CHƯƠNG
6
NGHIỆP
VÀ KẾT QUẢ.
Chúng
ta đã đi qua một số lý thuyết căn bản về nghiệp từ các
vấn đề phân loại trường không gian, nguồn gốc Bản Thể,
cơ chế luân hồi tái sinh. Bây giờ chúng ta sẽ bàn qua tính
chất của Nghiệp và những kết quả của nó.
1-
ĐỊNH
VÀ BẤT ĐỊNH.
Như
chúng ta đã biết, khi một nghiệp được thành lập, ngay đó
quả báo cũng đã hiện diện. Vậy, trên tương đối, dường
như nghiệp là bất định vì nó tùy thuộc ý muốn thực hiện
của con người, còn quả báo là cố định. Nếu con người
có tạo nghiệp thì mới có nghiệp, chứ nghiệp không có sẵn.
Phải có bố thí cho kẻ nghèo chúng ta mới có được một
nghiệp thiện, bằng không thì nghiệp chưa xuất hiện. Như
vậy, trong cuộc đời chúng ta, tùy theo ý muốn của chúng
ta mà bao nhiêu nghiệp thiện hay ác sẽ được tạo ra. Tạo
nghiệp thiện hay tạo nghiệp ác là quyền của chúng ta, điều
đó không có ai bắt buộc.
Chỉ
khi nào nghiệp đã tạo ra rồi thì quả báo bắt buộc phải
có. Tất cả những quả báo đó dệt thành một định mệnh
mà chúng ta phải trải qua trong cuộc đời kế tiếp. Những
may mắn từ đâu kéo tới, những rủi ro không lường trước
ập lại, là những cái gì dường như ngoài quyền quyết định
của con người. Một số người phải gọi đó là thời vận
để than thở.
“Thời
lai đồ điếu thành công dị
Vận
khứ anh hùng ẩm hận đa.”
(Đặng Dung).
Ngay
những kẻ có tài mà vận may không có cũng phải đón nhận
thất bại. Không ai có kế hoạch hành động chu đáo kỹ lưỡng
như Khổng Minh, cuối cùng ông vẫn không dựng nổi đế nghiệp
cho nhà Hán, đành phải than: “Mưu sự tại nhân - Thành sự
tại Thiên.”
Trong
cuộc đời nhan nhản những kẻ thiếu tài, nhưng một phước
nghiệp nào đó đã đưa họ lên địa vị cao sang có nhiều
người tuân phục.
Trên
tương đối, nghiệp là bất định và quả báo là cố định.
Nghiệp được tạo ra hay không là do con người, nhưng một
khi nghiệp đã tạo rồi thì quả báo chắc chắn phải có.
Tuy
nhiên, đi sâu vào phân tích, chúng ta thấy vấn đề không
đơn giản. Chúng ta sẽ thấy dường như nghiệp cũng đã được
quy định rồi. Trong cuộc đời sắp tới, chúng ta sẽ làm
những gì, sẽ tạo thiện vào lúc nào, sẽ tạo ác vào lúc
nào, dường như cũng đã được quy định từ kiếp trước.
Trước
khi chết, Thiền Sư Minh An đã tiên đoán rằng mười năm sau,
Bình Thị giả sẽ quật mồ của ngài. Quả đúng như vậy.
Bình Thị giả đã quật mồ của Minh An và cầm búa chẻ vỡ
đầu khi mà thân thể của Minh An sau 10 năm vẫn không hoại.
Như
thế, rõ ràng hành động Bình Thị giả quật mồ không phải
là ngẫu hứng tức thời, vì ngài Minh An đã thấy trước
hành động đó rất lâu. Phải chăng hành nghiệp cũng là một
số phận ?
May
rủi được cho là do nghiệp quá khứ tạo thành, vậy nghiệp
do cái gì tạo thành mà nó cũng gần như định sẵn ? Năm
năm sau ta sẽ tạo nghiệp gì; mười năm sau ta tạo nghiệp
gì... dường như tiến trình này cũng đã được sắp sẵn
!
Chúa
Jésus đã biết trước rất lâu là Judàs sẽ phản bội, sẽ
báo lính tới bắt ngài. Vậy hành động phản bội của Judàs
đã được định sẵn rồi hay sao ?
Bốn
tên cướp xông vào giết hại gia đình ông chủ tiệm làm
móng tay. Đứng về phía gia đình ông chủ tiệm thì đây là
quả báo bắt buộc phải trả. Nhưng còn hành vi cướp bóc,
giết hại của bốn tên cướp là ngẫu nhiên hay đã có quy
định ? Nếu là ngẫu hứng nhất thời thì làm sao ăn khớp
với quả báo của gia đình nạn nhân; vì một bên là cố
định, một bên là ngẫu hứng ?
Chúng
ta đã biết, chính tư tưởng đời trước sẽ tạo nhân cách
đời này. Nếu một người nuôi dưỡng những tư tưởng ác
độc, chắc chắn đời sau họ sẽ có nhiều hành động ác
độc. Hành động đời này do tư tưởng đời trước quy định.
Trừ
trường hợp ông cán bộ xây cầu vì tư tưởng làm đẹp
lòng cấp trên chứ không phải vì thương dân nên đời sau
ông ta được sung sướng nhưng vẫn thiếu đạo đức, còn
lại hầu hết người ta nghĩ sao làm vậy.
Một
người ăn cắp vì đã có tư tưởng ăn cắp. Như vậy hành
vi ăn cắp ở đời này sẽ tạo ra quả báo nghèo khổ mất
mát ở đời sau, và tư tưởng ăn cắp đời này sẽ lập
lại hành động ăn cắp ở đời sau nữa. Do đó,
“Nghiệp
có khuynh hướng lập lại.”
Một
người làm việc thiện sẽ tiếp tục làm việc thiện, một
người làm việc ác sẽ tiếp tục làm việc ác.
Một
bà mẹ có thói quen hành hạ con mình, kiếp sau bà đã bị
ông bố hành hạ từ khi còn nhỏ. Lớn lên có chồng con, bà
đã lập lại hành vi hành hạ con cái.
Không
hiểu luật Nghiệp Báo, chỉ quan sát một đời, chúng ta sẽ
hiểu lầm là quả báo có trước (bị bố hành hạ từ nhỏ)
và nghiệp nhân có sau (hành hạ con cái của mình). Thật ra
bà đã lập lại nghiệp hành hạ con cái của bà đời trước
mà thôi.
Chính
vì khuynh hướng lập lại này của nghiệp mà hành động dường
như cũng được quy định sẵn.
Do
sự biến thiên tư tưởng đời trước nên hành động của
đời sau cũng bị thay đổi. Có những giai đoạn chúng ta siêng
năng học hành. Qua lúc khác chúng ta biếng nhác. Lúc thích
làm việc thiện, lúc lại quay sang nghiên cứu nghệ thuật.
Đời sau hành động cũng theo đó mà thay đổi, khi thì ham
học, khi thì chán nản, lúc lại thích làm việc từ thiện
xã hội, lúc quay sang vẽ tranh.
Như
vậy, không phải chỉ quả báo khổ vui là cái mà chúng ta
không thể cưỡng lại, ngay cả hành động cũng là cái khó
cưỡng được. Chúng ta sẽ đối xử tốt đối với người
này, tệ với người kia, hành động đó khởi lên một cách
tự nhiên, mà chúng ta không sao lý giải được, chỉ bởi
vì nó được tư tưởng đời trước sắp sẵn rồi.
Nếu
cho rằng quả báo khổ vui trong hoàn cảnh đã được quy định
sẵn 100% thì hành động cũng được quy định khoảng 70% rồi,
chỉ còn lại 30% là quyền làm chủ hiện tại để lựa chọn
lần cuối.
Chúng
ta không thể chọn cái may mắn cho mình vì đó là do phước
nghiệp đời trước. Chúng ta có thể chọn hành động tốt
để làm vì muốn đời sau được tốt đẹp, nhưng quyền
lựa chọn trong hiện tại chỉ có 30% mà thôi, vì 70% đã thuộc
về tư tưởng kiếp trước.
Trong
hiện tại, chúng ta chỉ có quyền làm chủ nhiều nhất nơi
tư tưởng. 50% tư tưởng là do quyền chọn lựa của chúng
ta bây giơ,ø chỉ có 50% là sức mạnh lập lại của quá khứ.
Nhưng hầu hết chúng ta đã không sử dụng quyền làm chủ
50% này mà chỉ thuận theo cái 50% lập lại từ kiếp trước.
Những tư tưởng ích kỷ, tự cao, tham lam sẽ lập lại. Chúng
ta buông xuôi chạy theo nó và đi dần vào sa đọa tội lỗi.
Chúng ta không dùng đến quyền làm chủ 50% kia để hóa giải
tư tưởng ác và xây dựng tư tưởng thiện, chúng ta đã bỏ
phí sự tự do của mình, chỉ cúi đầu đi theo khuynh hướng
của kiếp trước, trong khi khuynh hướng này không phải là
ưu thế.
Giá
trị của người tu là ở chỗ biết tạo dựng cho mình một
tâm hồn trong sáng, thoát khỏi những tư tưởng thấp hèn
từ kiếp trước. Trong quá trình cải tạo tâm hồn này, chúng
ta có quyền tự do 50% để chống lại sức mạnh lập lại
tư tưởng kiếp trước chỉ có 50% mà thôi.
Tóm
lại về mức độ quy định của kiếp trước, chúng ta có
thang giá trị như sau:
- Tư
tưởng được quy định 50%, 50% còn lại tùy thuộc tư tưởng
của kiếp này.
-
Hành động được quy định 70%, 30% còn lại phụ thuộc quyết
tâm của kiếp này.
-
Hoàn cảnh được quy định 100%,
Đối
với hoàn cảnh gần như một định mệnh, chúng ta chỉ nhẫn
nhục bình thản đón nhận chứ không thêm bớt được gì
nhiều.
Đối
với hành động, hết 70% là sự thôi thúc từ kiếp trước,
chỉ còn 30% để chúng ta lựa chọn.
Đối
với tư tưởng, hết 50% là sự lập lại của đời trước,
còn đến 50% để chúng ta rộng rãi lựa chọn.
Vậy
thì tại sao chúng ta không mạnh mẽ chọn lựa, gạn lọc từng
tư tưởng để xây dựng tâm hồn mình và vẽ thành một nhân
cách cao cả cho đời sau ?
2-
THIỆN
VÀ ÁC.
Thiện
và ác chỉ có thể được định nghĩa một cách tương đối.
Ví dụ hành vi giết người để tế thần linh nơi các bộ
lạc bán khai, đối với họ việc làm này là thiện, nhưng
đối với chúng ta việc làm này là ác. Hoặc khi Hitler xua
quân đội Đức Quốc Xã đi đánh chiếm khắp nơi. Người
tướng lãnh thắng trận được dân Đức xem như anh hùng,
nhưng bị dân các nước khác xem như kẻ cướp.
Một
hành vi được xem là thiện ở nơi này, nhưng lại là ác ở
nơi khác. Dường như không có cái gì hoàn toàn thiện cho tất
cả mọi mọi người cùng lúc.
Cụ
thể hơn, chúng ta có thể cho rằng một hành vi được gọi
là thiện khi nó đem lại lợi ích cho mọi người như bố
thí người nghèo, an ủi người đau khổ, thả những thú vật
bị giam cầm, đắp những đoạn đường hư lỡ. Rõ ràng là
người nhà nghèo được lợi ích nhờ bố thí, người đau
khổ được lợi ích nhờ an ủi... Như vậy, cái lợi ích
là tiêu chuẩn để định giá trị thiện ác của một nghiệp.
Lợi ích cho người càng nhiều, giá trị thiện càng lớn.
Tuy
nhiên, ngay một hành vi được gọi là thiện vẫn mang theo
một vài khía cạnh ác của nó. Ví dụ, đắp đường là một
việc thiện rất lớn. Nhưng trong khi đắp đường, người
này cũng phải đào xới, đổ đất đá, chất dụng cụ làm
cản trở giao thông một thời gian ngắn.. Như vậy cũng là
ác, nhưng cái ác nhỏ so với giá trị thiện lớn lao lâu dài
về sau.
