Bài
Thực Tập số 6
TẤM
GƯƠNG
Thực
tập này để chúng ta ý thức những phóng chiếu, phóng tưởng
mà chúng ta không ngừng tạo tác ra và làm cho chúng ta hiểu
được tiến trình của những phóng chiếu đó. Người ta hiểu
“phóng chiếu” là khuynh hướng của tâm thức gán cho thế
giới bên ngoài và những kinh nghiệm thứ màu sắc của những
ý nghĩ hay những tình cảm của mình. Khi người ta phiền muộn,
hình như toàn bộ thế giới liên hệ với chúng ta trở nên
bất hạnh hơn, và khi người ta nhìn thấy “cuộc đời toàn
màu hồng”, mọi sự có vẻ dễ dàng hơn, mọi người đều
mỉm cười với ta, thậm chí những người không có liên hệ
quen biết.
Rất
thường người ta không hoàn toàn ý thức được tiến trình
phóng tưởng này, và đó chính là vấn đề. Người ta luôn
luôn thấy cọng tóc trong mắt người bên cạnh, mà không biết
rằng đó là vì người ta có một cây xà trong mắt mình khiến
mình thấy điều đó. Người ta tìm thấy ở những người
trong gia đình hay những bạn đồng nghiệp những khuyết điểm
mà người ta không chấp nhận thấy chúng hiện hữu trong mình.
Ngược lại, người ta sẵn sàng thần tượng hóa những phẩm
tính nơi những người khác mà tự họ cũng có, nhưng người
ta không muốn tự nhận biết, điều này không phải không
gây ra mọi loại phản ứng xúc cảm mâu thuẫn. Phóng chiếu
như vậy lên những người khác tiềm năng tốt đẹp của
mình lại thành ra trốn tránh trách nhiệm cần phát triển
những phẩm tính mà ta vốn có nơi mình : dễ hơn khi tự nhận
một lần cho tất cả là không thể đảo ngược và vô hy
vọng. Người ta đóng vai trò “kẻ ác” và cho những người
khác vai trò “kẻ thiện” : người ta nhất quyết chiếm
lấy đặc quyền quên tất cả ý định phát triển và tiến
bộ cá nhân...
“Tấm
gương” chỉ cho chúng ta làm thế nào ý thức những tình
cảm của chúng ta và cách chúng ta phóng chiếu chúng ra ngoài
mình. Thực tập gồm hai giai đoạn : phần thứ nhất để
xác định phần “ích lợi” của những tình cảm của chúng
ta, cái cần giữ lại và nuôi dưỡng, và phần vô ích hay
có hại nên bỏ. Trong phần hai, người ta khám phá hiệu ứng
boomerang (một dụng cụ để săn của thổ dân Úc, phóng ra
trúng con mồi và rồi trở lại với người phóng) của những
phóng tưởng của chúng ta : cười đối lại cười, nhăn nhó
đối lại nhăn nhó. Mọi cái chúng ta phóng chiếu lên những
người khác trở lại với chúng ta và ảnh hưởng đến toàn
bộ những quan hệ chúng ta có với họ, và như vậy cho đến
ngày người ta có thể thấy họ như họ thật sự là – ngoài
mọi khuyết điểm hay phẩm tính mà người ta gán cho họ qua
những phóng chiếu của mình.
•
Quan
trọng : Để cho bài thực tập này, phải cần những thời
thiền rất ngắn – 15 đến 20 phút, một hay hai lần mỗi
ngày. Hãy làm 5 đến 10 phút thư giãn trước mỗi thời.
Mô
tả thực tập
Phần
1
1.
Thư giãn (5-10 phút).
Bạn
hãy ngồi trước một tấm gương, khá lớn đủ để có thể
thấy toàn thân bạn. Hãy nghĩ rằng một tấm gương chỉ là
một tấm lá thủy tinh phản chiếu lại một hình ảnh, hình
ảnh này “hiện hữu” chỉ do bạn ở đó để tri giác nó.
Trong
độ mười phút, hãy chỉ ngồi trước gương, mắt nhắm hay
cái nhìn hướng xuống đất và hãy thư giãn ; hãy ý thức
những cảm giác của bạn, những tư tưởng và những cảm
xúc. Hãy đánh giá một cách khách quan những cái tích cực
và cái tiêu cực trong cái bạn cảm thấy.
2.
Tấm gương (15-20 phút).
Khoảng
một lúc, khi bạn cảm nhận tâm thức bạn bắt đầu yên
lặng, hãy nhìn vào trong gương. Trước tiên hãy ghi nhận bằng
tâm thức hiệu quả khi bạn tự nhìn mình như vậy. Tiếp
theo, hãy tưởng tượng rằng hơi thở bạn chuyên chở mọi
tư tưởng, mọi ấn tượng và mọi tình cảm mà bạn đã
cảm nhận, và khi thở ra bạn thổi chúng vào trong hình phản
chiếu của bạn nơi tấm gương. Hãy có cảm tưởng làm trống
bạn dần dần, hãy để tất cả những tình cảm của bạn
đi ra khỏi bạn và vào trong gương. Cùng lúc, để cho bạn
tràn ngập một cảm giác hư không, trong suốt và không thể
nắm bắt ; hãy cảm thấy sự lùi lại của bạn đối với
những tư tưởng.
Sau
15-20 phút của công việc này, hãy dẫn lại vào bạn – khi
thở vào – những phẩm chất mà bạn muốn giữ và hãy nghĩ
rằng bạn bỏ lại trong tấm gương mọi cái bạn không bằng
lòng và bạn muốn gỡ khỏi chúng.
Hãy
nhớ rằng chính bạn đã tạo ra hình ảnh trong gương, bằng
cách phóng chiếu những tình cảm của bạn vào đó. Hãy ý
thức sự kiện bạn đã nhận ra nơi hình ảnh đó một số
phẩm chất và chính bạn chọn lựa cái bạn muốn lấy lại
và giữ gìn trong bạn.
3.
Thư giãn (5-10 phút).
Cuối
thực tập, hãy dành 5-10 phút để thư giãn hoàn toàn, để
cho những tư tưởng đến và đi tùy chúng.
•
Hãy theo sự thực hành phần một này trong ít ra một tuần
(khoảng một hay hai thời một ngày). Chớ qua phần hai trước
khi có thể phóng chiếu dễ dàng những tình cảm của bạn
vào tấm gương và nhất là trước khi bạn cảm thấy hơi
sẵn sàng hơn để chứng nghiệm những sự vật với ít cứng
đặc và vững chắc hơn trước kia.
Phần
2
1.
Thư giãn (5-10 phút).
Hãy
bắt đầu bằng thư giãn, như với phần 1. Hãy để tâm thức
tự bình lặng tự nhiên.
2.
Tấm gương (15-20 phút).
Hãy
nhìn hình phản chiếu của bạn trong gương và xem xét rằng
bạn sắp làm một cuộc trao đổi giữa cái mà bạn tự đồng
hóa như là chính mình và cái nhân vật thấy trong gương. Sự
trao đổi này xảy ra theo thời gian hơi thở :
–
mỗi hơi thở ra, hãy thổi mọi thứ bạn cảm nhận trong bạn
vào trong nhân vật trong gương.
¬
–
mỗi hơi thở vào, hãy đưa trở lại vào bạn những tư tưởng
và những tình cảm của nhân vật trong gương.
Tiếp
tục sự trao đổi khi phối hợp nó với hơi thở của bạn.
Hãy nhớ một cách sắc bén nhất rằng mọi cái bạn cảm
thấy chỉ là kết quả của những phóng chiếu của bạn.
Chớ
thử phân tích hay lý luận. Hãy bằng lòng làm thực tập mà
không vượt quá những giới hạn thời gian của nó (15-20 phút).
2.
Thư giãn (5-10 phút).
Như
phần 1.
•
Hãy thực hành phần 2 trong ba hoặc bốn tuần, khoảng một
thời một ngày.
“Tấm
gương” rất quan trọng để cho chúng ta khám phá cái ở nền
tảng ý nghĩ mà người ta tự tạo về mình và về những
người khác : tiến trình phóng chiếu. Thiết yếu đã hiểu
rõ thực tập này để theo đuổi phần còn lại của việc
chữa trị, khi những thực tập tiếp theo còn vận dụng hơn
nữa cơ chế trao đổi với một hình ảnh mà người ta tự
phóng chiếu ra : hình ảnh đức Phật, bạn bè, gia đình, kẻ
thù... Vậy chớ nhảy ngang thực tập “Tấm Gương” nếu
bạn muốn làm hết loạt thực tập.
Tuy
nhiên nếu bạn cảm thấy những khó khăn lớn, đến độ
bạn không thể làm tốt thực tập này được nữa – vì
sợ hãi hay những phản ứng do bài tập gây nên, hay do những
kết bế trầm trọng – bạn có thể qua thẳng bài số 8 “Đức
Phật Bên Trong”, tiếp theo đến bài số 10, “Triển Nở
/ Thu Rút”, và đến bài số 15, “Khối Cầu Cầu Vồng”,
bởi vì những bài đó không đòi hỏi những cơ chế phóng
chiếu.
Câu
hỏi : Phần đầu của thực tập cho phép tôi chuyển di vào
tấm gương tất cả một lượng những tình cảm đau buồn
mà tôi có trong mình, và tôi đã cảm thấy một sự nhẹ nhõm
lớn. Nhưng tôi tự hỏi đó có phải là một loại ảo tưởng
không ?
Trả
lời : Chắc chắn trong một nghĩa nào, bất kỳ thực tập
gì cũng là một ảo tưởng, nhưng đó cũng là cơ hội và
phương tiện để học điều phục, làm chủ tâm thức. Dù
nếu một thực tập không thể giải thoát rốt ráo cho bạn
khỏi những khổ đau và khó nhọc của bạn, thì bạn cũng
có thể cảm thấy một lợi lạc nào đó trong tức thời,
tuy nhiên cái cốt yếu nằm trong sự thực tập làm chủ tâm
thức, nó là phương tiện độc nhất để đến chỗ giải
thoát khỏi khổ đau – tính về lâu dài.
Câu
hỏi : Tôi tự hỏi phải chăng người ta có thể xem thực
tập tấm gương như một bài học về vô thường. Tôi có
thể xem nó như vậy không, hay tôi phải bằng lòng với việc
chuyển di những tình cảm của tôi vào tấm gương và ngược
lại ?
Trả
lời : Khi bạn nhìn sự phản chiếu của bạn trong tấm gương,
bạn có thể hiểu rất rõ sự trong suốt và vô thường của
nó và bao gồm hai tính chất đó trong mọi cái bạn thấy.
Thật vậy, đó là một thí dụ rất tốt. Bạn cũng có thể
dùng sự phản chiếu một cách thích đáng để thoát khỏi
những căng thẳng của bạn và để “làm thành ra bên ngoài”
những vấn đề đang gặm nhấm bạn ở bên trong. Chính bạn
là người quyết định cách sử dụng, lợi ích mà bạn muốn
từ bài thực tập.
Câu
hỏi : Điều ấy không gây ra một ít “vô trật tự” khi
để lại trong gương mọi cái mà tôi không thích – cái tiêu
cực hay khốn khổ trong tôi – sao ? Tôi có phải lau chùi bằng
tâm thức tấm gương bỏ lại đằng sau trước khi có một
người khác dùng nó ?
Trả
lời : Không, tôi không tin điều đó là cần thiết ! Tấm
gương không bị hư, nó không lưu giữ khổ đau. Người ta
chỉ dùng nó như điểm tựa để làm trống một ít khổ đau
và nhọc nhằn của mình – như khi người ta đổ đi một
phần thừa của một bình chứa người ta làm quá đầy, để
tránh nó tràn. Với những tình cảm cũng như vậy : đôi khi
đem chúng ra bên ngoài là ích lợi, và điều đó nhờ ở tấm
gương.
