nơi khác.
Có
bao nhiêu điều đáng cho chúng ta suy gẫm từ câu chuyện trên
đây. Phải chăng tình thương sẽ chuyển hóa thế giới hiệu
quả hơn là bạo lực ?
Còn
bản thân chúng ta có một phần tâm từ ái nào giống như
ngài Vinoba chưa? Chung quanh chúng ta có bao nhiêu chuyện đau
lòng, bất công, và bao giờ chúng ta cũng dùng tâm thương yêu,
sức kiên nhẫn của mình để hóa giải chưa ?
Hoặc
một câu chuyện khác. Mạc Đỉnh Chi tuy làm Trạng Nguyên cả
hai nước nhưng rất nghèo vì thanh liêm. Vua Trần Minh Tông
biết chuyện nên sai người nửa đêm đến lén để trước
nhà ông một túi vàng. Sáng ra nhặt được, ông lại đem trình
với vua. Vua cười bảo nếu không biết của ai thì vua cho
phép sử dụng.
Đúng
là thời nào cũng vậy, làm quan mà sống vỏn vẹn với đồng
lương của mình thì không thể giàu được. Nhưng giữ được
sự thanh liêm cao độ như Mạc Đỉnh Chi thì có mấy người.
Nếu chúng ta đứng ở địa vị của ông, liệu chúng ta có
giữ được sự liêm khiết như vậy chăng ?
Vô
số câu chuyện của các bậc hiền thánh đáng để cho chúng
ta suy gẫm và soi rọi lại cuộc đời của mình. Chính những
giây phút suy gẫm và soi rọi lại cuộc đời của mình, Chính
những giây phút suy tư về đời sống và các lời nói của
danh nhân là bước đầu để chuyển hóa nội tâm của ta,
để ta thắng lướt hoàn toàn 50% tập khí xấu xa còn âm thầm
đọng lại. Và sự chuyển hoá nội tâm là nền tảng vững
chắc cho sự chuyển nghiệp kế tiếp.
Nhiều
người nhận thấy cuộc đời của mình kém may mắn, thường
gặp trái ý nghịch lòng. Do có tin hiểu Luật Nhân Quả Nghiệp
Báo nên họ công nhận rằng từ những kiếp trước họ ít
biết làm phước và có lẽ họ tạo nhiều nghiệp bất thiện.
Họ khát khao muốn chuyển nghiệp. Nhưng họ không biết chuyển
nghiệp từ căn bản nội tâm. Họ vội vã lo đi các đền
chùa cầu nguyện sự gia bị của thần thánh. Họ cúng món
tiền nhỏ và mong được mối lợi gấp bội phần. Hoặc họ
cũng chịu khó làm việc phước như đắp đường, đào giếng
công cộng, góp tiền in kinh... Nhưng dù làm rất nhiều việc
thiện, nội tâm tham lam ích kỷ vẫn còn nguyên vẹn. Họ làm
việc thiện vì quả báo cho chính họ chứ không phải tình
thương yêu đối với mọi người. Họ xây lâu đài phước
thiện trên bãi cát vì nó không xuất phát từ nội tâm thuần
thiện cao cả. Đời sau họ sẽ là người gặp nhiều may mắn,
nhưng bản chất ích kỷ tham lam vẫn hiện diện đồng thời.
Rồi chính bản chất ích kỷ tham lam sẽ thúc đẩy họ làm
các nghiệp bất thiện khác.
Người
biết chuyển nghiệp phải biết chuyển hóa từ nội tâm trước
đã. Sau đó hành động sẽ chuyển theo.
Như
đã nói, những việc làm của chúng ta đã được quyết định
hết 70% từ kiếp trước, chỉ còn 30% là bất định. Vào
thời gian nào ta sẽ xây một ngôi nhà, vào lúc nào ta sẽ
tạo một việc thiện, lúc nào sẽ tạo ác. Gặp ai ta sẽ
giúp đỡ, gặp ai ta sẽ mưu hại... Tất cả điều đó dường
như đã an bài hết 70%. Nhưng nếu nội tâm ta được chuyển
hóa mạnh mẽ, đã thắng lướt 50% tập khí cũ, ta đã hoàn
toàn tự do giữ vững tư tưởng thánh thiện trong lòng mình,
thì chúng ta sẽ đủ sức mạnh để cưỡng lại sự an bài
70% của hành động. Chúng ta sẽ đủ sức mạnh để sử dụng
30% bất định còn lại để chọn hành động khôn ngoan nhất,
hợp lý nhất và đạo đức nhất.
