CHƯƠNG
5
LUÂN
HỒI
Theo
các tôn giáo Ấn Độ, đời sống hiện tại không phải là
đời sống duy nhất của con ngươi. Trước đời sống này
chúng ta đã từng có vô số đời trước, và nếu không tu
tập đến giải thoát viên mãn, còn có vô số đời sống
chờ đợi chúng ta ở phía sau.
Khi
đời sống này chấm dứt, chúng ta sẽ tái sinh qua một đời
sống khác. Đó là luân hồi.
Luân
hồi được nói đến rất nhiều trong đạo Phật, trở thành
một trong những giáo lý quan trọng trong tôn giáo này. Giáo
lý mười hai nhân duyên giải thích rõ nguồn gốc luân hồi
bắt đầu từ tế đến thô như thế nào, từ tâm tế trong
vô thức đến hành vi bên ngoài như thế nào.
Gần
đây, bác sĩ Edgar Cayse, trong khi đi tìm nguyên nhân bệnh tật
của người bệnh, đã nói về nhiều kiếp luân hồi.
Một
người da trắng có tư tưởng căm thù người da đen kinh khủng,
bởi vì một kiếp trước ở Trung Đông, anh ta bị những người
da đen bắt và giết chết trên một chiếc ghe.
Một
người bị bệnh thiếu máu mạn tính, bởi vì trước kia chiến
đấu ở trận tuyến, anh đã làm đổ máu nhiều người.
Có
những người khi được thôi miên đã nói lại các tiền kiếp
của mình với nhiều chi tiết nhỏ.
Một
số người khác nằm mơ thấy lại một số đoạn đời trong
những kiếp trước.
Những
vị Lạt Ma Tây Tạng khi còn bé thường kể về tiền kiếp
của mình. Gần đây báo chí thế giới có đưa tin về em bé
Tenzin Osel Rinpoche, người Tây Ban Nha, mới 6 tuổi nhưng đã
có một đạo hạnh vững chắc và trí thức như vị sư Tây
Tạng ở Los Angeles (Hoa Kỳ) mất năm 1984. Em sinh năm 1985 trong
một gia đình nghèo ở ngoại ô Madrid. Em có tư thái rất lạ
từ lúc mới lên ba. Năm tuổi, em đã có thể ngồi Thiền
suốt 2 giờ không nhúc nhích. Em kể lại tiền thân, người
ta kiểm tra thì thấy khớp với tiểu sử của Lạt ma Tây
tạng Thubten Yeshe. Nhà sư Thubten di cư đến Mỹ từ năm 1959
và chết ở Los Angeles năm 1984.
Em
bé này liền được một nhà sư Tây ban Nha là Basili Lloria
bảo trợ nuôi dạy và cho xuất gia. Trong một lần cùng với
Basili Lloria đi qua các nước phương Đông để chiêm bái Phật
Tích, em đã đến Kuala Lumpur (Malaysia) tại trung tâm Phật Giáo
Thean-Hou. Em thuộc nhiều kinh Phật, thuyết pháp và cầu nguyện
cho tín đồ Malaysia hoàn toàn như một cao tăng. Người ta hy
vọng em Tenzin sẽ trở thành một vị Lạt Ma uyên bác kỳ
tuyệt của thế kỷ 21.
Nhiều
người Tây phương đã bắt đầu tin có luân hồi tái sinh.
Một đoạn Phúc âm sau đây cho thấy tư tưởng về vấn đề
tái sinh cũng đã có xuất hiện từ thời Chúa Jésus.
”Nicodem
thưa rằng: Người đã già thì sanh lại làm sao được? Có
thể nào trở lại bụng mẹ và sanh lại lần thứ hai sao?
Chúa
Jésus đáp: ... Chớ lấy làm lạ về điều ta đã nói với
người: Các ngươi phải sanh lại. Gió muốn thổi đâu thì
thổi, ngươi nghe tiếng động nhưng chẳng biết gió từ đâu
đến, và cũng không biết đi đâu... Quả thật, quả thật,
ta nói cùng người, ta nói điều mình biết, xác quyết điều
mình đã thấy. Còn các ngươi chẳng hề nhận lấy lời chứng
của ta. Ví bằng ta nói các việc thuộc về đất (cụ thể)
các ngươi còn chẳng tin, huống hồ ta nói các việc thuộc
về trời (trừu tượng) thì các ngươi tin sao được...”
(Jean).
Tuy
nhiên, tư tưởng này không được khai triển tiếp và vấn
đề tái sinh trở nên rất xa lạ với người Thiên Chúa Giáo.
Đối
với luật Nghiệp Báo thì luân hồi tái sinh là một điều
khẳng định.
Tất
cả đều thay đổi biến dị. các sinh vật đều đi theo những
giai đoạn giống nhau. Phát sinh, tăng trưởng, già nua và chấm
dứt sự sống. Cây cỏ cũng vậy và động vật cũng vậy.
Tuy nhiên trong đó, nghiệp được hình thành không đơn giản
giống nhau. Ví dụ, một tia sét đánh chết một người khác
với tên cướp giết chết một người. Tia sét không có tâm.
Nó chỉ là hiện tượng vật lý đơn thuần và phát sinh do
nhiều điều kiện như nhiệt độ, sự va chạm các luồng
điện tích khác chiều (âm và dương) trong các đám mây. Ngoài
những điều kiện vật lý, nó còn bị chi phối bởi luật
Nghiệp Báo trong Bản Thể. Do người kia đến lúc phải thọ
quả báo nên nghiệp lực vô hình thúc đẩy các điều kiện
vật lý tụ hội lại đúng lúc. Ở đây chỉ có người thọ
quả báo mà không có người gây Nghiệp Báo.
Như
vậy, trong định nghĩa thứ nhất, nghiệp là hành vi (hay lời
nói, ý nghĩ) được tạo nên từ một chủ thể có cố tâm
và có ý thức rõ rệt. Một cành cây khô rớt trúng đầu
người bộ hành, cành cây khô này không có cố tâm và không
có ý thức nên nó không có tạo nghiệp, chỉ là người bộ
hành thọ quả báo mà thôi.
Một
viên đạn làm gãy cánh tay của cô gái. Viên đạn không có
cố tâm nên không có nghiệp. Nhưng chính người lãy cò có
chủ tâm, có ý thức thì nghiệp đã hình thành.
Rồi
một người bị bệnh tâm thần, trong cơn khủng hoảng đã
giết vợ của mình. Có nghiệp hay không ? Theo luật pháp xã
hội thì nếu có đủ chứng cứ về bệnh trạng, đương sự
được miễn trách nhiệm hình sự, nghĩa là coi như không có
tội. Nhưng theo luật Nghiệp Báo thì rõ ràng trong khi giết
vợ, hắn biết rất rõ việc mình làm và có chủ tâm. Cơn
khủng hoảng tâm thần và cơn nóng giận giống nhau, chỉ khác
mức độ. Người trong cơn nóng giận giết người và người
trong cơn bệnh tâm thần giết người, trạng thái tâm lý có
chủ tâm và có ý thức giống nhau. Họ biết rõ việc mình
làm và quyết làm cho bằng được. Như vậy nghiệp đã hình
thành !
Tuy
nhiên, bệnh tâm thần là bệnh do nghiệp từ quá khứ. Khi
bệnh đã hình thành, những tâm lý bất thường như muốn
giết người, muốn đốt nhà cứ bí mật khởi lên mà ý thức
không kềm được. Đôi khi ý thức còn chạy theo ý muốn kỳ
lạ đó để tăng sức mạnh cho nó. Và khi có ý thức tham
gia, nghiệp hình thành.
Trong
bộ truyện Thần Điêu Hiệp Lữ của Kim Dung tiên sinh, nhân
vật Cừu Thiên Nhậm là một kẻ ác đã giết nhiều người,
sau này theo xuất gia với Nhất Đăng đại sư Đoàn Nam Đế.
Nhưng dù đã thọ sát giới, Cừu Thiên Nhậm thỉnh thoảng
vẫn bị tập khí cũ khởi lên mãnh liệt là muốn giết người.
Những lúc đó ông tự trói mình lại để đề phòng ý thức
không kềm được, đã thuận theo tập khí và ra tay giết người.
Cơn khủng hoảng khởi lên dằn vặt con người ông dữ dội.
Nhất Đăng đại sư chỉ đứng một bên ân cần khuyên bảo
để giúp cho ý thức của ông đủ sức mạnh kềm chế tập
khí cũ. Sau nhiều lần ý thức chiến thắng được tập khí
cũ, ông trở nên hiền lành như một tu sĩ bình thường, tập
khí không còn khởi lên nữa.