Câu
hỏi : Điều tôi thấy trong gương trong phần hai của thực
tập làm tôi rất khốn khổ, và phải thu nó lại vào tôi
chỉ làm tôi tệ ra thêm. Điều độc nhất giúp đỡ tôi là
ý nghĩ rằng không phải những tình cảm tôi cảm nhận, cũng
không phải hình ảnh phản chiếu trong gương là có thực chất.
Đó có phải là một lối tốt và một giải pháp chấp nhận
được cho vấn đề không ?
Trả
lời : Hoàn toàn như vậy. Khi người ta tự nhìn mình trong
một tấm gương, rất quan trọng phải hiểu rằng cái người
ta thấy trong đó không phải là cái gì có thực chất và cứng
đặc. Bởi thế, chớ có xem những tình cảm là quá nghiêm
trọng – khó nhọc hay dễ chịu – mà bài thực tập gây
ra, vì chẳng có cái nào là có thực chất. Chớ gán cho chúng
sự quan trọng thái quá.
(Lời
nói thêm của người dịch tiếng Việt : “Tấm gương là
một thực hành trong Yoga Thân Huyễn, một trong sáu Yoga của
Naropa. Nhờ sự thực hành “Tấm Gương”, người ta sẽ hiểu
được tiến trình phóng chiếu của tâm thức mình, do đó
sẽ thâm nhập sự thật “Ba cõi duy tâm, vạn pháp duy thức”.
Đó không chỉ là chủ đề chính của phái Duy Thức, mà là
chân lý được xiển dương trong những kinh tạo ra Đại thừa,
như Hoa Nghiêm, Viên Giác, Đại Bát Nhã, Lăng Nghiêm, Lăng Già...
mà hành giả phải chứng nghiệm trên con đường đi đến
Phật tánh.)
Bài
Thực Tập số 7
BẠN
Thực
tập này nhằm bày tỏ cho chúng ta thấy sự bám níu là gì
: trong đời mỗi người chúng ta có những con người và sự
vật mà người ta bám luyến đến độ rất đau đớn khi phải
chia lìa.
Học
đặt mình vào chỗ những người bạn, người ta sẽ thử
hiểu họ hơn, từ điều người ta biết về họ, hơn là điều
người ta chờ đợi ở họ. Để trao đổi những vai trò,
như người ta sắp làm ở đây, cũng phải tự cho đi chính
mình, bất luận người ta biết về mình như thế nào. Điều
này giúp cho chúng ta tìm thấy một sự cởi mở rộng lớn
hơn với những người khác và tương thông với họ tốt hơn,
đặc biệt với những người gần gũi.
Phẩm
chất của động lực của chúng ta thì đặc biệt trọng yếu
trong thực tập này : nếu người ta trao đổi những vai trò
với những bạn bè của mình, đó chính là để đi ra khỏi
tháp ngà của quan điểm quy ngã của chúng ta, để tránh bị
nhốt mãi trong lý luận một chiều của những thái độ ích
kỷ của chúng ta. Đó là để có thể hiểu mình và người
khác hơn, hầu khai triển nơi mình lòng bi và hành động dưới
sự khơi gợi của nó.
Mô
tả thực tập
1.
Phần một : phóng chiếu (10-15 phút).
Bạn
hãy nghĩ đến một người mà bạn rất luyến mến và bạn
muốn gần gũi càng nhiều càng tốt. Đó có thể là cha hay
mẹ, chồng hay vợ, bạn, con người bạn khác phái thân thiết.
Hãy
tưởng tượng người này ở trước mặt bạn ; dù bạn không
thấy người đó rõ ràng lắm, quan trọng là tự nhủ nó thật
sự ở đó, cảm thấy sự hiện diện của nó, khơi gợi điều
bạn cảm nhận khi bạn ở cùng nó. Hãy dùng thời gian để
phóng chiếu hình ảnh và sự hiện diện của người bạn
này trước mặt bạn.
Phần
thực tập này bạn cần 10 đến 15 phút. Sau đó hãy nghỉ
ngơi một lát trước khi qua phần tiếp theo.
2.
Phần hai : trao đổi vai trò (30 phút).
Tiến
trình trao đổi được phối hợp với hơi thở. Hãy tưởng
tượng khi thở vào, bạn hấp thu vào trong bạn người bạn
ở trước mặt bạn, và khi thở ra bạn tự phóng chiếu chính
mình vào trong người bạn. Bề ngoài của thân thể người
bạn và của bạn vẫn như vậy, nhưng nội dung bên trong dần
dần biến đổi theo sự trao đổi. Từng chút, với mỗi hơi
thở vào, những tư tưởng, cảm giác, tình cảm và tham muốn
của người bạn trở thành của bạn, trong khi những cái của
bạn trở thành của người ấy, theo mỗi hơi thở ra.
Sự
trao đổi không nhất thiết phải trùng với mỗi hơi thở
vào và thở ra của bạn ; hãy dùng một nhịp điệu tự nhiên
cho bạn. Chớ có quá tổ chức hay cơ cấu hóa sự trao đổi
theo cách hệ thống : hãy rộng mở và thư giãn và để cho
sự chuyển di xảy ra càng tự nhiên càng tốt.
Hãy
theo đuổi sự chuyển di trong nửa giờ. Cuối thời thiền,
bạn có thể giữ lại cảm giác bạn là người bạn của
mình hay trở về trong da thịt mình – tùy ý lựa chọn. Nhưng
dù cách nào, hãy giữ điều mà bạn đã hiểu về người
bạn của mình.
•
Hãy thực hành “Người Bạn” trong ba đến bốn tuần, khoảng
một thời 45 phút cả hai phần : phần một 10-15 phút, tiếp
theo một thời nghỉ ngắn và phần hai 30 phút.
Chớ
luôn luôn chọn cùng một người bạn để trao đổi : dần
dần bạn sẽ hiểu nhiều về thực tập, hãy chuyển qua những
người bạn khác.
Câu
hỏi : Phải làm gì nếu nhân vật mà tôi nghĩ đến không
ngừng lượn lờ khắp mọi hướng, xuất hiện và biến mất
?
Trả
lời : Không sao cả. Nhân vật đó không bắt buộc phải
ngồi : chính bạn mới phải ngồi...
Câu
hỏi : Phần lớn thời gian tôi cảm thấy một sự ngăn ngại
hoàn toàn đối với thực tập này, chính vì sự sợ hãi cho
mình và đem người khác vào mình. Tôi có một cảm tưởng
rất mạnh mẽ về khoảng cách, về chia cách. Làm thế nào
?
Trả
lời : Bạn hãy thực hành “Tấm Gương” lâu hơn một
chút, để giảm bớt cảm tưởng về sự cứng đặc của
những sự vật và những con người. Chính điều đó đặt
thành vấn đề cho bạn, ngăn cản bạn làm sự trao đổi với
một người khác. Hãy tiếp tục thực tập cái gương chừng
nào bạn còn cảm thấy sự sợ hãi này bởi vì bạn còn đóng
góp cho những sự vật một sự cứng đặc mà thật ra chúng
không có.
Câu
hỏi : Phải chăng hơi cao vọng hay thậm chí nguy hiểm khi muốn
nhận về phần mình tất cả đời sống kinh nghiệm bên trong
của một người nào khác ?
Trả
lời : Không, thật sự không có nguy hiểm nào ; vấn
đề chỉ đặt ra nếu người ta đã quá tiến hóa, và dầu
sao đi nữa, trong những điều kiện khá khác biệt. Nếu bạn
đã khá tiến bộ trong thực hành của bạn, bạn đã ra khỏi
nguy hiểm trước khi vấn đề đặt ra...
Câu
hỏi : Nếu tôi cảm thấy đã rất gần gũi một người nào
đó, rất liên kết và rất bám luyến với nó, có phải tiến
trình hòa lẫn tâm thức này có nguy cơ làm mạnh thêm một
chút sự bám dính của tôi ?
Trả
lời : Không. Tôi nghĩ rằng cũng “Tấm Gương” có
thể giúp bạn giải quyết vấn đề này.
Câu
hỏi : Chúng ta hãy giả thiết rằng khi làm thực tập này
thình lình tôi cảm thấy hoàn toàn và rất mạnh mẽ – trong
thân thể và trong những cảm xúc của tôi – những vấn đề
và những đau đớn của người khác mà đến lúc đó tôi
chưa từng nghĩ tới, và kinh nghiệm này hoàn toàn lật đổ
tôi vì tôi không biết tôi có thể làm gì để giúp đỡ y
?
Trả
lời : Tôi không tin điều đó sẽ xảy ra. Thực vậy,
người ta không thể cảm nhận sự đau khổ thực sự của
người khác và điều người ta cảm thấy bao giờ cũng chỉ
là điều người ta tự tưởng tượng ra. Và dầu chấp nhận
rằng có ở đó cái gì khác hơn là một sản phẩm của sự
tưởng tượng, thì chính trong lòng bi mà phải tìm lời giải
đáp cho một tình huống như vậy : hiểu được sự đau đớn
của người khác và nhiệt thành mong muốn đủ sức giúp đỡ
nó.
Câu
hỏi : Thời gian là bao nhiêu phải dành cho sự trao đổi với
một người bạn, trước khi qua một người khác, và có nên
bắt đầu bằng những tình bạn ít đam mê nhất, vì sẽ dễ
dàng nhất bởi người ta ít cảm thấy bám luyến ?
Trả
lời : Bạn có thể trải qua thời gian nào đủ cần
thiết cho bạn về một người bạn. Làm việc trên những
người bạn khác nhau thì tốt : những người thân nhất và
những người kém thân.
Bài
Thực Tập số 8
ĐỨC
PHẬT BÊN TRONG
Danh
từ “Phật” ở đây được dùng trong nghĩa là người đã
đạt đến trạng thái thức tỉnh hoàn toàn của tâm thức
: sự hiểu biết thanh tịnh và trí huệ, hợp nhất không thể
phân chia với lòng bi vũ trụ. Vậy thì chính để tượng trưng
cho trạng thái này mà người ta quán tưởng hình tướng Phật.
Nhưng nếu sự quán tưởng như vậy gây ra vấn đề cho bạn
bởi những lý do cá nhân, bạn có thể thay thế nó bằng một
khối cầu ánh sáng trong sạch sáng rỡ, và bạn sẽ mượn
ở đó cùng những phẩm chất vừa nói ở trên.
Nhận
xét sơ khởi : Kỹ thuật quán tưởng
1.
Gợi ra nơi mình một hình ảnh, một cảm tưởng
“Quán
tưởng” chỉ có nghĩa là “tưởng tượng”, tưởng tượng,
nghĩa là gợi ra, tưởng ra một ảnh tượng bằng tâm thức
– như chính ngữ nguyên học của chữ ấy. Người ta tạo
ra trở lại nơi mình hình ảnh hay cảm tưởng về cái gì
hay về người nào. Đó là hoạt động tự nhiên nhất của
con người, cái mà người ta vẫn làm mọi ngày mà không biết,
như thở : bạn nghĩ đến mẹ bạn và tức thời hình ảnh
của bà khởi lên trong trí nhớ bạn, người ta nói với bạn
một nơi chốn mà bạn biết rõ và bạn thấy nó tức khắc
rõ ràng... Cứ tiếp tục như thế, người ta không ngừng quán
tưởng, hình dung những sự vật trong tâm thức.
Vậy
thì bạn đã biết gợi ra một cách tự phát những hình ảnh
; quán tưởng, đó là học làm việc đó một cách cố ý,
sử dụng khả năng bẩm sinh này để tưởng tượng một sự
vật nào đó cần thiết cho thực hành một thực tập.
