CHƯƠNG
3
KHÔNG
GIAN TÂM LINH
Câu
chuyện này được hòa thượng Thiền Tâm kể và chúng tôi
đã từng thuật lại trong cuốn "Luận về Nhân Quả".
Có
lũ trẻ chăn trâu, lùa trâu về ngang qua bờ đất. Chợt một
đứa trong đám ngã lăn ra giãy dụa la hét thảm thiết. Những
đứa trẻ khác sợ hãi chạy đến giữ tay, giữ chân nó lại.
Nhưng nó vẫn gào thét dữ dội. Qua một lúc lâu thì nó mới
thôi làm dữ, nhưng khắp người nó nhiều vết cháy xém. Khi
được hỏi nguyên do, nó kể rằng khi đi đến bờ đất,
chợt nó thấy hiện ra một cổng thành lớn bên trong lửa
cháy rừng rực. Nó bỗng cảm thấy kinh hoàng tột độ. Nhưng
liền khi đó như có sức mạnh vô hình cuốn hút nó bay vào
bên trong để bị thiêu đốt đau đớn vô cùng. Và bây giờ
thì thành lửa đã biến mất, mọi chuyện trở lại bình thường
với cái bờ đất, cánh đồng, đàn trâu và lũ bạn, nhưng
da thịt còn vết cháy xém và nỗi sợ hãi còn để lại dư
âm.
Cái
thành lửa có thật hay chỉ là ảo tưởng ? Nếu không thật
chỉ là ảo tưởng của thằng bé thì tại sao vết cháy xém
xuất hiện ? Nếu thật thì tại sao những đứa bạn của
thằng bé không thấy ?
Đứng
trên lập trường của không gian vật lý, chúng ta sẽ không
bao giờ đủ sức giải thích hiện tượng kỳ lạ này cũng
như vô số hiện tượng kỳ lạ khác đã và đang xảy ra khắp
nơi.
Thật
ra không gian vật lý không phải là cõi không gian duy nhất
của vũ trụ. Cao hơn không gian vật lý còn có không gian tâm
linh với những quy luật hoàn toàn mới lạ mà tai mắt con
người không thể biết được. Hầu hết các tôn giáo đều
chú trọng vào thế giới tâm linh này với niềm tin và thêm
thắt các phỏng đoán, các tưởng tượng vô cùng hấp dẫn.
Khoa
học có thể đặt chân đến mặt trăng, nhưng chưa có thể
đặt chân đến thế giới tâm linh này. Vì thế đây cũng
là môi trường hoạt động tự do cho các nhà thần bí. Họ
tô điểm đủ chuyện thần thoại vào không gian này để thu
hút tín đồ với một lý lẽ đơn giản: Khoa học không thể
biết được!
Điều
may mắn cho chúng ta hôm nay là khoa học đã nhìn nhận sự
thật hữu của các hiện tượng ngoại cảm như thần giao
cách cảm, thôi miên, tiên tri, chữa bệnh bằng sức mạnh
tinh thần, khinh thân... và đang tìm chìa khóa để đi vào tìm
hiểu sâu xa các vấn đề này. Sự nghiên cứu khách quan của
khoa học sẽ trả lại cho thế giới tâm linh đúng với bản
chất của nó. Không tô điểm cho nó quá sức cầu kỳ thần
bí, cũng không phủ nhận nó một cách võ đoán cạn cợt.
Các
sinh vật, gồm cả động vật và thực vật đều có bản
năng sinh tồn. Bản năng này là khuynh hướng tự duy trì sự
sống của chính mình và truyền lại nòi giống của mình lâu
dài về sau. Cây có khuynh hướng mọc rễ đi tìm nguồn thức
ăn trong lòng đất như nước, chất đạm, chất khoáng... Lá
vươn về ánh sáng để thực hiện sự quang hợp, hấp thải
các thành phần trong không khí... Rồi chúng hoặc kết trái
rơi hạt để cây con mọc lên, hoặc hạt bay theo gió đến
vùng đất khác, hoặc rễ luồn trong đất đi xa để mọc
nên cây mới.
Các
loài động vật thì không bám rễ, đứng một chỗ mà linh
động hơn, di chuyển từ nơi này sang nơi khác để tìm thức
ăn. Chúng chia thành hai giống cái và đực. Sự phối hợp
giữa hai giống này sản sinh ra các loài con để nối tiếp
nòi giống. Một vài động vật lưỡng tính thì cũng có cách
sinh sản thích hợp.
Khác
với các máy móc xe cộ vô tri vô giác không có bản năng sinh
tồn, phải do con người điều khiển mới hoạt động, còn
các sinh vật thì tự có một khuynh hướng mãnh liệt duy trì
sự sống. Khuynh hướng đó ẩn dấu trong các gen của tế
bào, cụ thể là chuỗi DNA hình xoắn (Desoxyribo Nucleic Acid)
Các nhà khoa học khẳng định rằng không có hai sinh vật hoàn
toàn giống nhau về phân tử DNA. Các nhà tội phạm học đã
dựa vào tính chất này để truy tìm thủ phạm một cách chính
xác khi chỉ có một mẫu tóc, ít máu, da, tinh dịch còn sót
lại nơi hiện trường.
Các
gen có một cấu trúc phân tử cực kỳ phức tạp mà khoa học
vẫn đang lần mò tìm hiểu dần dần. Chính các gen này qui
định một sinh vật sẽ phát triển như thế nào, sẽ có một
hình dáng tính tình sức khoẻ sẽ ra sao. Người ta còn mơ
ước việc xen vào thay đổi các gen đó để uốn nắn sự
phát triển của sinh vật theo ý muốn. Họ sẽ tạo ra các
con người hoàn hảo hơn.
Hiện
nay một số nhà sinh học đã cấy gen người vào gia súc để
các con vật này tiết ra các dược chất hiếm trong sữa. Tinh
luyện sữa người ta thu được các dược chất quan trọng,
đắt tiền, cần thiết trong y học. Người ta còn cấy gen
để tạo ra cây có thân vuông thay vì tròn để khi xẻ gỗ
đỡ phải bỏ phí ván bìa. Những bệnh tật có liên quan đến
gen sẽ được chỉnh lại để chữa lành.
Bí
mật của sự sống đang dần dần hiện rõ trước sự thành
tựu của khoa học.
Bản
năng sinh tồn cũng xuất phát từ các gen bé nhỏ nhưng có
cấu trúc phức tạp này. Một điều vô cùng quan trọng nữa
bị bỏ quên là chính cái bản năng sinh tồn của sinh vật
đã tạo thành vùng không gian tâm linh cho chính sinh vật đó.