Ví
dụ, người mẹ mang tiền bố thí cho kẻ nghèo. Đó là việc
thiện đối với kẻ nghèo vì giúp họ qua cơn đói khổ, nhưng
lại làm giảm mất tài sản của gia đình, làm cho con cái
phải mất đi một ít sự tiêu dùng của họ. vậy người
mẹ thiện với kẻ nghèo mà ác với chồng con của mình. Nhưng
so ra trong số tiền bố thí đó, kẻ nghèo thoát được cái
đói khổ ghê gớm dày vò nên giá trị thiện rất lớn, còn
các người trong gia đình cũng không bị ảnh hưởng bao nhiêu
nên giá trị ác không nhiều.
Trước
khi làm một việc gì, nói một lời gì, chúng ta phải sáng
suốt nhìn thấy mọi khía cạnh thiện ác của nó. Nếu thấy
ác rất ít mà thiện rất nhiều thì hãy làm. Còn nếu thiện
và ác sấp sỉ với nhau thì nên tránh.
Ví
dụ, việc xịt thuốc trừ sâu rầy bảo vệ cây trồng. Việc
này có khía cạnh thiện là làm ra lương thực cho con người
sử dụng, và ác là sát sinh một số sâu rầy. Cứ cho rằng
cái ác trong việc giết hại sâu rầy là nhỏ và cái thiện
làm ra lương thực là lớn. Nhưng bên cạnh đó, thuốc trừ
sâu giết luôn những côn trùng có ích, làm ô nhiễm môi trường
có hại cho sức khỏe con người... Cái hại này làm cho giá
trị ác lớn thêm, có thể sấp sỉ với cái thiện trước
đó.
Hiện
nay các nhà nghiên cứu nông dược đang tìm cách giảm thiểu
cái ác như thuốc sẽ không làm ô nhiễm môi trường, không
giết hại côn trùng có ích, không ảnh hưởng đến sức khỏe
của người và súc vật... Thậm chí họ còn nghiên cứu thuốc
trừ sâu sinh học, không cần phải giết sâu rầy, chỉ làm
cho nó trở nên không sinh sản tiếp tục mà thôi. Với những
thuốc trừ sâu loại mới này, cái ác được hạn chế tối
đa và chúng ta có thể mạnh dạn sử dụng hơn trước.
Ví
dụ một triết gia nhiệt tình chống lại tệ mê tín dị đoan
đang núp dưới chiêu bài tôn giáo. Điều này có vẻ như thiện
vì ông làm cho chân lý được sáng tỏ, giúp mọi người xa
lìa những hiểu biết sai lầm. Nhưng bên cạnh đó, ông cũng
làm tổn hại danh dự của những tu sĩ chuyên khai thác mê
tín để trục lợi, đồng thời làm chới với hoang mang một
số tín đồ đã từng chấp nhận các hình thức đó. Dù sao
thì đây cũng chỉ là cái ác nhỏ so với lợi ích do việc
phá trừ mê tín đem lại cho xã hội. Thời nào cũng vậy,
những tư tưởng tiến bộ mới lạ luôn luôn bị công kích
gay gắt. Mãi về sau mới được con người chấp nhận hoan
nghênh và lúc đó có khi tác giả đã qua đời. Tôn giáo với
những lý thuyết cách đây vài nghìn năm chắc chắn có những
điểm cần phải điều chỉnh cho phù hợp với những khám
phá của khoa học. Một số nhà hoạt động tôn giáo đã chấp
nhận ý kiến này, nhưng họ luôn luôn bị ác cảm từ những
đồng nghiệp đã quen đi theo cái cũ. Nhưng chính những con
người gan dạ biết tìm tòi, biết hoài nghi mới có thể để
lại cho cuộc đời nhiều ý kiến tốt đẹp đúng đắn.
Dường
như không một hành nghiệp nào thuần thiện hoặc thuần ác.
Nó thiện ở khía cạnh này và ác ở khía cạnh khác. Ngay
cả một số hành vi được xem là ác, đôi khi cũng có những
tác dụng thiện không ngờ. Ví dụ gây chiến tranh là một
tội ác lớn, nhưng đối với kinh tế gia Malthus (1766-1834)
thì chiến tranh, chết đói, bệnh tật là những điều cần
thiết để làm giảm bớt sự gia tăng dân số của loài người.
Theo ông, lương thực tăng rất chậm trong khi dân số tăng
rất nhanh. Con người càng đông thì càng phải phá rừng nhiều
hơn để lấy chất đốt. Rừng bị tàn phá thì sinh thái xáo
trộn, mùa mưa có nhiều bão lụt và mùa nắng thì mạch nước
tắt khô. Thủy điện bị ảnh hưởng nghiêm trọng, không
khí không được lọc sạch... Tất cả chuyên gia về kinh tế
đều lo ngại về dân số đến nỗi một số quốc gia khuyến
khích việc phá thai bất chấp sự chống đối của tôn giáo.
Tóm
lại, hầu hết mỗi hành nghiệp đều thiện ác lẫn lộn,
thiện ở khía cạnh này và ác ở khía cạnh kia. Trước khi
hành động chúng ta hãy cân nhắc cẩn thận xem thiện có nhiều
hơn ác hay không. Nếu nhận thấy tính thiện rất nhiều mà
ác không đáng kể thì bắt đầu làm.
3-
GIẾT
HẠI.
Đa
số con người đều cho rằng giết người là tội ác lớn
nhất trong các tội, thế nên tử hình là hình phạt cao nhất
trong các hình phạt. Điều này khá đúng. Để được gọi
là một sinh vật đúng nghĩa, loài đó phải có bản năng sinh
tồn. Bản năng sinh tồn là sự thôi thúc bí mật khiến cho
sinh vật đó luôn luôn muốn duy trì sự sống của mình. Nhìn
sự lam lũ vất vã của đàn kiến tìm mồi, của con giun trườn
trong lòng đất, chúng ta mới thấy loài vật đều thiết tha
muốn sống. Nhìn những người nghèo khổ không mái nhà để
ở, sống vất vưởng ở hè phố, chúng ta càng thấm thía
ai cũng yêu cuộc sống. Sự sống là một cái gì quý giá vô
cùng. Thế nên hành vi tước đoạt mạng sống của con người
được xem là một tội ác nghiêm trọng.
Theo
ý nghĩa công bình, nếu một kẻ giết người, chắc chắn
quả báo chờ đợi cho hắn là bị giết hại trở lại. Đôi
khi luật pháp xã hội chỉ phạt tù từ mười năm đến hai
mươi năm, nhưng luật Nghiệp Báo vẫn không dễ dàng tha thứ.
Tuy
nhiên, không phải luôn luôn nạn nhân ở đời này sẽ đích
thân trả thù ở đời sau. Nếu trong khi bị giết, nạn nhân
khởi niệm căm thù và muốn trả oán. Tư tưởng đó sẽ biến
thành hành động, chắc chắn nạn nhân đời này sẽ trở
thành thủ phạm ở đời sau.
Trước
kia ở Mỹ có một câu chuyện khó hiểu. Hai người bạn da
đen và da trắng ở chung với nhau và rất thân tình. Một lần
người bạn da đen cầm dao giết bạn mình rồi đến cảnh
sát tự thú. Khi được hỏi động cơ giết bạn, anh đau khổ
trả lời là không biết tại sao vì anh không có động cơ
nào cả.
Thật
ra họ đã có mối thù sâu kín từ kiếp trước. Người bạn
da đen đã khởi tư tưởng trả thù, rồi lại bỏ qua. Anh
cứ ngỡ rằng nếu đã khởi ý mà không làm thì chẳng có
ảnh hưởng gì. Nhưng ý tưởng đó đã biến thành hành động
ở kiếp sau trong lúc không ai ngờ được.
Chúng
ta hãy cẩn thận với tư tưởng của mình, đừng cho rằng
những ý tưởng, những tham muốn sẽ trôi qua mất. Không!
Nó sẽ biến thành hành động ở đời sau khi nhân duyên đã
đầy đủ.
Còn
trường hợp khi bị giết mà nạn nhân không có ý niệm trả
thù bởi vì họ mãi lo nghĩ đến người thân, của cải...
hoặc do họ đạt được hạnh nhẫn nhục cao độ, thì đời
sau thủ phạm sẽ bị giết bởi một người khác, hoặc bị
một tai nạn rủi ro như lật xe, rơi máy bay, sét đánh, cành
cây khô rơi phải...
Nếu
kẻ đã giết người khá nhiều, quả báo dành cho hắn là
thường xuyên bị giết hại ở nhiều kiếp về sau. Thậm
chí chưa ra khỏi thai mẹ đã bị trục bị nạo bỏ rất nhiều
lần.
Chưa
hết, khi giết một người chồng, tức là người vợ và người
con sẽ bơ vơ, côi cút, nghèo khổ. Quả báo còn để dành
cho tên sát nhân là đời đời sinh ra bị bỏ rơi, nghèo khổ,
lang thang ít học.
Chưa
hết, khi giết một người tức là làm đổ vỡ những sự
nghiệp của người đó đang ôm ấp xây dựng. Quả báo dành
cho tên sát nhân là thường xuyên gặp thất bại ở đời
sau.
Chưa
hết, một người bị giết tức là rất nhiều người thân
đau khổ. Quả báo dành cho tên sát nhân là thường xuyên rơi
vào tâm trạng tuyệt vọng đau khổ giống như bị bệnh hoang
tưởng tâm thần.
Chúng
ta thấy, một nghiệp nhân chính luôn luôn tạo ra chung quanh
nhiều nghiệp nhân phụ. Luật Nghiệp Báo sẽ sắp xếp để
kẻ phạm tội phải trả sòng phẳng mọi tội lỗi của hắn.
Dĩ nhiên, việc đền trả tội lỗi này không dễ chịu chút
nào.
Tuy
nhiên, không phải hễ giết người là tội bằng nhau. Tùy
theo giá trị của người bị giết mà tội của kẻ sát nhân
nhiều hay ít. Nếu người bị giết là một công dân lương
thiện làm được nhiều điều tốt đẹp cho cuộc đời, thì
sự giết hại một người như vậy tội rất nặng. Nếu sự
có mặt của anh là niềm vui cho nhiều người thì sự vắng
mặt của anh là nỗi khổ lớn lao. Giết người này tên sát
nhân khó lường hết hậu quả phải gánh chịu ở đời sau.
Nếu
người bị giết là một vĩ nhân thánh thiện đã từng đem
lợi ích lớn lao cho nhân loại. Sự ra đi của vị này là
sự mất mát to lớn của thế giới. Quả báo mà thủ phạm
phải đền trả là cực kỳ đau khổ. Hắn sẽ bị đày đọa
hành hạ ở vô số kiếp, khi làm thú bị đánh đập giết
hại, khi làm người bần tiện khốn cùng bị giết chết.
Phải cộng nỗi đau khổ của mọi người lại để tính ra
con số đau khổ mà hắn phải đền trả ở nhiều kiếp. Đó
là sự công bình không thể thay thế.
Ngược
lại, một nhân viên trong đội săn bắt cướp đã bắn chết
một tên cướp nguy hiểm đang gây án. Tên cướp đã từng
giết người cướp của gây kinh hoàng cho mọi người. Cái
chết của hắn làm cho mọi người thở phào nhẹ nhõm vui
mừng. Giết tên cướp này, tội của người nhân viên không
đáng kể, trái lại khi cộng tất cả niềm vui của mọi người,
anh được một số phước kha khá. Đây là sự công bình không
thể nói khác đi được.
Rồi
trường hợp người chiến sĩ chiến đấu ở tuyến đầu
để bảo vệ sự bình yên cho người dân ở hậu phương được
sống yên lành. Trong quá trình chiến đấu ngăn chận quân
địch, sự bắn giết là điều không thể tránh khỏi. Nhưng
cái tội đó có thể bù đắp bởi công lao đã giữ gìn cho
rất nhiều người dân được yên ổn phía sau. Chỉ khi nào
người chiến sĩ nằm trong một quân đội đi xâm lăng rõ
rệt, tội của anh ta mới lớn.
Như
vậy tùy theo giá trị của người bị giết mà luận thành
phước hay tội cho kẻ giết chứ không cố định một chiều.