Một
điểm quan trọng : cần cảm thấy sự hiện diện của người
hay vật người ta quán tưởng, gây ra nơi mình cảm tưởng
người ta đang dự phần với nó, dù cho người ta không “thấy”
chính xác những chi tiết cụ thể. Phải có cảm tưởng rằng
cái người ta quán tưởng thực sự ở trước mặt mình.
2.
Tạo ra những hình ảnh không thể sờ nắm
Còn
một khác biệt quan trọng khác giữa những hình ảnh mà sự
tưởng tượng bình thường của chúng ta tạo ra và những
hình ảnh do quán tưởng. Hình ảnh quán tưởng không bao giờ
cứng đặc, làm bằng thịt xương, bằng đá, đồng, gỗ hay
bất kỳ vật chất nào khác. Cái người ta tưởng tượng
phải thấy được rõ ràng nhưng không thể sờ chạm, làm
bằng ánh sáng, như một cầu vồng. Khi người ta quán tưởng
một người, người ta thấy nó – thậm chí người ta có
thể ý thức nhiều chi tiết, nhưng đồng thời không thể
sờ nắm được : nó có mọi vẻ bề ngoài vật chất, nhưng
không có bản chất. Như vậy, khi bạn phải quán tưởng “một
ống sáng”, bạn chớ tưởng tượng một bóng nê-ông hay
một ống cứng đặc chứa đầy ánh sáng, mà hãy thử hình
dung một tia sáng tỏa sáng hình cái ống – với tất cả
vẻ bề ngoài của một cái ống, nhưng không có vật chất.
Cũng thế, chớ tưởng tượng một đức Phật bằng đồng,
hay một khối cầu sáng rỡ giống như một bóng điện. Nếu
người ta hình dung những vật cứng đặc, người ta sẽ tự
tạo cho mình những vấn đề rắc rối nhưng giả tạo : làm
thế nào đem một đức Phật to lớn bằng đồng hay một bóng
đèn 2000 oát vào trong thân thể bằng xương thịt bình thường
của bạn ? Bạn hãy nhớ rằng những quán tưởng là những
dụng cụ cần thiết cho công việc tâm thức, làm việc với
những hình tướng tâm thức, và bạn chớ bám vào ý niệm
cứng đặc của thân bạn và những đối tượng được quán
tưởng khác. Nếu thân thể bạn cũng không thể sờ nắm như
một cầu vồng và đức Phật, khối cầu sáng rỡ hay mọi
vật khác cũng như vậy, bạn sẽ không có trở ngại khi đem
nó vào bản thân mình và những quán tưởng sẽ không đặt
ra những vấn đề khó khăn cho bạn.
•
Điều
chính yếu tóm tắt : quán tưởng, tức là gợi ra một
hình ảnh tâm thức rõ ràng và hiện thực, đồng thời không
thể sờ nắm và sáng rỡ, như một cầu vồng và cảm thấy
sự hiện diện của nó, dù người ta không “thấy” nó một
cách cụ thể.
Mô
tả thực tập
1.
Chuẩn bị
Đã
cẩn thận ngồi thằng lưng, bạn hãy tưởng tượng ở trong
trung tâm của thân thể bạn một bông sen vàng có những cánh
hướng về phía trên.
Tiếp
theo hãy quán tưởng một ống sáng rỡ, không có màu sắc
đặc biệt (điều đó không quan trọng), nó từ đỉnh đầu
của bạn (trong vùng thóp trên đầu), đi qua thân thể và đến
trong tim hoa sen. Phần trên cùng của ống hình cái phễu và
mở rộng trên đỉnh đầu bạn.
2.
Gợi ra
Hãy
tưởng tượng trên đầu bạn, ngay trên chỗ mở rộng của
ống ánh sáng, có một đức Phật – hay một khối cầu –
ánh sáng rực rỡ, kích cỡ tùy bạn muốn.
Hãy
tưởng tượng và cảm thấy rằng thân thể bạn trở nên
càng lúc càng kém cứng đặc, càng trong suốt và không thể
sờ nắm.
3.
Thiền định (45 phút)
Hãy
dần dần đưa vào trong bạn hình tướng sáng rỡ của Phật
hay khối cầu : hãy tưởng tượng nó đang xuống một cách
êm dịu từ trên đầu bạn đến trung tâm thân thể bạn để
an định ở tim hoa sen.
•
Quan
trọng : hãy nhớ không tưởng tượng thân thể bạn hay
hình tướng ánh sáng rực rỡ là cái gì cứng đặc.
Sau
45 phút thiền định, hãy nghỉ ngơi một lát.
4.
Thư giãn (1 giờ)
Làm
thực tập thư giãn (số 2). Hãy trả tâm thức về với chính
nó, bằng cách để cho mọi tư tưởng, ý tưởng, tình cảm,
cảm giác của bạn đến và đi tự nhiên.
Bạn
hãy để cho tinh túy của sự thức tỉnh và lòng bi từ nay
hiện hữu trong bạn và chung quanh bạn. Thân thể bạn không
còn cứng đặc nữa – bạn không phân biệt nữa tay chân,
bộ phận, đau đớn, căng thẳng. Tất cả dần dần tan biến
trong một đại dương tĩnh lặng và an bình của tâm thức.
Hãy
ở như vậy trong một giờ.
•
Hãy
thực hành “Đức Phật Bên Trong” trong một tuần, một
thời khoảng 1 giờ 45 phút (45 phút thiền định, 1 giờ thư
giãn) mỗi ngày.
Câu
hỏi : Khi ngài nói về “trung tâm thân thể”, chính xác nó
ở đâu ?
Trả
lời : Trước hết, phải nói về trung tâm bản thể
của bạn. Người ta quan niệm nó ở khoảng trong vùng trái
tim. Ở Đông phương, người ta cũng nói “trung tâm trái tim”,
không phải theo nghĩa ở giữa bắp thịt tim, mà trong nghĩa
chakra một trong những trung tâm năng lực của thân thể, như
một vòng tròn có tâm điểm giữa ngực. Điều đó nói rằng,
đây là một vấn đề khá chủ quan : tất cả tùy thuộc vào
cảm tưởng cá nhân của bạn, vào ý tưởng về địa điểm
trung tâm của bản thể bạn.
Câu
hỏi : Nếu tôi không thấy được trong tâm thức hình ảnh
của Phật, thì cảm thấy sự hiện diện của ngài có đủ
chăng ?
Trả
lời : Vâng, bởi vì mục đích của thực tập là gợi
ra sự hiện diện của những phẩm tính nền tảng của tâm
thức hơn là hình thức mà những phẩm tính đó khoác vào
– ở đây hình thức chỉ là phụ.
Câu
hỏi : Đôi khi có những màu sắc khác hiển lộ thế chỗ
cho ánh sáng rực rỡ. Tôi có phải nỗ lực để luôn luôn
tìm thấy ánh sáng rực rỡ chứ ?
Trả
lời : Vâng, tôi nghĩ tốt hơn là tưởng tượng ra một
loại ánh sáng rực rỡ.
Câu
hỏi : Ngài có thể gợi cho tôi một cách để đạt đến
đó dễ dàng hơn ?
Trả
lời : Hãy quan sát một miếng vải sáng rực rỡ, nhưng
nếu bạn có cảm tưởng về một màu sắc “cứng đặc”,
hãy thử nhìn sự rực rỡ của tấm vải trong một cái gương,
để có một ý tưởng về sự trong suốt của màu sắc bạn
sắp quán tưởng.
Câu
hỏi : Trong phần cuối của thư giãn, tâm thức tôi thường
không hoàn toàn an bình và tôi thấy mọi loại xúc cảm. Tôi
phải làm sao ?
Trả
lời : Hãy tìm thấy dù chỉ một vùng rất nhỏ của
sự yên tĩnh và hãy để cho những tư tưởng và tình cảm
bạn tan vào đó. Dù chỉ có một phần trăm tâm thức bạn
bình an, bạn cũng sẽ có thể đạt tới chỗ đó.
Câu
hỏi : Nếu người ta không có thì giờ đòi hỏi cho thực
tập này, một giờ bốn mươi lăm phút, thì có cần làm đủ
một giờ thư giãn sau chót không ?
Trả
lời : Vâng, cần. Điều bạn có thể làm, là chia thời
giờ bạn có để duy trì mối tương quan giữa hai phần thực
tập : thư giãn thì lâu hơn thiền định một chút.
Bài
Thực Tập số 9
LÀM
SỐNG ĐỘNG
ĐỨC
PHẬT BÊN TRONG
Trước
khi dấn thân vào thực tập mới này, có lẽ nên nhìn lại
và đánh giá một chút về điều người ta đã làm. Trước
hết người ta học ngồi cho đúng, thư giãn và mở mình ra
với những người khác. Rồi người ta dùng cầu vồng để
làm mất sự “cứng đặc”, bản chất bất biến đã gán
cho những đối tượng sự vật. Tiếp theo, thực tập tấm
gương đã chuẩn bị cho chúng ta trao đổi vai trò với một
người bạn. “Cầu Vồng”, “Người Bạn” và “Đức
Phật Bên Trong” đã cho phép chúng ta thấy rằng chúng ta có
khả năng “quán tưởng”. Với “Người Bạn”, người
ta đã chơi đùa với sự thân thiết của những mối liên
hệ, với sự bám luyến với một người nào đó để khai
triển thói quen quán tưởng : thật vậy, người ta càng gần
gũi với một ai, thì hình ảnh của nó sẽ trở lại tự nhiên
dễ dàng trong tâm thức, như khi người ta đang yêu đương.
Một khi người ta đã hiểu cơ chế, người ta có thể quán
tưởng những sự vật mà người ta không cảm thấy liên kết
nhiều, như một đức Phật hay một khối cầu ánh sáng.
Mọi
người đều có khả năng quán tưởng những hình ảnh, như
chúng ta đã ghi nhận. Một số người có lẽ làm dễ dàng
hơn những người khác, nhưng với một chút thực hành, mỗi
người có thể tiến bộ không khó khăn lắm. Những vấn đề
nếu có thường là do một cố gắng quá độ để quán tưởng
: những hình ảnh khó hình thành trong một tâm thức khô cứng
vì căng thẳng, trong khi chúng khởi lên dễ dàng khi tâm thức
thoải mái thư giãn. Nếu người ta đem vào sự thực hành
một lượng thư giãn và nhiệt tình và người ta tin rằng
điều đó có thể làm cho tốt hơn, những quán tưởng sẽ
tức thời thành tựu một cách tự nhiên, tự phát.
Nếu
khuôn mặt người bạn hay kẻ thù trở lại trong bạn không
ngừng khi bạn đang quán tưởng đức Phật hay khối cầu ánh
sáng, bạn chớ lo âu. Điều đó có nghĩa là bạn còn một
khoảng đường để hiểu rằng tất cả chúng sanh đều có
nơi họ tinh túy của sự thức tỉnh và lòng bi. Người ta
còn chưa tri giác điều đó vì hai lý do : một mặt, người
ta cứ ngoan cố xếp loại những người họ biết thành hai
phạm trù – bạn hay thù – và mặt khác, người ta có khuynh
hướng không biết đến khía cạnh tốt của nhân cách những
người khác mà chỉ thấy những khía cạnh xấu. Với những
quán tưởng này, người ta phải đến chỗ hiểu rõ hơn rằng
mỗi chúng sanh đều có trong nó tinh túy của sự toàn thiện,
tiềm năng của thức tỉnh, giác ngộ.