Cũng
vậy, người bệnh tâm thần do cấu trúc của não bất bình
thường (bẩm sinh hoặc chấn thương hoặc khủng hoảng) nên
ý thức yếu đuối không kềm chế được những thôi thúc
ác độc từ trong vô thức tuôn ra. Rồi ý thức thuận theo
để gây nghiệp. Nếu người nào biết tu thiền, biết tách
đôi ý thức tỉnh giác khỏi những ý nghĩ vọng động kia,
không cần kềm chế cũng không thuận theo, chỉ lặng lẽ nhìn
thấy rõ những ý nghĩ khởi và diệt như là nhìn một đối
tượng bên ngoài, thì những ý nghĩ bệnh hoạn ác độc sẽ
lu dần và hết hẳn. Ví dụ, từ trong vô thức bệnh hoạn,
một ý nghĩ khởi ra là phải đốt nhà hàng xóm; Ý thức bình
tỉnh nhìn thấy ý nghĩ đó như là một đối tượng xa lạ,
giả dối, nên không thuận theo, và ý nghĩ đó tự biến mất.
Có
một tu sĩ trước kia rơi vào trạng thái tâm thần kỳ lạ.
Thỉnh thoảng, từ trong vô thức, những thôi thúc bí mật
khiến thầy phải đánh đá dữ dội, múa những bài quyền
chưa từng học, ý nghĩ “đánh nó! giết nó!” vang vang đầy
cả đầu y như một chiến sĩ đang đánh với quân địch ngoài
chiến trường. Nhưng nhờ hiểu thiền, thầy cứ cố gắng
ý thức tỉnh giác, không chạy theo những tâm lý quái đản
bí mật kia. Lâu dần bệnh chấm dứt. Không có ý thức chạy
theo để gia tăng sức mạnh. tập khí cũ yếu dần.
Như
vậy, một ý nghĩ bất chợt, rời rạc từ đâu khởi lên
thì chưa thành nghiệp. Nhưng một khi có ý thức nhập cuộc,
chạy theo, thì nghiệp thành hình. Và nghiệp có mặt thì quả
báo đã xuất hiện ngay theo đó - từ trong Bản Thể.
Bây
giờ trường hợp một người trong cơn mộng du, ý thức hoàn
toàn vắng mặt, chỉ có vô thức điều khiển hành động,
đã giết người. Có nghiệp hay chăng? Trong trạng thái hiện
tại, hành động của người này giống như một cái máy vô
tư, không có ý thức, chỉ có vô thức trực tiếp điều khiển
cơ thể hành động. Nhưng từ đâu vô thức hướng đến hành
vi giết người ? Chính vì trước kia (kiếp này hoặc kiếâp
khác) ý thức người đó đã nuôi nấng những ý nghĩ thù
hận mưu hại... Những ý nghĩ này sôi sục nhưng bị đè nén
lại bị ghi giữ trong vô thức. Đến lúc chín muồi, khi ý
thức vắng mặt, vô thức đã trỗi dậy để hành động.
Như vậy, tuy trong lúc giết người, ý thức không có, nhưng
trước kia ý thức đã có ý muốn giết người rồi. Nghiệp
vẫn được hình thành bởi ý thức trước đó cộng với
hành động sau này.
Rồi
một người vô ý ném tàn thuốc vào một giỏ rác, hậu quả
là lửa thiêu rụi mấy chục căn nhà và vài nhân mạng. Người
này không cố tâm, không biết được hậu quả sẽ như thế
nào. Có nghiệp hay không ? Trước hết, đây là quả báo của
những gia đình kia đến lúc phải trả. Nhưng sẽ hoàn toàn
không có nghiệp mới nếu đó là một cơn gió mạnh bất ngờ
thổi văng cây đèn dầu xuống sàn nhà rồi lửa bốc cháy.
Ở đây ngọn lửa bốc từ hành vi của một người. Người
này không có mục đích gây nên hậu quả cháy nhà, nhưng sự
ngu dốt, sự bất cẩn của anh ta đã gây nên hậu quả đó.
Nếu xét cho kỹ ta sẽ thấy sự bất cẩn của anh phát sinh
từ sự thiếu tôn trọng mọi người. Do thiếu tôn trọng
mọi người nên anh ta thờ ơ với việc kiểm soát hậu quả
của mình có gây thiệt hại cho mọi người hay không. Thật
ra người biết tôn trọng mọi người sẽ cẩn thận từng
lời ăn tiếng nói. Và nghiệp thành hình từ sự ngu dốt,
bất cẩn, thiếu tôn trọng mọi người này !
Tuy
nhiên, có những trường hợp không thể nào biết trước và
không cần phải biết trước. Luật hình sự Việt nam cũng
không truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp này.
Ví dụ một người lái xe trên đường, tuân thủ đầy đủ
luật lệ giao thông. Bất ngờ trong căn nhà lề đường có
hai vợ chồng đang gây gỗ; người chồng rượt đánh vợ
khiến người vợ vụt chạy ngang ra đường. Xe đụng phải
! Không ai có thể biết trước chuyện này và không cần phải
biết trước. Người lái xe không có tạo nghiệp, chỉ là
gặp rắc rối chút đỉnh về việc điều tra của công an.
Nghiệp thuộc về người chồng thô bạo.
Có
rất nhiều nghiệp khó biết vì thiếu kiến thức như việc
phá hủy môi trường sống của Địa cầu. Người tiều phu
tàn phá rừng không thương tiếc, người chủ xí nghiệp cho
khói bay mịt mù vào không gian; Người nông dân cho thuốc trừ
sâu vào nước ruộng khiến các loài thủy sinh vật chết sạch;
y học cho sử dụng thuốc DDT tràn lan rồi mấy chục
năm sau mới thấy hậu quả tai hại của nó.
Trong
truyện ngắn nổi tiếng “Bút Máu” của nhà
văn Vũ Hạnh, nhân vật Lương Sinh vì không hiểu hết sự
tình, bị viên quan tổng trấn họ Lý mua chuộc khéo léo nên
đã dùng thơ văn ca ngợi công đức của hắn. Nhờ thế tên
tổng trấn thoát được cuộc thanh tra của triều đình vì
quan thanh tra tin vào văn thơ của Lương Sinh hơn là đơn tố
cáo của người dân. Sau khi quan thanh tra ra về, Lý tổng trấn
cho bắt giết sạch những ai đã tố cáo hắn. Cách đó hơn
trăm dặm Lương Sinh lâm bệnh, thấy như vô số oan hồn về
báo oán. Sinh cầm đến bút mực thì mực trở màu đỏ như
máu tươi và bốc mùi tanh tột độ. Sinh không biết oan trái
này đến từ đâu. Sau nhờ sự góp ý của người cậu, Sinh
lặng lẽ tìm về vùng đất ghé chơi ngày trước của tổng
trấn họ Lý để tìm hiểu, mới biết rằng ngòi bút của
mình đã che chở cho tên tổng trấn ác độc và đã gây nên
cái chết của nhiều người. Chàng hối hận không nguôi.
Sinh
tạo nghiệp vì “thiếu hiểu biết”, lỡ ca ngợi một tên
quan ác độc nhiễu hại dân lành khi chưa tìm hiểu cặn kẽ
vấn đề. Trong khi dân tình lầm than đang đệ đơn tố cáo
lên triều đình, quan thanh tra đang đi đến tìm hiểu, thì
những bài thơ của Sinh như một bờ lũy bảo vệ ngôi vị
của tên tổng trấn để hắn tiếp tục gây tội ác. Sinh
không cố ý, nhưng đã góp phần tạo nghiệp. Cái thiếu hiểu
biết rồi tạo nghiệp cũng giống như cái thiếu kiến thức
gây ô nhiễm môi trường. Tùy theo hậu quả nặng nhẹ mà
quả báo sẽ lập thành một cách thích ứng. Gần đây trên
báo chí cũng nêu ra một số vị giám đốc cơ quan kinh doanh
nhà nước, vì thiếu kiến thức đã gây thiệt hại cho công
quỹ nhiều tỷ đồng.
“Thiếu
hiểu biết” cũng là một trong những nguyên nhân gây tội.
Người
lãnh đạo một tập thể, một đất nước mà thiếu hiểu
biết, gây thiệt hại cho người dưới, quả báo sẽ rất
nặng nề.