Thấp
hơn con người là thú vật. Giết thú vật cũng là hành vi
tước đoạt sự sống, thế nên trước hết nó cũng là một
tội. Tuy nhiên tùy theo giá trị của con vật mà tội và phước
sẽ được phân biệt cụ thể.
Ví
dụ người ta giết một con chó để lấy thịt đãi bạn bè.
Cái phước ở đây là làm cho bạn bè một bữa ăn ngon miệng
(nhưng nếu có uống rượu quậy phá thì tính sau), cái tội
ở đây là giết một con vật trung thành và thông minh. Cái
phước kia không bù nỗi cái tội này. Rồi cái đau khổ của
con vật bị giết sẽ trở thành cái đau khổ của người
giết ở mai sau.
Trường
hợp con người nuôi súc vật để chuyên lấy thịt như bò,
heo, gà... cái phước ở đây là tạo ra thực phẩm cho con
người.. Còn cái tội ở đây là sự giết hại mạng sống
của con vật, gây đau khổ cho con vật khi mổ thịt, đồng
thời thịt của súc vật cũng dễ gây bệnh cho người dùng
như tim mạch, ung thư, nhiễm thú tính. Cái phước kia không
bù nỗi cái tội này. Các nhà khoa học đã nghiên cứu thành
công thịt nhân tạo và nhiều xí nghiệp đã chế biến cung
cấp cho nhà hàng. Đây là điều đáng khuyến khích. Hơn nữa
các nhà kinh tế cũng tính toán rằng để thu được một ký
thịt, người ta phải cho con vật ăn một số ngũ cốc đủ
cho nhiều người dân Phi Châu sống qua mấy ngày. Như vậy
rõ ràng sử dụng thịt súc vật làm thực phẩm không có lợi
cho con người bao nhiêu.
Có
một số người cho rằng người ăn chay cũng đã sát sinh vì
cây cỏ, rau quả cũng có sự sống.
Điều
này đúng ! Cắt một ngọn rau cũng là xâm phạm đến sự
sống của sinh vật. Chúng ta đã biết rằng thực vật cũng
có bản năng sinh tồn, có vùng không gian tâm linh bao phủ,
có phản ứng tâm linh đơn giản khi bị nguy hiểm... nói chung
cây cỏ dường như cũng có tâm hồn. Tuy nhiên, cấu trúc tâm
linh của cây cỏ thì đơn giản. Khi bị cắt tỉa, cây cỏ
có “biết” mình bị cắt tỉa, có phản ứng, nhưng không
có cảm giác đau đớn. Thế nên khi cắt cây, tỉa cành, hái
rau, chúng ta có phạm tội nhưng không nhiều, vì cây cỏ không
đau đớn. Tuy nhiên, một người suốt đời ăn chay, tiêu thụ
rất nhiều rau quả, cộng lại cũng thành một số nghiệp
kha khá. Nhưng người này thường tu hành làm việc phước
thiện, giáo hóa đạo đức... như vậy cái phước này quá
dư để bù lại cái tội kia.
Những
tiều phu chuyên vào rừng đốn cây, mặc dù có phước là
làm ra gỗ ván, chất đốt cho xã hội, nhưng đã gây nạn
phá rừng làm xáo trộn sinh thái Địa cầu, tước đoạt đời
sống của cây lớn, nên tích lũy thành tội cũng nặng. Cây
càng lâu năm có năng lực tâm linh càng mạnh. Có những cây
sao lâu năm - mấy trăm năm mọc ven đình chùa, có năng lực
tâm linh rất mạnh. Khi có người đến muốn đốn, phản ứng
tâm linh của cây đủ sức làm người kia mang bệnh rồi chết.
Người dân không hiểu điều này đã gán cho có thần linh
ở trên cây. Ông bà ta có câu:
“Nhất
phá sơn lâm
Nhì
đâm hà bá.”
Hai
nghề này không bao giờ khá giả. Người làm nghề này luôn
luôn cực nhọc vất vả suốt đời mà không bao giờ có dư.
Có lẽ do quả báo sát sinh nhiều quá. Tùy mỗi loại cây,
tùy theo tuổi cây mà phản ứng tâm linh của cây khác nhau.
Với chiếc lá của Backster thì phản ứng chỉ đủ làm cho
kim của đồng hồ đo nhảy. Nhưng phản ứng tâm linh của
một cây cổ thụ có thể gây chết người tức khắc khi người
đó muốn đốn nó.
Như
vậy, nếu đốn cây là một tội nặng thì việc trồng cây,
bảo vệ rừng là một phước lớn. Mỗi cây trồng được
xem như một tế bào phổi cho toàn hành tinh của chúng ta. Toàn
bộ cây trồng, cây rừng hợp thành một bộ phổi cho cả
thế giới. Cây lọc không khí, hấp thu bớt nhiệt độ, giữ
độ ẩm lâu dài cho đất, giữ mạch nước vào mùa nắng,
cản lũ lụt vào mùa mưa, tạo thức ăn cho ong và các thú
vật hoang dã, cân bằng sinh thái của toàn cầu...
Tuy
nhiên, vì nhu cầu sử dụng gỗ ván và chất đốt, con người
đang tàn phá rừng không thương tiếc. Mặc dù các quốc gia
kêu gọi phát triển trồng rừng, nhưng việc trồng rừng không
đáp ứng kinh tế cấp bách cho con người, đồng thời những
khu rừng nhân tạo không thể sánh bằng các khu rừng thiên
nhiên cả nghìn năm, hơn nữa, đa số người trồng rừng đã
chuẩn bị đốn khai thác sau mười hoặc hai mươi năm trồng.
Rừng,
một bài toán nan giải!
4-
PHƯỚC
VÀ ĐỨC.
Thông
thường người ta sử dụng chung hai chữ phước và đức.
Tuy nhiên hai từ này có nghĩa khác nhau.
Khi
chúng ta làm lợi ích cho người khác, sau này chúng ta sẽ hưởng
được một hay nhiều niềm vui. Một nghiệp thiện sắp sẵn
một quả báo lành ở vị lai. Đối với Bản Thể thì nghiệp
nhân vừa tạo xong thì quả báo cũng đã xuất hiện. Song trên
không gian vật lý, thời gian để cho từ một nhân đi đến
một quả khá lâu. Người ta cho rằng khi nghiệp thiện vừa
tạo xong thì phước xuất hiện trong vô hình để giữ gìn
cho quả báo không bị mất. Phước được ví dụ với tấm
ngân phiếu. Tiền gửi ngân hàng càng nhiều thì tấm ngân
phiếu càng có giá trị lớn. Tác thiện càng nhiều thì phước
càng sâu dày. Người đã từng làm nhiều lợi ích cho mọi
người thì người ta nói kẻ đó có phước.
Đến
khi duyên đã đủ lập tức phước hiện thành quả báo lành
khiến cho kẻ đó được hưởng nhiều vui sướng. Quan điểm
này là do đứng trên lập trường không gian vật lý mà có,
chứ đối với Bản Thể, toàn bộ quả báo ở vị lai đã
được sắp sẵn. Mỗi quả báo đều đã được ấn định
một thời điểm để xuất hiện.
Tuy
nhiên, chúng ta cũng cứ cho rằng người đã làm nhiều việc
thiện, đã làm lợi ích cho nhiều mọi người tức là người
có nhiều phước.
Như
vậy, PHƯỚC là do làm lợi ích mọi người mà có.
Còn
Đức là cái tốt của tự tâm.
Ví
dụ, một người siêng năng thanh lọc tư tưởng của mình,
giữ gìn giới cấm kỹ lưỡng, tu tập thiền định trí tuệ,
từ tâm thương yêu mọi người. Người như vậy được gọi
là người có ĐỨC. Nhưng đức chưa phải là phước !
Chỉ
khi nào người này ra tay giúp đỡ kẻ khác, giáo hóa đạo
đức cho mọi người, truyền đạt phương pháp tu tập thiền
định... lúc đó người này mới có phước.
Bản
thân mình tốt gọi là đức.
Làm
lợi cho người gọi là phước.
Có
những trường hợp vì muốn được nổi danh, vài nhà giàu
có đã bố thí những số tiền lớn cho các cuộc lạc quyên
cứu trợ. Một vài công ty làm việc thiện để góp phần
quảng cáo. Vì thâm ý của họ không tốt, chỉ có mục đích
cá nhân nên họ chỉ có phước mà không có đức.
Ngược
lại, một vài nhà tu hành thanh lọc nội tâm trắng như tuyết,
ẩn cư nơi vắng vẻ, ít giao tiếp với mọi người. Vị này
có đức mà không có phước.
Theo
truyền thuyết của Thiền tông Trung Hoa, khi Lương Võ Đế
khoe đã cất chùa, độ tăng rất nhiều, Tổ Đạt Ma đã khẳng
định hoàn toàn không có công đức. Về sau Tổ Huệ Năng
giải thích rằng chỉ được gọi là công đức khi đã giác
ngộ tự tánh thanh tịnh.
Thật
ra người có nội tâm trong sạch cao thượng cũng đã có một
phần phước vì tư tưởng lành của tâm luôn luôn lan tỏa
trong không gian và lây nhiễm âm thầm vào tâm hồn của mọi
người. Ngay cả những thiền sư đạt đạo, tâm không khởi
niệm thiện cũng vẫn có tâm lành lan tỏa xung quanh. Dù ngài
không cố ý khởi tư tưởng thiện nhưng chính nội tâm thanh
thản, vô ngã, từ bi vẫn gây ảnh hưởng rất nhiều. Song
cái phước này không lớn lắm vì không có tác dụng cụ thể,
rõ ràng và mạnh mẽ.
Người
hiểu đạo thấu đáo cần phải biết chiêu tập đầy đủ
cả phước lẫn đức. Bởi vì đức và phước hổ trợ lẫn
cho nhau. Tâm có tốt thì việc làm thiện mới chu đáo và lâu
bền. Đức có sâu thì phước mới lớn. ngược lại, trong
khi làm việc thiện, chúng ta củng cố thêm chất tốt của
nội tâm mình. Hơn nữa, nếu có một kẻ làm phước mà không
có đức, làm việc thiện vì mục đích vị kỷ, chắc chắn
sẽ có lúc làm việc ác vì tư tưởng nào cũng có ngày khởi
ra hành động. Phước sẽ bị hạn chế không thể phát triển
đến vô cùng tận.
Và
bậc chân tu cũng phải phát tâm làm lợi ích cho mọi người
bởi vì hai lý do:
Thứ
nhất, do làm lợi ích mọi người nên vị này có đủ phước
để được no đủ vật thực và hoàn cảnh yên ổn để tiến
tu thiền định nội tâm.
Thứ
hai, chỉ bởi việc quên mình lo cho mọi người mới giúp cho
ngã chấp mau tan vỡ hơn. Với nữa, một người được gọi
là vô ngã khi người đó hoàn toàn vị tha.
Chúng
ta không nên quá thiên về làm phước mà quên đi trau dồi
Đạo Đức sâu thẳm bên trong, cũng không nên quá thiên về
Đức tốt của tự tâm để quên đi việc làm lợi ích cho
mọi người bên ngoài.
5-
THỜI
GIAN TỪ NGHIỆP ĐẾN KẾT QUẢ.
Câu
chuyện của Ngộ Đạt Quốc Sư bị mụt ghẻ mặt người
làm ngài đau đớn vô cùng. Nguyên nhân của nó từ khoảng
10 kiếp trước ngài là nhân vật Viên Án tâu vua chém chết
Triệu Thố một cách oan uổng.
Chuyện
khác gần đây, trong cơn căm giận tột độ, anh Tư đã dùng
hết sức bình sinh tung một cước độc hại vào ngực anh
Tuấn. Anh Tuấn đang ngồi dựa vào tường. Thoáng thấy cú
đá anh lách người né ra cửa. Không trúng anh Tuấn, cú đá
đi luôn vào tường dày 20 làm tường chấn động rạn nứt
và năm ngón chân của anh Tư bị dập nát, phải đưa anh đi
bệnh viện cấp cứu.
Ở
câu chuyện của Ngộ Đạt, thời gian để cho quả báo xuất
hiện là 10 kiếp. Ở câu chuyện dưới quả báo xuất hiện
song song với nghiệp nhân.