Bất
cứ sinh vật nào, dù là động vật hay thực vật, hễ có
bản năng sinh tồn đều tự tạo thành một vùng không gian
tâm linh chung quanh mình. Vùng không gian tâm linh này đang được
các nhà khoa học gọi là trường của sinh học (bio-field).
Khoa học biết rõ về từ trường, chưa rõ lắm về trọng
trường,về môi trường chân không, trường hấp dẫn (trường
hấp dẫn ở khoảng cách gần thì thành trọng trường, ở
khoảng cách xa gọi là trường hấp dẫn) môi trường lan truyền
âm thanh, ánh sáng. Nhưng còn vô cùng xa lạ với trường không
gian tâm linh xuất phát từ bản năng sinh tồn này. Chính trường
không gian tâm linh là viễn ảnh tươi đẹp cho nền văn minh
của con người ở tương lai. Nhiều nhà khoa học đã cảm
nhận rằng nền văn minh tương lai của con người không phải
là nền văn minh vật lý mà chính là nền văn minh tâm linh.
Chúng
tôi dùng từ “vùng không gian tâm linh “ xuất phát từ bản
năng sinh tồn để chỉ một phạm trù khác hẳn với cõi giới
siêu hình .
Theo
các tôn giáo, ngoài không gian vật lý này, vũ trụ còn có
cõi giới siêu hình thiên đường, địa ngục... các cõi giới
siêu hình đó tồn tại một cách khách quan giống như không
gian vật lý chứa đựng nhiều sinh vật cao cấp như các vị
trời, các vị thần linh, các loài qủy sứ, yêu ma... Có khi
có cả lâu đài, cung điện, hoa cỏ. Ở đây chúng ta chưa
đề cập đến loại hình này, chỉ nói đến một vùng không
gian tâm linh hoàn toàn chủ quan của mỗi sinh vật đang được
các nhà khoa học quan tâm và gọi là Trường của Sinh học.
Chính cái Không Gian Tâm Linh chủ quan này mới là cửa ngõ
để tiếp xúc với các cõi giới vô hình khác trong vũ trụ
chứ không phải bằng các phương tiện vật lý thông thường.
Khác
với không gian vật lý tồn tại một cách khách quan với những
quy luật tự nhiên vận động không phụ thuộc vào ý muốn
của con người, ở đây không gian tâm linh có tính cực kỳ
chủ quan, hoạt động lệ thuộc vào mỗi người (hay nói rộng
hơn là mỗi sinh vật) với những quy luật lạ lùng đối với
các quy luật vật lý hiện có. Vùng không gian này có hào quang
riêng của nó.
Năm
1939, S.D.Kirlian kỹ sư điện tử tài ba ở thành phố Krasnoda
của Liên Xô, phát minh máy chụp hào quang.
Một
hôm trong một bệnh viện, anh điều khiển một máy phát tần
số cao. Bỗng nhiên anh nhận xét rằng sự phóng điện giữa
lòng bàn tay anh và điện cực của máy phát hoàn toàn không
giống sự phóng điện giữa cườm tay và điện cực đó.
Có cái gì sai biệt về điện thế giữa hai vùng cơ thể chỉ
cách nhau không đầy một tấc. Tại sao? Đó là cái gì? Tốt
nhất là chụp ghi lại hiện tượng lạ thường đó. Nhưng
làm thế nào bây giờ? Vì như thường lệ nếu chiếu ánh
sáng bình thường vào cho sáng để chụp thì không còn thấy
rõ tia điện phóng ra nữa!
Sau
một thời gian loay hoay, Kirlian quyết định chụp hiện tượng
phóng điện đó bằng một cách khác, không cần dùng máy ảnh
thông thường nữa.
Kirlian
sáng tạo một thiết bị mới để chụp như sau: Trên bàn
đặt một tấm Ébonic dùng để cách điện. Trên tấm Ébonic
đó là một điện cực bằng kim loại và trên tấm điện
cực đó là một tấm kính ảnh.
Kirlian
đứng trên một tấm thảm con để cách điện khỏi nền nhà,
rồi nối điện cực thứ hai vào lưng bàn tay. Còn lòng bàn
tay ông ép chặt vào tấm kính ảnh. Ông gọi anh thợ trẻ
đến giúp, bảo anh thợ đóng cầu giao để dòng điện cao
tần chạy qua bàn tay ông. Người thợ trẻ hoảng sợ, nhưng
rồi cũng đóng cầu chì và sau đó tắt mạch.
Họ
rửa tấm kính ảnh: Họ thấy một hình ảnh tuy không rõ nét
lắm, nhưng dù sao cũng có bóng dáng của bàn tay và trên các
ngón tay hiện rõ các lóng xương trắng. Tất nhiên đây không
phải là bức ảnh Renghen. Đây là một cái hoàn toàn mới,
một hình ảnh của đối tượng sinh học trong một điện
trường tần số cao.
Một
chiếc lá đặt trong máy Kirlian hiện ra như cả một thế giới
điểm sáng. Xung quanh, chiếc lá người ta thấy những tia lửa
nhỏ màu ngọc lam, màu da cam, phát ra từ trung tâm và đi xa
theo những kinh xác định. Một ngón tay hiện ra như cả một
bức tranh, một bản đồ chi tiết gồm các điểm, đường,
các hố ánh sáng, các hố lửa.
Sau
đó Kirlian và vợ ông đã nghiên cứu một cái máy tối tân
hơn và đã chụp được hào quang của mọi sinh vật. Hào quang
này bước đầu cho biết về tình trạng sức khỏe của các
sinh vật. Sau đó hào quang còn cho tất cả tâm trạng của
mọi sinh vật. Khi sức khỏe hoặc tâm trạng thay đổi, hào
quang bị thay đổi theo.
Các
nhà đạo học Đông Phương đã nói nhiều về hào quang của
cơ thể. Theo họ, các vị Thánh có hào quang chói sáng rất
xa, còn các kẻ phàm tục có một hào quang tối tăm nhỏ bé.
Bây giờ qua phát minh của Kirlian, hào quang này đang được
thấy bằng mắt thường của mọi người. Vùng không gian tâm
linh đang được vén bức màn bí mật một ít. (Xem thêm ở
“Các Lạt Ma hóa thân")
Còn
ứng dụng của Trường không gian tâm linh này thì sự thật
đã làm kinh ngạc mọi người. Nó có tính chủ quan triệt
để. Với người có năng lực tâm linh mạnh (trường không
gian tâm linh rộng hơn, có mật độ dày đặc hơn), có thể
dùng ý muốn của mình thực hiện một hành động phi thường
phá vỡ quy luật vật lý nào giờ.
