CHƯƠNG
2
KHÔNG
GIAN VẬT LÝ
Không
gian vật lý là đối tượng được nhận thức rõ ràng của
khoa học hôm nay. Với người xưa, không gian này là một thế
giới nhỏ bé với vòm trời phủ lên mặt đất, các ngôi
sao lấp lánh vào ban đêm, ánh trăng treo nghiêng nghiêng và
ánh mặt trời rực rỡ.
Hôm
nay không gian là cả một vũ trụ bao la với vô số thiên thể
tập hợp thành thiên hà. Mặt trời của chúng ta là một ngôi
sao nhỏ bé nằm trong một thiên hà có tên là Ngân hà.
Với
sự quan sát theo điều kiện của trái đất, thời gian có
một hệ thống căn bản là giây phút giờ. Đơn vị đo thời
gian được lấy theo vòng quay của trái đất, hoặc sóng giao
động của các nguyên tử.
Với
một hệ thống không gian thời gian này, mọi qui luật vật
lý đang được khám phá dần dần tới từng electron điện
tử và tới những hạt bức xạ vô cùng nhỏ hơn nữa.
Các
tàu ngầm lang thang dưới biển để tìm hiểu thế giới đại
dương. Các mũi khoan dò vào lòng đất tìm hiểu cấu tạo
địa chất. Các tấm kính thiên văn hướng vào vũ trụ mênh
mông để tìm hiểu thiên thể xa xăm. Các kính hiển vi điện
tử đang đột phá vào thế giới vi mô của cấu trúc nguyên
tử.
Các
nguyên tắc về chuyển động được tìm hiểu khá rõ ràng
(trừ nguyên tắc chuyển động của các UFO) đủ cho con
người thực hiện các chuyến bay ra khỏi trọng trường của
trái đất.
Môi
trường sinh thái của Địa cầu được theo dõi chặt chẽ
để con người có thể phát hiện ra từng biến đổi nhỏ
nhất. Các sóng điện tử phủ trùm cả mặt đất để làm
phương tiện thông tin khắp nơi. Máy vi tính đã có thể thực
hiện những tính toán vô cùng phức tạp và người ta đang
ra sức tìm kiếm trí tuệ nhân tạo. Những bệnh nan y như
ung thư, AIDS được hiểu thấu tới từng đường tơ kẽ tóc
(thực ra đường tơ kẽ tóc quá lớn) và việc tìm cách chữa
trị cho hiệu quả chỉ là vấn đề thời gian. Tia laser xâm
nhập vào mọi ngành nghề làm tăng thêm hiệu quả.
Khoa
học phát triển với tốc độ chóng mặt. Và tội ác cũng
chạy đua với tốc độ tương đương.
Khắp
nơi, con người vẫn tiếp tục lừa đảo, giết hại, chia
rẽ, thù hận lẫn nhau không giảm bớt chút nào. Phương tiện
về vũ khí, liên lạc làm cho kẻ khủng bố gia tăng mức độ
phá hoại nguy hiểm hơn. Sức tàn phá của chiến tranh dữ
dội hơn.
Những
điều mà khoa học tìm thấy nơi không gian vật lý này không
giúp ích gì cho con người cải tạo đạo đức của họ!
Với
hình học Euclide và vật lý học Newton, không gian này khá ổn
định, ngay ngắn, đơn giản. Hai đường thẳng song song sẽ
không bao giờ giao nhau. Lực hấp dẫn tuỳ thuộc vào khối
lượng vật thể, khoảng cách và với hằng số K. Ba ngày
ở trái đất cũng giống như ba ngày ở một ngôi sao xa xăm
nào đó.
Nhưng
với Einstein, không gian và thời gian bị biến dạng một cách
kỳ cục theo các điều kiện. Ví dụ ở một thiên thể mà
mật độ trọng trường cao hơn, nghĩa là một người nặng
50 kg ở Địa cầu, sẽ nặng cả tỷ ký ở đó, thì thời
gian và không gian không giống như ở Địa cầu.