Ví
dụ gặp ông Thành, do túc duyên oan trái đời trước, lẽ
ra ông Hải sẽ tìm cách trù dập, công kích vì tự nhiên ông
Hải cảm thấy ác cảm kỳ lạ. Nhưng vì ông Hải đã thuần
thục trong việc chuyển hóa nội tâm nên khi từ trong vô thức
ra lệnh thúc đẩy ông ta mưu hại ông Thành, ông đã nhanh
chóng trừ diệt những ý niệm bất thiện đó. Nghiệp thúc
đẩy chúng ta hành động tận trong vô thức, mà sức mạnh
của vô thức rất vĩ đại. Thế nên hầu như chúng ta khó
cưỡng lại sự an bài 70% của hành động được tạo bởi
nghiệp đời trước. Chỉ khi nào chúng ta đã dùng ý chí tỉnh
giác để huân tập những tư tưởng thiện thường xuyên.
Rồi những tư tưởng thiện mới mẽ này được tích chứa
trong Thức Aám (xem Năm Aám Là Gì) để dành đối phó với
sự thúc đẩy bất thiện, lúc đó chúng ta mới không bị
nghiệp thôi thúc làm việc bất thiện.
Ngoài
ra, do nội tâm đã được chuyển hóa thuần thiện, chúng ta
sẽ siêng năng tạo nhiều công đức, tác nhiều phước nghiệp.
Những công đức đó như khuyến khích mọi người tu dưỡng
đạo đức, giúp người nghèo khổ, an ủi người buồn rầu...
và một khi quá nhiều phước nghiệp được tác thành, không
những nó đủ khả năng tạo ra một kiếp sống tràn đầy
tốt đẹp ở vị lai, mà ngay trong hiện tại, nó cũng đủ
sức làm thay đổi một phần hoàn cảnh, mặc dù dường như
hoàn cảnh đã được quy định 100%.
Ví
dụ nghiệp đã quy định ông Tám sẽ bị cháy nhà vào năm
tới. Nhưng trước đó ba năm ông đã tạo được nhiều thiện
nghiệp. Đến thời điểm phải cháy nhà, lửa cũng đã bốc
lên, nhưng đã được dập tắt rất sớm khiến cho ông không
bị thiệt hại nhiều. Những thiện nghiệp của ông đã chuyển
đi một phần hoàn cảnh trong kiếp hiện tại và còn để
dành cho ông nhiều may mắn ở kiếp sau.
Như
đã nói, tất cả quả báo đều đã được sắp đặt từ
trong Bản Thể. Luật Nghiệp Báo tận trong Bản Thể giống
như một máy siêu điện toán đã phối hợp tất cả nghiệp
nhân của mỗi người và đã hình thành xong quả báo về sau.
Tuy nhiên do được cung cấp thêm nhiều thiện nghiệp mới
tạo trong hiện tại nên đáp số đã bị biến dạng. Lẽ
ra ba cộng với năm sẽ là tám, nhưng vì bất ngờ người
ta đã đưa vài con số chen vào nên kết quả đã khác lúc
trước. Không còn là tám nữa mà là hai mươi.
Nghe
nói như vậy, nhiều người sẽ cho rằng vậy thì trong thang
giá trị, hoàn cảnh được quy định 100 % không còn đúng
nữa rồi.
Vâng,
không còn đúng với người biết tin hiểu luật Nghiệp Báo,
thiết tha muốn chuyển nghiệp, và biết chuyển hóa bắt đầu
từ nội tâm của mình. Ngoài ra với tất cả mọi người
khác. Hoàn cảnh được qui định 100 %, không ai có tài gì
thay đổi được, dù đó là thiên tài Khổng minh Gia Cát Lượng.
