THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả
 
Mật TôngTây Tạng
 

 
.
NGHỆ THUẬT 
ĐỂ SỐNG TRỌN VẸN Ý NGHĨA CUỘC ĐỜI
Akong Tulku Rinpoche
Kagyu Samye Ling 1987, L’art de dresser le tigre intérieur Akong Rinpoche, 1991 Sand, Paris
Việt dịch: Nguyễn An Cư - Nhà xuất bản Thiện Tri Thức, 2001

PHẦN HAI
THỰC HÀNH NUÔI DẠY :
NHỮNG THỰC TẬP

DẪN VÀO NHỮNG THỰC TẬP

Hãy nhanh chóng một cách chậm chậm và bạn sẽ mau đến đích.
Milarepa

Trong phần một của cuốn sách này, người ta đã quen biết với con cọp bên trong và người ta đã hiểu sự cần thiết phải điều phục nó. Phần hai này gồm những công việc thực hành : một toàn bộ những bài thực tập có mục đích chỉ cho chúng ta làm sao chế ngự tâm thức mình và trau dồi lòng bi một cách thực tiễn trong đời sống hàng ngày, vì chính ở trong lòng đời sống hàng ngày mà việc đó phải được làm. Những trách nhiệm nghề nghiệp hay gia đình của chúng ta không phải là một chướng ngại ngăn cản chúng ta làm việc trên chính mình ; trái lại chúng là một mảnh đất tuyệt hảo, giàu vô số những cơ hội để học và để trưởng thành. Đó cũng là một chỗ kiểm nghiệm không bao giờ nói dối : thử thách của hàng ngày phát hiện nhanh chóng những yếu đuối và những thiếu sót của chúng ta và ngay sau đó người ta thấy cái cần phải tẩy xóa, làm lại hay làm vững chắc thêm. Không phải vuốt ve ý tưởng bỏ đi tất cả để ra đi tìm trí huệ : nó không ở đâu khác ngoài chính mình, ở nơi mà người ta đang ở. Bước đầu tiên tiến về sự trưởng thành có lẽ cốt ở không chối bỏ thực tại – của cái mà người ta là và của tình huống hiện tại – thay vì những giấc mộng mà chắc chắn người ta chẳng bao giờ thực hiện được và chúng chỉ là những bằng cớ của chủ nghĩa an nhàn bất động.

Tất cả chúng ta đều có một hành trang nào đó, từ khi sinh ra, đã học nhiều điều ích lợi, nhưng cũng mang lấy một số những thói quen xấu góp phần lớn vào những vấn đề và những khổ đau của chúng ta. Được nền giáo dục của chúng ta khuyến khích để phát triển bản ngã, người ta thường quen cho nó một ưu tiên luôn luôn, xem đấy là một chiều hướng tự nhiên. Người ta càng bị điều kiện hóa bởi những giá trị hiện đại bao nhiêu khi chúng thường ưu đãi chủ nghĩa cá nhân : sự quan trọng của quan niệm “nhân cách”, sự phá hủy gia đình và làm yếu sự liên đới cộng đồng, tuyên dương thành công vật chất và những lạc thú tiêu dùng với sự thành công đó.

Trong một thời gian đầu, sẽ ích lợi khi phân tích một ít những thói quen và sự bị quy định của mình để phân biệt cái gì cần giữ gìn và trau dồi và cái gì tốt hơn hết là nên bỏ. Đó sẽ là dịp để biết một số tính khí hiện thời của chúng ta thường là những thói quen xưa cũ, hay thậm chí những phản xạ gắn liền với chúng ta từ thời thơ ấu, mặc dầu chúng hoàn toàn không phù hợp với tình trạng tâm thức hiện thời của chúng ta nữa. Cũng giống như con bướm kéo theo sau nó những mảnh của con nhộng của mình.