Chuyện
này giống như chuyện cổ tích Từ Thức lạc vào động tiên
vài năm đến khi trở lại trần gian thì ở đây đã trôi
qua vài chục năm rồi.
Khoảng
cách cũng bị thay đổi tương tự. Một vật dài ba mét ở
Địa cầu, có thể chỉ còn vài phân ở thiên thể kia.
Hoặc
vận tốc cũng làm thay đổi thời gian và không gian. Với
vận tốc gần bằng vận tốc ánh sáng, vật thể còn lại
phân nửa chiều dài ở quả đất, và thời gian dường như
chỉ vài giờ, trong khi ở quả đất vài mươi năm.
Một
sự biến đổi nơi này đều có ảnh hưởng đến toàn thể
vũ trụ, dù rất ít. Vì cả vũ trụ là sự tổ hợp cấu
thành chặt chẽ bởi toàn bộ vật chất - năng lượng - không
gian -thời gian. Nếu không có vật chất thì không có cái khoảng
không mênh mông kia. chúng ta đừng nghĩ đơn giản không gian
tức là không có gì, không bị ảnh hưởng bởi không có điều
gì. Trái lại không gian là cái được tạo thành bởi vật
chất.
Với
cấu trúc của các thiên thể như hiện nay thì không gian là
như khoảng không bây giờ. Nếu các thiên thể có cấu trúc
khác hẳn, gần hơn, xa hơn hình dáng lạ lùng hơn thì không
gian sẽ biến đổi kỳ cục hơn. Nhưng kỳ cục như thế nào
thì hãy đợi tính toán.
Một
xác thú vật bị mục rữa, tan hoại, mất dần dường như
không có ảnh hưởng gì đến toàn nhân loại đang nhởn nhơ
sinh sống và giành giật. Thật ra nó đã thải vào không khí
nhiều thành phần mới lạ do các vi khuẩn tạo ra trong khi
gặm nhấm xác chết. Ảnh hưởng của các khí thải đó tuy
nhỏ nhưng cũng góp phần làm biến đổi môi trường.
Một
người bị giết hình như không ảnh hưởng gì đến toàn
trái đất đang tỉnh bơ ăn uống hưởng thụ. Nhưng đằng
sau đó là sự thay đổi lớn lao cho gia đình thân quyến. Người
vợ có thể sẽ tái giá. Con cái có thể sẽ hư hỏng và xã
hội thêm nhiều nguy hiểm.
Điều
chúng ta quan tâm là chính nơi không gian vật lý này, mọi người
gây lấy nghiệp nhân và nhận lấy quả. Nhưng chúng ta không
thể tìm thấy đường đi của Nghiệp Báo nơi đây vì sự
ngăn cách của thời gian và không gian
Ví
dụ, một tên cướp giết người và trốn được sự điều
tra của pháp luật, mười năm sau y lái xe qua dốc núi, tay
lái bị tuột ốc, xe không thể giữ phương hướng đã lao
xuống vực thẳm.
Có
thể suy luận viễn vông rằng sau cái chết của nạn nhân,
người vợ tảo tần nuôi cho con ăn học, nhưng không đủ
sức, đã cho người con đi học nghề ở xa. Người con này
về sau có nhiều bạn bè và một trong những người bạn đó
là thợ sửa xe hơi. Vào lần giỗ thứ mười của người
cha mình, người con đã mời bạn bè đến dự tiệc. Vì vội
vàng lo đi dự đám giỗ, người thợ máy đã lắp không kỹ
volant cho đúng chiếc xe của tên giết người ngày xưa. Khi
leo lên dốc núi, tên này nhận lấy quả báo
Hoặc
viễn vông hơn, ví dụ như ông Đình đã bố thí một số
tiền lớn để đắp con đường trong làng rồi ông chết,
sinh qua một quốc gia khác. Nhờ con đường đó đời sống
trong làng dễ dàng hơn. Nhiều đứa trẻ trong làng được
ăn học tới nơi tới chốn. Một trong những đứa trẻ đó
đi du học, trở thành giáo sư dạy cho ông Đình (lúc này còn
trẻ). Nhờ vị giáo sư đùm bọc, ông Đình ở kiếp này thành
công lớn lao.