Tuy
nhiên, người ta chỉ chuyển được một số chi tiết chứ
không thể chuyển toàn bộ nét chính của hoàn cảnh. Ví dụ
nhà ông Tám phải bị cháy, đó là nét chính. Còn cháy nhiều
hay ít là do ông có chuyển được nghiệp hay không. Ví dụ,
anh Sáu phải bị tai nạn xe. Đó là nét chính, còn tai nạn
nặng hay nhẹ là do anh có chuyển được nghiệp hay không.
Cái
sườn chính, cái nét đại cương về hoàn cảnh của cuộc
đời như những khi gặp may, những khi gặp rủi, khi thăng
chức, giáng chức, chọn nghề, đổi nghề, đối tượng hôn
nhân, những người con sẽ sinh vào gia đình ta, những bạn
bè tốt xấu, các thời kỳ thăng trầm... đã được an bài
sẵn bởi nghiệp nhân của nhiều đời trước chứ không phải
ngẫu nhiên của đời này. Vì hoàn cảnh của đời này là
hệ quả tích lũy của nhiều đời trước nên nó dường như
cố định, rất khó thay đổi. Dù chúng ta có tạo phước
rất nhiều, nó cũng chỉ thay đổi một số chi tiết phụ
thuộc mà thôi, còn những nét chính vẫn lặng lẽ đi theo
sự quy định của nghiệp.
Nếu
một người có ý muốn chuyển đổi hoàn cảnh nên đã tạo
phước như bố thí viện mồ côi, bố thí người nghèo, người
bệnh, in kinh,... Thì chỉ có khoảng 1/5 phước đó ảnh hưởng
vào hoàn cảnh hiện tại, còn 4/5 phước đó để dành qua
kiếp sau. 1/5 phước đó làm cho các bệnh tật, tai nạn được
giảm một chút, chứ không thể xóa hết hoàn toàn Nghiệp
Báo cũ.
Cành
cây vẫn phải rớt xuống khi ông Năm đi ngang qua. Nhưng thay
vì nó rớt trúng đầu để làm ông chấn thương sọ não,
nó chỉ rớt trúng tay ông làm ông bị sưng một tháng mà thôi,
chỉ vì trước đó ông có mua chim phóng sanh rất nhiều. Quả
báo cứ vẫn phải hiện ra để báo cho chúng ta biết rằng
chúng ta đã từng làm một ác nghiệp hay thiện nghiệp trong
quá khứ. Nếu chúng ta không chuyển nghiệp, quả báo sẽ hiện
ra nguyên vẹn, xứng đáng với nghiệp nhân mà chúng ta đã
gây ra. Nếu chúng ta đã tạo phước chuyển nghiệp, nó sẽ
hiện ra với mức độ nhẹ hơn. Nhưng nó phải hiện ra, không
bao giờ bị xóa mất hoàn toàn, để báo cho chúng ta biết
những gì chúng ta đã làm trong quá khứ.
Như
vậy trong tiến trình chuyển nghiệp, chúng ta phải chuyển
hóa nội tâm làm căn bản để thắng lướt 50% tập khí cũ.
Khi nội tâm đã thuần thiện, chúng ta mới đủ sức thắng
luôn sự thôi thúc 70% của nghiệp quá khứ buộc chúng ta phải
hành động một cách thiếu đạo đức. Khi hành động đã
được kiểm soát kỹ lưỡng, chỉ còn có hành vi thiện chứ
không còn có hành vi ác, thì hoàn cảnh sẽ thay đổi những
nét chi tiết, tai nạn sẽ giảm nhẹ hơn, sự may mắn sẽ
đến nhiều hơn. Còn nét chính của định mạng vẫn không
thay đổi.