Những bài thực tập sau sẽ cho chúng ta những phương tiện để đối mặt với mọi trường hợp của đời sống hàng ngày, một cách quân bình tốt nhất. Phải tìm ra một sự quân bình, một điều độ nào đó, để có thể nhận những sự vật như chúng đến, không tự chiến đấu để sửa sang chúng một cách thường trực bằng cách từ chối cái người ta không ưa và chỉ theo đuổi cái làm cho người ta thích. Chỉ sự kiện ngừng dứt cuộc chiến đấu vô bổ này sẽ cất nhẹ cho chúng ta khỏi một trọng lượng lớn lao của thất vọng và căng thẳng : luôn luôn khó khăn lắm khi chèo ngược dòng !

Thường người ta khổ đau vì họ phản ứng quá mạnh với điều đến với mình – vui hay buồn. Đây cũng thế, cần phải điều hòa để không để cho những biến cố tràn ngập : thế nên người ta học điều phục con cọp tâm thức để tìm thấy một sự ổn định bên trong và không hoàn toàn phụ thuộc vào sự thuận lợi của những hoàn cảnh bên ngoài nữa. Nếu ngày này qua ngày khác, người ta có can đảm giáp mặt với sự giận dữ hay khổ đau của mình trong những bài tập thiền định, cuối cùng người ta có thể đối mặt với chúng khi gặp chúng trong cuộc sống hàng ngày. Người ta dạy dần dần con cọp để không sợ lửa nữa, cho đến một ngày có thể nhảy qua một vòng lửa.

Những bài thực tập nhằm tạo ra một không gian, để hiểu rõ hơn cái gì đang xảy ra. Người ta tự cho mình một bước thụt lui đối với những biến cố và những khó khăn của đời mình. Như bài thực tập Quả Cầu Cầu Vồng (số 15), với những quán tưởng của nó về những ánh sáng màu sắc khác nhau, có thể cho chúng ta học đối mặt với những cảm xúc mãnh liệt chúng rất thường làm cho chúng ta hụt hẫng. Những bài thực tập về Người Bạn (số 7) và Kẻ Thù (số 11) giúp chúng ta tương đối hóa ý nghĩ người ta tạo ra về tình bạn và thù oán. Người chúng ta xem như một kẻ thù về lâu sau này có thể trở thành người bạn quý nhất, vì nó cho chúng ta cơ hội học sự nhẫn nhục và lòng bi. Ngược lại, những người chúng ta gọi là “bạn”, không phải luôn luôn nhất thiết làm điều tốt cho chúng ta : họ có thể thậm chí là một chướng ngại trầm trọng cho sự phát triển bên trong nếu chúng ta quá luyến chấp vào họ, hay nếu tình thương yêu của họ quá có tính sở hữu.

Những bài thực tập được đề nghị ở đây tạo thành một toàn bộ những kỹ thuật làm chủ tâm thức mà người ta có thể xem như một hình thức “trị liệu”. Đó là một trị liệu toàn thể (như đức Phật được tôn xưng là bậc Đại Y Vương – dịch giả) hơn là ý nghĩa của sự chữa trị hay đề phòng một bệnh trạng đặc biệt : một sự tái quân bình hay một sự tái giáo dục toàn diện. Dù người ta không bệnh theo nghĩa thường tình, người ta đã mất cảm thức bản năng của sự quân bình mà một số người thuộc tổ tiên xa xưa của chúng ta đã có. Khi làm cho cuộc đời chúng ta được dễ dàng, thuận tiện, văn minh đô thị cũng làm chúng ta mong manh dễ vỡ và xa cách những thực tại tự nhiên. Đến nỗi người ta bị bắt buộc học lại điều mà người ta không biết làm một cách tự phát nữa : học tôn trọng những nhịp điệu sinh học và môi trường tự nhiên mà chúng ta tùy thuộc vào, làm quân bình sự dinh dưỡng của chúng ta, tập thể dục để bù cho một cuộc sống quá ít hoạt động... Không đặc trưng sao khi thậm chí người ta cần phải học lại thở cho đúng, trong khi thở là một bản năng sinh lý sơ khai nhất nơi một con người ? Chính trong mức độ những bài thực tập đề nghị ở đây có thể giúp tự giáo dục lại để tìm lại sự quân bình của mình mà người ta có thể nói đến một sự “trị liệu” – một sự can thiệp có ý thức với mục đích tái lập những cơ chế tự nhiên của sự quân bình. Thật ra, có nhiều cái có một giá trị trị liệu, chỉ cần người ta biết nhận ra và khai thác nó đúng đắn : thực phẩm người ta ăn, y phục người ta mặc, cách bước đi và tư thế ngồi, những cử động, những màu sắc và âm thanh chung quanh – tất cả những cái đó có thể có tác dụng trị liệu đối với chúng ta, nghĩa là giúp chúng ta tìm thấy một sự quân bình tốt hơn, nhất là giữa thân và tâm. Phần đông chúng ta làm việc với cái đầu hơn là với thân thể, điều này chỉ làm nặng thêm khuynh hướng tự nhiên của chúng ta là trải nghiệm thế giới qua những tư tưởng hơn là qua cách trực tiếp và đơn giản hơn. Người ta ít có cố gắng thân xác và có khuynh hướng tạo tác lo âu hơn...