Uri
Geller (gốc Do Thái) với ý muốn của mình, ông làm cho các
vật bằng kim loại cong lại, làm cho đồng hồ Big Ben đứng
lại chỉ bằng cách “nhìn” chúng mà thôi.
Ermolaiev
(Liên Xô) có thể bay cách mặt đất 60cm. Hoặc ông đưa tay
về phía người khác, không chạm đến họ, làm cho người
đó bay lên khỏi mặt đất.
Djuna
(Grudia, Liên Xô) có thể dùng đôi bàn tay để chẩn và chữa
bệnh. Kết quả làm giới y học thán phục. Năm 1984 bà chấp
nhận sự thí nghiệm của một ban nghiên cứu của Mỹ và
Liên Xô và chứng tỏ bà có khả năng nhìn thấy cảnh vật
tại California (Mỹ) từ Liên Xô.
Anh
Thadi-Ichu người Nhật, có cặp mắt tuyệt vời. Khi tập trung
nhìn sẽ phát sáng một năng lượng siêu tự nhiên có thể
làm nát vụn những hòn đá nhỏ.
Edgar
Cayce (Kentucky, Mỹ) có thể chẩn bệnh, hướng dẫn dùng thuốc
và cho biết tiền kiếp của người bệnh. Có khi ông ra đơn
là một loại thuốc còn ở trong phòng thí nghiệm. Ông thường
nói đến Nghiệp Báo, chính một hành vi bất thiện ở kiếp
trước đã tạo thành những chứng bệnh hiện tại, và khuyên
bệnh nhân làm phước thiện kết hợp với thuốc để chữa
bệnh.
Các
nước lớn như Mỹ, Liên Xô... đều đang lặng lẽ và ráo
riết nghiên cứu về thần giao cách cảm, sự liên lạc thông
tin từ một khoảng cách xa, giữa hai người, không cần một
phương tiện máy móc nào, và đã có nhiều kết quả nhất
định. Họ cũng sử dụng các nhà ngoại cảm trong lĩnh vực
tình báo, an ninh để phát hiện ra gián điệp và tội phạm.
Có
những truyền thuyết về các nhà luyện khí công Trung
Hoa có thể lướt trên mặt nước; các Lạt Ma Tây Tạng có
thể bay từ đỉnh núi này sang đỉnh núi kia. Đối với các
tôn giáo Đông Phương, năng lực tâm linh của con người khi
đạt đạo là điều hiển nhiên và được gọi là thần
thông.
Bởi
vì tính cách vô cùng chủ quan của không gian tâm linh nên các
nhà khoa học đã gặp khó khăn không ít khi muốn nghiên cứu
vấn đề này theo phương pháp khách quan của không gian vật
lý.
Khi
một người có năng lực tâm linh mạnh mẽ, họ sẽ sử dụng
nó một cách đa dạng theo ý muốn chủ quan của mình. Họ
tập trung tinh thần để đoán biết chuyện từ xa, gửi đi
một thông điệp, chữa bệnh, khinh thân, tiên tri, phân thân,
thôi miên... Nơi ý muốn chủ quan này, họ vượt qua các quy
luật không gian vật lý. Đây là điều cực kỳ hấp dẫn
cho giới khoa học. Nếu mọi quy luật của tâm linh được
nắm bắt và áp dụng, con người sẽ tiến rất xa.
Nhiều
nhà khoa học đã nghi ngờ rằng phương pháp di chuyển của
các UFO (đĩa bay) chính là sự áp dụng được năng lực tâm
linh vào máy móc. Các UFO coi thường sức hút của quả đất,
coi thường quán tính. Nó bay là là chậm chậm rồi đột ngột
bằng tốc độ cực nhanh, hoặc tàng hình biến mất. Thêm
nữa, để vượt khoảng cách mất trăm ngàn năm ánh sáng ắt
hẳn các UFO phải có cách di chuyển vượt hơn tốc độ ánh
sáng nhiều lần.
Vận
tốc ánh sáng là 299.992 km/giây. Theo Einstein, trong không gian
vật lý này, vận tốc ánh sáng là tuyệt đối. Nếu một
vật thể nào bay với vận tốc này, nó sẽ bị triệt tiêu
kích thước.
Tuy
nhiên, với không gian tâm linh, quy luật vật lý tương đối
của Einstein vẫn bị phá vỡ. Sử dụng năng lực tâm linh
cực kỳ mạnh vào máy móc, các UFO có thể đạt được vận
tốc hơn vận tốc ánh sáng nhiều lần. Nếu cần, nó có thểù
tàng hình trong khi di chuyển. Người viết kịch bản phim “Chiến
tranh giữa các vì sao” đã gọi hiện tượng này là sự đi
vào “không gian rút gọn”.
Nhưng
tại sao máy móc lại có được năng lực tâm linh? Như chúng
ta đã biết, chính bản năng sinh tồn đã tạo ra vùng không
gian tâm linh chung quanh cá thể đó. Mà bản năng sinh tồn phát
xuất từ cấu trúc tế bào, trong nhân có phân tử DNA làm
gène di truyền.
Có
thể với phương tiện cực kỳ tiến bộ, họ tạo ra các
mảnh vật chất lớn, trong đó, từng nguyên tử được sắp
xếp chặt chẽ phỏng theo cấu trúc của tế bào có chuỗi
phân tử DNA hình xoắn. Mảnh vật chất này trở thành một
cơ thể sống có bản năng sinh tồn khi được cung cấp một
dòng điện. Từng nguyên tử phối hợp hoạt động một cách
hoàn chỉnh. Thế là một vùng không giam tâm linh nhân tạo
xuất hiện chung quanh mảnh vật chất đó. Bây giờ, với ý
muốn của mình, người ta điều khiển mảnh vật chất di
chuyển.
Hiện
nay, khoa học của chúng ta cũng bắt đầu đi vào “thời kỳ
nguyên tử”, có thể trông thấy và đang tìm cách sắp xếp
nguyên tử.
Khoa
học đã áp dụng phỏng sinh học khá nhiều. Họ bắt chước
da cá heo để tạo nên vỏ tàu ngầm, sóng siêu âm của dơi
để tạo ra radar, khả năng tích điện của loài cá đuối
điện... Nhưng đỉnh cao nhất của môn phỏng sinh học là
tạo ra được một vật thể lớn, sắp xếp từng nguyên tử
trở thành một cơ thể sống có bản năng sinh tồn khi có
một dòng điện chạy qua và không gian tâm linh nhân tạo xuất
hiện. Chúng ta hãy chờ ngày đó, ngày Địa cầu đuổi kịp
nền văn minh của các hành tinh khác.
Không
gian tâm linh có hào quang. Đĩa bay cũng có hào quang sáng lòa.