Tín
đồ của các tôn giáo đặt niềm tin vào sự cầu nguyện
rất nhiều. Họ tin rằng sự cầu nguyện với ơn trên, họ
sẽ được ơn trên gia hộ cho họ thoát được những tai nạn,
tăng thêm may mắn và mọi chuyện sẽ xảy ra theo sự mong ước
của họ. Họ sẽ cầu nguyện ơn trên cho họ thi đậu, trúng
số, mua bán lời nhiều, lấy chồng giàu, đẻ con ngoan, đi
đường bình yên, thăng quan tiến chức... Để đáp ứng những
lời cầu xin này mà vô số hình thức tín ngưỡng dân gian
đã xuất hiện. Các đền, miếu, dinh đã mọc như nấm với
vô số các thần linh, bà chúa, ông Thánh, ông Trạng được
thờ phượng với bổn phận là lắng nghe và đáp ứng sự
cầu nguyện của các kẻ đến cầu nguyện. Người đến cầu
nguyện cũng thành tâm mang theo hoa quả, nhang đèn, tiền bạc
để dâng lễ tỏ lòng thành đối với thần linh tại đó.
Thu nhập của các đền miếu nổi tiếng linh thiêng rất lớn.
Thậm chí các tượng thần còn được đeo cả dây chuyền
ngót mười lạng vàng. Còn sau một dịp cúng hội, tiền mặt
được dâng cúng nhiều không kể xiết.
Nếu
các số tiền đó được ban thủ tự dùng vào các việc công
ích như cứu tế, đắp đường, bố thí,... thì người dâng
cúng sẽ được phước. Nếu số tiền đó bị chia chác riêng
tư thì chẳng ai có phước. Còn sự cầu nguyện thầm kín
của mỗi người có được Thần linh đáp ứng đầy đủ
hay không thì chưa có con số thống kê rõ ràng.
Tuy
nhiên, trên quan điểm của luật Nghiệp Báo, sự thành tâm
cầu nguyện của con người không phải hoàn toàn khonâg có
tác dụng. Tâm cầu nguyện chân thành tha thiết khiến cho năng
lực của tâm thức trổi dậy. Sức mạnh của vô thức rất
lớn lao mầu nhiệm, có thể tạo ra hiệu quả không ngờ.
Ví dụ, một người mẹ đau khổ vì đứa con lêu lỏng, đã
cầu nguyện cho đứa con hồi tâm hướng thiện. Sau một thời
gian dài, đứa con thay đổi rõ rệt, đã từ bỏ khá nhiều
thói hư tật xấu lúc trước. Ở đây sự cầu nguyện tha
thiết của bà mẹ có tác dụng giống như sự thôi miên ám
thị từ xa. Lâu ngày nó đủ sức làm chuyển biến nội tâm
của con bà. Hơn nữa, những bậc thánh giải thoát an trú trong
Bản Thể tuyệt dối, luôn luôn cảm ứng với tất cả mọi
người. Tâm thành cầu nguyện điều lành luôn luôn được
chư Phật gia hộ, vì tâm nguyện lành đã là một nghiệp nhân
thiện rồi, nó xứng đáng được hưởng kết quả tương
xứng.
Hiểu
được điều này chúng ta có thêm một phương pháp chuyển
nghiệp cho mọi người từ sự đau khổ của mình.
Mỗi
khi chúng ta gặp nghịch cảnh, đừng cầu nguyện ơn trên gia
hộ cho mình tai qua nạn khỏi, mà phải cầu nguyện cho tất
cả mọi người tránh được nghịch cảnh đó. Tâm nguyện
vị tha này làm xuất hiện phước nghiệp lớn lao hơn là lời
cầu xin vị kỷ cho riêng mình. Một người bị rơi vào cảnh
thất nghiệp, nghèo khổ, do biết tin hiểu Nghiệp Báo nên
anh đã cầu nguyện ơn trên gia hộ cho mọi người đừng thất
nghiệp nghèo khổ, ai ai cũng có công ăn chuyện làm. Rồi tâm
nguyện tốt của anh được đền bù xứng đáng. thời gian
sau anh kiếm được việc làm dễ dàng.
Như
vậy từ nay chúng ta mong muốn được điều gì, hãy tha thiết
cầu nguyện cho tất cả mọi người đạt được điều đó
trước, nếu chúng ta né tránh đau khổ nào, hãy tha thiết
cầu nguyện cho tất cả mọi người thoát khỏi đau khổ đó.