Dầu danh từ người ta gán cho những thực tập này là gì – “thiền định” hay “trị liệu” – trong mọi trường hợp chúng có thể giúp chúng ta tái lập cảm thức những quân bình tự nhiên, đấy chỉ là nhờ sự thư giãn cần thiết trong việc thực hành chúng. Sự buông xả là cần thiết cho mọi hình thức trị liệu hay thiền định ; khi người ta vừa có một cố gắng thể xác và người ta nghỉ một lát để uống một chút cà phê hay một tách trà, đó vừa là một chốc lát làm tươi mới lại vừa là thư giãn, điều đã hơi giống với một thực tập thiền định hay trị liệu, nếu người ta biết thư giãn tốt. Ngược lại, nếu người ta suốt ngày uống cà phê, thì không chỉ người ta không thư giãn mà còn căng thẳng và kích động hơn trước. Cũng thế, người ta sẽ không rút ra được gì hay từ những bài thực tập này nếu họ phóng mình vào trong đó mà hoàn toàn co rút và căng thẳng. Không phải một cái gì kỳ diệu làm cho bạn tức thời đi từ sự rối loạn qua một trạng thái ân sủng, nhưng những bài thực tập đòi hỏi một sự tập trung nào đó. Thế nên, khi cảm thấy căng thẳng, kích động, quan trọng là trước tiên tạo ra trong đầu khoảng không gian bằng cách thư giãn một ít trước khi bắt đầu những bài thực tập. Trong trường hợp đó, người ta có nhiều lợi lạc khi bắt đầu với một hoạt động thể xác nhẹ nhàng – một cuộc đi dạo, làm vườn, nấu ăn sơ sài – sau đó người ta cảm thấy bình an và thư giãn hơn, sẵn sàng làm việc với những “bắp thịt” tâm thức.

Những lời khuyên thực tiễn cho sự thực hiện những bài thực tập

Những bài thực tập được trình bày trong hình thức một chuỗi được yêu cầu đi theo thứ tự. Sự tiến hành những bài thực tập không phải được tổ chức theo lối tùy ý, nó là một tập sự tuần tự những khả năng tâm thức khác nhau. Vậy quan trọng là phải xem những thực tập này như một tổng thể và thực hành chúng lần lượt, theo một chương trình vạch sẵn. Không nên chờ đợi gì nhiều nếu người ta nhảy qua những bài thực tập người ta không thích, hay tập trung đặc biệt vào những bài thực tập người ta thích ý, hay bay chập chờn giữa nhiều cái. Đó là một toàn thể mà mỗi thành phần là cần thiết để bảo đảm sự liền lạc ổn cố và hiệu quả của tất cả. Nếu một lực sĩ chỉ làm việc với bụng và ngực, nó sẽ có một phần trên quá nở, đặt trên đôi chân cào cào, thay vì một thân thể hài hòa của một người trau dồi toàn thể những bắp thịt của nó một cách quân bình.