Không
có thể xác quyết rằng một nghiệp phải có quả báo ở
lúc nào, đời này, đời sau, hay nhiều đời khác. Nó tùy
thuộc vào nghiệp duyên của mỗi người. Ngay khi chúng ta vừa
đắp xong một đoạn đường hư lỡ, lập tức ngay trong Bản
Thể, luật Nghiệp Báo đã sắp xong các quả báo lành cho vị
lai. Nhưng để xác định thời điểm cho mỗi quả báo xuất
hiện, cần phải phối hợp với tất cả nghiệp duyên từ
trước. Ở đây, luật Nghiệp Báo giống như một máy siêu
điện toán cực kỳ tinh vi, trong thoáng chốc đã “tính ra”
tình trạng của quả báo này và thời điểm của quả báo.
Có
người từng tạo phước quá nhiều, đời này có lỡ làm
tội, quả báo cũng ít khi xảy ra trong thời gian gần, có thể
kéo dài qua nhiều kiếp sau nữa. Ngược lại, người ít phước,
năm nay vừa lừa gạt bạn bè, vài năm sau đã bị lừa gạt
lại.
Hoặc
có người tội dày, bây giờ có ráng tu tập làm phước cũng
khó thấy được kết quả nhanh chóng. Có khi phải qua đời
sau mới được hưởng. Ngược lại người ít tội, vừa làm
phước như bố thí, phóng sinh, năm mười năm sau đã thấy
cuộc đời tràn đầy may mắn yên lành.
Một
ông già giữ mía, tưởng là heo đến phá, đã phóng cây xà-búp
ghim vào bụng đứa bé. Ông sợ hãi chôn đứa bé để phi
tang mặc dù nó chưa chết. Hơn mười năm sau, đứa bé tái
sinh qua nhà hàng xóm, đã lỡ tay làm rớt con dao ghim vào bụng
ông khi ông đang cõng nó để hái trái đu đủ. Ông chịu đựng
đau đớn suốt mấy ngày, cho gọi gia đình có đứa bé bị
giết hồi mười năm trước và tất cả mọi người thân
thuộc đến, ông thuật lại câu chuyện đã được dấu kín
từ lâu, và xác nhận đây là quả báo mà ông phải trả.
Ông vui lòng nhận lãnh và khuyên mọi người ráng làm lành.
Sau đó ông qua đời (trong Luận về Nhân Quả, Chơn Quang).
Trong
câu chuyện này thời gian để quả báo xuất hiện là mười
năm, ngay trong kiếp hiện tại của ông già giữ mía.
Mặt
khác, một nghiệp nhân chính thường tạo ra nhiều nghiệp
nhân phụ. Ví dụ tên trộm lẻn vào lấy cắp chiếc xe của
ông chủ nhà. Nghiệp chính là đoạt tài sản của người
khác một cách bất hợp pháp. Bên cạnh đó một số ảnh
hưởng phụ kéo theo như, vì thiếu xe đi làm ông phải thay
đổi sở làm gần nhà hơn và thu nhập ít đi, kinh tế gia
đình bị giảm sút. Các con phải bỏ bớt giờ học thêm.
Nỗi buồn kéo dài triền miên trong gia đình. Những nghiệp
chính và phụ đó tạo thành nhiều loại quả báo khác nhau.
Thời gian để cho mỗi loại xuất hiện cũng khác nhau. Tên
trộm phải trả quả báo mất mát trong kiếp này, quả báo
ít học trong kiếp sau, quả báo trầm uất trong kiếp sau nữa.
Ví
dụ một người mẹ kế đã âm mưu giết đứa con riêng của
chồng. Có hai quả báo hiện ra từ một nghiệp nhân đó: một,
chính bà sẽ bị giết khi còn nhỏ tuổi ở kiếp sau; ngay
trong kiếp này bà phải chứng kiến đứa con ruột mình bị
chết oan uổng.
Ở
tính chất khác, một người biết tu hành, có lòng thương
loài vật, phát nguyện không sát sinh. Ông ít nghiệp ác, chỉ
có nghiệp thiện và công đức tu hành hiện tại. Đời sống
ông yên ổn bình thản. Một lần ông lỡ đốt rác làm chết
nhiều con mối núp ở dưới. Vài ngày sau ông trở bệnh. Cơn
bệnh của ông có hai nguyên nhân. Một là do tâm ông áy náy
khi biết mình lỡ sát sinh; hai là do quả báo trả sớm, không
để dây dưa qua kiếp khác.
Một
nhà kiến trúc tên Nhâm (tác giả công trình trụ sở Imexco)
không theo tôn giáo nào, chỉ sống theo đạo lý do mình tự
tìm thấy. Nhà ông có nuôi ít gà vịt. Ông quan niệm rằng
không nên ăn thịt con vật nào đã từng cung cấp trứng cho
mình trước đó vì nó đã có ơn với mình. Còn con nào chưa
từng cho trứng thì có thể ăn thịt được. Một lần vợ
ông giết thịt một con vịt cho cả nhà ăn. Sau đó cả nhà
mới phát hiện ra rằng con vịt đã từng cho trứng. Chiều
đó miệng ông sưng to như một sự trừng phạt vì đã vi phạm
lời thề. Triệu chứng đó cũng có hai nguyên nhân. Một là
tâm lý ray rứt của ông, hai là quả báo đến sớm.
Một
tính chất khác cũng cần được nói đến là sự thay đổi
thời gian của quả báo. Ví dụ: anh Tám lỡ tạo nghiệp giam
cầm thú vật. Sự ấn định của luật Nghiệp Báo từ trong
Bản Thể là anh phải bị tù tội ngắn hạn vào mười năm
sau. Nhưng khi gần đến thời gian ấn định, anh lại phát
tâm làm các việc phước thiện như đắp đường, phóng sinh,
bênh vực kẻ oan ức. Cái phước lớn này làm cho quả báo
bị tù tội bị đẩy lùi qua kiếp sau để cho đời sống
hiện tại của anh không bị xáo trộn.
Như
vậy những nghiệp mới làm thay đổi biến dạng quả báo
của nghiệp cũ. Nhờ vào tính chất này, chúng ta có thể chuyển
nghiệp từ xấu thành tốt, từ nặng thành nhẹ.
6-
NGƯỜI
VÀ THÚ.
Khi
tinh trùng của cha kết hợp với tiểu noãn của mẹ, lúc đó
mọi người bắt đầu một kiếp sống mới. Nhưng tùy theo
nghiệp của mình mà tinh trùng và trứng đó là của loài người
hay loài thú.
Thông
thường, người nào tội nặng mới bị đọa làm thú. Dưới
ánh mắt của con người thì loài thú không có nhiều giá trị.
Người ta có thể dùng thú vật để làm thức ăn, để thực
hiện các thí nghiệm khoa học, để phục vụ cho con người.
Mặc dù thời gian gần đây ở các nước tiên tiến có luật
bảo vệ thú vật, hoặc có luật bảo vệ các loài có nguy
cơ tuyệt chủng. nhưng thú vật vẫn thuộc một “đẳng cấp”
thấp kém so với loài người.
Như
vậy, kẻ nào tạo những nghiệp bỉ ổi, thấp hèn, mất giá
trị, mất nhân phẩm sẽ bị đọa làm thú, và ở thân thú
vật này họ bị coi thường khinh rẻ.
Những
nghiệp nào được xem là hèn hạ, mất nhân phẩm?
Đó
là tà dâm, loạn luân, phá vỡ luân thường đạo lý của
xã hội loài người. Dục vọng không biết kềm chế, không
có lý trí hướng dẫn, rõ ràng tương đương với dục vọng
của loài thú. Hạnh nghiệp giống với loài thú đưa tác giả
đi đến kiếp thú về sau.
Hoặc
lòng ích kỷ tột độ biến thành hành vi tranh giành xâu xé
đồng loại không thương tiếc cũng rất giống với loài thú.
Những người quá ích kỷ chỉ nghĩ đến mình, dùng mọi thủ
đoạn hiểm độc để bức hại kẻ khác, dành quyền lợi
cho mình. Tư cách này không khác biệt với loài thú chỉ biết
sống theo bản năng ích kỷ, tranh giành hành vi giống như thú
thì quả báo đọa làm thú là điều không tránh khỏi.
Hoặc
có người mỗi khi nóng giận thường chửi mắng kẻ khác
là thú vật bằng cách gọi họ là trâu, chó, heo, ngựa...
Lời nói ác khẩu này lập đi lập lại nhiều lần suốt đời
sẽ đủ sức kết thành quả báo đọa thú ở thân sau. Trong
luật Sadi của Phật Giáo Bắc Tông có kể câu chuyện một
Sa Di, vì vô tình đã chê bai một vị A La Hán tụng kinh giống
như tiếng chó sủa. Do lời nói này, người Sa Di bị đọa
làm chó năm trăm đời liên tiếp.
Hoặc
có người làm nghề giết thịt như mổ gà vịt, mổ heo bò...
Đến khi gần chết họ bỗng trở bệnh kêu la như vịt, như
heo và thấy ảo ảnh có vô số thú vật đến cắn xé. Chuyển
qua kiếp kế tiếp, chắc chắn họ phải đọa làm thú để
chịu lại cảnh đau đớn khi bị mổ giết. Nhưng do trong một
đời hành nghề, họ đã giết quá nhiều thú vật nên họ
phải đọa làm thú liên tiếp nhiều kiếp sau để trả cho
hết oan trái ngày xưa.
Nếu
người đó đã từng sát sinh thú vật cộng với một nhân
cách hèn hạ chắc chắn đời sau họ sẽ đọa làm thú để
vừa bị khinh rẻ, vừa bị giết hại trở lại.
Còn
nếu người đó chỉ phạm tội sát sinh, nhưng có nhân cách
cao cả, độ lượng thương yêu mọi người, kiếp sau họ
vẫn trở lại làm người nhưng phải chịu tai nạn thương
tật hay chết yểu.
Có
người đời trước thọ nhận, nhiều tài vật của người
khác một cách bất chính như trộm cắp, giật nợ, hoặc tu
sĩ nhận cúng dường nhưng không giới hạnh, cộng với một
tư cách đồi bại ích kỷ... Kiếp sau họ sẽ đọa làm các
loài lao động nặng như trâu, bò, ngựa, lạc đà... để trả
nợ. Còn nếu họ chỉ mắc nợ tài vật nhưng vẫn giữ được
tư cách tốt thì đời sau họ cũng được làm người nhưng
vẫn phải lao động quần quật để trả nợ. Sự thụ hưởng
tài vật không chân chính luôn luôn để lại những món nợ
khó chịu cho đời sau. Người phải nai lưng hầu hạ chủ,
phải cẩn thận tùy thuận từng ý muốn của chủ một cách
sợ sệt, hoặc con vật phải kéo cày, chở nặng chịu roi
vọt đều là những hình thức trả nợ đời trước một
cách đau khổ. Sở dĩ như vậy vì họ đã thọ những món
nợ quá nhiều. Thế nên bây giờ khi được dâng tặng hậu
hĩ, chúng ta hãy coi chừng phải chăng đây là những món nợ
khó chịu để dành cho đời sau. Chỉ những tài sản được
tạo nên từ công lao của mình bởi cách thức chân chính,
dù ít hay nhiều, mới thật là thành quả đền bù của cuộc
sống, không phải là nợ dây dưa về sau.
Có
người bị đọa làm thú, trở nên một loài giống bị khinh
rẻ bởi vì họ thường xuyên khinh thường mọi người. Đó
là sự công bình ! Khi chúng ta luôn luôn đánh giá thấp người
khác, xem thường người khác tức là chúng ta đã tạo cho
mình một quả báo bị khinh rẻ trở lại. Có nhiều hình thức
để bị khinh rẻ. Hoặc người mang bệnh lây nhiễm khó chữa
như phong hủi, lở lói hôi hám, hoặc người mang thân phận
tù tội, hoặc người kém tiền bạc, kém tài năng, kém nhân
cách, hoặc người bị mang tiếng xấu (do sự thực hay bị
vu khống). Nhưng thân thú vẫn là “thân phận” bị xem thường
rõ rệt nhất. Vì vậy, tâm tự cao cho mình là hơn, thấy người
là kém, nếu quá đáng vẫn có thể đưa đến quả báo đọa
làm thú ở mai sau.