Như
vậy, những hành vi, lời nói, ý nghĩ được gọi là nghiệp
(có khả năng tạo thành quả báo) khi:
- Có
cố tâm, có ý thức, có dự tính.
-
Có cố tâm, có ý thức trong cơn khủng hoảng do nóng giận,
khủng hoảng do tâm thần.
-
Không có ý thức lúc hành động, do vô thức điều khiển,
nhưng có ý muốn trước kia.
-
Không cố tâm, nhưng thiếu hiểu biết gây hậu quả nghiêm
trọng.
Hành
động với một trong bốn trường hợp đó được xem đủ
tiêu chuẩn để tạo thành nghiệp, và mỗi nghiệp liền có
một (hay nhiều) quả báo tương xứng, có một (hay nhiều)
Duyên tương quan, và TẬP HỢP TOÀN BỘ quả báo, nhân duyên
đó, chúng ta có được một bức tranh rõ nét về các kiếp
sống tiếp theo.
Việc
hình thành một cuộc đời về sau rất là phức tạp. Ví dụ,
ông Thanh có đủ duyên để sau này làm cha của anh Tâm. Nhưng
kiếp kế tiếp quả báo dành cho ông Thanh là người giàu mà
quả báo dành cho anh Tâm là sinh trong gia đình nghèo. Có duyên
với nhau mà phước không đồng nên duyên cha con đành khất
lại kiếp khác, lúc mà phước của họ tương xứng với nhau.
Phải
chọn lựa toàn bộ tội phước của mọi người, nhân duyên
giữa mọi người rồi mới lắp ráp tất cả lại, thật ăn
khớp để hình thành những kiếp sống kế tiếp. Công việc
này của luật Nghiệp Báo còn hơn cả khả năng của một
máy siêu điện toán tối tân nhất.
Mỗi
chặng thời gian ở kiếp sau, chúng ta sẽ gặp gỡ những ai,
sẽ thăng trầm vui khổ thế nào, thành công thất bại ra sao,
tư tưởng bị chuyển biến thế nào... đều có liên quan đến
nhiều người. Cho nên việc hình thành một bức tranh kiếp
sau của một người phải là sự phối hợp với vô số nhân
duyên của những người khác. Chỉ có luật Nghiệp Báo ở
Bản Thể mới đủ sức, vừa tịch lặng, vừa chặt chẽ,
điều động toàn bộ công việc đó.
Thật
ra, chính chúng ta, qua trung gian luật Nghiệp Báo, đã tự vẽ
lấy bức tranh cuộc sống ở kiếp sau của chính mình. Mỗi
nghiệp là một nét vẽ, một vết mực điểm lên dần dần
để hoàn thành bức tranh đó. Một lời nói thiện vừa buông
ra, lập tức một niềm vui đã hình thành cho kiếp sau. Một
hành vi ác vừa thực hiện xong, lập tức một nỗi khổ đã
có mặt cho kiếp sau. Đời sống ở kiếp sau với bao nhiêu
khổ đau và hạnh phúc, cay đắng và vinh quang đã hình thành
xong từ kiếp trước.
Chúng
ta sẽ sinh vào gia đình nào với cha mẹ, anh chị em, thân quyến,
láng giềng... Chúng ta sẽ có bạn bè nào, học ở trường
lớp, đạt được bằng cấp, giữ những địa vị... Chúng
ta sẽ trải qua những cơn bệnh, những tai nạn, sẽ đón nhận
những dịp may, những lời khen... Tất cả đều đã sắp sẵn
bởi nghiệp của đời trước, không có gì là ngẫu nhiên.
Đời
sau đã có đủ chi tiết bởi nghiệp đời trước.
Có
một vài lý thuyết, cũng tin vào sự tái sinh, nhưng lại cho
rằng sau khi chết, thần thức mọi người thoát ra khỏi thân
và lang thang đi tìm bào thai để nhập vào. Điều này không
đúng! Không hề có sự lựa chọn tìm tòi ở thân đời sau,
bởi vì thân đời sau đã có sẵn, có sẵn gần như một định
mệnh. Nhưng định mệnh này không phải do thần linh quy định
mà do chính con người tự tạo lấy.
Ví
dụ một người hiện ở Việt Nam, nhưng toàn bộ nghiệp và
duyên mà anh ta đã tạo đã sắp sẵn cho anh một kiếp sau
ở Ấn Độ. Sau khi bỏ thân ở Việt Nam, sự sống mới được
thành lập tiếp theo tại Ấn Độ. Không có vấn đề đi tìm
kiếm gì cả.
Ở
đây, chúng ta phân biệt hai loại nghiệp.
- Ý
nghiệp tức là những tư tưởng, những ý muốn chưa khởi
ra hành động và lời nói, chưa có tác dụng vào mọi người
chung quanh một cách cụ thể, chỉ có sự lây nhiễm vô hình
vào tâm hồn người khác một cách yếu ớt mà thôi.
Thân
nghiệp và khẩu nghiệp (hành vi và lời nói) có tác dụng
vào mọi người chung quanh một cách cụ thể, làm cho họ vui
buồn, lợi ích hay thiệt hại.
Thân
nghiệp và khẩu nghiệp vì có tác dụng với mọi người nên
nó là một loại nghiệp rõ nét, có đủ sức để tạo thành
một quả báo vui khổ về sau.
Một
người làm ăn cướp giết người. Nghiệp cụ thể này tạo
thành quả báo nghèo khổ chết thảm về sau.
Một
người làm việc từ thiện, giúp đỡ trẻ em mồ côi, giúp
đỡ người bị thiên tai, giúp đỡ những bậc chân tu... Nghiệp
cụ thể này tạo thành quả báo vinh quang huy hoàng về sau.
Một
viên chức nhà nước tận tụy phục vụ nhân dân, luôn hoàn
thành trách nhiệm một cách chu đáo. Quả báo về sau là địa
vị lớn hơn nữa.
Người
tu sĩ chuyên thuyết pháp giáo hoá đạo đức cho mọi người.
Nghiệp cụ thể này tạo thành quả báo làm thánh hoặc ở
địa vị xã hội cao có nhiều thuộc hạ tài giỏi, đạo
đức cộng sự.
Thân
nghiệp và khẩu nghiệp vì có tác dụng với mọi người nên
nó là NGUYÊN NHÂN tạo nên QUẢ BÁO khổ vui về sau. Tuy nhiên,
thân nghiệp và khẩu nghiệp lại chính là kết quả của ý
nghiệp. Ý nghiệp là NGUYÊN NHÂN của thân khẩu nghiệp. Tâm
có nghĩ thì miệng mới nói, tay mới làm. Điều này ai cũng
biết vì nó rõ ràng trong đời sống. Tuy nhiên, trong luật
Nghiệp Báo, ý nghĩ của đời này tạo thành hành vi và lời
nói ở đời sau. Tại sao kẻ kia chọn nghề ăn cướp giết
người ? Vì đời trước hắn đã suy nghĩ, khởi ý muốn về
vấn đề này rất nhiều.
Tại
sao ông nọ thích làm việc từ thiện ? Vì đời trước ông
đã suy nghĩ, ham thích về việc này rất nhiều.
Tại
sao người kia trở thành tu sĩ ? Đời trước ông đã đầy
ắp tư tưởng từ bỏ trần thế bụi bặm.
Hành
vi của một người là kết quả của tư tưởng đời trước.
Đó là lý do tại sao chúng ta khó chuyển hóa nhân cách của
một người. Nhiều gia đình có giáo dục nề nếp, nhưng vẫn
lọt những đứa con ngỗ nghịch độc ác, dạy gì cũng không
sửa đổi. Vì sao? Vì hành động đời này của nó là kết
quả của tư tưởng đời trước.
Thành
ngữ Việt nam có câu “Cha mẹ sinh con Trời sinh tánh” để
nói lên cái bất lực trong việc dạy dỗ một người. Có
những người dường như đã đầy đủ đạo đức từ trong
bụng mẹ. Có những người đã độc ác từ khi chưa chào
đời. Cũng có những người lững lờ không có lập trường
rõ rệt. Tất cả nhân cách đó đều do tư tưởng đời trước
tạo thành.
Muốn
chuyển hóa nhân cách một người, chúng ta phải thông minh,
có phương pháp và rất cực nhọc vì phải gieo những tư tưởng
mới để xóa hết những tư tưởng cũ đã bắt rễ quá sâu.
Giáo dục đạo đức là việc có thể làm được, nhưng rất
khó khăn.