Hiển nhiên người ta nên thực hành những thực tập này càng đều đặn càng tốt, những lợi lạc tùy theo mức độ cố gắng mà họ đầu tư vào. Chúng ta hãy biết rằng nếu điều gì chúng ta giữ trong lòng, chúng ta luôn luôn tìm thấy phương tiện để làm điều đó : nếu những người làm việc suốt ngày từ chối sự êm ái của cái giường vào lúc bình minh để chạy bộ hay chơi quần vợt, chính là bởi vì họ tin rằng điều đó làm tốt đẹp cho họ, và họ sẵn sàng có cố gắng cần thiết để kiếm được lợi lạc phụ đó. Nếu người ta thấy rằng những thực tập có một xác đáng nào đó cho mình, người ta sẽ tìm ra thời gian để làm chúng, như những người chạy bộ buổi sáng sớm. Người ta càng đầu tư vào cái gì, người ta càng thành công trong cái đó. Điều đó muốn nói rằng, mọi thực hành đều ích lợi, dù nó có giới hạn thế nào, và dù người ta còn chưa có thể có một sự thường xuyên. Thậm chí, trong một thời gian đầu, người ta chỉ đọc những bài thực tập, người ta có thể có ý thích trở lại với chúng và thực hành chúng về sau, vào một lúc người ta thực sự cảm thấy chúng là nhu cầu.

Càng tiến trong chương trình những bài thực tập, có lẽ người ta sẽ có cảm tưởng rằng một số được thích hơn những cái khác, chuyện đó không có gì trầm trọng. Quan trọng là làm tất cả với hết lòng mình, cái này sau cái kia, mà không trú trong ý tưởng về một “kết quả”. Bạn chớ nản lòng khi gặp vài khó khăn và hãy đơn giản kiên trì trong sự thực hành của bạn. Ngược lại, nếu bạn đến một điểm mà bạn có cảm tưởng mình đang liên tục chiến đấu với chính mình, hay chiến đấu với bài thực tập đang đặt cho bạn những vấn đề nan giải, tốt hơn là ngưng lại và hãy tự cho mình một sự nghỉ mệt một hai ngày, trước khi làm lại. Thật vậy, người ta chẳng được gì khi cưỡng ép quá, vì việc đó chỉ làm mình thêm căng thẳng, trong khi trái lại, cần để tâm thức thư giãn tối đa. Trong thời gian nghỉ thực tập, chớ ngừng tất cả những thực hành mà hãy dùng ba cái đầu tiên, “Thư Giãn” (số 2), “Cảm Nhận” (số 3) và “Tự Mở Mình Ra” (số 4). Chúng sẽ giúp bạn thư giãn để trở lại với thực tập “khó” với tâm thức đã lại tươi mới.

Nếu bạn bị nhiều tư tưởng tấn công trong khi thực tập, chớ có lo âu. Ngay khi biết sự xao lãng của mình, bạn chỉ thư giãn, rồi tập trung trở lại vào đối tượng thiền định. Nếu như vậy không đủ, người ta cũng có thể nghỉ ngơi một chút hay làm những thực tập thư giãn, trước khi nắm lại sợi dây thực tập. Phải học cách nhận ra khi nào người ta sẽ quá cứng rắn hay trái lại quá dễ dãi, để giữ một mức độ trung dung.

Bạn sẽ nhận thấy có nhiều thực tập đặt nền trên một sự quán tưởng đức Phật. Không phải là Phật với tư cách là một nhân vật lịch sử và tôn giáo, mà với tư cách là biểu tượng chiến thắng của sự thanh tịnh nội tại của tâm thức – giác ngộ, thức tỉnh và tràn đầy lòng bi – đối với những nhiễm ô đã tạm thời che đậy sự thanh tịnh đó. Tuy nhiên, nếu biểu tượng này làm khó khăn bạn vì những lý do trí thức hay tôn giáo, để thay thế hãy tưởng tượng tinh túy của lòng bi vũ trụ, trong hình thức một quả cầu bằng ánh sáng thanh tịnh rực rỡ.