Phải chăng một trường năng lực tâm linh quá mạnh, quá đậm
đặc, hào quang của đĩa bay hiện ra khiến mắt thường vẫn
trông thấy được, trong khi nơi sinh vật, hào quang này quá
yếu, đòi hỏi phải những nhà ngoại cảm dị thường mới
thấy được?
Rồi
vùng không gian tâm linh của động vật và thực vật cũng
khác nhau. Động vật có não bộ, có các hoạt động tâm lý
phức tạp, biến động. Não bộ có các tế bào não, tế bào
thần kinh khác hơn các tế bào của bắp thịt. Vì thế, bản
năng sinh tồn của động vật mạnh hơn hẳn thực vật và
không gian tâm linh của động vật cũng hơn hẳn thực vật.
Vào
năm 1966, ông Backster, nhà bác học chế tạo ra bộ máy điện
tử dò nói dối. Nhờ bộ máy đó mà ông trở thành huấn
luyện viên cho sở cảnh sát Mỹ về phương pháp sử dụng
máy dò nói dối.
Trong
một đêm thức trắng để huấn luyện, tâm trí quá mệt nhọc
đưa ông đến vô tình cắm hai cọc điện của một điện
kế tinh vi vào hai đầu của một chiếc lá cây trong phòng.
Thứ lá cây đó lớn và dày như lá đa. Cây đang rất khô.
Ông tự hỏi xem nếu gốc cây được tưới nước, nước
sẽ chuyển lên thân, cành, lá và hoa thì sẽ có hiện tượng
gì xảy ra. Điện kế sẽ đo hiện tượng đó.
Nước
dần dần lên thân và lá. Nhưng không, kim điện kế vẫn đứng
im, không có sự phản ứng nào cả. Đáng lẽ thì kim phải
nhích lên, vì có thêm nước thì sức dẫn điện phải tăng
thêm.
Tự
nhiên ông Backster nghĩ rằng, nếu con người hay con vật có
một sự xúc động, một sự sợ hãi thì kim nhẩy, vậy thì
tại sao ông không làm một cái gì khác thường? Nhà bác học
nghĩ đến việc lấy lửa đốt thử lá cây kia xem sao. Nhưng
mới nghĩ như vậy và chưa hề làm một cử chỉ nào để
cầm lấy hộp quẹt thì ông đã vô cùng kinh ngạc khi thấy
kim điện kế nhích một cái.
Rõ
ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao! Chẳng lẽ cái lá cây đọc
được tư tưởng của ông mà biểu lộ phản ứng sợ hãi
của nó. Ông Backster quyết định đốt chiếc lá thật. Ông
ta bèn đứng dậy để lấy quẹt, tức thì điện kế nhảy
một cái nữa. Không do dự gì, ông ta châm quẹt để nhất
quyết đốt chiếc lá, kim điện kế lại nhảy tiếp một
lần nữa.Nhưng ông không đốt lá. Lần sau, ông ta cầm lấy
quẹt và giả bộ như sắp đốt, nhưng trong óc đã tự nhủ
trước là không đốt, thì điện kế không nhảy. Rồi ông
nhất quyết đốt thật, thế là điện kế lại nhảy một
cái mạnh. Lúc đó, trong phòng lặng gió và ông Backster không
có đụng tới cây cũng không có đụng tới máy.
Vậy
có thể kết luận rằng: Cây đã đọc được tư tưởng người.
Backster, ngay lúc đó reo lên và đã có ý đi báo với mọi
người rằng cây cỏ có một năng khiếu lạ thường. Chúng
biết tư tưởng người khác, tức là chúng biết nghĩ, chúng
có tâm hồn. Nhưng ông ta kịp dừng lại. Thái độ đúng của
nhà khoa học là phải nghiên cứu đầy đủ để không có
kết luận sai lầm. Và ông quyết định phát triển nghiên
cứu khoa học của ông sang các loài cây khác.
Ông
tập hợp các cộng sự viên lại và sử dụng 25 loại cây
khác nhau trong cuộc nghiện cứu, thí nghiệm vào lá như: lá
xà lách, lá cải, vào củ và quả như củ hành, quả cam, trái
chuối... Những cuộc nghiên cứu theo đúng phương pháp khoa
học cho phép khẳng định rằng: Cây có phản ứng thật sự
khi chúng gặp sự nguy hiểm.
Đó
là một hình thức đặc biệt của một thứ giác quan vô hình
như năng khiếu linh thị, thần nhãn của một vài người.
Nhưng đây là những danh từ mơ hồ. Giác quan đặc biệt có
nghĩa là một năng khiếu trên những giác quan. Nhưng cây cỏ
đâu có mắt, tai, mũi, miệng... Chúng không có óc, không có
thần kinh hệ, thì cái biết của chúng hẳn là phải khác.
Như
thế có thể cho rằng các giác quan con người chỉ là những
giác quan sơ đẳng, chỉ cảm giác trong một phạm vi rất là
hạn chế, còn cây cỏ lại có thứ giác quan khác. Suy nghĩ
như vậy, càng ngày Bachster càng mở rộng cơ sở nghiên cứu
và càng khám phá những mới lạ.
Những
máy móc tối tân hơn được ông thu nhận, nhất là những
máy ghi các nhịp luồng điện. Và cuộc nghiên cứu được
tiến hành với kế hoạch rất tinh vi, được ghi chép đầy
đủ. Các tài liệu được thu thậpï và xếp loại cẩn thận.
Từng
mảnh lá tách rời cũng có phản ứng như nêu ở trên (người
ta gọi là phản ứng Backster). Lá xé ra từng mảnh thì từng
mảnh cũng có phản ứng đó. Lạ lùng hơn, cây cỏ phản ứng
không phải chỉ trước những mối nguy do con người tạo ra
bằng ý định mà cả trước một mối nghi bất thường không
tạo ra bằng ý định. Một con chó bất thần bước vào phòng,
một người vốn ghét cây cỏ bước vào, cũng làm cho điện
kế nhảy. Những cử động của một con nhện tiến đến
cây cũng gây ra phản ứng cho cây. Ông Backster đã làm thí
nghiệm và chứng minh điều đó trước các sinh viên đại
học Yale (Mỹ). Trong trường hợp trên một khi có người tới
đuổi nhện và ngay trước khi nhện chạy đi, kim điện kế
đã hạ xuống. Y như là trước khi nhện chạy thì quyết định
rút lui của nhện đã được cây tiếp nhận. Cây đã thấy
hết nguy và không phản ứng nữa.