Khi
nghiên cứu giải phẫu học, người ta không cần lấy hết
ruột gan và những cơ quan để khảo sát : người ta dùng những
kiểu mẫu chúng chỉ là những hình ảnh được phóng chiếu
ra bên ngoài từ một thực tại bên trong. Cũng thế, thực
tập ở trước đã dùng một kiểu mẫu – đức Phật hay
một khối cầu ánh sáng – để làm cho chúng ta hiểu sự
hiện diện nơi chúng ta những phẩm tính vốn có sẵn trong
trạng thái thức tỉnh của tâm thức. Kiểu mẫu này không
gì khác hơn là hình ảnh, phóng chiếu ra bên ngoài mình, của
tiềm năng toàn thiện – “Phật tánh”, “thiên tánh” trong
ngôn ngữ Thiên chúa giáo – hiện đang ở trong mỗi chúng
ta. Vậy thì sự quán tưởng vận hành như một phương tiện
để phóng chiếu một hình ảnh ra bên ngoài mình để hiểu
cái ở bên trong mình.
Mô
tả thực tập
1.
Chuẩn bị
Thực
tập này nhắm đến làm sinh động đức Phật bên trong. Bạn
hãy dùng sự thu hoạch của bài tập trước để tưởng tượng
trực tiếp đức Phật hay khối cầu ánh sáng rực rỡ trên
một hoa sen vàng ở trung tâm thân thể bạn, và hãy tập trung
vào đó. Hãy nghĩ rằng tâm thức bạn đã giống như tâm thức
của Phật, như sự hiện diện của đức Phật bên trong bạn
chứng tỏ điều đó.
Hãy
nhớ rằng thân thể bạn và thân thể đức Phật hay khối
cầu ánh sáng là trong suốt và không thể đụng chạm, thấy
được rõ ràng nhưng không thể sờ nắm, như một cầu vồng.
Điều đó sẽ tránh cho bạn khỏi tạo ra những vấn đề
rắc rối vô ích, về hình thể hay kích cỡ của những sự
vật, chiều hướng... – mọi cái phát sinh từ tính vật chất
của những sự vật. Bạn hãy nhớ rằng không làm việc trên
vật chất cứng đặc có một cơ cấu vững chắc.
2.
Phần I : tưởng tượng bạn của mình dưới hình thức một
vị Phật
Hãy
gợi lên trước mặt bạn một trong những người bạn mà
bạn đã dùng để quán tưởng “Người Bạn”. Mỗi khi bạn
thở ra, một vị Phật – hay một khối cầu ánh sáng – giống
như hình ảnh trong bạn phát xuất từ trung tâm thân thể bạn
đi vào thân thể người bạn và tan biến vào trong đó. Hãy
tìm ra một sự phối hợp tự nhiên giữa quán tưởng và hơi
thở của bạn khi “phát ra” một vị Phật hay một khối
cầu sáng rỡ, bởi chu kỳ hơi thở. Nhưng điều đó không
bắt buộc ; tùy bạn tìm ra một nhịp điệu thích hợp.
Hãy
nghĩ rằng hình tướng sáng rỡ của Phật hay khối cầu đi
vào trong người bạn hòa trộn hoàn toàn với anh ấy hay chị
ấy, ban cho người ấy tất cả những phẩm tính hiểu biết
thanh tịnh và lòng bi vũ trụ, kết thúc thì chỉ còn là một
với anh, chị ấy. Trước đây, người ta dùng sự bám luyến
làm cho bạn nhạy cảm với người bạn của bạn để hiểu
anh ấy hay chị ấy hơn ; bây giờ cũng chính sự thân thiết
này sắp giúp bạn hiểu biết nguyên lý của sự toàn thiện
– tức là đức Phật – trộn lẫn trong người bạn của
bạn.
3.
Phần II : hãy tự tưởng tượng mình trong hình thức một
vị Phật
Hãy
tưởng tượng rằng Phật – hay khối cầu ánh sáng – ở
trung tâm bản thể bạn phát ra một ánh sáng rực rỡ đầy
khắp thân thể bạn và tịnh hóa nó toàn bộ. Bây giờ bạn
không chỉ có tâm thức của một vị Phật (như bắt đầu
cuộc thực tập) mà còn thân thể của ngài nữa. Thâm sâu
trong sự xác tín này, bạn hãy tưởng tượng bạn trong hình
thức một vị Phật.
Giờ
đây, người bạn và bạn cả hai đều có thân thể không
thể sờ nắm và sáng rỡ của một vị Phật ; không còn chút
dấu vết nào của bản sắc lý lịch của bạn trước kia.
Không còn nữa vấn đề “tôi” hay “bạn tôi” ; chỉ còn
một vị Phật đối diện với một vị Phật khác, hay nếu
bạn thích, một hiện thể hoàn toàn thanh tịnh và thức tỉnh
trước một vị khác.
4.
Cảm thấy một “niềm tự hào chính đáng”
Khi
bạn đã làm xong hai phần của thiền định, nếu bạn muốn
bạn có thể thêm vào đó một chốc lát suy nghĩ về “sự
tự hào chính đáng” mà người ta có thể cảm thấy khi khám
phá ra sự toàn thiện này nơi mình và nơi tất cả mọi chúng
sanh. Hãy minh bạch về chuyện này : không phải phồng mình
lên vì kiêu ngạo khi tự nhủ mình thật sự là một người
phi thường và rất tiến hóa. Đúng hơn đó là một tình cảm
cảm kích và kính trọng sâu xa đối với sự toàn thiện của
bản tánh nền tảng của tất cả chúng sanh ; ý thức tất
cả sự cao cả và phẩm giá của chiều kích hiện hữu này,
người ta vui thú, hân hoan, người ta kính trọng nó trong mình
và trong những người khác và người ta cảm thấy một sự
tự hào chính đáng, như Pháp. Sự tự hào này không có gì
tiêu cực, trái lại nó là một đối trị tuyệt hảo với
sự kiêu mạn bình thường của chúng ta, vì nó bao gồm những
người khác và đem chúng ta lại gần họ thay vì loại trừ
họ và đem chúng ta ra xa họ. Vậy các bạn hãy nói : “Chúng
ta cả hai là những vị Phật – những hiện thể đã hoàn
toàn hiện thực tiềm năng toàn thiện của mình” – và hãy
trầm mình vào chốc lát trong một niềm tự hào chính đáng,
phát sanh từ sự cảm kích với sự thực này làm bạn kinh
ngạc.
•
Hãy
thực hành bài tập này trong 4 tuần, khoảng một thời
một giờ mười lăm phút mỗi ngày (phân chia giữa những phần
khác nhau của bài tập tùy theo sự thích hợp nhất của bạn).
Nếu
bạn cảm thấy bị xáo động trong khi thiền định, hãy thư
giãn một chút bằng hơi thở, rồi lại tiếp tục tiến trình
bình thường của thời khóa. Nếu một ngày nào bạn không
yên và rất bị kích động, chớ gượng ép giữ mình cho đến
cuối thời thiền. Tốt hơn là làm nhiều thời ngắn (dù chỉ
năm phút), có những khoảng nghỉ ngơi ở giữa. Hãy tỏ ra
mềm dẻo uyển chuyển, tùy theo những giới hạn của bạn
lúc đó.
Bình
luận
Thực
tập cho phép chúng ta ý thức cái gì cực kỳ quan trọng :
khi người ta tự giới hạn vào hình tướng bình thường của
những người bạn và của chính mình, những hình tướng đó
gợi ra cho chúng ta tham muốn và bám luyến – những tình cảm
gieo rắc nhiều chất độc khác trong đường đi của chúng
(tham lam, ghen ghét, thù hận, si mê...) Ngược lại, khi người
ta – cả hai bên – có những tính chất của một vị Phật,
thì sự bám luyến còn có thể ở chỗ nào ? Tình yêu chiếm
hữu nhường chỗ cho sự kính trọng và chính sự kính trọng
này nảy sanh ra khả năng giúp đỡ thực sự những người
khác. Cái gây ra trục trặc nơi chúng ta là ý tưởng người
ta tự tạo về mình và về bạn mình, vì nó khơi động trong
chúng ta mọi loại chờ mong và hy vọng, với đủ loại vấn
đề và khổ tâm thất vọng bao gồm trong đó. Nếu người
ta tiến đến chỗ xem mọi chúng sanh là những vị Phật, thái
độ của chúng ta đối với họ sẽ thay đổi tự bản chất
: người ta không chờ đợi gì nữa ở họ, và người ta thôi
ngạo mạn chiếm lấy cho mình quyền phê phán những hành động
của họ chẳng hạn. Người ta sẽ lợi lạc nhiều khi làm
đi làm lại thực tập này, nó có thể giúp tâm thức dần
dần hiểu ra bản tánh thật sự của nó.
Câu
hỏi : Có tốt hơn khi chọn lấy một người cho mọi ngày,
và người ta có thể chọn một kẻ thù thay chỗ một người
bạn ?
Trả
lời : Nếu bạn muốn dùng thực tập này để giải
quyết một vấn đề đặc biệt, bạn có thể lấy một nhân
vật đối với bạn hiện thân cho những khó khăn này trong
suốt thời gian. Nhưng nếu bạn chỉ tìm cách hiểu biết vị
Phật hiện diện trong mỗi chúng ta, bấy giờ bạn có thể
thay đổi nhân vật mỗi ngày.
Câu
hỏi : Tại sao kiêu hãnh được xem như một cái gì tiêu cực,
trong khi một xã hội như chúng ta đang sống đây, nó thường
giúp người ta tự vượt chính mình và như vậy làm gương
cho những người khác ?
Trả
lời : Nếu bạn có cảm tưởng kiêu hãnh nhiều, có
lẽ tốt khi thử thay thế sự kiêu hãnh bình thường này bằng
sự kiêu hãnh chính đáng mà người ta vừa nói. Kiêu hãnh
với chúng ta có vẻ ích lợi lúc đầu, nhưng nó sẽ không
như thế về lâu về dài, bởi vì nó chất nặng bản ngã.
Hãy lấy ví dụ một người hãnh diện về gia đình mình và
tự nhủ : “Tôi quả là có một gia đình hết mức.” Điều
đó rõ ràng không có gì tai hại, xấu xa trong nó, nhưng chính
là qua mọi thứ lưu xuất ra từ đó mà những sự việc sẽ
hư hại... Nếu hân thưởng cái người ta có là tốt đẹp,
thì không cần thiết cũng không ích lợi khi quan niệm ra sự
kiêu hãnh về điều đó.
Câu
hỏi : Tôi phải làm gì nếu người bạn tôi dùng cho sự quán
tưởng chuyển hóa thành một người khác ở giữa thời thiền
? Tôi cứ để vậy hay cố gắng trở lại nhân vật ban đầu
?
Trả
lời : Lúc khởi đầu, tốt hơn là thử trở lại với
nhân vật ban đầu để học làm chủ phần nào sự quán tưởng,
nhưng nếu người ta đã đủ kinh nghiệm, điều đó không
bắt buộc.
Câu
hỏi : Với tư cách là tín đồ Thiên Chúa giáo, tôi không
muốn dùng những biểu tượng đặc biệt của Phật giáo.
Vậy là tôi dùng khối cầu ánh sáng và điều đó diễn tiến
tốt. Bây giờ chỉ có điều tôi hơi khó khăn khi tưởng tượng
ra toàn bộ nhân cách của tôi và của người bạn tôi trong
hình thức hai khối cầu ánh sáng “đối mặt nhau”. Ngài
có điều gì gợi ý cho tôi ?
Trả
lời : Khi người ta nói đến Phật, phần nhiều người
ta nghĩ đến nhân vật lịch sử sống ở Ấn Độ cách đây
2500 năm, giống như phần đông tín đồ Thiên Chúa giáo nghĩ
đến đức Jesus Christ xứ Nazareth khi người ta đề cập đến
những phẩm tính của Christ. Ở đây người ta đặt mình trong
trạng thái thức tỉnh, giác ngộ của tâm thức và danh từ
Phật tượng trưng toàn bộ những phẩm tính nội tại của
trạng thái này, hơn là một nhân vật lịch sử nhất định.