Những thực tập sau đây không có ý định cho bạn những năng lực siêu phàm, mà giúp bạn đối mặt với mọi trường hợp người ta phải đương đầu trong đời sống hàng ngày. Nếu bạn có cảm tưởng tiến bộ tốt hơn, nhất là trong việc giáp mặt những khó khăn của bạn, thì bạn đang ở trên con đường đúng. Thế nghĩa là, phải biết kiên nhẫn và không chờ đợi có tức khắc những kết quả ngoạn mục : người ta không thể xóa đi trong ngày một ngày hai những thói quen và những phản xạ ích kỷ có hàng bao nhiêu năm. Người ta sẽ tìm thấy một sự an ủi và khuyến khích nào đó khi tự nhớ lại rằng người ta không làm công việc này chỉ cho mình nó hay vì một kết quả tức thời, mà cũng cho tất cả những người khác, và với những lợi lạc bao la dài hạn, cho họ cũng như cho chúng ta.

Nếu mặc dù với một liều lượng cố gắng và kiên nhẫn đủ khá, người ta tiếp tục có nhiều khó khăn khi đối mặt với những sự việc hàng ngày, với trong mình hay xung quanh mình, người ta có thể tiếp xúc với tác giả (để tiếp xúc với tác giả về những bài thực tập, xem Phụ lục cuối sách) hay những người cộng tác với chương trình thực tập này. Người ta cũng có thể nhờ một vị thầy tâm linh giúp đỡ, hay tham dự một nhóm đã từng thực hành những bài tập này và họ có thể cho một sự nương dựa nào. Tuy nhiên, quan trọng là chớ lao ngay vào vòng tay của một “guru” đầu tiên vừa mới đến, và cần biết về giá trị của vị thầy hay của nhóm liên quan.

Khi chương trình những thực tập hoàn toàn chấm dứt, người ta có thể dùng theo ý muốn một thiền định nào đó đối với những khó khăn đặc biệt mà họ sẽ gặp. Mỗi bài thực tập đóng một vai trò riêng, và toàn bộ tạo thành một chuẩn bị tốt đẹp cho những ai muốn theo đuổi một hành trình tâm linh lâu dài và có kết quả. (Đối với đạo Phật, cái gì có ở đích cuối cùng phải đã có ở những bước đầu tiên. Những bài thực tập này đặt nền trên căn bản Phật tánh và đưa đến mục đích là Phật tánh, trí huệ và đại bi, vì thế giải thoát hay chứng ngộ viên mãn Phật tánh là sự khai triển và thành tựu rốt ráo những thực tập này ở mức độ cao nhất – ghi chú thêm của người dịch tiếng Việt).

Một điểm chót quan trọng : điều người ta học và hiểu về những thực tập không phải là để cho chữ nghĩa chết khô, mà để được đưa vào thực hành. Ích lợi gì khi thiền định về lòng bi trong một giờ đồng hồ nếu giờ phút sau đó người ta đã có một màn gây lộn với vợ hay cãi nhau với hàng xóm ? Điều bạn đã học phải trở thành một bản chất thứ hai, một cái gì theo bạn khắp nơi và trong mọi hoàn cảnh. Để làm vững chắc động lực của bạn và tránh quy về chính mình, bạn hãy kết thúc mỗi thời làm việc với những thực tập bằng một ý nghĩ cho những người khác, theo chủ đề sau :

Tôi ước mong có thể áp dụng trong cuộc đời hàng ngày của tôi và chia xẻ với tất cả những ai khổ đau về thể xác hay tâm thức, tất cả điều gì tôi đã học hay hiểu hôm nay. Nguyện rằng những nỗ lực của tôi liên hiệp với năng lực của lòng bi vũ trụ để giúp đỡ họ vượt qua những khó khăn của họ và tìm thấy lại hạnh phúc.

Câu hỏi : Có nên tránh đặt ra những mục tiêu quá tham vọng khi người ta làm những thực tập ?

Trả lời : Không ích lợi lắm khi hy vọng những kết quả quá lớn lao, bởi vì điều đó dẫn chúng ta đến chỗ hơi bắt ép những sự việc. Những thực tập không phải được làm để chuyển hóa đen ra trắng trong ngày một ngày hai, mà để cho người ta hòa nhập những giáo pháp vào đời sống hàng ngày.