Một
cuộc thí nghiệm chứng minh rằng khi sống cạnh nhau, cây để
ý canh chừng nhau (sợ bị quấy rầy) nhưng khi có một động
vật tới gần, mối nguy gần hơn, cây cỏ quay sang canh chừng
động vật. Những cuộc nghiên cứu còn dài và còn nhiều
khám phá lạ lùng hơn nữa.
Ông
Backster còn khám phá ra cách tự vệ của cây. Khi ta ăn lá
rau nó phản ứng thế nào đây. Cây còn có trí nhớ, nhận
biết những kẻ chuyên phá hoại chúng. Chúng còn biết thương
yêu người chăm sóc và biết sung sướng khi người đó trở
về.
Hiện
đã có 7000 nhà bác học yêu cầu ông Backster thông báo cho
biết kết quả nghiên cứu kèm theo các tài liệu khoa học.
Mọi nhà thảo mộc học đều say sưa nghiên cứu những khám
phá dị thường này, và mọi người sẽ thấy yêu loài cây
cỏ hơn (Hoàng Vũ sưu tầm, đăng trên báo Thế giới kỳ lạ
số 5).
Bà
Djuna khẳng định hào quang tâm linh mỗi loại cây cỏ khác
nhau mà bà trông thấy được.
Như
vậy phản ứng tâm linh của thực vật có tính cách trực
giác, biết trực tiếp, không cần các biểu hiện trung gian,
thẳng vào ý thức của đối tượng chung quanh, rất giống
với khả năng đọc ý nghĩ kẻ khác của những nhà ngoại
cảm tài ba. Phản ứng tâm linh này chứng tỏ sự hiện diện
của vùng không gian tâm linh chung quanh cây cỏ.
Những
loài thảo mộc lâu năm có năng lực sinh học mạnh có thể
sử dụng làm thuốc tăng cường sức khỏe cho con người.
Huyền thoại về củ nhân sâm làm cho giới y học lao vào nghiên
cứu phân chất những muốn tìm ra một hoạt chất kỳ lạ
nào đó. Tiếc thay, họ không tìm thấy hoạt chất đặc biệt
nào trong củ nhân sâm. Nhưng rõ ràng người dùng nhân sâm
vẫn được cải thiện sức khỏe. Hiệu quả này không phải
do hóa chất, mà chính là do năng lực sinh học (tâm linh) của
củ nhân sâm.
Một
số loại cây ngãi có năng lực sinh học rất mạnh được
các thầy pháp nuôi trồng. Họ tập trung tinh thần vào cây
ngãi với những lời nguyện có khi thiện có khi ác. Khi muốn
làm hại ai, họ dùng tư tưởng của họ, cộng với năng lực
sinh học của cây ngãi, chú nguyện cho kẻ thù phải đau đớn.
Dù cách rất xa, kẻ kia ngã lăn ra vô cùng đau đớn. Năng
lực sinh học (tâm linh) có thể gây tác dụng vượt không
gian và thời gian.
Tâm
linh của cây cỏ phát xuất từ bản năng sinh tồn, còn tâm
thức của loài người có cả hoạt động tâm lý phức tạp.
Con người là đỉnh cao của hoạt động tâm lý. Tâm lý của
con người được chia ra làm hai phần: ý thức và vô thức.
Ý thức là bề mặt nổi nhỏ bé của cả một khối băng
đảo to lớn. Chính phần chìm sâu vô thức mới choán cả
một khối lượng hoạt động mãnh liệt .
Chính
vô thức đã ghi nhớ, sáng tạo, linh cảm và phát huy mọi
thần lực kỳ diệu của con người. Đôi khi chúng ta ghép
cả bản năng sinh tồn và hoạt động của vô thức làm một.
Hệ
thần kinh thực vật thuộc về vô thức, nó điều khiển các
hoạt động của nội tạng, làm cho tim đập, mạch nhảy,
các tuyến tiết hormone một cách tự động.
Ý
thức tuy có vẻ linh hoạt; có thể suy nghĩ, lý luận, phân
biệt và nhận biết, nhưng nó không thể biết trực tiếp
như vô thức (trực giác).
Cây
cỏ còn có thể biết trực tiếp ý nghĩ của người với
không gian tâm linh đơn giản của nó thì ắt hẳn con người
sẽ phải nhận biết nhiều hơn như thế vì không gian tâm
linh của con người cao cấp hơn. Nhưng tại sao dường như
chúng ta không thể biết được điều gì ngoài tai mắt ?
Tại
sao chúng ta không thể biết bản chất tư tưởng của người
đối diện, của một ai ở cách xa?
Chính
vì ý thức cạn cợt đã che lấp tất cả! Chúng ta quen sử
dụng ý thức mà ý thức thì lệ thuộc vào giác quan thế
nên chúng ta không nghe được vô thức đã cảm nhận được
điều gì.
Hãy
lắng nghe vô thức !
Chúng
ta hãy thực hành theo sự khuyên bảo của các nhà đạo học
Đông Phương, các thiền sư trong đạo Phật, các linh mục
có kinh nghiệm tĩnh tâm sâu thẳm và hãy buông xả ý thức
để đi sâu vào lắng nghe vô thức. Khi ý thức suy nghĩ dừng
lắng thì trực giác của vô thức sẽ xuất hiện. Khả năng
của vô thức với không gian tâm linh vĩ đại sẽ mở ra muôn
điều kỳ diệu mà chúng ta chưa bao giờ ngờ được. Những
nhà ngoại cảm nổi tiếng trên thế giới đều có khả năng
định tâm để sử dụng năng lực tâm linh tuyệt vời này.
Một
số loài động vật mà chúng ta cho là thông minh như cá heo,
chó và loài chim... Thật ra chúng không có ý thức lý
luận lanh lợi như người và khỉ. Hầu hết chúng sử dụng
trực giác. Những loài khác như rắn, rùa, mèo, cọp... cũng
nhận biết được ý định, tâm tính của các động vật
khác bằng tâm linh vô thức. Nhưng đôi khi chúng phản ứng
yếu ớt không rõ rệt, hoặc chúng cũng bị ý thức cản trở.
Tính
chất của trường không gian tâm linh này cực kỳ chủ quan.
Nó phát huy tác dụng theo ý muốn của chủ thể. Chủ thể
muốn cái gì, nó làm theo cái đó. Chúng ta muốn biết ý nghĩ
người khác, lập tức năng lực tâm linh biến thành khả năng
thông tin tiếp nhận tư tưởng. Chúng ta muốn người nhẹ
đi (khinh thân) lập tức năng lực tâm linh biến thành khả
năng hoá giải khối lượng (chứ không chống lại trọng lực).