Có
thể là nghiệp đã đi theo con đường ngoằn ngoèo đó để
đến được quả báo. Nhưng nếu đi tìm Nghiệp Báo theo
không gian vật lý này, thì chúng ta sẽ bối rối vì mỗi trường
hợp đều có đường đi riêng, không trường hợp nào giống
trường hợp nào. Khó hơn nữa là sự ảnh hưởng lan truyền
dần đến khi người tạo nhân đã sinh qua kiếp khác mà vẫn
nhận được ảnh hưởng do chính mình đã tạo nên từ kiếp
trước. Làm sao kiểm soát được một người sẽ tái sinh
về đâu, trong khi khoa học chưa có loại máy dò tái sinh này.
Hoặc
như anh Khải học rất giỏi toán nhờ một vị giáo sư am
tường toán học dạy dỗ. Chính vị giáo sư này giỏi toán
nhờ vào một số sách được soạn rất công phu. Không ngờ
rằng các sách đó là do Khải soạn từ kiếp trước.
Có
những trường hợp phải qua cả trăm trung gian, người ta mới
hưởng được thành quả của mình. Tìm đường đi của nghiệp
trong trường hợp này thật không đơn giản.
Có
những điều được xem là may mắn hay rủi ro. Kỳ thực,
nó hoàn toàn là kết quả của một nghiệp từ trước. Ảnh
hưởng của nghiệp đó đi lang thang trong không gian vật lý
(cuộc sống thực tại) qua nhiều trung gian, cuối cùng gặp
lại người đã tạo ra nó.
Tác
giả Kim Dung chuyên viết các truyện võ hiệp của Trung Hoa,
người mà tên tuổi vang lừng khắp thế giới vì tính triết
lý sâu thẳm chứa đựng trong tác phẩm, đã tâm đắc loại
Nghiệp Báo có tác dụng trực tiếp ngay trong cuộc sống thực
tại này. Các tác phẩm của ông đều có một cấu trúc chặt
chẽ về Nhân Quả. Ông không bỏ sót một hành vi thiện ác
nào mà không nói đến quả báo của nó.
Thạch
phá Thiên hy sinh ăn giùm cháo lạp bát cho các đồng đạo
võ lâm, ai cũng nghĩ cháo có độc, nên vô tình được tăng
công lực lên nhiều lần (Hiệp Khách Hành).
Tây
Độc Âu Dương Phong vì tâm niệm độc ác nên cuối cùng trở
thành người điên. Nhưng trong khi điên,ông trở nên hiền
lành tốt bụng, và cuối cùng ông tỉnh lại, chết trong hân
hoan.
Quách
Tĩnh giúp cho Thành Cát Tư Hãn xâm chiếm khắp nơi, cuối cùng
phải tự tử vì giữ không được thành Tương Dương trước
quân đội của nhà Nguyên (Võ Lâm Ngũ Bá)
Toàn
bộ những tác phẩm của Kim Dung đều không bị sơ hở về
Nghiệp Báo. Tuy nhiên ông thích chứng minh loại Nghiệp Báo
cụ thể, dễ thấy được ảnh hưởng của nghiệp đưa
đến quả báo như thế nào ngay trong cuộc đời của nhân
vật.
Dĩ
nhiên là đường đi của nghiệp trong không gian vật lý này
không phải là cốt lõi của luật Nghiệp Báo vì nó không
đi theo một quy luật nào. Đôi khi chúng ta thấy nó có tính
may rủi. Ví như việc mà người thợ máy vì vội vàng đi
ăn giỗ đã ráp cái volant không kỹ cho tên cướp, sự kiện
này giống như vô tình hên xui vậy thôi chứ không có vẻ
chắc chắn, Nhưng chính sức mạnh Nghiệp Báo trong vô hình
đã ráp nối các sự kiện lại, để cho tên cướp nhất định
phải đưa xe đến sửa vào lần giỗ thứ mười của nạn
nhân của y.