Thế là chúng ta vừa biết chuyển nghiệp, vừa biết tăng
trưởng tâm vị tha của mình.
Trở
lại sự cầu xin của nhiều người khi đến viếng đền miếu.
Họ cầu xin tài lộc, địa vị, hôn nhân. Có những người
sẽ đạt được và những người không đạt được tất
cả đều do nghiệp chi phối. Ai đã từng tạo nhiều phước
trong quá khứ, lời cầu nguyện sẽ có kết quả. Ai thiếu
phước sẽ không được như ý nguyện hiện tại.
Rất
đông tín đồ đạo Phật đặt niềm tin vào Bồ Tát Quan Thế
Âm, mà theo Phẩm Phổ Môn của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, ngài
có khả năng nghe lời cầu nguyện của mọi người để cứu
khổ. Họ tạc bức tượng của Bồ tát như hình ảnh của
một người mẹ hiền thương yêu tất cả mọi người sẳn
sàng cứu vớt mọi người ra khỏi tai nạn. Rất nhiều giai
thoại về sự linh ứng của Bồ Tát Quan Thế Âm. Nhiều người
cho rằng đã tự thân kinh nghiệm việc này khi gặp tai nạn.
Họ đã thành tâm niệm danh hiệu Bồ Tát và đã thoát hiểm
một cách kỳ lạ không thể tưởng tượng được.
Một
bà đi sông bị cướp uy hiếp giết hại cả chồng và con.
Bà bị đập đầu thả xuống sông. Nhưng nhờ niệm danh hiệu
Bồ Tát nên bà không bị chìm, đã trôi vào bờ được dân
làng cứu sống.
Một
người như có ai xách lên quăng ra khỏi xe đò trước khi chiếc
xe lật xuống ruộng. Người này đã lẩm nhẩm niệm danh hiệu
Bồ Tát trong khi đi đường xa.
Một
người thanh niên bị cướp đuổi rượt, đã niệm danh hiệu
Bồ Tát. Đến bờ sông, chợt một ông lão chèo chiếc ghe
đến rước anh sang bên kia bờ bỏ bọn cướp nhìn theo tức
tối. Lên bờ, anh quay lại cả ông lão và chiếc ghe đều
biến mất như trong chuyện thần thoại.
Thật
ra kinh Pháp Hoa là một bộ kinh bí ẩn nhất của Phật Giáo
Bắc Phương. Lời lẽ của kinh đều ẩn chứa nhiều nghĩa.
Mỗi người tùy theo căn cơ của mình mà hiểu sâu cạn khác
nhau. Trong kinh có rất nhiều ẩn dụ khó hiểu mà phẩm Phổ
Môn là một thách đố lớn cho những ai muốn nghiên cứu về
giáo nghĩa của kinh này. Phạm vi của tác phẩm này không cho
phép chúng ta đi lạc sang giáo nghĩa của kinh Pháp Hoa vốn
rất mênh mông uẩn áo, chỉ tóm tắt trên lập trường của
Nghiệp Báo rằng chính NIỀM TIN và PHƯỚC LỰC đã đem lại
kết quả như trên. Hơn nữa, trong khi bối rối mà con người
có thể nhớ tới danh hiệu Bồ Tát để niệm thì ắt hẳn
người đó biết tu tập, biết tạo phước chứ chẳng không.
Chính phước quá khứ đã theo sự cầu nguyện để hóa giải
bớt nạn khổ của họ.
Một
số học giả chỉ trích rằng thuyết Nghiệp Báo đã khiến
cho con người cam chịu những bất công. Người nghèo khổ
bị bóc lột không hề nghĩ đến việc phải đấu tranh giành
quyền lợi vì họ cho rằng nghiệp đã sắp đặt cho họ số
phận như thế. Sự tin tưởng vào nghiệp đã khiến cho họ
cam chịu, chấp nhận và khuất phục. Tính cách đó không phù
hợp với công việc cải cách xã hội vốn cần có những
con người gan dạ đấu tranh hy sinh vì quyền lợi tập thể.