Một
vài người cho rằng nhân cách, tư tưởng, khuynh hướng của
một người là do hoàn cảnh xã hội tạo nên. Điều này chỉ
đúng một phần nhỏ. Sự hình thành lớn nhất của nhân cách
là do tư tưởng từ kiếp trước tạo ra.
Nếu
chúng ta muốn có một nhân cách phi thường ở đời sau, thì
ngay bây giờ hãy nuôi dưỡng kỹ lưỡng những tư tưởng
cao thượng, loại trừ những tư tưởng thấp hèn. Hãy luôn
luôn nghĩ đến việc yêu thương tất cả mọi người. Hãy
tâm niệm dù đứng trước hiểm nguy, nghịch cảnh cám dỗ
vẫn không bao giờ từ bỏ đạo đức. Hãy khởi ước vọng
đạt được thiền định thâm sâu. Hãy phát nguyện sẽ mang
chân lý đi lang thang trong luân hồi để giáo hóa mọi người
không mệt mỏi... Còn những tư tưởng ích kỷ, thù hận hãy
nghiêm khắc loại trừ.
Ví
dụ, người có tính nóng nãy, mỗi khi gặp việc trái ý, bây
giờ muốn không còn nóng nãy nữa, thì khi còn bình tĩnh chưa
gặp việc trái ý, hãy tự nhủ với lòng sẽ giữ bình thản
dù cho có người chửi mắng, dù cho mọi người không làm
đúng theo ý mình... Khi thường xuyên tự nhủ như vậy, bất
ngờ gặp việc trái ý, tâm ta sẽ bình thản hơn xưa.
Như
vậy, thân nghiệp và khẩu nghiệp tạo thành kết quả khổ
vui ở đời sau, còn ý nghiệp tạo thành nhân cách ở đời
sau. Kết hợp cả hai loại kết quả này - khổ vui và nhân
cách - chúng ta có một bức tranh ở đời sau khá rõ nét.
Có
người cho rằng thân, khẩu, ý nghiệp luôn luôn đi đôi. Nếu
người nào làm việc thiện, nói lời thiện chỉ vì tâm hồn
họ suy nghĩ điều thiện. Ba nghiệp đều thiện thì ắt hẳn
đời sau họ vừa sung sướng, vừa có nhân cách khả kính.
Sự thực không đơn giản như vậy! Chúng ta thấy nhan nhãn
trong cuộc đời, nhiều người rất giàu có, quyền quý nhưng
lại ác độc, ích kỹ; cũng có người nghèo khổ nhưng tốt
bụng độ lượng. Kết quả như vậy bởi vì thân khẩu nghiệp
làm một đường mà ý nghiệp nghĩ một nẻo.
Ví
dụ một nhân viên vì tuân thủ mệnh lệnh cấp trên và phấn
đấu để thăng chức, đã siêng năng tổ chức việc xây dựng
một cây cầu lớn. Hành vi lợi ích cho mọi người này đem
đến cho ông một đời sống thoải mái ở kiếp sau. Tuy nhiên,
ý ông nghĩ khác, ông chỉ lo cho ông mà thôi. Kiếp sau trong
hoàn cảnh sung túc, ông vẫn là con người ích kỹ.
Nếu
nói rằng thân khẩu nghiệp là nguyên nhân của hoàn cảnh
khổ vui ở kiếp sau thì ý nghiệp chính là nguyên nhân cho
thân khẩu nghiệp. Nếu kiếp này chúng ta thường làm việc
từ thiện chỉ bởi vì kiếp trước chúng ta đã suy nghĩ về
việc này rất nhiều. Như vậy, ý nghiệp là nguyên nhân của
thân khẩu nghiệp. Thân khẩu nghiệp là nguyên nhân của hoàn
cảnh.
Ý
nghiệp > Thân khẩu nghiệp > Hoàn cảnh.
Chúng
ta vẫn còn đang sống ở kiếp này nhưng đang tự tay vẽ ra
dần dần bức tranh ở đời sau cho mình. Bức tranh của đời
sau đó được gọi là HỮU trong giáo lý Mười hai nhân duyên.
Giáo
lý Mười hai nhân duyên thuyết minh rằng HỮU dẫn đến SINH
(... Ái duyên Thủ, Thủ duyên Hữu, Hữu duyên Sinh... ).
Có
Hữu rồi mới có sự tái sinh ở đời sau. Khi chúng ta đã
tạo ra đủ nghiệp duyên cho đời sau, đã vẽ xong bức tranh
của kiếp kế tiếp. Đó cũng là lúc chúng ta chấm dứt sự
sống này để bước qua sự sống mới. Kiếp sau không còn
gì để lựa chọn nữa, nó đã được quy định rõ ràng từng
chi tiết nhỏ rồi ! Thế nên sự sống tâm linh sau khi chết
không phải là yếu tố quan trọng cho tái sinh
Tuy
nhiên, như đã nói khi chấm dứt cuộc sống này, chúng
ta lập tức “bước sang” cuộc sống kế tiếp. Vậy cái
gì “bước sang” có phải một linh hồn, một thần thức
gì đó chăng? Có phải một thần thức đã rời thân này nhập
vào thai kia để nối liền hai kiếp sống với nhau chăng ?
Trong
kinh tạng Nikàya nguyên thủy, Đức Phật nói rằng “Chết
ở đây và sinh ở kia.”
Câu
nói đơn giản này cần được giải thích thêm bởi cái lý
luận của người sau.
Có
người cho rằng phải hiểu ý nghĩa của câu nói đó là khi
một người vừa trút hơi thở ở đây, cũng là lúc vừa lọt
lòng mẹ bên kia. Lời giải thích này có một điểm hở là
như vậy, thời gian ở trong thai là người nào ? Không lẽ
bào thai chưa phải là một mọi người sao ?
Abhidhamma
giải thích rằng: “Khi tử tâm tối hậu chấm dứt, lập
tức kiết sinh Thức tối sơ xuất hiện”, tâm thức cuối
cùng của Thân cũ vừa hết thì một tâm thức ban đầu vừa
hình thành ở thân mới.
Như
vậy, tâm thức vừa mất ở thân này, lập tức xuất hiện
ở thân sau. Hay nói rõ hơn, sự sống vừa chấm dứt ở thân
này, lập tức một sự sống mới vừa xuất hiện ở thân
sau. Một người vừa chết ở thân này, ngay lúc đó tinh trùng
của cha lọt vào tiểu noãn của mẹ để cho một bào thai
được hình thành. Sự sống được nối tiếp không một sát
na gián đoạn.
Không
cần có một tâm thức nào để nhập vào thai kia, vì
thân sau đã có sẵn trong Nhân Quả Nghiệp Báo. Trường hợp
đời sống tâm linh hiện hữu sau khi chết một thời gian nào
đó, nó sẽ tắt mất khi bào thai của thân sau vừa thành hình.
Khi tinh trùng cha vừa lọt vào tiểu noãn mẹ, lập tức thần
thức cũ tan biến.
Trên
không gian vật lý, hai kiếp sống bị ngăn cách bởi một khoảng
không gian khá xa. Có thể người chết ở Việt Nam và tái
sinh ở Thụy Điển, chết ở Trung Hoa và tái sinh ở Nam Dương...
Chính vì bị cái khoảng cách của không gian vật lý “bịt
mắt” nên người ta không thấy được sự liên tục của
dòng sống, cứ tưởng là hễ bị ngăn cách bởi không gian
thì sự sống cũng phải gián đoạn theo. Có một sự tồn
tại của đời sống tâm linh sau khi chết tùy theo nhân duyên
của mỗi người. Có người vừa chấm dứt sự sống ở thân
này liền lập tức hiện diện ở bào thai mới. Có người
lại tồn tại bằng một sự sống tâm linh thêm một khoảng
thời gian nữa.
Xét
về phương diện thời gian, hai kiếp sống là liên tục không
gián đoạn. Còn về phương diện không gian vật lý, có một
khoảng cách nhất định giữa hai kiếp với nhau. Sự sống
Tâm linh sau khi chết vẫn thuộc về kiếp trước.
Ở
không gian vật lý, khoảng cách xa và gần là một phạm trù
có ý nghĩa quan trọng. Để đi từ Moskva đến Tokyo, con người
cần nhiều phương tiện tốn kém. Nhưng đối với luật Nghiệp
Báo trong Bản Thể thì khoảng cách đó hoàn toàn vô nghĩa.