Bạn cũng có thể gọi cái đó là Christ, không quan trọng đâu
; những phẩm tính là như nhau, chỉ có sự gọi tên là khác
biệt.
Câu
hỏi : Làm sao phản ứng lại cái phần “tôi” không ngừng
lập lại với tôi rằng tôi chẳng có chút dấu vết gì của
lòng bi, mà tôi thật khó cảm nhận và rằng mọi cái ấy
chỉ là giả hiệu, giả vờ ?
Trả
lời : Tôi nghĩ rằng những thực tập này đúng là
dành cho sự khai triển lòng bi khi người ta không có nó và
sẽ hoàn toàn vô ích nếu bạn đã có nó...
Câu
hỏi : Khi người ta thấy ở một điểm nào đó những con
người có thể là tàn ác và hung dữ, có lẽ khắp nơi trên
thế giới, làm sao tin được rằng tất cả họ là những
vị Phật ?
Trả
lời : Tôi tin rằng trước hết phải tự tìm một động
cơ đúng đắn, rồi học điều phục tâm thức mình. Tiếp
theo, người ta một ngày nào sẽ đến chỗ nhận ra sự thanh
tịnh của bản tánh nền tảng của tất cả. Khi bạn đến
đó, có lẽ bạn sẽ có câu trả lời cho câu hỏi của bạn
và bạn sẽ biết làm gì lúc ấy.
(Lời
nói thêm của người dịch tiếng Việt : Một câu nói “kinh
điển” thường ở cửa miệng mọi người Phật tử chúng
ta là : “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh.” Nhưng làm
thế nào để trí huệ và đại bi hiển hiện ở đời, làm
thế nào để xã hội biến thành một cõi tịnh độ khi ý
niệm không biến thành hiện thực qua thực hành ? Bởi thế,
ít ra đây là một phương pháp để hiện thực hóa lý tưởng
của mọi người chúng ta.)
Bài
Thực Tập số 10
TRIỂN
NỞ / THU RÚT
Thực
tập này bày tỏ cái tri giác mà người ta có về thân thể
mình và về thực tại vật lý của nó ảnh hưởng đến những
trạng thái tâm thức chúng ta như thế nào. Chắc chắn bạn
đã nhận thấy rằng người ta có khuynh hướng bị bất hạnh
và suy sụp khi đau ở một chỗ nào đó, và tính khí tươi
tốt và thư giãn khi cảm thấy tốt đẹp “trong da mình”
– nói theo nghĩa đen. Ngoài ra, ý thức hay không, mỗi người
tự tạo cho mình một số ý tưởng nào đó về thân thể
mình ; những ý tưởng đôi khi quá neo chặt và cứng cỏi
đến độ chúng ngăn chúng ta tiến hóa và lấy của chúng
ta sự tự do. Thực tập phát huy triển nở và thu rút sẽ
giúp chúng ta phá vỡ cái xiềng cổ là những ý tưởng chấp
chặt này, đặc biệt đối với những ý tưởng về “thân”
hay về “tâm” ; nó sẽ góp phần giải thoát chúng ta khỏi
những bó buộc mà bản năng “lãnh thổ” áp bức chúng ta.
Hãy
tiếp cận sự thiền định này với thận trọng, vì nó có
thể gây ra những phản ứng sợ hãi. Nếu bạn cảm thấy
trong bạn sự căng thẳng hay sợ hãi, hãy dừng lại, thư giãn
và làm một trong những thư giãn lúc đầu. Chỉ làm lại thực
tập khi bạn cảm thấy lại sự thoải mái, thư giãn. Nếu
cần, thậm chí hãy dừng thực tập hoàn toàn trong một hay
hai ngày. Nếu sự sợ hãi mà bạn cảm thấy liên quan với
một điểm xác định của thân thể bạn, hãy thư giãn một
ít và hãy tưởng tượng rằng chỗ ấy hoàn toàn trong suốt.
Tiếp theo, bạn hãy tự hỏi sợ hãi ở đâu và ai sợ hãi,
và suy nghĩ về điều đó một lát.
Mô
tả thực tập
1.
Phần một : triển nở (30 phút)
Hãy
tưởng tượng đức Phật, hay khối cầu sáng rỡ có cùng
những phẩm tính, ở trung tâm thân thể bạn. Điều này để
bạn bảo đảm không sợ : trong tư cách Phật, bạn chẳng
có gì để sợ hay để mất, dù cái gì xảy ra với thân thể
bạn. Hãy thở đều đặn và khi thở ra hãy tưởng tượng
bạn nở lớn thân thể bạn ra, vỏ bọc ngoài thân càng lúc
càng lớn ra (như một trái banh bơm hơi) ; hình thể thân bạn
vẫn như vậy, nhưng kích thước tăng dần. Làm như vậy cả
thảy ba hay bốn hơi thở ra, nhịp điệu hơi thở của bạn
tự nhiên và thoải mái. Nếu bạn khó chịu hay cảm thấy
căng thẳng ở đâu, hãy tập trung trên điểm đó và lấy
nó như trung tâm của tiến trình triển nở. Hãy tưởng tượng
mỗi hơi thở ra làm cho sự đau đớn ra khỏi thân thể bạn
và vỏ bao thân thể càng lúc càng tinh tế. Ở yên trong ý
thức về những phẩm tính của Phật – hiểu biết thanh tịnh
và lòng bi vũ trụ – trong khi tiếp tục sự triển nở cho
đến lúc thân thể bạn đạt đến kích cỡ một cái nhà.
Vào lúc đó, hãy làm biến mất hình dáng bình thường của
thân thể bạn – trở thành không hình thể – và tiếp tục
lớn lên với một thân thể không hình dáng.
Hãy
tiếp tục triển nở : da của thân thể bạn càng lúc càng
mỏng (như khi bơm một trái bóng cao su) và càng lúc càng kém
đặc ở bên trong. Hãy theo cho đến khi bạn đạt đến tầm
cỡ một trái núi. Thân thể bạn bây giờ hầu như không hiện
hữu, chỉ còn là một cái bóng sương mù mơ hồ. Hãy tiếp
tục lớn trong bầu trời cho đến lúc không còn dấu vết
gì của thân thể bạn, như nó hoàn toàn biến mất trong không
gian.
Nếu
bạn cảm thấy một nỗi sợ hãi nào đó, hãy nhớ rằng bạn
có những phẩm tính của một vị Phật và không gì có thể
xảy đến với bạn. Để chấm dứt, hãy tưởng tượng bạn
trong cảm giác hiện hữu mà không có thân thể, và để cho
biến mất mọi ý niệm về một bản ngã.
Phần
một này kéo dài nửa giờ, là một nửa của bài thực tập.
2.
Phần hai : thu rút (30 phút)
Phần
hai này là cái ngược lại của phần trước. Hãy thở đều
đặn, trong khi hoàn toàn tỏ biết trong tâm rằng bạn là một
vị Phật. Sau ba hay bốn hơi thở vào, hãy tưởng tượng rằng
thân thể bạn nhỏ dần lại. Chớ quan tâm về hình dáng thân
thể như thế nào, hãy chỉ tiếp tục làm nó thu nhỏ cho đến
lúc chấm dứt bằng cách tan biến hoàn toàn vào đức Phật
– hay khối cầu ánh sáng rực rỡ ở trung tâm bản thể bạn.
Bấy giờ hãy nghĩ rằng bạn chỉ còn là một với đức Phật
hay khối cầu ánh sáng ; không còn nữa “cái tôi”, chỉ
còn sự biểu lộ của những phẩm tính chúng là tinh túy của
bản tánh của bạn.
Tập
trung vào hơi thở vào, hãy tiếp tục làm nhỏ đức Phật
– khối cầu – mà “bạn” đã trở thành, cho đến khi
nó còn kích cỡ một hạt. Hạt trở nên trong suốt và không
màu sắc, nó biến mất dần dần và cuối cùng hoàn toàn biến
mất.
•
Hãy
thực hành thực tập này trong ba tuần, khoảng một thời
một giờ mỗi ngày, chia làm hai phần bằng nhau (30 phút triển
nở và 30 phút thu rút).
Câu
hỏi : Có cần tiếp tục cảm nhận sự tiếp xúc với chỗ
ngồi hay với mặt đất khi thân thể lớn và rộng ra trong
giai đoạn triển nở không ?
Trả
lời : Tuyệt đối không cần thiết cảm thấy bị dính
với chỗ ngồi hay với mặt đất. Quả thật, người ta tìm
cách vượt khỏi sợ hãi và lo ngại thường cảm thấy trước
ý nghĩ tan biến vào một cái gì khác. Thế nghĩa là, nếu
điều đó làm bạn bối rối khi tháo hết những dây buộc,
bạn có thể duy trì cảm tưởng có một sự tiếp xúc với
mặt đất, điều đó sẽ không ngăn cản bạn đôi khi có
cảm tưởng bập bềnh nhẹ nhàng trên mặt đất.
Câu
hỏi : Phải làm gì nếu người ta khó khăn nhiều khi quán
tưởng triển nở hơn thu rút, nếu người ta không thật sự
đi vào tiến trình đó được ?
Trả
lời : Điều đó có thể làm rắc rối cho công việc
của bạn một chút. Trong trường hợp đó, chớ có bắt ép
; hãy làm vài thực tập thư giãn trước khi làm lại quán
tưởng.
Câu
hỏi : Kích thước của Phật trong trung tâm tim có tăng trưởng
song hành với thân thể không, hay nó giữ nguyên ?
Trả
lời : Phật không phải là một đối tượng vật chất
ở giữa thân thể bạn, như một tượng đồng. Trái lại
bạn phải tưởng tượng rằng nó càng lúc càng trở nên trong
suốt (và ít bản chất), lần lần chính bạn trở thành nó.
Nghĩa là kích thước của nó không thật sự quan trọng.
(Lời
nói thêm của dịch giả tiếng Việt : Là chúng sanh vô
minh như chúng ta, ai cũng cho là toàn thể bản thể mình là
thân xác, và từ đó, sướng khổ, nổi trôi, sống chết cũng
là từ cái chấp thân này. Nhưng ít ai biết rằng ý thức
về thân xác của chúng ta chỉ là một “quán tưởng” phiến
diện và sai lầm của của tâm thức vô minh. Bởi thế sự
quán tưởng triển nở và thu rút này sẽ phá vỡ sự quán
tưởng sai lầm thông thường về thân thể, phá bỏ chấp
thân, và mở ra không gian bao la của giải thoát...)
Bài
Thực Tập số 11
KẺ
THÙ
Thực
tập này nằm trong cùng viễn cảnh với những cái trước
khi nhằm làm cho chúng ta học đối mặt tốt hơn với những
sự việc của cuộc đời. Chúng ta sắp thử hiểu tại sao
chúng ta lại thường suy nghĩ, nói năng và làm những việc
vô ích, hầu như là có hại – cho chính mình và cho những
người khác. Và người ta phải đến chỗ đối mặt với
ác cảm và hận thù.
Bài
tập này đặt chúng ta đối diện với ác cảm hay thù hận
mà đôi khi người ta cảm thấy, do đủ mọi lý do. Ngay cả
khi bạn nghĩ là không có kẻ thù không đội trời chung và
thực thụ, bạn cũng có thể làm thực tập bởi vì có những
phạm trù kẻ thù khác nhau và những cấp độ ác cảm khác
nhau. Ở đây, người ta phân biệt làm ba thứ, theo định nghĩa
:
1.
Một ác cảm căn cứ trên sự ghét bỏ cá nhân : điều này
có thể từ một loại tức giận nhỏ, như khi có ai làm bạn
khó chịu buồn phiền, cho đến một hình thức cực độ,
như khi người ta cảm thấy một cơn giận dữ và thù ghét
có thể đưa tới sự giết hại.
2.