Chúng ta muốn chữa bệnh cho người khác, lập tức năng lực
tâm linh biến thành khả năng điều chỉnh cơ thể. Chúng ta
muốn có một sức nóng nơi lòng bàn tay, lập tức năng lực
tâm linh biến thành khả năng tạo nhiệt cục bộ... Vô số
tác dụng của khả năng tâm linh liên hệ trực tiếp với
ý muốn chủ quan của con người. Các nhà khoa học quen với
lối nghiên cứu khách quan của không gian vật lý nên rất
bỡ ngỡ trước tác dụng kỳ lạ của năng lực tâm linh này.
Họ không để ý đến ý muốn của chủ thể, trong khi năng
lực tâm linh thì hoàn toàn lệ thuộc vào ý muốn. Có sức
định và có ý muốn, năng lực tâm linh sẽ phát huy tác dụng.
Mặc
dù, so với không gian vật lý thì không gian tâm linh có vẻ
cao cấp hơn, kỳ diệu hơn, nhưng nó vẫn chịu sự chi phối
của định luật Nghiệp Báo.
Những
nhà lãnh tụ thiên tài, khi phước còn sung mãn, thường có
khả năng đoán từ xa ý định của kẻ địch để phòng thủ
và phản công. Khổng Minh là một điển hình tiêu biểu. Dường
như ông đoán được hầu hết hành động của đối phương.
Họ còn có khả năng đánh giá năng lực và lòng trung thành
của người dưới. Trực giác này giúp họ thành công trong
việc củng cố quyền lực chính trị. Đến khi phước đã
cạn, trực giác giảm sút, họ phán đoán sai và cuối cùng
bị sụp đổ.
Những
doanh nhân cũng vậy, trực giác giúp họ tiên liệu những biến
động của thị trường, từ đó vạch ra kế hoạch đầu
tư chính xác. Bên cạnh sự trợ giúp của các nhà chuyên môn,
của máy tính, họ vẫn có sự phán đoán riêng bằng trực
giác.
Ngoài
ra, do phước đời trước, những người lãnh đạo có cái
uy lực vô hình làm cho mọi người nể phục vâng lời. Cái
uy lực này cũng là năng lực của tâm linh. Đôi mắt họ sáng,
nhìn xuyên suốt người đối diện và như có sự thôi miên
tự nhiên, làm cho kẻ dưới bị khuất phục tự bao giờ.
Các nhà độc tài, các bạo chúa thì uy lực dữ dằn, mạnh
mẽ. Các giáo chủ chân chính như Đức Phật, chúa Jésus, Mahomet
(Xem “Lịch sử văn minh Ả rập” của Will Durant) có cái
nhìn từ ái thăm thẳm làm cho mọi người xúc động và dạt
dào niềm kính mến. Đến gần các bậc chân sư, chúng ta cảm
nghe một cái bình an tươi mát vô hình lan tỏa chung quanh làm
chúng ta dễ chịu. Krishnamurti cũng có cái không gian bình an
như thế được nhiều người cảm nhận.
Những
nhà ngoại cảm tài ba đều là những người tu thiền tập
định từ kiếp trước và hướng tâm về thần thông. Một
nhà Yogi ở Hy Mã Lạp Sơn từng đạt định và hay dùng năng
lực tâm linh để chữa bệnh cho dân làng. Đời sau sinh ở
Liên Xô, vị này tự nhiên xuất hiện khả năng chữa bệnh
bằng năng lực sinh học. Một nhà thôi miên từng luyện đôi
mắt tràn đầy sức mạnh với nội tâm định tĩnh vững chắc.
Đời sau sinh qua Anh, vị này tự nhiên có đôi mắt kỳ lạ,
có thể di chuyển đồ vật bằng đôi mắt nhìn từ xa.
Tuy
nhiên cũng có trường hợp kết quả không xuất hiện mà bị
che lấp bởi một nghiệp khác. Ví dụ, một nhà Yogi có khả
năng đi trên mặt nước. Vị này thường khoe khoang tự mãn
và chê bai những ai không đạt được thành quả như mình.
Đời sau, vị này không còn khả năng khinh thân nữa. Nghiệp
tự mãn và chê bai đã chận đứng kết quả tu tập.
Nhiều
người đặt vấn đề rằng nếu quả thực bệnh hoạn có
thể được chữa bằng năng lực tâm linh, thì y học hiện
đại đâu còn cần thiết nữa, nhà ngoại cảm đã đảm đương
từ việc chẩn đoán và chữa trị cả rồi!
Thật
ra, từ trong Bản Thể Tuyệt Đối, nghiệp vẫn âm thầm chi
phối tất cả, không phải ai cũng có cơ may gặp được nhà
ngoại cảm tài ba để được chữa trị. Chỉ những người
có phước duyên mới gặp được cơ hội này. Phước duyên
gì đã khiến cho chúng ta được chữa trị bằng năng lực
tâm linh, trong khi những người khác phải nhận chữa trị
bằng hóa dược, giải phẫu?
Trong
những thế kỷ trước, tín ngưỡng còn rất mạnh. Một số
tín đồ tốt bụng đã cầu nguyện ơn trên ban phước lành
cho các bệnh nhân được khỏi bệnh. Lời cầu nguyện chân
thành của họ với niềm tin sâu sắc vào ơn trên đã khơi
dậy sức mạnh tâm linh nơi chính họ. Sức mạnh này đã vượt
không gian làm dịu bớt cơn bệnh của người kia. Dĩ nhiên
là họ chưa đủ năng lực phi thường để chấm dứt cơn
bệnh của nạn nhân, nhưng lòng tốt của họ được đáp
ứng. Qua kiếp sau, khi mắc bệnh, họ thường được may mắn
gặp các nhà ngoại cảm tài ba chữa trị, ít tốn tiền và
không đau đớn. Đó là lý do tại sao không phải ai cũng nhận
được sự chữa bệnh bằng năng lực tâm linh. Còn những
người thầy thuốc chỉ tin vào hiệu quả của thuốc thang,
siêng năng điều chế lá thuốc, hóa chất để chữa bệnh
cho mọi người, thì đời sau họ sẽ gặp được sự chữa
trị tương tự mỗi khi mắc bệnh.
Tuy
nhiên, các thiền sư khuyên không nên sử dụng thần thông
nhiều khi chúng ta chưa đạt đạo viên mãn, bởi vì ngã chấp
chưa hết. Khi dùng đến năng lực tâm linh, chúng ta phải khởi
ý muốn, muốn trời kéo mây và rơi mưa, muốn người bay lên
khỏi mặt đất, muốn biết chuyện tương lai như thế nào...
Chính “cái muốn” này làm cho chấp ngã tăng trưởng, và
khi chấp ngã tăng trưởng, chúng ta không thể giải thoát để
tan hòa vào Bản Thể vũ trụ vô biên.