Trong
các trường hợp khác chúng ta cũng thấy có một vài ngoại
lệ. Một số con chó được chủ cưng chìu nuôi nấng còn
sướng hơn con người (tất nhiên là người nghèo). Quả báo
này do hai nguyên nhân: một, ở thân trước làm người, con
chó này có nhiều ân nghĩa với chủ, đã giúp đỡ chủ đắc
lực; hai, bên cạnh đó nó gây một số nghiệp bỉ ổi, mất
nhân phẩm. Do nghiệp kém nhân cách, nó phải đọa làm chó,
và do ân nghĩa lớn lao với chủ, nó được cưng chiều quá
đáng.
Đối
với thuyết tiến hóa, các nhà sinh vật cho rằng thỉnh thoảng
xuất hiện các đột biến về cấu trúc của thú vật khiến
cho một vài con có đặc tính hơn hẳn đồng loại. Trong một
đàn chó sói, thỉnh thoảng có một vài con thông minh hơn,
hiền lành hơn, được con người tuyển chọn để nuôi dưỡng
thuần hóa dần dần tạo thành giống chó nhà như hiện nay.
Những con vật khác nhờ có tính chất đột biến này đã
thích hợp với sự thay đổi của môi trường Địa cầu trong
khi những con khác bị thiên nhiên đào thải. Sự đột biến
đó làm cho loài vật tiến hóa dần dần để trở thành loài
người. Rồi trong loài người cũng có sự đột biến để
cho ra những vĩ nhân nổi bật. Nhưng con người không tìm thấy
tiếp tục rằng với những vĩ nhân đó có thể sản sinh ra
một “loài người mới” cao cấp hơn con người hiện tại.
Họ chỉ như một vài vì sao đơn độc lóe sáng giữa bầu
trời rồi rơi rụng bỏ lại con người với những sự quay
cuồng lặn hụp tầm thường như xưa.
Sự
sống ban đầu của Địa cầu đã xuất hiện như thế nào
vẫn còn là một bí ẩn. Các nhà khoa học tính toán rằng
với điều kiện thiên nhiên ban đầu, khả năng xuất hiện
một Protéin là một phần hai tỷ, nghĩa là coi như bằng không.
Thế nhưng các tế bào đã có mặt càng lúc càng nhiều và
phức tạp dần dần. Nhân Quả ở đây phải giải thích làm
sao? Từ một chỗ không có gì, bỗng nhiên có sinh vật xuất
hiện, rồi sau đó động vật chính thức ra đời có tâm thức
phức tạp, có tạo nghiệp nhân để thọ quả báo. Ai đã
làm thành động vật có tâm thức để cho động vật đó
phải lăn lóc đấu tranh vì sự sống một cách cực khổ.
Trong sự đấu tranh sinh tồn đó, các động vật khi thì giúp
đỡ lẫn nhau (thiện) khi thì xâu xé lẫn nhau (ác) để tạo
thành vô số nghiệp thiện ác lẫn lộn thúc đẩy họ lăn
trôi trong luân hồi mãi mãi. Phải chăng nguyên nhân ban đầu
là một Thượng Đế có quyền năng đã tạo ra tất cả như
một vở bi hài kịch không lối thoát?
Ở
dịp khác chúng ta sẽ trở lại vấn đề này một cách kỹ
lưỡng hơn.
7-
NGHIỆP
CHUNG VÀ NGHIỆP RIÊNG.
Một
cơn động đất kinh khủng đã phá hoại một vùng đất rộng
lớn ở Trung Hoa. Nhiều người chết, nhiều người bị thương
và nhiều nhà cửa bị hư hại. Trước một tai họa chung đó,
các nhà Nghiệp Báo học gọi là cộng nghiệp (nghiệp chung).
Trong
một khu phố yên tĩnh. Ông Ba bị dây điện đường đứt
rơi trúng khi đi ngang. Ông chết tại chỗ, người ta gọi trường
hợp này là biệt nghiệp (nghiệp riêng).
Đối
với nghiệp riêng thì vấn đề trở nên đơn giản, nghiệp
ai đã gieo thì nấy chịu. Nhưng trước một tai họa chung thì
sự việc phức tạp hơn nhiều.
Không
hẳn là những người cùng chịu chung một tai họa bởi vì
trong quá khứ đã xúm nhau làm chung một điều ác. Họ chỉ
là những người có quả báo giống nhau, rồi do sự thúc đẩy
của nghiệp đã tìm về ở chung một môi trường với nhau.
Bốn
mươi người có chung quả báo sẽ bị tai nạn xe cộ, đã
mua vé đi cùng một chuyến xe đò. Khi tài xế lái đến quảng
đường vắng thì thấy bóng một cô gái áo trắng tóc xỏa
chời vờn trước mũi xe. Anh vội vã bẻ volant và đạp thắng.
Xe mất thăng bằng lật nhào vào cánh ruộng bên đường. Người
nghiệp nặng thì chết, người khác thì bị gãy tay chân, chấn
thương. Một vài người nghiệp nhẹ thì qua một cơn kinh hoàng
và chỉ bị xây xát chút ít.
Chính
nghiệp của 40 người đã tạo ra một ảo ảnh trước mặt
người tài xế. Nhiều người giải thích rằng có một hồn
ma tại khúc đường đó muốn làm cho xe lật đổ tìm thêm
người chết làm bạn.
Chưa
chắc là 40 người này đã tạo chung một nghiệp ác từ quá
khứ. Có thể họ chỉ tạo nghiệp riêng rẽ, nhưng đều chiêu
thành một quả báo giống nhau nên nghiệp duyên đã thúc đẩy
họ đi cùng một chuyến xe định mệnh.
Sông
Mêkong dâng nước làm ngập lụt nhiều vùng ở hạ lưu. Một
trong những nguyên nhân được tìm thấy là do khói các giếng
dầu ở Koweit bị Irak đốt cháy làm xáo trộn thời tiết
Địa cầu, cộng với nạn phá rừng từ thượng nguồn sông
từ Hy Mã Lạp Sơn qua Vân Nam đến Lào, Thái Lan... khiến cho
thiếu rừng giữ nước mưa lại. Như vậy phải chăng người
Irak gây nhân và người Việt Nam chịu quả báo?
Không
phải vậy, đó chỉ là Nhân Quả của khoa học vật lý trong
không gian vật lý. Nó chỉ là bề nổi của luật Nghiệp Báo
ẩn dấu đằng sau.
Hệ
quả của việc phá rừng đầu nguồn là gây lũ lụt ở vùng
hạ lưu. Những ai cũng có quả báo phải chịu lũ lụt sẽ
sinh ra lớn lên, hoặc từ đâu chuyển về sinh sống, nơi những
vùng đó để cùng nhau chịu chung tai họa. Còn những kẻ phá
rừng đầu nguồn sẽ được “tính sổ” ở tương lai.
Ở
tính chất khác, có những người cùng tạo chung một nghiệp,
cũng dễ dàng cùng chịu quả báo đồng thời.
Ví
dụ một ông quan ra lệnh giết một người tốt chỉ vì người
này bênh vực dân nghèo chống lại những kẻ giàu có ức
hiếp họ. Khi xử thiêu ở giàn hỏa, những kẻ giàu có reo
hò biểu lộ sự đồng tình. Đến đời vị lai, ông quan,
đao phủ và đám người hùa theo vô tình hội họp ở nhà
ăn lớn. Thế rồi nhà ăn phát lửa, nhóm thực khách kinh hãi
hỗn loạn, ông quan và tên đao phủ bị chết thiêu, còn những
kẻ khác thì bị phỏng nặng.
Nghiệp
tùy hỉ với kẻ khác cũng làm chúng ta bị vạ lây. Mỗi khi
trông thấy người mổ heo bò, đánh lộn hoặc cướp giật,
nếu không ngăn cản được thì thôi chứ chúng ta đừng khởi
tâm đồng tình với họ. Nếu có tâm niệm đồng tình ắt
có ngày chúng ta “ăn theo” một chút quả báo của họ. Nhiều
kẻ ăn không ngồi rồi hay xúm xít xem cảnh một người làm
thịt chó với vài ý kiến đóng góp nhiệt tình, hy vọng sẽ
được chia ít phần. Họ đâu biết rằng nghiệp nhân đó
làm họ đổ thịt chảy máu ở mai sau.
Cũng
có trường hợp nhiều người chung tạo nghiệp, nhưng vì thiếu
duyên để gặp gỡ nên họ chia ra nhận quả báo riêng rẽ
mỗi nơi khác nhau mặc dù quả báo khá giống nhau.
Ví
dụ, ba người cùng phát tâm đắp một con đường cho dân
làng đi lại dễ dàng. Nhưng do tư tưởng và một số nghiệp
khác lại không giống nhau nên đời sau họ sinh qua ba đất
nước khác nhau. Mỗi người đều học ngành xây dựng cầu
đường và thành công giàu có tốt đẹp gần như nhau.
Trong
truyện tích về trưởng lão Losaka Tissa kể rằng vì đời
quá khứ, trưởng lão đã đố kỵ với một vị ALaHán, nên
nhiều đời về sau trưởng lão đọa làm chó đói, đến khi
trở lại làm người cũng bị đói kém thê thảm. Trong kiếp
cuối cùng, khi ngài đầu thai tại làng đánh cá, cả làng
bỗng nhiên bị một tai họa như mất mùa cá, lửa cháy, hồ
nước cạn, vua xử phạt. Họ tìm ra sự xui xẻo xuất hiện
từ gia đình của đứa bé và đuổi người mẹ có mang ra
đi. Bà mẹ đi xin ăn để nuôi con. Khi đứa bé vừa có thể
chập chững xin ăn được, người mẹ bỏ trốn! Sau này chú
bé được ngài Xá Lợi Phất tiếp độ và được gọi là
Losaka Tissa. Mặc dù chứng được đạo quả ALahán, nhưng trưởng
lão vẫn chịu sự đói thiếu suốt đời (Luận về Nhân Quả).
Ở
trường hợp này, không phải là họ cùng tạo nghiệp chung
với trưởng lão từ quá khứ. Chỉ là do nghiệp của trưởng
lão không được sống một cách êm ấm, phải lang thang đói
thiếu vất vả nên nó thúc đẩy toàn bộ dân làng hiện ra
quả báo xấu của họ, để cho họ buộc lòng phải đuổi
người mẹ có mang ngài ra đi.
Không
hẳn là nghiệp ác đời này sẽ sinh ra quả báo ở đời sau.
Nó có thể kéo dài vài trăm năm về sau. Có những nhà tiên
tri lừng danh như Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), Nostradamus (1503-1566
Pháp), Jeane Dixon (Mỹ) có thể thấy trước việc tương lai
từ rất xa. Nostradamus có thể tiên tri những việc sau đời
ông 7000 năm! Cho đến hôm nay khi nghiệm lại các lời tiên
tri bóng gió của ông, người ta thấy đúng nhiều chi tiết
đến kỳ lạ. Cuộc Cách Mạng Pháp với Công Xã Paris được
diễn tả rành mạch; nhân vật De Gaulle được nói đến khá
chi tiết... Những sự việc chung này được tiên đoán từ
rất lâu chứng tỏ rằng luật Nghiệp Báo từ trong Bản Thể
đã sắp xếp quả báo của mọi người khá rõ ràng từ nhiều
nghìn năm về trước. Nostradamus có một sự nhạy cảm tâm
linh cao độ, đã “đọc” được tiến trình này dù cho nó
chưa hề có dấu hiệu nào nơi không gian vật lý.
Những
quả báo chung của mọi người như thiên tai, chiến tranh, hỏa
hoạn... dường như đã được sắp xếp sẵn từ rất lâu.
Đó là sự tập hợp nghiệp của mọi người từ khắp nơi
trên thế giới. Ví dụ có ba nghìn người tạo nghiệp ác
ở rải rác mọi nơi. Quả báo của họ khá giống nhau là
phải chịu một trận phun núi lửa dữ dội. Nhưng nhân duyên
để họ quây quần về sống gần nhau dưới chân núi lửa
cần phải một thời gian là năm trăm năm sau nữa. Và một
vài nhà tiên tri siêu việt đã nhìn thấy sự kiện sẽ xảy
ra này.