Một ác cảm do một trái nghịch mà người khác mang đến
cho bạn, chẳng hạn không ngừng nói lại mọi chuyện bạn
đã làm.
3.
Một ác cảm từ một gắn bó quá độ : nếu có ai quá gắn
bó với bạn, nó không ngừng lo toan đến những việc bạn
làm và “tình yêu” chiếm hữu này trở thành một tù ngục.
Vậy là bạn ghét người đó, kẻ làm hư hại tự do của
bạn và xem bạn là con tin tinh thần.
Mô
tả thực tập
Bạn
sắp quan tâm đến vẻ bề ngoài thân thể và những tình cảm
của “kẻ thù” của bạn hơn là cái người ấy có thể
nói hay làm.
Bạn
hãy chọn một “kẻ thù” nằm trong một phạm trù vừa kể
ở trên, dù mức độ ác cảm với nó ở mức độ ra sao.
Hãy
tưởng tượng rằng người ấy đang ngồi trước mặt bạn
và các bạn sắp trao đổi những nhân cách của các bạn với
nhau, nhưng mỗi người vẫn giữ vẻ bề ngoài bình thường
của mình. Như đối với những thực tập ở trước, sự
trao đổi được phối hợp với những “pha” thở. Khi thở
vào, bạn dần dần thu hút người kia vào bạn, nghĩ rằng
bạn đem dần dần vào bạn tất cả cái gì làm nên người
kia : những tình cảm, cảm giác, tư tưởng, lo toan, sợ hãi,
hy vọng, những bộ phận bên trong... của nó. Không cần làm
điều đó trong mỗi hơi thở vào : hãy tìm một nhịp độ
hòa hợp với sự thở bình thường tự nhiên của bạn. Chú
ý vào hơi thở ra, qua đó bạn tưởng tượng rằng bạn để
cho ra khỏi bạn tất cả những cái gì định nghĩa thành con
người bạn và những cái đó sẽ làm đầy thân thể kẻ
thù của bạn. Dần dần bạn tiến tới trong thực tập này,
hãy cảm thấy rằng bạn tự làm trống chính bạn và đem
bạn làm đầy kẻ thù, trong khi cái ngược lại xảy ra cho
nó.
Hãy
tiếp tục cho đến khi bạn hoàn thành sự trao đổi hai nhân
cách và cái bên trong của các bạn, chỉ có bề ngoài tương
ứng là không thay đổi.
Khi
sự trao đổi đã xong, hãy dành một chốc lát để suy nghĩ
: Cái giận ở đâu ? Sự thù hận, sợ hãi, sự quỵ lụy
gắn bó ở đâu ? Đâu là nguyên nhân của mối ác cảm ? Hãy
tự hỏi : “Bây giờ tôi ở chỗ của kẻ thù và nó ở chỗ
của tôi, vậy nguồn gốc mối ác cảm nằm ở đâu ?”
Cuối
lúc suy nghĩ như vậy, hãy lấy lại vẻ bề ngoài thân thể
của bạn, những tình cảm và tất cả những cái gì định
hình nên bạn, nhưng vẫn giữ trong bạn cái mà bạn đã tri
giác về người kia khi bạn ở “trong da hắn”.
Hãy
chấm dứt bằng thực tập thư giãn, hãy để những tư tưởng
và tình cảm của bạn đến và đi theo ý chúng. Hãy để tâm
thức tự thư giãn và bình lặng và quan sát cái gì xảy ra.
Với
thực tập này, người ta thực sự trở vào trong cái sống
động của chủ đề ; người ta đi thẳng vào trái tim của
mọi vấn đề của mình. Điều đó đôi khi khó nhọc, nhưng
hãy có can đảm, điều đó xứng đáng với sự khó nhọc...
•
Hãy
thực hành thực tập này trong bốn tuần, khoảng một thời
một giờ hai mươi phút mỗi ngày, mười phút sau cùng dành
cho sự thư giãn.
Tốt
hơn là chớ thay đổi nhiều nhân vật cho thực tập này, và
duy trì một người hay một ít người.
Câu
hỏi : Tôi rất hiểu rằng thực tập này để làm tôi thay
đổi tính khí hơn là thay đổi những người khác, nhưng tôi
không thể tự ngăn mình khỏi nghĩ rằng, bởi vì tôi phải
khó khăn để tiến hóa, thì những người khác có lẽ cũng
như vậy. Đây có phải là một giải thích sai lầm không ?
Trả
lời : Thực tập này không phải có mục đích làm thay
đổi những người khác. Dù những người khác có cải thiện,
mục tiêu của chúng ta phải là ở chỗ tự làm cho mình tiến
bộ.
Câu
hỏi : Ngài có vẻ muốn nói rằng người ta có thể đồng
hóa trạng thái yêu đương với một loại ác cảm. Điều
ấy có phải nói rằng tốt hơn là nên co gối lên cổ khi
người ta cảm thấy bị hấp dẫn mạnh mẽ bởi một người
nào, hay người ta có thể tịnh hóa tình yêu nằm trong sự
hấp dẫn mà người ta cảm thấy đối với người khác, để
biến tình cảm này thành cái gì hữu ích và lợi lạc ?
Trả
lời : Nếu bạn có thể thương yêu mà không bám luyến,
hay bạn thành công khi vượt qua sự bám luyến ban đầu, bấy
giờ tình yêu có thể là rất, rất hữu ích và lợi lạc.
Nhưng ngay khi người ta bám luyến vào người yêu, thậm ý
vào ý tưởng tình yêu, thì tình yêu này này ô uế bởi bản
ngã và dễ dàng biến thành “chua”. Chính bởi vì sự bám
luyến kéo theo trên đường đi của nó tính sở hữu, ghen
tuông và mong chờ – tất cả những thứ làm nhiễm độc
cuộc đời chúng ta... Ở đâu có bám luyến, tình yêu mất
đi sự thanh khiết của nó.
Câu
hỏi : Khi tôi làm thực tập này, tôi có cảm tưởng rằng
ai đó muốn làm điều xấu cho tôi đang tìm cách đi vào chiếm
đoạt con người tôi. Đây là một kinh nghiệm kinh khủng đến
độ phải nhiều ngày tôi mới lại cảm thấy mình an toàn
trong da thịt của tôi. Như vậy tôi có nên tiếp tục làm
thực tập không ?
Trả
lời : Nếu người ta có thể tiếp cận thực tập này
với ý định trong sạch lớn lao và một cảm thức tình thương
chân thật, thì ý tưởng người nào đó tìm cách sở hữu
bạn không có gì gây sợ hãi, mà ngược lại. Nhưng một người
mới bắt đầu sẽ có khó khăn để thấy sự việc dưới
góc độ như vậy. Hãy thử hiểu hơn nữa cái gì là “Phật
bên trong”, điều ấy sẽ giúp bạn. Và nếu bạn lại còn
sợ hãi khi làm thực tập, hãy cố gắng cảm thấy rõ ràng
Phật tánh hiện diện trong bạn, trước khi tiếp tục.
Câu
hỏi : Thực tập này đôi khi có một hiệu quả rất xáo trộn
với tôi ; tôi cảm thấy hoàn toàn đảo lộn, chìm ngập trong
những xúc cảm dữ dội và một sự cay đắng lớn lao. Có
nên tiếp tục và đối mặt với những tình cảm này hay ngừng
lại và làm một ít thư giãn ?
Trả
lời : Hai cách giải quyết đều có giá trị. Ban đầu,
có lẽ ích lợi khi làm một ít thư giãn, nhưng rồi luôn luôn
phải đến một lúc người ta bắt buộc phải nắm lấy cặp
sừng của con bò mộng. Rốt cuộc, phải đối mặt với những
khó khăn của mình và giải quyết chúng, dù điều đó rất
gian khổ.
NHẬN
LẤY TRÊN CHÍNH MÌNH SỰ KHỔ ĐAU
CỦA
NHỮNG NGƯỜI KHÁC
Nhập
đề tổng quát
Ba
thực tập tiếp theo nhằm phát triển và làm mạnh ý chí giúp
đỡ những người khác của chúng ta khi dần dần tiến xa
hơn trong sự dấn thân của chúng ta : người ta bắt đầu
bằng mong muốn nhận trên chính mình sự đau khổ của cha
mẹ và gia đình mình (số 12), rồi đến của bạn bè, thú
vật và của xứ sở (số 13), cho đến bao gồm sự đau khổ
của những kẻ thù (số 14). Để tìm thấy nơi mình lòng bi
cần thiết, người ta chấp nhận đối mặt với cái tiêu
cực hơn trong mình và tịnh hóa nó.
Một
khi ý tưởng về lòng bi thức dậy nơi mình, người ta sẽ
nỗ lực đưa nó vào thực hành bằng cách nghĩ rằng người
ta nhận trên chính mình những đau khổ của những người
khác. Vì rõ ràng trong lúc này chỉ cần một nguyện ước
chân thành – mà người ta rất khó thực hiện – người
ta sắp lại tự tưởng tượng mình trong hình thức một vị
Phật, như là sự biểu lộ ra bên ngoài của hiểu biết thanh
tịnh và lòng bi vũ trụ. Những thu hoạch về những thiền
định trước kia của bạn sẽ ích lợi cho bạn, không chỉ
bởi vì bạn đã có thói quen quán tưởng mình trong hình thức
một vị Phật – hay khối cầu ánh sáng – mà cũng bởi vì
bạn đã học cách cảm nhận những phẩm tính bên trong mà
sự việc đó thừa nhận và những âm vang sâu xa mà sự việc
ấy gây ra trong bạn. Bây giờ bạn có thể cảm thấy dễ
dàng thoải mái và có một bảo đảm nào đó khi bạn tự
nhủ “Tôi là một vị Phật.” Người ta sẽ không đề cập
đến khối cầu ánh sáng nữa trong những quán tưởng tiếp
theo đây, bởi vì người ta nghĩ rằng ý nghĩa của Phật với
tư cách là biểu tượng và biểu lộ ra bên ngoài của những
phẩm tính của tâm thức giác ngộ đang hiện diện trọn vẹn
rõ ràng đối với tất cả chúng ta – điều này không ngăn
cản bạn tiếp tục dùng nó cho những quán tưởng, nếu bạn
thích. Dầu sự chọn lựa của bạn là cái gì, chính yếu
là thấm nhuần sự xác tín và cảm thức rằng người ta thực
sự là một vị Phật – theo nghĩa chúng ta đã xác định
– khi người ta làm những quán tưởng này. Nếu bạn còn
chưa có thể cảm thấy một xác tín như vậy, hãy nhảy qua
bộ ba thực tập này và thẳng đến “Khối Cầu Cầu Vồng”
(số 15).
Bài
Thực Tập số 12
NHẬN
LẤY TRÊN CHÍNH MÌNH
SỰ
KHỔ ĐAU CỦA CHA MẸ
VÀ
CỦA GIA ĐÌNH MÌNH
Đã
học nhìn thấy những người khác và tự thấy mình trong hình
thức một vị Phật, người ta bắt đầu hiểu tốt hơn một
chút cái tinh túy thanh tịnh, tiềm năng của toàn thiện hiện
diện trong tâm thức của mỗi người – “bản tánh Phật”
của chúng ta. Người ta thoáng thấy một thực tại cho đến
lúc đó chưa từng nghĩ ra : mọi cái đều tham dự vào cái
tinh túy này – mọi kinh nghiệm thân xác, lời nói hay tâm
thức của chúng ta cũng như của những người khác. Khi người
ta hiểu ra tất cả chúng ta liên hệ mật thiết với nhau tới
mức độ nào, ý muốn giúp đỡ những người khác nảy sanh
hoàn toàn tự nhiên, và người ta chuẩn bị học nhận lấy
trên chính mình sự khổ đau của những người khác, bắt
đầu từ những người gần gũi với chúng ta.