Tất cả vị trí không gian đều ở một chỗ mà vẫn không
lẫn lộn với nhau. Thế nên, việc chết ở thân này và tái
sinh ở thân sau, dù cho hai thân có xa nhau cách mấy vẫn không
có gì quan trọng đối với luật Nghiệp Báo, không có gì
phải tốn công đi tìm và mất chút thì giờ nào cả. Chỉ
vì chúng ta không hiểu sâu luật Nghiệp Báo, chỉ nhìn theo
không gian vật lý nên mới tưởng tượng rằng phải tốn
nhiều công sức để đi từ một vị trí này sang đầu thai
ở một địa điểm khác.
Tuy
nhiên, thế nào là chết ?
Chúng
ta cần phân biệt hai loại chết: cái chết lâm sàng theo y
học và cái chết thực sự.
Theo
y học, biểu hiện lâm sàng của cái chết được đánh giá
theo sự ngừng hoạt động của não, kéo theo là tim ngừng
đập, phổi ngừng thở, thân nhiệt hạ dần. Vì thế đối
với bệnh nhân tình nguyện hiến tặng các bộ phận của
cơ thể sau khi chết, các bác sĩ theo dõi sự hoạt động của
não, nếu thấy não vừa dừng hoạt động là lập tức họ
cho giải phẫu cơ thể để lấy đi các bộ phận còn tốt
rồi đem ghép với những bệnh nhân khác. Đó là cái chết
lâm sàng.
Nhưng
giữa cái chết lâm sàng và cái chết thực sự có một khoảng
cách khá xa. Chết nghĩa là đình chỉ hoàn toàn mọi hoạt
động của sự sống, trong đó, hoạt động của não là quyết
định, mà hoạt động của não còn có nghĩa là hoạt động
của tâm thức. Hoạt động của tâm thức rất phức tạp.
Những hoạt động của ý thức thì dễ đo được bằng máy
móc. Còn những hoạt động của vô thức đã trở nên “tàng
hình” đối với máy móc. Phải là những máy siêu nhạy mới
bắt được những rung động của tâm vô thức. Còn loại
tâm thức mà Abhidhamma gọi là tử tâm tối hậu thì cực kỳ
nhỏ nhiệm. Đó là một hoạt động tâm thức cuối cùng để
rồi chấm dứt hẳn. Tâm tối hậu này quá mịn, quá nhỏ,
hầu như máy móc hiện đại chưa ghi nhận được.
Đôi
khi một người đã có những biểu hiện của cái chết lâm
sàng như người đã trở lạnh, tim đã ngừng đập, não (phần
thô) đã dừng hoạt động. Nhưng thật ra họ đang chìm trong
dạng tâm thức nhỏ nhiệm cuối cùng chứ chưa chấm dứt
hẳn. Theo y học và theo luật pháp, người này đã chết. Nhưng
theo định nghĩa về luân hồi, thì người này chưa chết vì
chưa qua cái tử tâm tối hậu. Đôi khi, từ cái tâm yếu ớt
cuối cùng này, bỗng nhiên tâm thức hoạt động mạnh trở
lại, và, họ hồi sinh! Báo chí cũng đăng tải một số đạo
sĩ Ấn Độ, Tây Tạng, các bộ tộc ở Châu Phi có khả năng
làm cho người chết sống lại, miễn là đừng chết quá lâu.
Đừng chết quá lâu nghĩa là chưa vượt qua cái ngưỡng tử
tâm tối hậu, còn trong dạng tâm thức yếu ớt gần chết
(cận tữ tâm). Rồi bằng năng lực tâm linh của mình, các
đạo sĩ thêm sức mạnh cho não người chết tăng khả năng
hoạt động trở lại. Đối với cái chết lâm sàng thì đây
quả thực là một cuộc hồi sinh mầu nhiệm. Nhưng thực ra
người này chưa chết thực sự. Nếu đã vượt qua tử tâm
tối hậu thì người này không thể sống lại được nữa
.
Có
một số người trong cơn gây mê để giải phẫu, hoặc bị
chấn thương mê man gần như chết, đã thấy mình thoát ra
khỏi thân xác bay đi chơi vơi trong một thế giới kỳ lạ
có nhiều hình ảnh lạ lùng, có những con đường hầm để
đi sang thế giới bên kia. Thậm chí còn có người quay lại
nhìn thấy rõ ca giải phẫu cái xác của mình. Một số nhà
nghiên cứu gọi đó là hiện tượng Near Dead Experiment
- Kinh nghiệm gần kề cái chết. Đối với số người này
ý thức bị mê man, nhưng vô thức còn hoạt động mạnh. Họ
chưa chết hẳn nhưng khối tâm linh đã một lần tách rời
khỏi thân vật lý.
Nếu
thực sự vượt qua cái ngưỡng tử tâm tối hậu, lập tức
một “tâm thức tối sơ” vừa xuất hiện ở bào thai khác
khi tinh trùng của cha lọt vào tiểu noãn của mẹ. Hai sự
kiện này luôn luôn trùng nhau. Tử tâm tối hậu chấm dứt
luôn luôn đồng thời với lúc tinh trùng lọt vào tiểu noãn
của mẹ. Một kiếp sống mới bắt đầu ! Trạng thái tồn
tại trong thế giới vô hình vẫn thuộc về kiếp trước.
Khi bắt đầu sự sống ở thai mới, sự sống Tâm linh đó`
sẽ biến mất.
Kinh
Địa Tạng Trung Hoa cho rằng sau khi chết 49 ngày, người
đó mới lọt vào thai mới. Con số 49 ngày chỉ là biểu tượng,
ám chỉ cho thời gian từ cái chết lâm sàng đến cái chết
thực sự. Thời gian này không giống nhau ở mọi người. Có
người từ lúc chết lâm sàng đến lúc chết thực sự chỉ
có vài giờ, có người vài ngày, có người vài tháng. Thậm
chí những người tu luyện định lực sâu, khi chết họ nhiếp
tâm trong định, thời gian “cận tử tâm” có thể kéo dài
nhiều năm rồi mới chết hẳn.
Một
vài cụ già kinh nghiệm ở miền Bắc Việt Nam cho biết
rằng. Khi một người đã chết (lâm sàng) chờ mãi mà xác
họ vẫn không cứng (chết thực sự) để có thể đem liệm,
thì chỉ việc đặt xác họ trực tiếp với đất, xác sẽ
lạnh cứng nhanh sau đó.
Điều
này có thể giải thích rằng trong khi cái chết lâm sàng, người
này đang chìm trong cận tử tâm chứ chưa chết hẳn. Não họ
vẫn còn tích một ít điện để nuôi dưỡng sự hoạt động
của cận tử tâm. Bây giờ để cơ thể họ tiếp đất tức
là làm cho một ít điện đó xuống “masse” hết hẳn. Không
còn điện để hoạt động, cận tử tâm chấm dứt, người
này chết thực sự.
Ngược
lại khi thấy người chết rồi mà cơ thể không lạnh cứng,
ta phải nghĩ ngay người này còn trong trạng thái cận tử
tâm (NDE - Near Dead Experiment). Nếu ai có thể truyền sinh lực
sang, để tăng cường hoạt động của não, người này có
thể sống lại.
Nhà
hiền triết Platon (428-348 trước CN) có thuật chuyện một
chiến binh tử trận, nhưng 10 ngày sau, khi được khiêng xác
về nhà, người ta thấy xác đó vẫn lành lặn không thối
vữa, song cứ mang tiếp về bản quán. Tối ngày thứ 12, lúc
gia đình bắt đầu cử hành tang lễ thì người lính bỗng
sống lại, tuy không đủ sức rời xa đống lửa hỏa thiêu.
Người lính đó tên là Ehr, con ông Armerius, quê ở Pamphilic.
Thế
kỷ thứ tám, tu sĩ Bede, Anh quốc kể lại một người tên
là Canninghame tại Northambryans đã ngã bệnh, yếu dần yếu
dần, cho tới lúc nguy kịch và tắt thở vào một đêm khuya.
Nhưng rạng sáng, anh bỗng nhổm dậy trước sự hoảng hốt
của mọi người đang than khóc quanh giường. Họ bỏ chạy
tán loạn. Chỉ có người vợ rất mực yêu chồng vẫn đứng
lại nhưng hãi hùng đến mức toàn thân run bắn lên.
Cựu
ước kinh, phần Vua, cuốn 2, chương 4, có kể chuyện tiên
tri Élisée (850-800 trướcCN) đã cứu sống con trai thiếu phụ
Sunam.