Có
một tai họa chung mà toàn thể nhân loại phải gánh chịu
đó là ngày tận thế! Một số tôn giáo đã nói nhiều về
ngày tận thế để khuyến khích tín đồ cố gắng tu thiện
ngay từ bây giờ. Các nhà khoa học đã chứng minh rằng vào
kỷ Gjura đã từng xảy ra một vụ va chạm giữa Địa cầu
với một thiên thể lớn khiến cho các loài khủng long dường
như bị tuyệt chủng đồng loạt. Vào năm 1988, một vẫn thạch
lớn cắt ngang quỹ đạo Địa cầu tại một nơi mà Địa
cầu mới đi qua. Các nhà thiên văn còn e ngại một sự gặp
gỡ tương tự sẽ xảy ra vào lúc khác . Nếu có một sự
va chạm lớn như vậy, chắc chắn đó là ngày tận thế của
nhân loại. Tuy nhiên, có một ngày tận thế chắc chắn nhất
mà chúng ta không thể tránh khỏi là sau vài tỷ năm nữa,
mặt trời đã nguội, không còn sưởi ấm cho trái đất nữa,
lúc đó một cái lạnh khủng khiếp tiêu diệt toàn bộ sự
sống nơi hành tinh này. Từ nay tới ngày đó còn quá xa để
cho chúng ta phải lo sợ, chỉ sợ những tai họa bất ngờ
xảy ra ngoài dự kiến của con người, và xảy ra trong thời
gian rất gần khi mà con người chưa đủ khả năng bồng bế,
kéo sang một hành tinh khác để lánh nạn.
Tận
thế, một quả báo chung của toàn thể sinh vật (nhất là
động vật) là do nghiệp nhân gì của mọi người?
Cái
chết tập thể này là do tất cả mọi người cư ngụ trên
quả đất, vì sự sống của mình đã thường xuyên tạo các
nghiệp PHÁ HOẠI SỰ SỐNG LẪN NHAU.
Những
loài vật có khả năng hơn đã ăn thịt các loài vật kém
khả năng hơn. Con cọp mạnh bắt đi con dê yếu đuối, vồ
đi con người mảnh mai. Con cá lớn nuốt con cá bé. Con người
thì đủ thông minh để có thể giết tất cả các loài khác
và đồng loại của mình.
Việc
giết hại động vật có tâm thức thường gây nên các quả
báo rõ ràng trong thời gian gần như vài năm, vài kiếp, vài
trăm năm. Kẻ thủ phạm phải chịu đền trả một mình (nghiệp
riêng) như bị thương tật, bị chết chóc; hoặc phải chịu
tai họa chung với nhiều người khác (nghiệp chung) như bị
các thiên tai, bệnh dịch, tai nạn giao thông.
Có
một nghiệp “hủy hoại sự sống” rất âm thầm khó
thấy nhưng quả báo của nó đủ sức đưa đến tận thế,
đó là sự chặt phá cây cối. Thực vật có sự sống và
có tâm linh, một tâm linh đơn giản. Tuy thực vật không biết
đau đớn nhưng ai hủy diệt sự sống của thực vật (nhất
là phá rừng) cũng đã tự chuốc lấy quả báo bị hủy diệt
sự sống của chính mình về sau. Toàn thể nhân loại mỗi
ngày đều tiêu diệt sự sống màu xanh trên hành tinh để
làm món ăn (rau), để làm vật dụng (gỗ), để làm nhiên
liệu (củi). Cái nhân tiêu diệt sự sống màu xanh đó tích
lũy qua nhiều kiếp, nhiều triệu năm, nhiều tỷ năm, ắt
phải đưa đến sự tận thế ghê gớm.
Đối
với không gian vật lý, việc phá rừng có nguy hại trầm trọng
đến với sinh thái Địa cầu. Những khu rừng già rậm rạp
có chức năng lọc không khí như một bộ phổi của hành tinh,
rừng hấp thu nhiệt độ của ánh sáng làm dịu bớt cái nóng
của mặt trời và giữ độ ẩm cho không khí; rễ cây rừng
giữ nước mưa để không làm thành lũ lụt, giữ độ ẩm
cho đất khi không còn mưa khiến cho mạch nước được duy
trì trong suốt mùa khô. Phá rừng là một hành vi tự hủy
diệt chính mình, nhưng không đủ để gọi là gây nên tận
thế. Cái quả báo tận thế được nói đến ở đây chính
là dựa vào không gian tâm linh. Sự tiêu diệt sự sống của
cây cối, tiêu diệt tâm linh đơn giản của cây cối tạo
thành một quả báo trầm trọng hơn chúng ta nghĩ theo không
gian vật lý. Nó âm thầm tích lũy dần dần để đưa đến
một tai họa khủng khiếp cho toàn thể loài vật đến nỗi
đáng được gọi là tận thế.
Chúng
ta sẽ đặt vấn đề nếu không sử dụng thực vật, dù trực
tiếp hay gián tiếp thì con người làm sao giải quyết nhu cầu
đời sống, và chính vì đã chung nhau tích lũy nghiệp hủy
diệt sự sống màu xanh nên ngày tận thế của nhân loại
là điều không tránh khỏi. Nhưng dù sao, đối với dòng luân
hồi vô tận sinh tử tử sinh tiếp nối mãi thì cái chết
lúc tận thế có gì quá quan trọng để chúng ta phải sợ
hãi đâu ? Miễn là chúng ta có một sự nghiệp phước đức
cực kỳ lớn đã tích lũy nhiều đời đủ đưa chúng ta đi
sang một kiếp sống mới, ở một hành tinh khác vui sướng
hơn Trái đất gấp bội lần.
Sau
ngày tận thế, kẻ nhiều tội sẽ tái sinh qua một hành tinh
đầy khổ sở, biến động, hoang dã. Kẻ có phước sẽ tái
sinh qua một hành tinh văn minh, tiện nghi, hạnh phúc tràn trề.
Dòng luân hồi vẫn tiếp tục lăn mãi trừ phi kẻ nào đã
chứng đạt Bản Thể Tuyệt Đối để giải thoát hoàn toàn
mới không bị luân hồi chi phối.
Nếu
nhân loại cứ bạo tàn hủy diệt sự sống lẫn nhau và sự
sống màu xanh của thực vật thì ngày tận thế sẽ đến
gần hơn. Nếu nhân loại biết bồi đắp giữ gìn sự sống
lẫn nhau, giữ gìn sự sống màu xanh cây cỏ thì ngày tận
thế sẽ dang ra xa mãi, nhưng dù sao ngày tận thế cũng phải
đến khi mặt trời bắt đầu nguội. Luật vô thường sinh-trụ-hoại-không-
là điều không tránh khỏi.
Thế
nên, có mặt trên cuộc đời này, chúng ta hãy trân trọng
sự sống của muôn loài, dù đó là con người, thú vật hay
cây cỏ lá hoa. Hãy thương yêu và giữ gìn tất cả để góp
phần đẩy lùi ngày tận thế ra xa hơn.
8-
GIÚP
ĐỠ
Hành
động giúp đỡ được thể hiện qua nhiều cách, hoặc bằng
lời nói hướng dẫn cách thức làm ăn mua bán cho người,
hoặc bằng hành động làm giúp công việc nặng nhọc cho người,
hoặc bằng cách cho, tặng (bố thí cúng dường) tài vật đến
người. Từ sự giúp đỡ như thế, người khác được dễ
dàng trong cuộc sống hơn, nghĩa là họ được vui sướng hơn.
Mỗi
một sự giúp đỡ cho người khác sẽ tạo thành một hay nhiều
quả báo lành ở vị lai cho chúng ta. Ví dụ anh Hai đã giúp
ông Tám dựng lại ngôi nhà sau cơn hỏa hoạn. Hành vi giúp
đỡ của anh Hai đem lại cho ông Tám những lợi ích sau đây:
-
Gia đình ông Tám có nơi ẩn trú, tránh được mưa nắng
và bớt bị bệnh tật.
-
Tài sản còn lại như một số quần áo, giường ghế đước
cất giữ tử tế tránh được mất mát.
-
Ông Tám nhanh chóng ổn định, xây dựng lại kinh tế gia đình.
-
Gia đình ông được vơi bớt nỗi buồn vì thấy có sự quan
tâm giúp đỡ của láng giềng.
Mỗi
lợi ích của gia đình ông Tám sẽ kết thành một quả báo
lành cho anh Hai ở vị lai.
Sau
này ngay ở trong kiếp hiện tại hoặc những kiếp vị lai.
Anh Hai thường có nhà cửa ổn định, không phải bệnh tật
vì phải phơi mình giữa mưa nắng, tài sản ít bị mất mát
vì có nơi cất giữ an toàn, nhanh chóng ổn định về kinh
tế, luôn luôn được mọi người quan tâm giúp đỡ.
Nếu
một người suốt đời tích lũy nghiệp từ thiện, thường
xuyên giúp đỡ mọi người một cách nhiệt tình, quả báo
dành cho họ là sự thành công vinh quang rực rỡ ở những
kiếp về sau.
Trong
cuộc sống có những người làm chơi ăn thiệt, họ được
thần may mắn mỉm cười, những dự định đều được tiến
hành suôn sẻ. Đôi khi mọi người phải ngạc nhiên về sự
may mắn liên tiếp của họ. Tất cả đều bắt nguồn từ
hành vi giúp đỡ kẻ khác trong quá khứ! Thiếu làm việc từ
thiện, cuộc đời chúng ta sẽ kém may mắn.
Tuy
nhiên tùy theo tính chất của việc làm từ thiện mà chúng
ta sẽ đạt được quả báo lành về sau một cách khác nhau.
Ví
dụ nếu đời trước chúng ta dùng lời nói để chỉ bảo
cho người khác đi đến thành công. Nhờ sự chỉ bảo này
họ gặt hái được kết quả tốt đẹp. Quả báo về sau
của chúng ta là dễ dàng, may mắn tiếp nhận được những
phương pháp tốt để hành động, nhưng trên bước đường
hành động chúng ta phải nổ lực bởi chính khả năng của
mình, ít được sự giúp đỡ chia xẻ gánh nặng bởi vì trước
kia chúng ta chỉ giúp đỡ người khác chứ không “làm giùm”
cho họ. Ví như chúng ta chỉ cho một người đi về ngọn núi
phía Tây mà đào vàng nhưng không đi đào giúp họ. Về sau
tuy chúng ta cũng được chỉ vẽ phương pháp làm ăn mua bán
(hay học tập), nhưng phải làm lấy tất cả bởi sức lực
của mình.
Nếu
chúng ta hay giúp đỡ kẻ khác về tài vật nghĩa là bố thí
hoặc cúng dường, khiến cho kẻ khác không tốn công sức
mà vẫn có tài sản, thì quả báo chờ đợi chúng ta là thường
gặp những may mắn kỳ lạ để có được tiền mà không
cần phải cực nhọc nhiều như trúng số, hoặc tìm thấy
kho tàng, hoặc kinh doanh lời hơn mức dự tính, hoặc được
thừa kế gia tài của tiền nhân.
Lisa
Marie Presley mới 9 tuổi đã thừa kế một gia tài kếch sù
của cha cô là vua nhạc Rock Elvis Presley khi ông qua đời vì
bệnh tim.
Một
số người mua nhầm tờ vé số trúng độc đắc. Một người
mua khu vườn, đã đào phải hũ vàng khi sửa sang lại khu vườn
đó.
Vô
số trường hợp không làm mà hưởng như thế đều là quả
báo của sự bố thí tài vật lớn lao từ những kiếp trước.
Phần
đông còn lại ai cũng phải làm mới có ăn. Tuy nhiên với
công lao khó nhọc của tâm hồn và thể xác giống nhau, nhưng
sự thành công mỗi người lại khác nhau. Có những người
từ kẻ mua đồ đồng nát dạo, gánh trên vai rao mua ve
chai (phế liệu), sau này trở thành tỷ phú lừng lẫy một
thời như chú Hỏa ở Chợ lớn. Hoặc từ một đại phú như
Âu Vinh có tiền cho vay khắp cả Sài gòn thuở trước, bây
giờ chết không có hòm chôn tại HongKong. Riêng Ââu Vinh có
một đặc tính là không bao giờ bố thí từ thiện một xu
nhỏ “Hãy bảo họ ráng làm mà ăn” ! Đó là câu trả lời
cho đoàn lạc quyên cứu trợ khi đến gặp ông ta.