Mô
tả thực tập
Hãy
tự lập lại : “Tôi là một vị Phật”, và
khi hoàn toàn thấm nhuần xác tín này, hãy quán tưởng bạn
trong hình tướng ấy, sáng rỡ và không thể sờ nắm. Hãy
tưởng tượng trước mặt bạn là cha bạn, mẹ bạn và những
thành viên gần gũi của gia đình bạn, dù đã chết hay đang
sống. Hãy lần lượt nghĩ đến từng người, và cố gắng
thấy biết sự khổ đau riêng biệt của mỗi người trong
họ : chẳng hạn một bà mẹ khổ đau vì quá bám luyến với
chồng mình, một người cha bị tiêu hoại bởi tham vọng quá
mức của mình, hay một người anh có trở ngại về mặt thân
thể. Hãy làm một bản kê khai chính xác trong óc về mỗi
khổ nhọc hay khổ đau này, rồi hãy chọn lấy một cái sẽ
là đối tượng chính yếu cho sự thiền định của bạn,
trong thiền định đó bạn sẽ thử nhận lấy trên bạn sự
đau khổ riêng biệt này của một thành viên gia đình.
Vậy
hãy tập trung vào người ấy và vào sự đau khổ đã chọn
cho buổi thiền định và tưởng tượng rằng tất cả sự
đau khổ đó – thân hay tâm – ra khỏi người đó dưới
dạng một loại bùn đen, nhầy quánh, nặng nề và dày đặc,
hơi giống dầu hắc – hầu như cứng và có vẻ rất độc
hại. Khi thở vào – không cưỡng ép mỗi hơi thở, hãy tìm
nhịp điệu thích hợp với bạn vào lúc đó – bạn làm cho
bùn đen của người bạn muốn nhận khổ đau đi ra khỏi người
ấy và hút vào thân thể Phật của bạn. Chất lỏng màu đen
đi vào trong trái tim Phật của bạn, nơi đó nó cháy lên,
dùng làm nhiên liệu cho ngọn lửa của lòng bi và làm sống
động ngọn lửa của sự thấu hiểu của bạn về tiềm năng
toàn thiện hiện diện trong mỗi chúng ta – tinh túy của Phật,
Phật tánh.
Đồng
thời, trên những hơi thở ra của bạn – theo nhịp độ thích
hợp với bạn – hãy tưởng tượng rằng bạn gởi đến
người ấy tất cả sự tốt đẹp, tất cả đức hạnh và
tất cả hạnh phúc có thể có, trong hình thức một ánh sáng
trắng và thanh tịnh như pha lê thoát ra từ trái tim Phật của
bạn và thâm nhập toàn bộ thân thể của người kia, giải
thoát nó tức thời khỏi những đau khổ của nó và khỏi
những gì là nguyên nhân của khổ đau đó.
Vậy
là bạn tạo ra một chuyển động đến và đi, qua đó bạn
rút vào sự khổ đau trong hình thức một chất lỏng màu đen
và thay thế bằng ánh sáng trắng thanh tịnh của sự tốt
đẹp và hạnh phúc.
Bạn
hãy tập trung thỉnh thoảng trên hình ảnh của người bạn
muốn giúp đỡ bằng cách quán tưởng người đó trở lại
rất rõ ràng, và nghĩ trở lại sự khổ đau mà bạn đang
muốn làm nhẹ nơi người đó. Hãy thường làm điều này
khi bạn thấy cần.
Dần
dần khi bạn tiến bộ trong thực tập, chất lỏng đen sẽ
sáng sủa ra và chảy lỏng hơn, tương ứng với sự loại
trừ dần dần khổ đau. Sau một thời gian – khoảng nửa
giờ – chính cùng một ánh sáng trắng và trong trẻo chuyển
động lưu thông giữa bạn và người kia, trên hơi thở vào
và hơi thở ra (một lần ba hay bốn chu kỳ thở là đủ, tùy
theo bạn tìm thấy nhịp điệu của mình). Hãy nghĩ rằng thành
viên này của gia đình bạn là đối tượng cho sự thiền
định của bạn giờ đây hoàn toàn thoát khỏi những khổ
đau của nó và nó cũng trở thành một vị Phật như bạn.
•
Lưu
ý quan trọng : bạn chớ sợ ngã bệnh hay bị chìm ngập
khổ đau này khi nhận nó trên chính bạn, bởi vì bạn không
ở trong hình thức bình thường của bạn nữa : bạn là Phật
trong thời gian bạn làm thực tập này và không có cái xấu
nào có thể chạm đến bạn.
•
Hãy
thực hành thiền định này trong hai tuần (hay hơn, nếu
bạn muốn tập trung trên nhiều người khác nhau), khoảng một
giờ mười lăm phút mỗi ngày. Hãy chia xẻ thời gian của
bạn giữa những thành viên khác nhau của gia đình bạn và
để vài ngày cho mỗi người trong họ.
Bài
Thực Tập số 13
NHẬN
LẤY TRÊN CHÍNH MÌNH
SỰ
KHỔ ĐAU CỦA BẠN BÈ, THÚ VẬT VÀ CỦA XỨ SỞ BẠN
Trong
thực tập này, người ta tập trung trên những khổ đau của
bạn bè, thú vật và xứ sở của mình. Dù cho mọi người
khổ đau, những khổ đau của những người khác không luôn
luôn rõ ràng, bởi vì chúng mang lấy những hình thức không
đập mạnh vào mắt. Có đủ loại khổ – vật chất, tình
cảm hay tinh thần – mà người ta phải học để nhận ra
nơi những người khác để có thể giúp họ thoát khỏi chúng.
Chẳng hạn, nếu người ta ý thức những hành hạ do bám luyến
gây ra, người ta có thể nhận lấy chúng trên chính mình cùng
lúc với nguyên nhân của chúng – sự tham muốn.
Mô
tả thực tập
1.
Thiền định
Bạn
hãy chọn lấy một người bạn trai hay gái, một con vật hay
một loài thú riêng biệt, một nhóm hay một hội đoàn mà
bạn thuộc vào, hay toàn bộ cộng đồng quốc gia. Hãy tưởng
tượng người bạn ấy, con thú vật ấy hay nhóm ấy trước
mặt bạn.
Sự
quán tưởng giống như trong thực tập trước : trên hơi thở
vào bạn nhận vào bạn sự khổ đau với hình dạng một chất
lỏng màu đen, và trên hơi thở ra bạn gởi trả lại ánh
sáng trắng của lòng bi. Ánh sáng này không chỉ làm nhẹ những
khổ đau hiện thời của người hay nhóm liên quan, mà còn
mang lại cho họ cái mà họ mong muốn nhất. Khi bạn thở ra,
hãy nghĩ rằng bạn đem cho họ tất cả cái gì có thể lấp
đầy những mong muốn của họ, bởi vì chính khi thỏa mãn
sự tham muốn làm cho họ khổ đau mà bạn có thể làm cho
họ nhẹ nhõm. Hãy tưởng tượng rằng ánh sáng trắng tự
động mặc lấy hình dạng của cái mà những người được
quán tưởng mong muốn nồng nhiệt nhất hay họ cảm thấy
cần thiết nhất – vật lý, tình cảm hay trí thức. Đến
độ họ cảm thấy được giải thoát khỏi bám luyến của
họ bởi vì tất cả tham muốn của họ đã được thỏa mãn.
Nếu
bạn hiểu rõ điều người đó mong muốn là gì, bạn có thể
quán tưởng đối tượng ấy, làm cho nó càng đẹp càng tốt.
Chẳng hạn bạn biết ai đó đang cháy bỏng vì muốn có một
cái nhà, hãy tưởng tượng cái nhà càng đẹp càng tốt và
biếu nó cho người ấy qua trung gian ánh sáng mà bạn gởi
đến khi thở ra.
Khi
bạn có cảm tưởng đã hoàn toàn đáp ứng những tham muốn
của người hay nhóm người bạn quán tưởng trước mặt,
và như thế đã bẻ gãy những sợi xiềng của tham luyến
và khổ đau đang ràng buộc họ, hãy tưởng tượng rằng những
người này cũng mang lấy hình tướng của một vị Phật.
2.
Hội nhập thiền định vào đời sống hàng ngày
Thiền
định không chỉ là giờ phút này khi dòng bình thường của
những sự việc trở thành trừu tượng trong lúc bạn ngồi
trên gối thiền hay trên ghế. Đó là một trạng thái tâm
thức, một phẩm tính chú tâm mà người ta học trau dồi suốt
cả ngày, ngay giữa lòng những hoạt động hàng ngày. Bạn
hãy lập lại thường xuyên trong ngày : “Tôi là một vị
Phật”, và làm sao xác tín này nuôi dưỡng và định hướng
mỗi tư tưởng, mỗi lời nói và mỗi hành động của bạn.
Hãy không ngừng khơi dậy ý định giúp đỡ những người
khác : người ta thấy đầy đủ những khổ đau chung quanh
ta mỗi ngày để khó có thể quên. Hãy duy trì một sự liên
tục của sự chú tâm cắm rễ trong mối bận tâm vị tha này
: bạn mong muốn nhận về nơi bạn sự khổ đau của những
người khác và thay thế vào đó sự mãn nguyện những tham
muốn của họ. Hãy gởi cho họ ánh sáng trắng của lòng đại
bi để bù đắp cho tham muốn của họ cũng thường như mỗi
khi ý nghĩ về họ đến với bạn.
Tôi
muốn xác định một điểm, để tránh mọi hiểm nguy mập
mờ ý nghĩa : khi tôi nói “Hãy nghĩ rằng bạn là một vị
Phật”, như thế không có nghĩa là tự cho mình là một vị
Phật, như những người khác tự cho mình là Napoléon hay Jean
d’Arc ; việc này không muốn nói hãy kêu lên điều đó trên
những mái nhà và quấy rầy mọi người bằng việc tuyên
bố mình là Phật – với lý do là một lama Tây Tạng đã
nói với bạn như vậy – và chờ đợi được trọng vọng
như thế ! Điều đó nghĩa là thấm nhuần một xác tín thuộc
về thực tại tối hậu của bản tánh chúng ta, để giúp
chúng ta khai triển tất cả tiềm năng của nó – cho sự tốt
đẹp vĩ đại nhất của những người khác và của chính
chúng ta. Một xác tín bạn sẽ giữ gìn nơi bạn, mà bạn
nuôi dưỡng và củng cố mỗi ngày và nó sẽ bồi bổ cho
bạn sức mạnh, ngày qua ngày.
Rõ
ràng có những lúc bạn cảm thấy hoàn toàn không có khả
năng nhận lấy sự khổ đau của những người khác và cho
họ tình thương và lòng bi của một vị Phật. Khi bạn muốn
gởi người đồng nghiệp đang làm việc với bạn đến cho
quỷ ma ở địa ngục, đôi khi bạn cảm thấy hoàn toàn mâu
thuẫn với chính bạn, bị giằng co giữa sự cao cả của
những lý tưởng tình thương vô điều kiện và thực tế
buồn rầu của những lời nói và hành động của bạn. Chưa
nói đến những gì xảy ra trong đầu bạn ! Nhưng chớ nản
lòng ! Chính trong những lúc như vậy mà phải nhớ rằng tiềm
năng của toàn thiện – Phật tánh – đang ở nơi mỗi chúng
ta vẫn hằng hằng thanh tịnh, dù những yếu đuối và sai
lầm của chúng ta. Không có gì có thể làm nhiễm ô nó và
nó vẫn giữ mọi phẩm tính của nó, như một miếng vàng
bị vùi dưới hàng tấn đất đá đổ vụn người ta tìm
lại được sau bao nhiêu năm nó biến mất. Hãy tin cậy vào
chính bạn và cũng tự nói rằng bản thân sự thanh tịnh của
mục tiêu của bạn là một sức mạnh có thể nâng đỡ bạn
qua mọi thăng trầm.