Chỉ
những vị Alahán đã chứng ngộ viên mãn, ngã chấp đã hết,
mới có thể sử dụng thần thông thường xuyên mà không bị
chấp ngã ràng buộc. Chính vì thế khi một người tu tập
thiền định, chỉ nên lắng tâm sâu thẳm cho đến tận cùng
của sức định, không nên khởi phát thần thông nửa chừng
kẻo bị trì trệ về sau.
Một
số thầy pháp, thầy phù thủy có năng lực tâm linh mạnh
mẽ và lạm dụng nó quá đáng để luyện pháp thuật. Họ
tập trung tinh thần để ếm hại kẻ thù. Họ vẽ một hình
người, ghi tên họ của đối phương rồi thắp hương, tụng
chú cầu nguyện các vị thần linh phò trợ. Sau đó, họ lập
một ý muốn hướng về đối thủ, tưởng tượng rằng đối
thủ bị đau đớn bệnh tật... Do sức mạnh tâm linh và cũng
do người bên kia đến lúc trả nghiệp, người kia chợt thấy
trong mình đau thắt từng cơn có thể chết được.
Những
thầy phù thủy như vậy về cuối đời thường bị quả báo
thê thảm, họ bị bệnh liệt, mù mắt, ăn lấy phân của
mình, mình mẩy hôi hám không ai dám lại gần. Sau khi chết,
ở kiếp khác, họ còn bị nhiều tai nạn hơn nữa.
Tuy
rằng năng lực tâm linh có vẻ cao cấp hơn năng lực vật
lý (vì tính tế nhị vô hình của nó), nhưng nó vẫn chịu
sự chi phối của Nghiệp Báo. Khi một người sử dụng năng
lực tâm linh, họ cũng gây nên ảnh hưởng vào trong vũ trụ.
Ảnh hưởng này lan dần qua nhiều trung gian, cuối cùng gặp
lại người đã tạo ra nó. Nếu là một nghiệp thiện, tác
giả sẽ nhận lại niềm vui. Nếu là một nghiệp ác, tác
giả sẽ nhận lại nỗi khổ.
Một
ông thầy Miên, khi còn trẻ đã dụ dỗ cô nhân tình vào rừng
vắng rồi giết, mổ lấy bào thai trong bụng rồi đem về
luyện Thiêng linh cái. Pháp thuật của ông nổi tiếng cả
vùng. Nhiều người nhờ ông thư ếm kẻ thù của họ, hoặc
nhờ ông tìm của bị mất, hoặc nhờ ông chuốc bùa yêu cho
các cô gái. Do đó sự quen biết của ông rất rộng rãi. Một
chàng trai đi vào rừng tìm lá thuốc. Chợt như sức mạnh
vô hình kéo anh ta đi xa mãi đến khi anh ta trông thấy bộ
xương trắng của cô gái. Anh thương xót đào lỗ chôn cất
tử tế rồi quay về. Vì tốn công sức vào việc chôn bộ
xương nên đi ngang nhà ông thầy Miên, anh mệt mỏi ghé vào
hỏi thăm, nghỉ ngơi và xin nước uống. Ông thầy nói chuyện
ba câu rồi ra sau bếp lấy thêm nước. Một con rắn vừa mới
bò ngang cắn vào tay ông. Nọc rắn này ngoài khả năng chữa
trị của ông. Cơ thể ông yếu dần, tinh thần bị giảm sút,
năng lực tâm linh biến mất. Trong thời gian nằm chờ chết,
ông luôn luôn thấy hình ảnh người nhân tình ngày xưa hiện
về oán trách, rồi thấy vô số rắn rết đến cắn xé. Ông
kêu la thảm thiết mãi đến khi tắt thở.
Một
người chồng đau khổ đến thưa công an vợ mình bị mất
tích. Việc điều tra sau đó không đưa đến kết quả. Một
trinh sát được giao trách nhiệm bí mật điều tra. Sau nhiều
kết quả, anh trinh sát đoán rằng chính người chồng đã
giết vợ rồi phi tang. Nhưng cần phải có thêm chứng cớ
xác đáng mới có thể kết luận và khởi tố được. Những
buổi tối anh thường đến sát buồng ngủ của người chồng
để nghe ngóng hy vọng tìm ra thêm một manh mối nào đó. Cứ
mỗi lần đi ngang qua bụi chuối gần ao nước là anh bị té.
Một linh cảm lóe lên. Anh yêu cầu công an xã đến đào bụi
chuối. Và xác người vợ được tìm thấy, người chồng
nhận tội.
Ở
đây chúng ta đừng hiểu là có vong hồn xen vào can thiệp.
Thật ra chính nghiệp và năng lực tâm linh đã giải quyết.
Nghiệp đã thúc đẩy anh chàng đi hái thuốc đến gặp bộ
xương. Sự mệt mỏi buộc anh ghé lại nhà ông thầy Miên.
Và con rắn độc bò ngang đúng lúc ông vào bếp lấy nước.
Ông đã sử dụng năng lực tinh thần quá nhiều với vô số
lời trù ếm cầu nguyện. Tất cả chuẩn bị cho một sự
rối loạn tâm thần về sau. Nhưng có thể ông còn khỏe, định
lực còn mạnh để trấn áp mọi sự rối loạn. Đến khi
bị rắn cắn, cơ thể suy yếu, tinh thần giảm sút, sự rối
loạn tâm thần bùng khởi khiến ông phải khổ sở vì các
ảo ảnh hiện ra quấy phá dữ dội.
Cũng
vậy, không phải vong hồn người vợ xô té anh trinh sát. Chính
tâm lý đau đớn vẫy vùng của người vợ lúc bị giết đã
tạo nên một năng lực mạnh mẽ ghi dấu vào không gian xung
quanh. Nghiệp đã thúc đẩy anh trinh sát đi ngang qua vùng không
gian tang tóc này. Năng lực tâm linh còn ghi dấu đã xô té
người trinh sát và tấn công vào tâm cảm của anh khiến anh
linh cảm có xác người vợ nằm ở dưới này và vụ án được
kết thúc.
Không
gian tâm linh tuy vô hình nhưng một khi đã khởi tác dụng thì
rất lớn. Vì thế mỗi ý nghĩ thầm kín của chúng ta vẫn
lặng lẽ tạo thành nghiệp, gây ra ảnh hưởng vào thế giới
này. Với những tư tưởng oán thù ích kỷ, chúng ta đã tung
vãi sự xấu xa vào cuộc đời. Ảnh hưởng của tư tưởng
vào tâm hồn những người xung quanh khó thấy nhưng vẫn có
chứ chẳng phải không. Một nhà thôi miên tập trung định
lực dồn vào tâm người nghiện rượu những tư tưởng bỏ
rượu. Sau lần thôi miên đó, người kia từ trong sâu kín,
cảm thấy không muốn uống rượu nữa.