Mức
độ thành công của chúng ta ở kiếp này tùy thuộc vào mức
độ chúng ta giúp đỡ mọi người ở kiếp trước. Nghiệp
từ thiện càng nhiều thì sự thành công càng lớn lao.
Đôi
khi chúng ta nhìn lại cuộc đời mình và không tránh khỏi
giật mình sợ hãi. Bao nhiêu năm tháng bình an trôi qua, chúng
ta làm việc và sống một cách êm đềm. Thỉnh thoảng có
một vài biến động nhỏ không đáng kể. Nhưng khi tính sổ
lại, dường như suốt thời gian vừa rồi chúng ta chưa làm
được việc thiện nào cả, chưa giúp đỡ ai một cách tận
tình có ý nghĩa. Khi nhìn lại điều này chúng ta cũng “nhìn
thấy” luôn về kiếp sau, dường như sẽ không có sự may
mắn nào đến với chúng ta, sẽ không có một thành công đặc
biệt nào cho đời sống kế tiếp.
Như
vậy, không siêng năng làm việc từ thiện là một sai lầm,
một sự kém hiểu biết, một sự thiếu sót nghiêm trọng
trong cuộc đời.
Ở
phương diện khác, quả báo của sự giúp đỡ tùy thuộc vào
đối tượng được giúp đỡ. Nếu chúng ta giúp đỡ cho một
vị Thánh cao cả để vị này sống một cuộc đời đẹp
đẽ thánh thiện với một nội tâm bình an vô hạn, với một
đạo đức hoàn hảo tuyệt vời. Sự tốt đẹp còn lan tỏa
cho nhiều người khác khi vị thánh ấy rao giảng về đạo
đức, thiền định và giải thoát cho mọi người. Với một
“đối tượng” như thế, sự giúp đỡ - cúng dường đem
đến một quả báo cực kỳ vinh hiển ở vị lai. Chúng ta
đã đem hạt giống gieo trên mảnh đất vô cùng màu mỡ và
sẽ gặt hái một vụ bội thu về sau.
Khi
nói về một triệu phú vừa chết ở thành Vương Xá, không
con để thừa kế nên vua Pasenadi cho sung công tài sản, Đức
Phật bảo rằng nhiều kiếp về trước, ông ta thường hay
cúng vật thực cho một vị độc giác Phật khất thực ngang
nhà. Kết quả trở lại là bảy đời liên tiếp ông luôn
được giàu sang sung túc. Chỉ vì có lần ông đã giết người
con trai duy nhất của người anh mình nên ông mắc quả báo
là không bao giờ có con để kế thừa tài sản sau khi đã
trả xong quả báo giết người kia với hình phạt vô cùng
đau đớn.
Ở
mức độ thấp hơn, đối tượng được giúp đỡ là một
người bình thường, cũng có những buồn thương giận ghét
trong đời sống hằng ngày như mọi người. Với một đối
tượng như thế, quả báo đem lại cho thí chủ là những sự
may mắn vừa phải, không đặc biệt lắm. Tuy nhiên, nếu tích
lũy nhiều nghiệp thiện như thế, chúng ta cũng đạt được
phước báo lớn lao.
Thế
rồi, với sự hiểu biết Nhân Quả sâu sắc, chúng ta đã
lựa chọn đối tượng để giúp đỡ, lựa những người
có đạo đức tốt đẹp để cúng dường vì mong sẽ được
quả báo lớn lao về sau và không ngó ngàng tới những người
bình thường vốn dày đặc trên cuộc đời bụi bặm này.
Như vậy, rõ ràng hành vi giúp đỡ của chúng ta không xuất
phát từ tấm lòng thương yêu kẻ khác. Chúng ta chỉ lợi
dụng luật Nghiệp Báo để mưu cầu lợi ích cho bản thân
mình về sau. Với ý tưởng như thế chúng ta chỉ có phước
(vì đã làm lợi ích cho người khác) mà không có đức (vì
xuất phát từ một tâm hồn vị kỷ). Phước mà không có
đức cũng giống như nhà không có nền móng vững chắc, sự
sụp đổ là điều không tránh khỏi. Sau này, tuy được giàu
sang sung sướng nhưng tâm hồn chúng ta vẫn đầy những mưu
toan ích kỷ hẹp hòi. Chính khuynh hướng vị kỷ này sẽ thúc
đẩy chúng ta tạo những nghiệp bất thiện để rồi chuốc
lấy đau khổ về sau.
Vì
thế, chúng ta hãy trang bị cho tâm hồn mình một tình thương
yêu rộng lớn đối với mọi người, mọi loài, hãy giúp
đỡ họ qua cơn khốn khó, hãy làm tất cả vì họ chứ không
phải vì quả báo của mình mai sau.
Ở
khía cạnh khác, chúng ta phải cẩn thận khi giúp đỡ kẻ
ác, bởi vì có thể từ sự giúp đỡ này họ có thêm phương
tiện hãm hại người khác. Và như vậy sự giúp đỡ của
chúng ta tới với họ sẽ tạo cho chúng ta một quả báo xấu
về sau giống như chúng ta đã tiếp tay cho họ tạo ác nghiệp.
Nói
như thế không có nghĩa là chúng ta ruồng bỏ kẻ xấu, không
giúp đỡ gì cho họ. Lòng từ bi không cho phép chúng ta hạn
chế sự giúp đỡ của mình đối với mọi người. Chỉ là,
đối với kẻ xấu, chúng ta vừa giúp đỡ họ qua cơn khó
khăn, vừa khéo léo dẫn dắt họ về với đạo đức. Con
người chỉ chịu nghe lời khi họ đã thọ ân. Các vị bồ
tát đi vào sinh tử để hóa độ mọi người cũng phải tuân
theo quy luật này, nghĩa là phải tạo ân nghĩa cho mọi người
rồi mới dùng lời nói để đưa họ về với đạo đức.
Chúng ta chưa phải là Bồ Tát đã chứng ngộ nhưng cũng có
thể bắt chước hạnh Bồ Tát bằng cách bố thí để giáo
hóa cho kẻ xấu.
Sự
giúp đỡ đối với kẻ xấu đòi hỏi nơi chúng ta một sự
kiên nhẫn, khôn khéo và độ lượng. Chúng ta vẫn phải giúp
họ mà vẫn không tạo điều kiện cho họ làm ác, chỉ làm
sao cho họ chuyển hóa tâm hồn để trở thành người tốt
cho xã hội mà thôi.
Tùy
theo tình hình giúp đỡ, chúng ta sẽ nhận lại một quả báo
tương ứng. Ví dụ người thường hay dùng sức lực để
làm lụng đỡ đần cho kẻ khác, quả báo trở lại là sức
mạnh sung mãn. Và với sức mạnh này họ vươn tới thành
công.
Ví
dụ, người thường hay phụ giúp xây cất trường học, giúp
đỡ việc học hành của người khác, quả báo trở lại là
học giỏi, bằng cấp cao và có nhà cửa khang trang rộng rãi.
Ví
dụ, người thường hay lo việc thắp sáng công cộng, quả
báo trở lại là được đôi mắt tinh tường.
Người
thường hay lo việc cứu trợ cho những nạn nhân bị thiên
tai, hỏa hoạn, chiến tranh... quả báo trở lại là được
yên ổn trong cuộc sống, nếu vừa gặp bất trắc liền có
người giúp đỡ.
Người
thường hay bênh vực kẻ cô thế, yếu đuối, oan ức... quả
báo trở lại là được thế lực lớn (để cho không có ai
dám ăn hiếp).
Có
một số người đang giàu có sung mãn, bỗng do một biến động
trong việc kinh doanh, hay tai nạn liền trở thành một người
nghèo khổ túng thiếu. Quả báo này xuất phát từ đời trước
họ hay làm việc thiện, bỗng qua một lần nóng giận đã
rủ bỏ tất cả, phá hoại tất cả.
Bà
Thái là một hội viên đắc lực của một hội từ thiện.
Bà đã đóng góp cả tài sản và công sức rất nhiều cho
hoạt động từ thiện suốt một thời gian dài. Thế rồi
trong một lần tranh cãi với bạn bè về địa vị trong hội,
bà bất mãn ra khỏi hội và ngăn trở hội tiếp tục hoạt
động.
Hoặc
một ông phật tử thường lo lắng công quả cho ngôi chùa
trong làng với các nghi lễ và các hoạt động phước thiện
xã hội. Sau một lần bị va chạm tự ái ông đã chấm dứt
sự công quả của mình.
Quả
báo của những trường hợp như thế là ở những kiếp sau,
sự thành công bỗng dưng bị đổ vỡ, bị dừng lại.
Thế
nên, đối với các việc thiện, chúng ta phải phát tâm kiên
trì trường viễn. Đừng vì những việc nhỏ nhặt mà tự
phá hoại thiện nghiệp của mình, Phải tích lũy mãi, tích
lũy mãi từng chút phước nghiệp bằng cách hễ có cơ hội
là giúp đỡ người khác không tiếc công.
Có
một người thuở niên thiếu gian nan vất vả, đến khi trưởng
thành mới đạt được may mắn, thành công. Có hai nguyên nhân
của quả báo đó.
Một
là do từ kiếp trước, lúc còn trẻ họ chỉ mãi lo vui đùa
học hành, không làm được nghiệp phước nào. Đến lớn
tuổi, có ý thức, họ bắt đầu làm việc từ thiện. Qua
kiếp sau, thời gian tương ứng với từng giai đoạn là thiếu
thời bình thường, đến trưởng thành mới bắt đầu thành
công.
Hai
là do từ kiếp trước, họ ít quan tâm giúp đỡ người nhỏ
tuổi, chỉ để ý đến người lớn tuổi. Quả báo trở lại
là khi còn nhỏ tuổi họ kém may mắn, đến khi lớn tuổi
mới gặt hái nhiều tốt đẹp.
Có
nhiều người than thở rằng họ thường bị phản bội bởi
những kẻ đã thọ ân của họ. Họ mất niềm tin với luật
Nghiệp Báo vì thấy rằng họ không hưởng được sự tốt
đẹp nào từ hành vi giúp đỡ người khác. Tại sao sự tử
tế của họ được đáp lại bằng thái độ vong ân tráo
trở?
Có
nhiều nguyên nhân của hiện tượng đó. Có thể là lỗi không
phải từ nơi người thọ ân. Họ cũng biết ơn và mong muốn
có dịp đền trả. Nhưng họ thấy khó gần gũi ân nhân vì
ân nhân này luôn kể công và tự phụ. Người thọ ân cảm
thấy bị sỉ nhục và khó chịu khi đến gần một ân nhân
như thế. Đôi khi họ ân hận vì đã lỡ thọ ân với một
con người tầm thường kiêu hãnh đó.
Cũng
có thể là lỗi xuất phát từ nơi người thọ ân vì người
này quá vị kỷ, chỉ lo cho mình, chỉ nghĩ đến cái được
mất của mình mà quên đi ơn nghĩa của người khác. Nếu
gặp phải hạng người này chúng ta chỉ nên cười xòa rồi
bỏ qua vì người cao thượng có bao giờ “Thi ân cầu báo”
đâu, phải không bạn?
Đối
với luật Nghiệp Báo, không bắt buộc rằng quả báo lành
phải do nơi kẻ thọ ân đền trả. Nếu khi thọ ân người
này có khởi ý niệm đền ơn thì sau này (có thể qua nhiều
kiếp) chính họ sẽ đền ơn một cách mỹ mãn. Trong cuộc
đời thỉnh thoảng chúng ta gặp một vài người tốt với
ta một cách đặc biệt, giúp đỡ chúng ta đủ điều. Có
thể họ đã chịu ơn chúng ta từ kiếp trước và có khởi
ý niệm đền trả.
Đối
với người vong ân, không có ý muốn đền ơn, thì quả báo
lành sẽ đến từ vô số trường hợp khác. Hoặc chúng ta
được trúng số, hoặc kinh doanh gặp thời thu lợi bội phần,
hoặc được những người tốt giúp đỡ (người tốt này
không phải là kẻ đã chịu ơn ta).