Câu hỏi : Khi thầy nói đến cái ngã (cái ta) được làm mạnh thêm bởi giáo dục, đó có phải cùng một thứ với một cảm giác mạnh mẽ về bản sắc của nó ? Có cái gì tốt đẹp trong cái ngã không ? Nó không cần thiết với chúng ta để sinh hoạt bình thường trong thế giới này sao ?

Trả lời : Rõ ràng người ta cần một cái ngã có chức năng nào đó, một cái gì để nói : “Tôi muốn đi đến chỗ kia, tôi phải làm điều đó.” Nhưng một khi cái ngã đã đóng vai trò thiết lập một bản sắc sơ khai này, không cần thiết phải bám vào nó nữa và phải sẵn sàng lìa bỏ nó, như khi người ta vất bỏ một đôi giày cũ mòn. Vậy thì người ta cần một hình thức cái ngã nào đó lúc ban đầu, nhưng khi nó đã phục vụ xong, người ta không cần đến nó nữa.

Câu hỏi : Nếu vì lý do này hay lý do khác mà người ta không muốn quán tưởng đức Phật, người ta có thể thế chỗ bằng cách tưởng tượng đức Jesus hay một đạo sư vĩ đại khác mà người ta tin tưởng không ?

Trả lời : Khi người ta nói đến một vị “Phật”, người ta muốn nói đến một người có mọi phẩm tính mà danh từ đó diễn tả : một người mà tâm thức hoàn toàn trong sạch và đã thức tỉnh với bản tánh thật sự của những sự vật, mà lòng bi là toàn khắp vũ trụ, và hoàn toàn tận tụy vì những người khác. Nếu đó là điều mà đức Jesus hiện thân đối với bạn, bấy giờ là như nhau khi hình dung Chúa hay Phật.

Câu hỏi : Nếu người ta bắt đầu thực hành những thực tập đều đặn và người ta phải ngưng chúng trong vài tuần hay vài tháng vì một lý do nào đó, người ta có thể bắt đầu làm lại từ chỗ người ta đã ngừng hay tốt hơn là bắt đầu trở lại hết ?

Trả lời : Tất cả tùy thuộc vào cái mà bạn đã rút ra được từ những bài tập bạn đã làm. Nếu bạn có cảm tưởng bạn đã thâu hóa chúng khá tốt và chúng thật sự làm lợi lạc cho bạn, bạn có thể tiếp tục từ chỗ bạn đã dừng trước kia. Nếu không phải thế, tốt hơn là bắt đầu lại từ đầu.

Câu hỏi : Làm sao để tránh khỏi rơi vào những cạm bẫy của thực hành tâm linh, như sự kiêu mạn khi người ta cảm thấy có những tiến bộ ? Tôi tự hỏi khi người ta thực hành một mình, với sách, không có thầy bên cạnh, người ta sẽ tiến bộ thiên lệch chăng ?

Trả lời : Rất có thể hình ảnh mà bạn tạo ra về chính bạn từ khi sanh ra không tương đồng với thực tế, nếu bạn không bao giờ phân tích. Có thể bạn tự tạo ra một ý tưởng về mình hoàn toàn không có cơ sở nào cả, nhưng bạn không biết gì, hơn nữa không có ai đã nói với bạn hình ảnh ấy về bạn có trung thực hay không. Người ta có thể tự nhủ “tôi là ánh sáng”, hay là Phật hay là Chúa, nhưng rõ ràng đó chỉ là một tưởng tượng ảo giác. Thế nên rất ích lợi khi có người nói cho chúng ta rằng chúng ta không đẹp, không đức hạnh, không dị thường như chúng ta tin như vậy, bởi vì điều đó tránh cho chúng ta tin vào hình ảnh về mình mà chúng ta phóng chiếu và tránh cho chúng ta tiếp tục đồng hóa với nó. Và chính trong chiều hướng đó mà một vị thầy có thể làm cho chúng ta bớt loại sai lầm này khi lột trần những ảo tưởng của chúng ta và dẫn dắt chúng ta trong hướng đi đúng. Vậy thì quả là đúng rằng người ta có thể tự lừa dối mình khi chỉ tín nhiệm vào độc nhất một cuốn sách, bởi vì người ta có nguy cơ giải thích nó riêng biệt theo hình ảnh mà người ta tự tạo về mình, và một đường lối như vậy hoàn toàn nghèo nàn, kém cỏi. Tôi cũng thêm rằng một cuốn sách thế nào cũng có những giới hạn nội tại : nó cho một khuôn khổ quy chiếu tổng quát, xác định một lần cho tất cả trên giấy, trong khi cuộc sống thì thường trực biến đổi và mỗi trường hợp người ta gặp là độc nhất.