Như
vậy trong không gian vật lý này, chúng ta có thể quan sát ảnh
hưởng của nghiệp đi dần đến quả báo như thế nào, nhưng
chúng ta vẫn không thể "thấy" bản chất của luật Nghiệp
Báo ở đâu vì luật Nghiệp Báo là một tính chất của Bản
Thể Tuyệt Đối. Chỉ những vị thánh siêu phàm đã chứng
đạt Bản Thể mới “nắm” được quy luật này một cách
tường tận mà thôi.
Tuy
nhiên, vũ trụ vật lý này là bề ngoài của Bản Thể. Vũ
trụ vật lý không tách rời với Bản Thể. Chúng ta có thể
ví Bản Thể như gốc cây mà vũ trụ vật lý giống như là
hoa trái muôn màu muôn vẻ. Dù cho vũ trụ có ngàn sai muôn
khác nhưng đều quy đồng ở Bản Thể. Chúng ta có thể ví
Bản Thể như bóng đèn mà vũ trụ vật lý giống như ánh
sáng qua lăng kính nhiều màu. Ánh sáng tuy nhiều màu sắc nhưng
đều quy đồng tại bóng đèn. Cũng vậy, các hiện tượng
của vũ trụ vật lý sinh sinh hóa hóa vô cùng tận nhưng đều
chung đồng ở Bản Thể. Chính trong Bản Thể này luật Nghiệp
Báo hình thành và chi phốí đời sống của mọi người trong
thế giới vật lý. Sức mạnh của luật Nghiệp Báo vô cùng
to lớn dù chúng ta không thể trông thấy bằng mắt thường.
Trong
thế giới vật lý, ảnh hưởng của một nghiệp nhân đi ngoằn
ngoèo lang thang qua trung gian người này đến người khác rồi
giống như vô tình, gặp lại tác giả đã tạo ra nghiệp ban
đầu để đem cho tác giả niềm vui hay nỗi khổ. Nếu quan
sát trên thế giới hiện tượng, chúng ta thấy đường đi
có vẻ mông lung, hên xui, nhưng tại sao nó luôn luôn gặp lại
tác giả. Thật ra trong vô hình, luật Nghiệp Báo trong Bản
Thể chi phối một cách không sơ hở.
Một
tay buôn ma tuý bị bắt, bị kết án chung thân. Theo luật pháp,
y đã nhận lấy hậu quả của tội lỗi mình một cách thỏa
đáng. Nhưng ảnh hưởng của nghiệp chưa buông tha y. Sau khi
chết y sinh vào một gia đình có cha mẹ là những kẻ nghiện
ngập ma túy nằm trong đường dây buôn lậu của y từ kiếp
trước. Cha mẹ y phạm tội rồi bị giam. Y trở thành kẻ
lêu lỏng, sa vào ma tuý, đi cướp giật và bị bắn chết.
Chưa hết, nhiều đời sau nữa, cái nghiệp ma tuý vẫn đeo
đuổi y, y tiếp tục sinh vào những môi trường chung quanh
nhiều người nghiện ngập. Cái sa đọa mà y gieo rắc cho kẻ
khác đã trở thành máng nhện quấn lấy y trong nhiều kiếp
luân hồi.
Như
vậy cái bản án của luật pháp dành cho kẻ phạm tội không
phản ảnh được cái quả báo của luật Nghiệp Báo. Luật
này có đường đi riêng mà luật pháp xã hội chỉ là một
khía cạnh nhỏ của nó. Kẻ vào tù chưa phải là đã trả
xong mọi món nợ trước kia.
Ví
dụ một tay lừa đảo bị bắt đi tù. Những đời sau y luôn
luôn rơi vào tình trạng nghèo túng thiếu thốn và bị lừa
gạt liên tục.