“Élisée
đi vào nhà - Kìa! Thằng nhỏ chết rồi, nằm bẹp trên giường
! Vào hẳn bên trong, ngài đóng chặt cửa, chỉ còn lại mình
với đứa bé [...]. Ngài nằm sấp lên mình đứa trẻ, miệng
ấp miệng, mắt ấp mắt, tay ấp tay. Ngài ấp lấy mình đứa
trẻ. Bỗng cơ thể con trẻ vụt ấm lại. Rồi ngài trở xuống,
đi tới đi lui trong nhà, đoạn trèo lên ấp thêm. Bỗng đứa
trẻ hắt hơi bảy lần, mở choàng mắt [...] Ngài bảo [bà
mẹ]: “Hãy bồng con bà lên”.Bà tới ôm lấy chân ngài,
sấp mình thờ kính, rồi ẳm con trai ra ngoài.
Rõ
ràng đây là phương pháp truyền sinh lực làm hồi sinh.
Sử
gia Hy Lạp Philostrate (175-249) kể về triết gia Apollonius de
Tyane (khoảng 1 thể kỷ sau CN).
Trong
một lần sang Roma, nhà hiền triết bỗng gặp đám tang một
trinh nữ thuộc gia đình thế tộc. Thấy cảnh than khóc, Apollonius
động lòng trắc ẩn, bèn phán: ” Hạ quan tài xuống vì ta
có phép làm ngưng những dòng lệ các người trào tuôn cho
người trinh nữ xấu số kia!”. Đoạn, ông hỏi tính danh
nàng. Nhiều người đinh ninh ông định đọc một bài điếu
thường được nghe vào những dịp đưa tang để xoa bớt những
buồn thương của thân bằng quyến thuộc. Nhưng không, Apollonius
nâng đầu thi thể trinh nữ dậy, khẻ thì thầm vào tai nàng...
Vậy mà trinh nữ vụt bừng tỉnh, ngơ ngác thốt lên những
lời hỏi han, rồi ngồi dậy, quay về dinh cơ cha mẹ.”
Qua
câu chuyện này ta thấy các nhà hiền triết ngày xưa có năng
lực tâm linh rất mạnh, không phải chỉ thuần là kẻ lý
luận mà thôi.
Hàng
trăm nhân chứng bị chết lâm sàng, về sau được các bác
sĩ cứu sống, có thể xác nhận về trạng thái tâm linh gần
chết (cận tử tâm). Tiến sĩ Raymond Maudy trong cuốn “Sống
lại sau khi tắt thở” (mới công bố gần đây) đã đưa
ra hàng trăm lời tường thuật của các ca tương tự. Họ
cho biết họ nghe rõ hết những lời trao đổi của các chuyên
gia và thân nhân, cảm nhân được đầy đủ những biến cố
kề cận mình trong thời gian nằm tại phòng hồi sức.
Một
bác sĩ kiêm nhà du lịch Mỹ George Wright viết trong cuốn “nhân
chứng của các pháp thuật” (1970) từng tận mắt chứng kiến
tại Benin (Phi Châu) một ca hồi sinh.
“Một
người chẳng còn dấu hiệu nào của sự sống nằm ngữa
trên mặt cát.
Tôi
nhờ một bạn đồng hành người địa phương đưa tới bên
anh ta rồi nói: “Tôi là một thầy thuốc. Tôi muốn được
khám nghiệm để biết đích xác anh ta đã chết hẳn chưa?”
Họ vui vẻ nhận lời. Tôi ngồi xuống vạch mí mắt người
chết, thử phản xạ đồng tử theo phương pháp Argyll-Robinson.
Mắt vẫn đờ đẫn và tim hoàn toàn ngừng đập... Rồi viên
pháp sư vẫy tay ra hiệu cho đám đông bắt đầu cất tiếng
ca hát. Âm hưởng điệu hát nửa như kêu gào, nửa như nức
nở khóc than. Họ hát mỗi lúc một nhanh thêm, một cao giọng
hơn. Dường như những âm điệu đó cũng được chính người
chết nghe thấy hết. Tôi sững sờ bởi chưa bao giờ chứng
kiến chuyện tương tự trong đời.
Người
chết vụt đưa tay lên vuốt ngực, cố nghiêng người lại.
Tiềng la hét của đám đông bỗng hóa thành tiếng rú dài.
Trống chiêng bắt đầu khua vang, càng lúc càng gấp gáp hơn.
Rốt cuộc, người chết trở mình được, gập hai chân lại,
rồi thong thả nhỏm dậy, ngồi xổm trên cát. Hai mắt anh
ta vài phút trước đây còn đờ đẫn khi bị chiếu thẳng
đèn pin vào, giờ bỗng mở to nhìn chòng chọc vào đám người
vây quanh...”
Dân
Benin còn cho G.Wright biết thêm các thuật sĩ xứ họ có thể
hồi sinh nhiều người, miễn là kẻ xấu số chưa chết quá
lâu. Nhiều người da trắng cư ngụ lâu năm ở đó đã công
nhận hoàn toàn lời họ, vì nghi lễ kia tháng nào cũng có
cử hành.
Ở
đây, không phải âm thanh làm cho người chết sống dậy, mà
chính là ước muốn chủ quan mạnh mẽ của mọi người, tức
là năng lực tâm linh, đã làm thức dậy một não bộ đang
yên nghỉ ở cận tử tâm. Tuy nhiên, điều lạ là tại sao
nằm trên cát mà họ không bị mất đi phần điện ít ỏi
cuối cùng như ở Việt Nam.
Cũng
có một số người trong thời gian cận tử tâm thấy đi dạo
chơi ở địa ngục (chứ không bị hành hạ) hoặc dạo chơi
ở thiên đường gặp các vị thánh ngày xưa. Đến khi hồi
sinh họ kể lại điều đã thấy và làm tăng thêm niềm tin
về thế giới siêu hình cho mọi người.
THÂN
TRUNG ẤM
Trong
Phật Giáo Đại Thừa, khái niệm Thân Trung ấm được nêu
ra để chỉ cho giai đoạn mà một người đã chết, sự sống
nơi thân vật lý không còn tồn tại, nhưng tồn tại một
sự sống trong thế giới vô hình. Cái Ngã nơi Thân Trung ấm
này cũng vẫn là cái Ngã nơi sự sống lúc còn gắn nơi thân
vật lý. Trước khi chết người này là Đậu, con ông Xoài,
thì ở Thân Trung ấm người này vẫn thấy mình là Đậu con
ông Xoài. Cho đến khi duyên đã hết, phải sinh về một kiếp
khác, Thân Trung ấm tan biến, sự sống thành hình ở bào thai
mới, lúc đó cái Ngã cũ chấm dứt hoàn toàn. Cái giây phút
mà Thân Trung ấm tan biến luôn luôn đồng thời với cái lúc
tinh trùng cha lọt vào noãn của mẹ. Abhidhamma thuộc Kinh Tạng
Nguyên Thủy gọi là “khi Tử tâm tối hậu chấm dứt thì
Kiết sinh thức tối sơ xuất hiện”. Cái Ngã cũ đã
hết nên người này không còn thấy mình là Đậu con ông Xoài
nữa. Chuyện kiếp trước bị quên, người này mang một hình
hài mới, tên họ mới, dòng tộc mới, số phận mới.
Do
nghiệp đã tạo sẵn nên kiếp sắp tới của một người
sẽ sinh vào gia đình nào là điều chắc chắn, không có gì
thay đổi được nữa. Lúc tử tâm tối hậu chấm dứt cũng
là lúc tinh trùng lọt vào noãn sào và một kiếp sống mới
bắt đầu trong hình thức một bào thai nhỏ bé mà mắt thường
không thể trông thấy.
Trong
500 triệu tinh trùng của người cha, có những tinh trùng chỉ
mang nhiễm sắc thể X, nếu kết hợp với tiểu noãn sẽ cho
ra một bào thai nữ; có những tinh trùng mang nhiễm sắc thể
Y, nếu kết hợp với tiểu noãn sẽ cho ra một bào thai nam.
Nhưng do nghiệp của chính người đó sẽ mang thân nam hay nữ
nên khiến cho tinh trùng loại nào sẽ lọt vào tiểu noãn.
Lúc
tiểu noãn thụ tinh, các nhiễm sắc thể (chromosome) của tinh
trùng và của trứng phối hợp thành 46 cái, một số lượng
cần thiết để sự sống có thể xuất hiện. Con người,
lúc bấy giờ mặc dù chỉ là một tế bào, nhưng định mệnh
đã bao trùm lấy nó, vì những nhiễm thể của người cha
và người mẹ đã định đoatï giới tính, màu tóc, màu mắt
cũng như vóc dáng của hài nhi tương lai. Cũng chính nhiễm
thể này khiến trẻ con sẽ được sinh ra trở thành một vĩ
nhân hoặc một kẻ ngu đần.