Một
bà mẹ đau khổ vì đứa con lêu lỏng ngỗ nghịch, đêm đêm
cầu nguyện chư Phật gia hộ cho đứa con thay tâm đổi tính.
Những lời nguyện chân thành đó tạo thành sức thôi miên
từ xa. Lâu ngày người con trở nên hiền lành và biết nghe
lời khuyên bảo của gia đình.
Đó
là những trường hợp tâm lực có tập trung hướng vào một
đối tượng nhất định. Còn những tư tưởng thiện ác của
chúng ta, không tập trung vào riêng ai, nhưng vẫn gây ra tình
trạng lây nhiễm âm thầm vào tâm hồn của người xung quanh.
Thường xuyên thấm nhuần tư tưởng từ bi, vô tình, không
cần nói thành lời, chúng ta vẫn chuyển hóa phần nào sự
ác độc của mọi người. Ngược lại cũng vậy.
Do
đó, nếu không có một lập trường vững chắc, chúng ta sẽ
bị nhiễm ác nếu sống gần người xấu thường xuyên. Cái
lây lan của tư tưởng này rất giống cái lây lan của virus.
Những ai thiếu sức đề kháng sẽ bị tư tưởng của người
chung quanh chinh phục.
Người
thường xuyên nuôi dưỡng những tư tưởng tốt lành, gây
ảnh hưởng đẹp đẽ vào láng giềng, đời sau họ sẽ sinh
vào một cộng đồng gồm những người tốt. Người Nhật
vẫn đang là tiêu biểu cho loại cộng đồng thông minh lịch
sự này. Tinh thần võ sĩ đạo trọng danh dự, tinh thần thiền
định thâm trầm, những nghệ thuật trang nhã sâu sắc về
trà hoa... đã quyện lại thành một nhân cách đặc biệt của
dân tộc Nhật. Gần đây trong xã hội công nghiệp Nhật có
một vài biểu hiện thực dụng, vật chất, xa rời truyền
thống cổ đang bị lên án. Nhưng so với cộng đồng khác,
người Nhật vẫn còn được đánh giá cao.
Đối
với những người hiểu luật Nghiệp Báo, hiểu rõ sức ảnh
hưởng của tư tưởng vào môi trường chung, họ sẽ giữ
gìn tâm hồn để không bị nhiễm bẩn bởi các dòng tư tưởng
ác trong không gian, đồng thời họ còn chân thành cầu nguyện
cho mọi người đều được tốt đẹp, họ thường rải tâm
từ bi đến muôn loài, từ con người, con thú, đến tận cây
cỏ lá hoa. Không nói được thành lời, họ sử dụng tư tưởng
để cải thiện đạo đức của xã hội. Dĩ nhiên với hạnh
nghiệp này, kết quả đời sau cho họ là địa vị thánh nhân
được mọi người ca ngợi kính trọng. Những vị thánh triết
này có một nhân cách siêu phàm, có sức cuốn hút đặc biệt
làm cho người đến gần cảm thấy khuất phục tự nhiên.
Đó là lý do tại sao thỉnh thoảng trong nhân loại, chúng ta
thấy xuất hiện các vị hiền triết, thánh nhân danh tiếng
lưu truyền mãi như Lão Tử, Khổng Tử, Chúa Jésus, St. Francisco,
Léon Tolstoi, Vương Dương Minh...
Có
những quả báo phải nhận lấy trong không gian vật lý như
bị chửi mắng, đánh đập, giết hại, hoặc giàu sang quyền
thế. Nhưng cũng có những quả báo được kết thành trong
không gian tâm linh chủ quan của riêng mình. Trường hợp thằng
bé chăn trâu chợt thấy cái thành lửa rồi bị cuốn vào
thiêu đốt đau đớn là một ví dụ xác đáng. Đây là không
gian tâm linh của riêng nó, các bạn chung quanh không ai thấy.
Cái đau khổ mà nó phải nhận lấy không thua kém gì cái đau
khổ bị hành hạ ở không gian vật lý. Có lẽ trước kia
nó từng nuôi nấng nhiều tâm niệm ác độc hận thù. Đến
lúc đủ nhân duyên, tâm nó xuất hiện ảo ảnh.
Nhiều
người khi sống làm nghề sát sinh như giết thịt heo, gà,
vịt... Đến lúc gần chết họ ngã bệnh thấy vô số súc
vật đến rúc rỉa cắn xé. Họ đau đớn kêu la nhờ người
thân đuổi giùm, nhưng vợ con chung quanh đành bó tay đứng
nhìn chẳng thấy con vật nào cả.
Ngài
Huyền Trang là một tấm gương lớn lao về đạo hạnh nghiêm
trang, tâm cầu đạo tha thiết và chí nguyện độ sinh tuyệt
vời. Ngài chịu đựng gian khổ sang Ấn độ học hỏi, chiêm
bái thánh tích và thỉnh kinh về Trung Hoa. Sau khi về nước,
được sự trợ giúp của Đường Thái Tông, Ngài nỗ lực
phiên dịch kinh điển. Thời gian cuối đời, Ngài thường
thấy cảnh cõi trời, thiên nữ rải hoa cúng dường, tâm Ngài
vô cùng hoan hỉ.
Có
một số người suốt đời tích đức, làm thiện, khi chết
nét mặt rạng rỡ hân hoan và kể rằng họ thấy chư thánh
đến rước, hào quang chói lòa, thậm chí có khi mùi hương
thơm tỏa ra ngào ngạt thân quyến cùng nghe thấy.
Do
hiện tượng khó hiểu này nên nhiều nhà truyền giáo đã
giải thích có một sự hiện hữu của các cõi siêu hình như
thiên đường, địa ngục...
Còn
những cái đau khổ hay vui sướng do thế giới của tâm hồn
đem lại cũng tương đương với cái khổ vui của thế giới
vật lý, bởi vì nó cũng là kết quả tương xứng với nghiệp
quá khứ.
Sự
nối kết giữa các cõi với nhau chính là TÂM của mỗi người.
Chỉ xoay vào Tâm,chúng ta mới có thể liên lạc hoặc tìm
thấy các cõi giới khác. Không một máy bay tên lửa nào đưa
chúng ta đến được thiên đường. Tuy nhiên,đôi khi tâm chúng
ta cũng hiện ra các ảo ảnh tương tự như nhũng cõi giới
khác và chúng ta sẽ hiểu lầm rằng mình đã đạt được
sự thông đạt với cõi trên. Mê tín bắt đầu từ đó.