Trong
suốt một cuộc đời, chúng ta đã tạo nên vô số nghiệp
bằng ý nghĩ, lời nói và việc làm. Cả mấy tỷ người cũng
như vậy. Tất cả tạo nên một ảnh hưởng của nghiệp lan
đi khắp muời phương bốn hướng gieo xen chằng chịt lẫn
nhau mà không có cái nào lẫn lộn với cái nào. Nếu đưa
vào máy tính để giải mã, có lẽ đây là một bài tính cực
kỳ thú vị và phức tạp. Khoa học đang dồn hết sức mình
để tìm hiểu cho hết mọi quy luật của không gian vật lý
này. Các quy luật ở đây có tính cách khách quan. Ý muốn
của con người không thể làm thay đổi các quy luật này.
Như cỏ cây có khuynh hướng hướng về ánh sáng. Chúng ta
có thể chặt đứt ngọn cây, hoặc bẻ uốn ngọn cây đi
vào bóng tối, nhưng rồi sẽ có những chồi khác vươn ra
ánh sáng. Chúng ta chỉ tác động một cách hình thức chứ
không thể thay đổi quy luật đó.
Các
nhà khoa học đi tìm quy luật của Virus gây bệnh tật để
tùy theo đó tìm cách chữa trị. Nếu chưa nắm vững qui luật,
sự chữa trị không hiệu quả, có khi còn nguy hiểm. Một
chất kích thích tố steroid từ ngoài đưa vào cơ thể gây
nên hưng phấn nhất thời, nhưng sẽ gây tác hại về sau.
Nguyên
lý bảo toàn động lượng là cơ sở cho máy bay phản lực,
theo đo,ù khi hỏa tiễn phun ra phía sau một khối lượng vật
chất với vận tốc lớn, thì bản thân hỏa tiễn sẽ di chuyển
về phía trước với một vận tốc tương ứng. Hiện nay nguyên
tắc này là cao nhất về phương pháp di chuyển của người
Địa cầu. Còn các đĩa bay thì có phương pháp khác rất lạ
mà chúng ta chưa biết.
Các
kính hiển vi với tia quét điện tử đã giúp con người đi
vào thế giới vi mô, có thể thấy được hình ảnh nguyên
tử, hoạt động của tế bào, và từ đó, họ biết rõ hơn
những quy luật chưa được biết.
Con
người chỉ có khám phá các quy luật của vũ trụ và tìm
cách áp dụng có lợi cho mình. Các quy luật này tồn tại
khách quan ngoài ý muốn của con người. Chính vì tính khách
quan này mà khoa học được đề cao. Người ta không dùng quyền
lực để thay đổi được sự thật của vũ trụ, quy luật
của xã hội, người ta không thể dùng các lý thuyết về
tín ngưỡng, đảng phái... để che lấp chân lý. Cuối cùng
Khoa học sẽ khám phá, giải đáp tất cả và ai đi ngược
với khoa học sẽ bị đào thải không thương tiếc. Đã đến
thời kỳ mà các nhà hoạt động tôn giáo không được quyền
thiếu kiến thức khoa học. Hầu hết các triết lý tôn giáo
đều có tuổi từ mấy nghìn năm trước. Các tín đồ đều
tự mãn cho rằng tôn giáo của mình là chân lý, dù thời gian
có trôi mãi, khoa học có tiến bộ đến đâu thì các giáo
lý, giáo điều của tôn giáo họ vẫn bất biến.
Quan
niệm tự mãn, độc tôn, cố chấp này hoàn toàn bất lợi
cho con người muốn tìm chân lý tối thượng.
Con
đường không có ích lợi cho kẻ không muốn đi. Ánh sáng
không có ích lợi cho kẻ không muốn nhìn thấy. Cũng vậy,
chân lý không giúp gì được cho kẻ tự chôn mình trong những
niềm tin lạc hậu.
Nếu
chúng ta hỏi các tín đồ của các tôn giáo, họ sẽ luôn
luôn cho con đường của họ là hơn hết. Ngay trong đạo Phật,
mỗi hệ phái đều cho mình là cao hơn hết và chê bai các
hệ phái khác. Cuốn "Hành trình qua phương Đông" gần đây
đã nêu ra việc này rất rõ. Các tu sĩ để dành nhiều thì
giờ đả kích nhau hơn là lo tu hành thật sự.