Chúng
ta sẽ thấy nghiệp tác động vào tận trong tâm thức của
mỗi người.
Một
tên cướp với tâm hồn nhuốm đầy sự ác độc, luôn sẵn
sàng mưu hại kẻ khác, thế nhưng khi quan sát trên đường
phố để tìm đối tượng đánh cướp, tâm ác độc của
hắn chỉ khởi dậy khi trông thấy người có tạo ác nghiệp,
và dường như bỏ qua những người không có ác nghiệp trong
quá khứ.
Cũng
vậy, một nhà hảo tâm luôn sẵn sàng giúp đỡ mọi người,
nhưng khi gặp một kẻ đã gieo nghiệp bỏn xẻn quá nhiều,
tâm tốt của ông dường như lơ đãng chìm lặng không khởi
dậy, khiến cho ông quên đi việc giúp đỡ kẻ đó. Và tâm
ấy chỉ khởi dậy mạnh mẽ khi gặp những người đã gieo
nghiệp thiện từ quá khứ.
Thế
nên, một người gieo ác nghiệp quá nhiều, đi đến đâu chỉ
đánh thức ác tâm của mọi người chung quanh khiến cho họ
chỉ chực muốn hại mình, xua đuổi, mắng chửi mình. Ngược
lại, một người gieo thiện nghiệp quá nhiều, đi đến đâu
đều khơi dậy thiện tâm của mọi người, khiến cho mọi
người phải đối xử tử tế.
9-
GIAO
THÔNG
Trong
các việc phước thiện, đắp đường, bắt cầu là việc
thiện được nhiều người ca ngợi.
Giao
thông là yếu tố vô cùng quan trọng trong sinh hoạt của xã
hội. Ngay trong ngôi nhà nhỏ bé của chúng ta cũng cần phải
có lối đi; rồi từ làng này sang làng khác, vùng này sang
vùng khác tất cả đều cần đường sá để giao lưu qua lại.
Người ta đi lại để làm ăn, mua bán, học tập, thăm hỏi...
Hầu hết mọi sinh hoạt của con người đều dính líu với
đường đi (kể cả đường hàng không, và đường thủy),
nếu đường sá bị tắt nghẽn, sinh hoạt của con người
sẽ gặp nhiều trở ngại, thậm chí còn gây nên tai nạn nghiêm
trọng. Một người lái xe hai bánh đi từ Sài gòn về Tây
Ninh, bị vấp vào ổ gà, ngã soài xuống đường. Chiếc xe
lớn từ sau lướt tới cán anh chết tại chỗ.
Hiện
nay, ở các quốc gia tiên tiến, đường sá thuộc về công
trình quốc gia được thi công với kỹ thuật cao. Những đường
xa lộ cao tốc, đường rày xe lửa cao tốc được thực hiện
rất hoàn hảo. Mạng lưới giao thông trong quốc gia, liên quốc
gia được phát triển không ngừng. Anh và Pháp đã hoàn thành
đường ngầm xuyên biển Manche để nối liền hai quốc gia
bằng đường bộ đi dưới đáy biển.
Thuở
xưa, kỹ thuật thi công cầu đường còn đơn sơ kém cỏi.
Những con đường đất bụi bặm, đường sá lởm chởm nối
các làng mạc, thị trấn lại với nhau. Họ phải vượt qua
những đường đèo hiểm trở, những dòng sông chảy mạnh
bằng đôi chân hoặc bằng sức ngựa. Ngay cả ngồi trên một
chiếc xe ngựa có bánh tròn cũng không sung sướng gì vì dằn
xóc dữ dội. Do giao thông bị hạn chế nên sự giao lưu văn
hóa, phát triển xã hội bị thu hẹp.
Trong
bối cảnh đó, việc tu sửa đường sá, nối bắt cầu cống
luôn luôn là việc làm cần thiết và được mọi người tán
thán. Đối với luật Nghiệp Báo, phước của hành vi đắp
đường bắt cầu cực kỳ lớn lao. Những quả báo lành xuất
phát từ nghiệp thiện đó có thể kể ra như sau:
-
Vì làm cho sinh hoạt của mọi người được thuận tiện nên
mọi sinh hoạt, mọi dự định của mình đều được trôi
chảy tốt đẹp.
-
Vì làm cho người đi đường được an toàn nên chính mình
không gặp tai nạn khi đi đường.
-
Vì khiến cho mọi người dễ dàng đi lại nên chính mình sẽ
được khỏe mạnh, không bị tật nguyền, lệch lạc.
-
Nếu dùng sức lực để đắp đường, quả báo trở lại
là được sức khỏe hơn người khiến cho gặt hái nhiều
thành công trong lao động.
-
Nếu dùng tiền bạc để thuê người làm, quả báo trở lại
là được giàu có sung mãn.
-
Luôn luôn được xe cộ xênh xang, di chuyển thuận lợi.
Hạnh
đắp đường bắt cầu được chú trọng đến nỗi trong kinh
điển của Phật giáo Bắc Tông xuất hiện một vị Bồ Tát
tên là Trì Địa với hạnh nguyện mãi mãi thị hiện vào
sinh tử để gieo duyên với mọi người bằng cách tu sửa
cầu đường.
Vua
Asoka chỉ hãnh diện vì đã trồng cây lấy bóng mát ven đường
cho khách bộ hành, đào giếng ven đường cho khách uống.
Một
câu chuyện cảm động được kể trong “Góp nhặt cát đá”
(Bản dịch Đỗ Đình Đồng) như sau:
Zenkai,
con trai một Samurai, du hành đến Edo và trở thành người hầu
cận của môt viên chức cao cấp ở đó. Zenkai yêu người
vợ của viên chức này và việc đó bị phát giác. Để tự
vệ, Zenkai giết người chồng và dẫn người vợ tẩu thoát.
Sau
đó cả hai trở thành những tên ăn cắp, nhưng người đàn
bà quá tham lam khiến Zenkai trở nên khinh bỉ. Cuối cùng Zenkai
bỏ người đàn bà và đến một tỉnh xa tên là Buzen. Ở
Buzen để chuộc lại dĩ vãng Zenkai quyết định làm một vài
việc tốt trong đời. Biết trên sườn núi đá có một con
đường nguy hiểm đã làm nhiều người bị thương và thiệt
mạng, Zenkai quyết định đào một con đường hầm xuyên qua
núi đá.
Ban
ngày xin ăn, ban đêm đào núi. Khi Zenkai hơn 30 tuổi thì đường
hầm đã đào được dài 695 thước, cao 6 thước, rộng 9 thước.
Hai
năm trước khi công việc hoàn thành, một người con trai của
viên chức bị Zenkai giết, đã học kiếm và trở nên một
người giỏi kiếm thuật, tìm được Zenkai và muốn giết
Zenkai để báo thù cho cha.
Zenkai
nói:
“Tôi
sẽ dâng mạng cho anh, nhưng hãy cho tôi làm xong công việc
này. Khi công việc hoàn thành anh có thể giết tôi cũng được.”
Người
con trai đồng ý đợi đến ngày xong việc. Nhiều tháng trôi
qua và Zenkai vẫn tiếp tục đào đường. Người con trai trở
nên chán nản vì không có việc gì làm nên anh bắt đầu giúp
Zenkai đào đường. Sau khi giúp Zenkai hơn một năm, anh ta trở
nên kính phục dũng chí và tư cách của Zenkai.
Cuối
cùng con đường hầm đã hoàn thành và người ta có thể qua
lại an toàn.
Zenkai
bảo:
“Bây
giờ việc đã xong rồi, hãy chém đầu tôi đi!”
“Làm
sao con có thể cắt đầu thầy được?” Người thanh niên
hỏi qua làn nước mắt.
Ở
câu chuyện này công hạnh khổ nhọc đào đường hầm của
Zenkai đã xóa được mối thù sâu đậm của người con trai.
Ngoài việc này Zenkai còn hưởng vô lượng phước ở vị
lai. Tuy nhiên, dù sao ông cũng phải trả quả báo giết người
và đoạt vợ ở một kiếp khác.
Một
người phật tử bán sữa đậu nành ở Phan rang đã “công
quả đắp đường” bằng cách bồi dưỡng sữa cho công nhân
đắp đường gần đó.
Ở
nước ta lao động đắp đường có vẻ nặng nhọc và ít
được coi trọng. Nhưng không có ai ngờ là họ đang tạo phước
rất lớn. Sự giúp đỡ bồi dưỡng cho công nhân làm đường
luôn luôn là điều đáng khuyến khích, cũng giống như chính
chúng ta chung sức làm đường vậy. Hoặc nhặt mảnh vỡ,
gai góc trên đường để tránh cho người sau khỏi dẫm đạp
cũng là điều rất tốt.
Đôi
khi chúng ta cũng cảm thấy buồn khi đi qua xóm nhỏ có những
đoạn đường hư lỡ, những vũng nước ứ đọng trơ trơ
trước mắt mọi người. Đó là những cơ hội để mọi
người có dịp làm phước, nhưng họ bình thản vô tư bỏ
qua. Những lợi ích chung của thôn xóm mà không ai thèm đoái
hoài thì nói gì đến lợi ích của quốc gia, của nhân
loại! Một đất nước chỉ phát triển khi những con người
trong đất nước đó luôn luôn biết nghĩ đến lợi ích của
toàn thể hơn là lợi ích của cá nhân.
Ngược
lại với thiện nghiệp đắp đường là ác nghiệp phá đường.
Người làm ngăn trở giao thông cũng sẽ chịu quả báo tương
xứng như di chuyển khó khăn, sinh hoạt bị trở ngại, tật
nguyền ở chân và nghèo khó. Đối với các công trình phúc
lợi công cộng như đường sá, cầu cống, nếu không bảo
vệ được thì thôi, chúng ta đừng vì lợi ích riêng mình
mà xâm phạm làm cho hư lỡ. Quả báo về sau sẽ khó chịu
vô cùng.
Nhu
cầu về giao thông trên thế giới càng lúc càng tăng. Xe máy
được sản xuất ồ ạt. Nạn kẹt xe thường xuyên xảy ra.
Phải chăng vì có phương tiện dễ dàng nên con người càng
muốn di chuyển nhiều hơn? Sở làm ở xa nhà là một yếu
tố chính làm cho giao thông bị tắt nghẽn ở những giờ cao
điểm.
Trong
tương lai không xa, phương tiện viễn thông được hoàn thiện
sẽ giải tỏa bớt nhu cầu đi lại của con người. Với hệ
thống truyền hình điện thoại được điều khiển tự động
bởi máy điện toán, người ta có thể ở nhà mà vẫn dự
được các buổi hội nghị, vẫn điều khiển công việc của
sở làm. Thậm chí người công nhân có thể ở nhà mà vẫn
điều khiển cỗ máy hoạt động bình thường qua máy viễn
thông điện toán.
Nhưng
điều đó không làm cho con người chấm dứt mộng ước đi
của họ. Họ sẽ lao tâm khổ tứ để đi đến các hành tinh
khác. Con người vẫn còn ham đi lắm.
10-
DIỆN
MẠO
Sinh
ra giữa đời ai cũng muốn mình được xinh đẹp. Giá trị
của sắc đẹp lớn lao đến nỗi người ta thường tổ chức
các cuộc thi hoa hậu để tìm ra những người đẹp nhất.
Người đoạt giải, ngoài món tiền thưởng hậu hỉ, còn
được săn đón bởi các hãng phim, các hãng thời trang lớn.
Hầu
hết các diễn viên thủ vai chính đều phải có diện mạo
nổi bật để thu hút cảm tình của khán giả.
Trong
giao tiếp xử thế, người có gương mặt khả ái dễ dàng
thành công hơn.
Sắc
đẹp như là một cái phước dành sẵn để người đó đi
đến đời sống sung sướng khi cơ hội mở ra. Ngược lại,
người có diện mạo xấu xí thật là một bất hạnh trong
đời, ít được cảm tình của mọi người và do đó dễ
bị thất bại. Sự xấu xí làm cho con người đau khổ, và
thẩm mỹ viện đã giàu to nhờ giúp cho người xấu trở nên
dễ coi hơn.
Có
nhiều nghiệp nhân khác nhau để tạo thành một quả báo diệ