Để
giải quyết vấn đề này, chúng ta có thể xem lại một ít
lịch sử.
Trong
thời gian các bạo chúa nắm quyền như Néron, Tần Thủy Hoàng,
Hitler... Có rất nhiều người muốn nổi lên chống lại. Nhưng
khi phước của các bạo chúa vẫn còn, tội của dân chưa
hết mọi âm mưu chống đối đều bị tiêu diệt. Đến khi
phước của các bạo chúa đã cạn, đất nước đã đến
lúc phục hưng, tự nhiên các bạo chúa bị sụp đổ
một cách dễ dàng. Có khi là một cái chết do bệnh, có khi
chỉ là một cuộc mưu sát đơn giản.
Trong
tương quan Nghiệp Báo, số phận của đất nước và lãnh
tụ liên quan với nhau. Khi đất nước đến kỳ hưng thịnh,
tự nhiên lãnh tụ là người tài đức vẹn toàn. Khi đất
nước suy vong, tự nhiên lãnh tụ là người hôn ám độc đoán
mà nắm quyền rất vững, không ai làm cho nhúc nhích được.
Trong âm thầm, nghiệp vẫn chi phối tất cả.
Thêm
nữa, trong lịch sử, sau các cuộc đấu tranh, đảo chính thành
công, đời sống dân chúng nhiều khi còn đói kém hơn trước
thời kỳ đấu tranh. Sự đấu tranh bằng bạo lực chưa
phải là nguồn gốc đem lại sự sung túc cho xã hội. Chính
đạo đức xương minh mới làm cho xã hội hưng thịnh.
Trong
xã hội có đạo đức, con người biết lo cho việc chung và
quên đi cái riêng. Họ sẽ cố gắng làm việc có hiệu quả
cao. Tất cả mọi người đều như vậy thì xã hội sẽ chuyển
mình nhanh chóng. Giống như Nhật Bản sau 1945. Tất cả mọi
người Nhật đều tủi nhục và cùng chung một ý muốn
phục hồi danh dự của Tổ Quốc. Họ đã miệt mài lao động
(là một thiện nghiệp) cho đất nước. Bây giờ họ đang
chuẩn bị “mua cả thế giới” bằng đồng tiền từ lao
động đó.
Chính
đạo đức làm cho con người no ấm, làm cho xã hội tiến
bộ chứ không phải bạo lực làm được điều đó. Một
bài trong báo Công An TP.HCM đã ghi tiêu đề rằng: “Tiến
lên Chủ Nghĩa Xã Hội bằng việc làm từ thiện” (tức thiện
nghiệp) cũng là phù hợp với ý nghĩa này. Hãy xây dựng một
nền tảng đạo đức vững chắc cho xã hội, rồi chúng ta
sẽ thấy đất nước chuyển mình. Nếu phải đấu tranh, chúng
ta phải đấu tranh với sự ích kỷ của mình trước đã,
còn việc đấu tranh bên ngoài có khi còn làm tăng thêm sự
ích kỷ của mình. Cái mà làm con người bóc lột lẫn nhau
chính là tâm vị kỷ của họ. Khi bị bóc lột, họ đấu
tranh giành quyền lợi. Sau khi đấu tranh thành công, không khéo
họ lại trở thành kẻ bóc lột bởi vì họ chưa chiến thắng
được sự vị kỷ tiềm ẩn trong lòng mình.
Chính
chỗ này làm cho chúng ta thấy giá trị của việc tin hiểu
luật Nghiệp Báo. Người tin hiểu luật Nghiệp Báo không phải
là kẻ an phận trước bất công, bởi vì họ đang đấu tranh
với một cái bất công ghê gớm nhất: đó là sự vị kỷ.
Bất công chính là muốn chiếm đoạt thật nhiều về cho mình
mà không nghĩ đến người khác. Bất công và vị kỷ cũng
là một. Chúng ta muốn xã hội không còn bất công. Tốt lắm.
Nhưng trước hết hãy đấu tranh với cái bất công đang còn
ngự trị ở trong lòng mình. Ai cũng biết như vậy thì xã
hội sẽ hết bất công.