•
Hãy
thực hành thiền định này trong hai tuần, khoảng hai giờ
mười lăm phút mỗi ngày, dành hai hay ba ngày cho mỗi đối
tượng thiền định mà bạn đã chọn.
Bài
Thực Tập số 14
NHẬN
LẤY TRÊN CHÍNH MÌNH
SỰ
KHỔ ĐAU CỦA NHỮNG KẺ THÙ CỦA MÌNH
Để
cho thiền định này, người ta sẽ xem là có ba phạm trù kẻ
thù :
1.
Những kẻ thù ở xa : những người này nằm ở mức độ
quốc gia mà người ta thuộc về. Có thể có những quốc gia
khác lâm chiến với xứ sở của bạn hay áp bức xứ sở
bạn bằng cách này hay cách khác, cũng như có những yếu tố
hay lực lượng trừu tượng hơn như nạn đói hay hạn hán.
Những kẻ thù đó chỉ gây ra nơi chúng ta một ác cảm tương
đối giới hạn, trong mức độ chúng thường kém liên hệ
đến cá nhân, và do vậy ít khổ đau hơn.
2.
Những kẻ thù của cá nhân : là những người chúng ta không
ưa, do đủ loại lý do, nhưng không nằm trong những người
thân cận với chúng ta. Dù những tình cảm của chúng ta đã
rất nhiều độc ác hơn trường hợp trước, thì chúng vẫn
còn dễ kiểm soát hơn là đối với những người mật thiết.
3.
Những người mật thiết mà với họ người ta có những tương
quan rất khó khăn : những người bạn, những người thân
cận hay những người trong gia đình không thông hiểu nhau và
bạn ghét họ – thỉnh thoảng hay thường xuyên – hay họ
ghét bạn. Nếu bạn không có kẻ thù như vậy, hãy nghĩ đến
một con vật bạn rất khó chịu với sự hiện diện của
nó.
Mô
tả thực tập
1.
Chuẩn bị / tịnh hóa
Trước
khi thử nhận lấy trên chính mình sự khổ đau của những
kẻ thù, trước tiên phải thoát khỏi những độc làm ô nhiễm
tâm thức chúng ta, và nếu không có những độc ấy chúng
ta cũng không có những kẻ thù.
Hãy
tưởng tượng một vị Phật ánh sáng chói ngồi trước mặt
bạn. Hãy gợi lên kẻ thù bạn sắp thiền định và để
cho tất cả những tình cảm tiêu cực mà y gợi ra cho bạn
dâng lên trong bạn. Hãy cảm thấy tới điểm nào những cảm
xúc này đủ mạnh và làm bạn dao động, và hãy hình dung
chúng trong hình thức một đám khói màu đen dày ở trong thân
thể bạn.
Tiếp
theo hãy mở mình ra với sự thanh tịnh của Phật ở trước
bạn. Khi thở vào, hãy để cho bạn được thấm nhập bởi
những tia sáng chói ngời phát ra từ thân Phật, và khi thở
ra, hãy tưởng tượng rằng bạn tống ra khỏi thân thể bạn
đám khói đen dày – những xúc cảm bạo liệt ở trong bạn
– nó rút vào trong đất, khoảng một mét trước mặt bạn
và tan biến hoàn toàn ở đó.
Dần
dần khi thực tập tiến bộ, hãy cảm thấy ánh sáng chói
ngời thay thế lần khói đen, cho đến khi nó không còn nữa.
Bây giờ bạn cũng thanh tịnh như một vị Phật và như vậy
đã sẵn sàng nhận lấy trên bạn sự khổ đau của những
kẻ thù. Tin chắc điều này, bạn hãy đi qua giai đoạn tiếp
theo.
2.
Phần một : sẵn sàng đón nhận sự khổ đau mà những
kẻ thù gây ra cho bạn. Hút vào một đám mây các độc
Hãy
tưởng tượng tất cả những kẻ thù của bạn tụ tập trước
mặt bạn : những người chỉ ảnh hưởng đến bạn từ xa,
những người thân cận, những người mật thiết, những người
trong gia đình – tất cả những người bạn ghét vì một
lý do nào đó.
Toàn
bộ những tình cảm tiêu cực mà những kẻ thù của bạn
có đối với bạn mang hình thức một đám mây đen tượng
trưng cho những độc của tâm thức (tham, sân, vô minh và mọi
chuyển thể của chúng). Chớ quên rằng bạn đang ngang mức
độ một vị Phật, thanh tịnh hoàn toàn nơi thân, ngữ, tâm,
và khi thở vào, hãy hấp thu dần dần đám mây đen này. Ngay
khi những bất tịnh tạo thành đám mây đi vào trong bạn,
chúng tự tiêu hủy và tự chuyển hóa : khi thở ra, bạn gởi
đến những kẻ thù một ánh sáng trắng và rạng rỡ của
sự thanh tịnh – ánh sáng của lòng bi.
Dần
dần khi thiền định tiến bộ, hãy cảm thấy sự ham muốn
của bạn giúp đỡ những người khác tiến hóa và phát triển
tăng thêm. Chớ tìm cách lẩn tránh những độc bạn đã rút
ra từ những kẻ thù gần và xa ; hãy nghĩ rằng bạn đón
nhận những khổ đau họ gây ra cho bạn và thay vì ghét họ,
bạn gởi cho họ tình thương và lòng bi của một vị Phật,
dưới hình thức ánh sáng trắng.
3.
Phần hai :
nhận lấy trên chính mình khổ đau của một kẻ thù
Như
phần một của thực tập, bạn được tịnh hóa, như một
vị Phật.
Hãy
nghĩ đến một người đích xác cụ thể bạn có những tương
quan khó khăn dầu lý do là gì – ghét, ghen, bất hòa, khinh
miệt – (không có một người như vậy, thì hãy gợi ra một
con vật bạn khó chịu), và tưởng tượng người ấy ở trước
mặt bạn.
Khi
đã cảm thấy sự hiện diện của người ấy hay con vật
ấy rõ ràng, tìm cách khám phá nguyên nhân chánh của những
khổ đau của nó – giận, tham, kiêu căng, ngu si, ghen ghét...
– và hãy tưởng tượng cái độc này trong hình thức một
đám khói đen dày thoát ra từ nó và bạn hấp thu vào khi thở
vô.
Như
trước, đám khói này được tịnh hóa nơi bạn bởi lòng
bi và khi bạn thở ra, bạn gởi nó đến người trước mặt
trong hình thức một ánh sáng trắng và thanh tịnh rạng rỡ.
Bạn cũng có thể tưởng tượng những màu khác, nhưng màu
trắng là chính yếu.
Bạn
càng gởi ánh sáng trắng khi thở ra, khói càng nhạt đi và
biến mất. Để chấm dứt chỉ còn ánh sáng trắng lưu chuyển
giữa bạn và người kia. Chính người ấy đã trở thành hoàn
toàn thanh tịnh, như một vị Phật, như bạn vậy. Từ nay
hai người có thể hiểu nhau và tôn trọng lẫn nhau.
Cuối
buổi thiền định, hãy để tâm thức bạn thư giãn và chìm
trong cảm giác không gian vô biên. Hãy an trụ ở đó lâu cho
đến khi nào bạn còn cảm thấy việc ấy là tự nhiên và
thoải mái.
•
Hãy
thực hành thiền định này trong bốn tuần, khoảng một
giờ rưỡi mỗi ngày. Hãy kết thúc mỗi thời thiền bằng
một khoảng thời gian thư giãn hoàn toàn của tâm thức.
Bài
Thực Tập số 15
KHỐI
CẦU CẦU VỒNG
Thật
dễ dàng để cho mình bị cuốn đi bởi bạo lực của một
số tình cảm và cảm xúc của mình, dù cho sau đó sự việc
này sẽ gây ra không ít vấn đề và khổ đau, như chắc chắn
bạn đã từng kinh nghiệm. Vậy thì người ta nên học nhận
biết những cơ chế xúc tình để có thể hiểu chúng và sau
đó kiểm soát chúng tốt hơn.
Đó
chính là mục tiêu của thực tập này mà từ ngữ chủ đạo
là hiểu. Chẳng hạn nếu người ta có một tính khí ghen tuông,
thì không phải tự nói với mình không nên có nó mà người
ta chữa lành khỏi nó. Hơn nữa phải biết rằng khi hành động
dưới sự thống trị của ghen tuông, người ta tự làm hại
mình và người khác trong khi tự cho là thương yêu và muốn
đem lại hạnh phúc ; người ta làm hư hỏng sự tự do của
mình và làm mất lý trí. Chính là hiểu sự ghen tuông làm
nhiễm độc cuộc đời ta đến mức độ nào mà người ta
muốn thoát khỏi nó. Và cũng như thế với những xúc cảm
khác làm rối loạn những ý nghĩ của chúng ta và xé rách
trái tim chúng ta, chưa nói đến những tàn phá mà những xúc
cảm đó gây ra quanh chúng ta.
Thực
tập này phân thành sáu phần, mỗi phần căn cứ trên sự
quán tưởng một ánh sáng màu sắc riêng biệt, trong suốt
và không thể sờ nắm, chứa đựng một năng lực chữa lành,
kể về cả thể xác và tinh thần (ví dụ, nếu người ta
đau đầu, hay chỗ nào khác, người ta có thể tưởng tượng
ánh sáng đến chiếu sáng chỗ đau đó và có sự nhẹ nhõm,
như một món thuốc).
Niềm
tin có một vai trò quan trọng ở đây : phải xem những ánh
sáng có màu sắc này như sự biểu lộ của tiềm năng chữa
lành của tâm thức ; cách chữa trị ung thư hiện đại cũng
sử dụng năng lực tự chữa lành này khi cho người bệnh
một số thực hành quán tưởng.
Người
ta càng quen quán tưởng những ánh sáng này, người ta càng
hết tự co rút và rút ra được sự lợi lạc từ đó. Nói
như thế có nghĩa đây không phải là một phương thuốc trị
bá bệnh và không phải vấn đề là chờ đợi một sự lành
bệnh kỳ diệu : bệnh tật cũng tham dự vào đời sống, và
đó là một hiện tượng phức tạp mà sự xuất hiện do rất
nhiều yếu tố. Tuy nhiên, nếu sự quán tưởng những ánh
sáng màu không chữa lành cho chúng ta tất cả bệnh tật đi
nữa, thì nó sẽ có thể giúp chúng ta sống tốt hơn. Như
chúng ta đã nhận xét, càng có sự tin tưởng vào năng lực
chữa bệnh của một phương thuốc bao nhiêu, thì nó có hiệu
quả lợi lạc bấy nhiêu trên người cầu cứu nó. Nếu người
ta không tin điều đó như vậy và người ta làm những thực
tập chỉ trên đầu môi, thì rõ ràng những thực tập có
một tác động rất nhỏ nơi chúng ta. Nhưng một điều chắc
chắn trong mọi trường hợp : việc ấy sẽ không gây cho bạn
một tai hại nào...
Như
đối với những thực tập trước, sự quán tưởng thì đồng
thời với hơi thở : ánh sáng thâm nhập vào thân thể với
hơi thở vào, trong khi những nhiễu loạn tình cảm (phiền
não) và sự khổ đau được tống xuất bởi hơi thở ra. Ánh
sáng luôn luôn hành động trên mọi cấp độ một lúc –
thể xác, lời nói và tâm thức – bởi vì ở cấp độ đó
mà những khó khăn của chúng ta tác động, và người ta có
thể tập trung ánh sáng trên những điểm đặc biệt làm chúng
ta đau đớn, về thể xác cũng như về tinh thần.
Chính
vì sự tiện lợi mà những xúc cảm khác nhau được đối
xử riêng