Những
nhiễm sắc thể có hình xoắn giống một dây ngọc hoặc một
dây có thắt nơ và chứa hàng nghìn phân tử di truyền (gènes),
cấu tạo bởi Acid Désoxyribo Nucleic (ADN), một chất hóa học
chứa đựng bí mật về sự sống và sự sinh trưởng của
con người. Hiện nay các nhà khoa học đang tìm cách giải mã
từng gène để biết được nhiệm vụ của chúng một cách
chắc chắn.
Những
nhiễm sắc thể chứa hàng ngàn phân tử di truyền, có nhiệm
vụ rõ rệt trong từng giai đoạn, trong việc sinh trưởng.
Mỗi phân tử di truyền tự hoạt động riêng rẽ hoặc cộng
tác với phân tử di truyền khác. Một số phân tử di truyền
ấn định màu mắt, một số khác ấn định về màu da và
một số nữa ấn định chiều dài của xương.
Con
người hưởng thụ 1/2 số lượng nhiễm thể của cha và 1/2
của mẹ (tổng cộng 46). Sự kiện này là nguồn gốc của
sự khác biệt giữa những cá thể trong nhân loại.
Khi
những cặp nhiễm thể của tiểu noãn được phân làm hai,
sự ngẫu nhiên (theo luật Nghiệp Báo bí mật chi phối) sẽ
định đoạt nhiễm thể nào của mỗi cặp sẽ ở lại, và
nhiễm thể nào sẽ bị loại bỏ. Do đó người phụ nữ có
thể truyền lại cho con mình màu mắt, trí khôn đã thụ hưởng
từ tổ tiên và cả bệnh tật. Và cũng chính sự ngẫu nhiên
theo nghiệp sẽ phân chia và chọn lựa nhiễm thể của người
cha. Tất cả đều diễn biến tương tự một cuộc xổ số
vĩ đại vì những nhiễm thể của tiểu noãn và của tinh
trùng có thể được phân chia theo tám triệu kiểu khác nhau.
Chính
nghiệp của đứa bé đã sắp xếp cuộc tạo dựng nhỏ nhiệm
và quan trọng này.
Đầu
tiên, nghiệp của đứa bé đã quy định nó sẽ làm con của
bậc cha mẹ nào để có thể nhận lấy tính di truyền về
sức khỏe, trí khôn, hình dáng của dòng họ đó. Rồi nghiệp
tiếp tục chi phối sự phối hợp, phân chia các gène để
cho nó có những tính chất khác hẳn anh chị em của nó.
Nếu
đời trước nó thường chăm sóc sức khỏe cho mọi người,
hoặc dùng sức lực để làm việc thiện, thì nội việc chọn
lựa các gène, nó sẽ thừa hưởng được các gène tạo thành
sức khỏe tốt.
Nếu
đời trước nó hay truyền đạt kiến thức, dạy học tận
tâm, xây cất trường học, thì bây giờ nó được hưởng
các gène tạo nên bộ óc thông minh.
Nếu
có nhiều phước, nó được sinh trong gia đình giàu có, từ
nhỏ đã đầy đủ tất cả.
Ở
đây, luật Nghiệp Báo đã “thò tay” sắp xếp từng gène
cho đứa bé.
Khi
tinh trùng đã kết hợp với tiểu noãn, một tâm thức tối
sơ xuất hiện. Lúc này đồng thời với cái chết thực sự
ở thân cũ. Trước khi tinh trùng kết hợp với tiểu noãn,
mỗi bên đã có 23 cặp nhiễm sắc thể chứa đựng các gène
(các đoạn phân tử ADN) ấn định sự phát triển về sau.
Các nhiễm sắc thể đã có tạo thành một vùng không gian
tâm linh vô cùng nhỏ nơi giao tử (trứng hoặc tinh trùng),
nhưng chưa đủ để gọi là tâm thức tối sơ. Tính chất
tinh thần của tinh trùng hay tiểu noãn quá ít ỏi và đơn
giản nên không đủ để định nghĩa đó là một mọi người.
Chỉ khi nào tiểu noãn và tinh trùng đã kết hợp, năng lực
tâm linh tại đó được nhân bội lên vì đã hình thành các
gène (các đoạn phân tử ADN) để ấn định sự phát triển
của bộ não, lúc đó tâm thức tối sơ của một mọi người
mới thật sự hình thành.
Tâm
thức này càng lúc càng phát triển phức tạp dần dần theo
sự phát triển của các tế bào não. Ban đầu, phôi (trứng
đã thụ tinh) dường như chỉ có một tâm thức tối sơ cao
cấp hơn bản năng sinh tồn của tế bào bình thường một
chút. Đến khi các tế bào não phát triển theo hai cơ cấu:
thần kinh động vật và thực vật; theo hai bán cầu; theo các
trung khu, lúc đó tâm thức cũng phát triển theo hai cơ cấu:
ý thức và vô thức.
Qua
hai tháng, não bộ đã phát triển hoàn chỉnh với 15 tỷ tế
bào. Ý thức và vô thức đã được thành lập xong. Tuy nhiên,
não bộ vẫn trong tình trạng hoạt động thầm lặng đơn
giản, bào thai ngủ nhiều hơn thức. Thỉnh thoảng bào thai
cũng thức dậy vui đùa chút ít rồi lại chìm vào giấc ngủ
say sưa. Song, nơi cái não bộ trinh trắng đó, thật ra đã
mang đủ các mầm mống thiện ác phức tạp do ý nghiệp đời
trước tạo nên. Những tư tưởng đời trước đã quy định
nhân cách, tính tình cho đời sau.
Một
số người cho rằng nếu tư tưởng đời trước tạo ra tư
tưởng đời sau, vậy phải chăng có một loại tâm thức nào
đó không bị tiêu diệt theo cái chết, đã giữ nguyên các
hạt giống tư tưởng đời trước để nhập qua bào thai mới
? Và như vậy người thông minh sẽ tiếp tục thông minh, kẻ
ngu dốt sẽ tiếp tục ngu dốt ?
Thật
ra, vấn đề không đơn giản như vậy. Có thể một người
đời trước là một bác học. Nhưng ông luôn đố kỵ với
kẻ có tài vì sợ họ giỏi hơn mình. Kiếp sau, ông là một
người ngu dốt. Có thể một người nông dân ít học, nhưng
ông biết lo lắng việc học hành của con cái, thường hay
phụ giúp xây cất trường học trong làng. Kiếp sau ông là
một người thông minh học giỏi.
Không
có tâm thức nào rời thân cũ nhập qua thai mới để mang theo
các hạt giống tư tưởng cũ. Chỉ có luật Nghiệp Báo từ
trong Bản Thể quy định tất cả. Nếu đời này chúng ta có
được tư tưởng tốt lành, nhân cách trác việt, chỉ bởi
vì đời trước chúng ta thường xuyên tán thán một bậc thánh
nào đó, hoặc hơn nữa chúng ta thường tâm nguyện sẽ đạt
được sự cao cả của vị thánh đó.
Luật
Nghiệp Báo sắp xếp tất cả mà không bị ngăn cách bởi
không gian vì trong Bản Thể, tất cả vị trí đều chung một
chỗ, nhưng không lẫn lộn với nhau.
Trong
thế giới sinh vật, người ta quan sát thấy những hiện tượng
biến dị không theo truyền thống. Ví dụ trong một bầy chim
lông vàng chợt xuất hiện con chim lông xám, mặc dù chúng
cùng sự di truyền từ cha mẹ. Những biến dị này có nhiều
nguyên nhân, hoặc do môi trường, nhiệt độ, hóa chất, tâm
lý.
Trong
loài người cũng vậy, không phải hể là anh chị em thì phải
giống nhau. Sự biến dị lạ lùng đã khiến cho anh chị em
vẫn có sự sai khác về tính tình, hình dáng, tài năng. Ở
đây, chính nghiệp riêng đời trước đã đạo diễn
nên sự sai khác này. Họ có duyên làm anh chị em với nhau
những vẫn cưu mang nghiệp riêng biệt của mình từ vô lượng
kiếp trước.