Muốn
tìm được chân lý đích thực, chúng ta phải cởi bỏ mọi
thành kiến từ trước. Đừng vì chấp ngã để rồi luôn
luôn cho những cái gì liên hệ với mình đều tốt đẹp cả
như ý kiến của tôi, hệ phái của tôi, tôn giáo của tôi,
chủ thuyết của tôi... Chân lý không liên quan đến những
cái tôi này.
Đức
Phật dạy mọi người phải có tinh thần hoài nghi khi đi tìm
lẽ thật. Không nên tin bất cứ điều gì dù đó là do truyền
thống để lại, do người khác truyền đạt, do người khả
kính nói ra, do ý riêng mình chấp nhận. Chúng ta phải biết
hoài nghi trong khiêm hạ. Hoài nghi tất cả kể cả ý nghĩ
của chính mình. Không nên hoài nghi ý nghĩ của người khác
nhưng lại cả tin vào ý nghĩ của mình.
Các
nhà hoạt động tôn giáo trong thời đại khoa học tiến bộ
hôm nay càng phải biết hoài nghi hơn nữa. Những tư tưởng,
những giáo lý được giảng dạy từ xưa đến giờ có vẻ
hợp lý, nhưng nếu được suy xét kỹ hơn,vẫn có thể bộc
lộ nhiều sai lầm lớn lao.
"Những
gì giáo chủ tôi đã dạy, thầy tôi đã giữ gìn, là luôn
luôn đúng". Tư tưởng bảo thủ này không thích hợp cho xã
hội loài người của thời đại hôm nay.
Chân
lý là sự khách quan không tùy thuộc vào ý muốn của mỗi
người. Quá tin vào ý nghĩ của cái tôi, chúng ta sẽ rời
xa chân lý. Tính khách quan của vũ trụ vật lý càng khiến
chúng ta phải rời bỏ những thiên chấp chủ quan của mình
nếu muốn hiểu được sự thật.
Ai
cũng nói mình đi tìm chân lý, sống với chân lý. Nhà khoa
học nói như thế và nhà đạo học cũng nói như thế. Nếu
cùng đi tìm chân lý thì ắt phải có ngày gặp nhau. Nhà đạo
học phải có tinh thần, có hiểu biết về khoa học, cũng
như nhà khoa học phải biết những vấn đề của đạo giáo.
Đôi khi tinh thần của tôn giáo gợi ý nhiều vấn đề cho
khoa học. Ví dụ như đạo Phật đã từng nói đến vô số
thế giới trong vũ trụ. Và ngược lại khoa học cũng giúp
cho nhà hoạt động tôn giáo bớt đi vào mê tín, cuồng tín.
Nhiều người đã e ngại về sau này, sự bạo động không
bắt nguồn từ các tổ chức thuần túy chính trị mà lại
bắt nguồn từ các tôn giáo có khuynh hướng cuồng tín.
Tóm
lại không gian vật lý này có tính khách quan và tương đối.
Những qui luật của nó không phụ thuộc vào ý muốn của
con người. Đồng thời tính chất của không gian, thời gian,
khối lượng...bị thay đổi theo nhiều điều kiện. Trong không
gian này con người tạo nghiệp và nhận lấy quả báo.
Những nghiệp do con người tạo ra đã gây ảnh hưởng vào
trong cuộc đời và ảnh hưởng đó lan đi mãi cho đến khi
nó gặp lại tác giả đã tạo ra nó và đem đến cho tác giả
niềm vui hay nỗi khổ một cách tương xứng.
Tuy
nhiên không gian này không phải là duy nhất trong vũ trụ. Nó
chỉ là hiện tượng của Bản Thể và mọi sự vận động
sinh hóa của nó đều xuất phát từ những quy luật bí mật
từ Bản Thể. Ngay cả một ảnh hưởng của nghiệp đi lang
thang trong cuộc đời cũng không phải tự phát ngẫu nhiên,
nó luôn luôn chịu sự chi phối của Nghiệp Báo từ Bản Thể.