Rồi
thêm nữa, gène không phải đã là đại biểu cho luật Nghiệp
Báo. Nó cũng chỉ là một mắc xích trong chuỗi Nhân Quả mà
thôi. Ví dụ một người bị dư một nhiễm sắc thể, 47 thay
vì 46 như mọi người, nên mắc hội chứng Down. Người này
ngu đần, yếu ớt, mặt mày bị biến dạng. Do nghiệp đời
trước nên trong quá trình tạo thành trứng hoặc tinh trùng
của cha mẹ, một giao tử đã dư một nhiễm sắc thể để
dành sẵn cho kẻ xấu số kia. Đúng vào lúc trứng đó rụng,
nó được thụ tinh và đứa bé ra đời với định mệnh khắc
nghiệt. Vì là bệnh từ trong nhiễm sắc thể nên rất khó
chữa. Biết đâu sau này do phước của người bệnh đến
lúc tốt đẹp, y học sẽ tìm được phương pháp bỏ bớt
một nhiễm sắc thể tai hại kia.
Các
nhà khoa học đang lần mò vào từng gène để thay đổi số
phận của con người. Những người bệnh do gène tức là do
nghiệp cố định khó chuyển, biết đâu đến khi đủ phước,
y học sẽ can thiệp vào gène để chuyển nghiệp cho họ.
Chỉ
có một cái cố định, đó là luật Nghiệp Báo. Một nghiệp
chắc chắn sẽ có một quả báo. Phần còn lại là do mỗi
chúng ta tự chọn cho mình loại quả báo nào bằng cách gây
nghiệp ra sao. Nếu muốn cuộc đời mình được nhiều tốt
đẹp, hãy cố gắng tạo nhiều nhân lành và gạn lọc tư
tưởng của mình thường xuyên.
Có
một số tôn giáo không tin có luân hồi tái sinh, có một số
người nghiên cứu khoa học cũng không tin có luân hồi. Nhưng
cũng có một số nhà khoa học đang khách quan tìm hiểu vấn
đề này một cách nghiêm túc.
Bác
sĩ Mỹ Ian Stevenson, tác giả cuốn “Hai mươi trường hợp
về luân hồi”, sau nhiều năm nghiên cứu ông đã tin rằng
“Có thể có sự sống sau khi chết đi”. Ông bắt đầu tìm
cách chứng minh Thuyết luân hồi từ năm 1961 trong chuyến đi
Ấn Độ lần thứ nhất. Dùng máy vi tính phân tích 1200 trường
hợp được coi là đầu thai, Bác sĩ Stevenson tuyên bố: “Không
có lý do để coi thuyết luân hồi là mê tín, ngược lại
nó đáng được nghiên cứu một cách nghiêm túc.” Ông cho
một số trường hợp những nốt ruồi, mụn cóc trên mình
trẻ sơ sinh có thể là dấu vết dao đâm, đạn bắn trong
tiền kiếp.
Ở
Hy Lạp, các triết gia Empedocles, Pythagore và Plato đã giảng
giải về đầu thai. Ngay các giáo phẩm cao cấp của nhà thờ
Kitô buổi đầu cũng tin ở việc đầu thai. Mãi đến năm
553, hội đồng Constantinople dưới sự chủ tọa của giáo
hoàng Vigilins mới phán rằng luân hồi là tà thuyết. Nhiều
triết gia cận đại bênh vực thuyết luân hồi, trong đó có
Kant (1724-1804) và Schopenhower (1788-1860).
Rồi
ngay cả những người tin ở thuyết luân hồi cũng có nhiều
ý kiến khác nhau. Có người cho rằng ngoài việc tái sinh ở
thân người hoặc thú, một người theo nghiệp của mình có
thể tái sinh ở một thế giới siêu hình của các thần linh,
hoặc tái sinh ở địa ngục, ma quỷ. Như vậy họ tin rằng
ngoài không gian vật lý này còn có các thế giới siêu hình
cũng có tính khách quan như không gian vật lý. Ở đó các sinh
vật không mang thân xác vật lý mà có một hình dáng đặc
biệt, khó thể trông thấy bởi đôi mắt của người trần
gian.
Hầu
hết các tôn giáo đều chấp nhận có các cõi giới siêu hình
tồn tại khách quan ngoài ý muốn con người. Chúng ta cần
phân biệt cái không gian tâm linh do Bản năng sinh tồn của
sinh vật tạo nên có tính chủ quan triệt để, với các thế
giới siêu hình tồn tại khách quan theo quan niệm của tôn
giáo.
Nơi
không gian tâm linh chủ quan, mọi thần thông, tác dụng đều
xảy ra theo ý muốn và niềm tin của con người. Thậm chí
một số ảo ảnh về thiên đường, địa ngục, ảo ảnh
về các bóng ma cũng được tạo ra từ nơi đây. Hơn nữa,
mặc dù không gian tâm linh có vẻ kỳ diệu hơn, cao cấp hơn
không gian vật lý nhưng nó vẫn liên quan với không gian vật
lý bởi vì nó được hình thành từ cấu trúc của tế bào
sinh vật, từ cấu trúc của các ADN. Như vậy do cấu trúc
cao cấp của vật chất, tế bào hình thành, ADN hình thành
và bản năng sinh tồn hình thành, đồng thời không gian tâm
linh cũng từ nơi cấu trúc đó mà xuất hiện. Ở mỗi tế
bào sống đều có một vùng không gian tâm linh nhỏ bé bao
phủ. Toàn bộ tế bào của cơ thể tạo thành một vùng không
gian tâm linh lớn bao quanh cơ thể. Riêng những sinh vật có
não bộ, nhất là người, thì không gian tâm linh mạnh hơn
vì tế bào não tạo thành không gian tâm linh mạnh hơn tế
bào thường.
Chúng
ta có thể ví dụ không gian tâm linh với điện trường chung
quanh một dây dẫn điện. Khi có dòng điện chạy qua một
dây dẫn, lập tức chung quanh dây điện xuất hiện một vùng
điện từ trường. Trường điện từ này vô hình nhưng có
tác dụng lớn lao trong các kỹ thuật hiện đại như Radar,
vô tuyến viễn thông... Người ta ứng dụng tính chất của
trường điện từ trong vô số lĩnh vực nhưng thật ra bản
chất thực sự của cái gọi là trường này nghĩa là gì thì
vẫn còn là bí mật.
Một
số nhà bác học đã dùng lại khái niệm Éther để tạo cơ
sở cho một cái nền của không gian. Khái niệm này từ lâu
đã bị bác bỏ, nhưng lại bắt đầu được nhắc đến.
Trường
điện từ cũng do vật chất mà có. Trường không gian tâm
linh của sinh vật cũng vậy, cũng từ vật chất mà có, nhưng
phải là một cấu trúc hết sức đặc biệt của ADN mới
đủ sức tạo thành một trường không gian tâm linh phát ra
chung quanh.
Như
vậy, không gian tâm linh vẫn phải dựa trên vật chất mà
có. Tinh thần và thể xác không thể tách rời. Tinh thần và
thể xác có tính chất khác nhau rất xa nhưng vẫn dựa vào
nhau để tồn tại. Người nào tách đôi tinh thần và thể
xác sẽ phạm sai lầm. Chính vì lý do này nên khi có người
hỏi Đức Phật :
“Ngã
(tinh thần) và Thân (thể xác) là một hay khác?”
Đức
Phật im lặng.
Theo
tính toán, các nhà vật lý vũ trụ cho rằng phải cần số
lượng vật chất gấp nhiều lần số lượng vật chất đang
có trong vũ trụ thì mới phù hợp với vận tốc chuyển động
của các thiên thể. Và các nhà khoa học kết luận rằng phải
tồn tại một loại “vật chất vô hình”rất lớn trong
vũ trụ. Ở đây chúng ta thấy bắt đầu có sự nối tiếp
trùng hợp giữa lý thuyết khoa học và lý thuyết về các
cõi giới siêu hình của tôn giáo như cõi trời,cõi địa ngục.
Một ngày nào đó, khoa học mở rộng phạm trù về môi
trường sống sang các thế giới vô hình và chúng ta sẽ xem
thế giới vô hình cũng là một dạng tồn tại để đi đến
sau cái chết của cuộc đời này.
Tuy
nhiên chúng ta nên cẩn thận vì một cõi trời thật sự và
một cõi trời do ảo ảnh của tâm hiện ra rất khó phân biệt.
Nhiều người đã trở nên mê tín, tà kiến vì quá chú trọng
vào cõi siêu hình và thường hay có ảo ảnh thiên đường
trong giấc mơ.