Câu hỏi : Vậy thì làm sao tránh loại vấn đề này khi người ta không làm việc dưới sự hướng dẫn của một vị thầy ?

Trả lời : Hãy nhấn mạnh vào lòng bi đến mức nào bạn còn có thể, và hãy để bạn được hướng dẫn bởi nó trong khi chờ đợi gặp được một người nào biết đường lối mà chúng ta đang nói ở đây.

Câu hỏi : Một sự tăng trưởng những cảm xúc tiêu cực và những khó khăn có phải tất yếu là dấu hiệu là có cái gì không ổn trong thực hành hay đó là một tác dụng phụ của việc “chữa trị” đã đưa lên bề mặt những khuynh hướng có thức ?

Trả lời : Khó mà nói một cách trừu tượng như vậy ; đó có thể là cái này hoặc cái kia, hay cả hai. Có thể người ta luôn luôn có những phiền não này trong họ, nhưng người ta còn chưa biết bởi vì người ta ít ý thức đến cái gì xảy trong tâm thức. Khi người ta luôn luôn có khuynh hướng có một ý kiến quá tốt về mình, người ta chỉ thấy cái người ta muốn thấy – những mặt tốt. Đến nỗi rằng những phiền não có vẻ khởi lên chẳng từ đâu cả khi người ta lại ý thức đến chúng và tự phân tích. Có lẽ đó không phải là một nhận xét khích lệ lắm, nhưng dầu sao, cái đáng nói là chớ xem quá nghiêm trọng những tình cảm và những phiền não này khi chúng được tìm thấy ở trong mình. Chỉ cần ý thức cái gì đang xảy ra nơi mình, và nếu người ta không phân cực vào một cái gì, thì người ta không phải có những vấn đề lớn lao.

Câu hỏi : Hiện giờ có nhiều người đề nghị nhiều loại hệ thống “trị liệu”. Những hệ thống khác nhau này nói chung đều ích lợi, và chúng khác với đường lối đặt nền trên đạo Phật của ngài như thế nào ?

Trả lời : Tôi không thể trả lời thay cho những người khác, nhưng tôi tưởng tượng có nhiều người đề nghị những biện pháp trị liệu lợi lạc, điều đó là tốt. Có những cái khác thành công ít nhiều, và một số thậm chí gây ra tai hại. Thật ra, phẩm chất của một phương pháp chữa lành tùy thuộc nhiều vào động cơ của nhà trị liệu, trong mức độ nhân cách của người ấy có một ảnh hưởng lớn trên những phương pháp của mình. Nhưng điều ấy còn tùy thuộc vào mức độ kinh nghiệm, và giá trị truyền thống mà người ấy dựa vào : có một khác biệt lớn lao giữa một hệ thống “gia đình” mà một người nào đó đã biến chế từ những ý tưởng riêng của mình và của những người khác rải rác đó đây, với những phát huy được truyền thừa bởi một truyền thống đã có những chứng cớ của nó. Trong nhãn quan Phật giáo, sự chữa lành được đặt nền trên những kỹ thuật tâm thức nhắm đến thu hoạch sự điều phục tâm thức. Điều này muốn nói rằng người nào biết làm sao hàng phục tâm thức – bằng kinh nghiệm cá nhân và không chỉ qua một hiểu biết lý thuyết – được đánh giá là có đủ thẩm quyền để dạy những phương pháp ấy.

Câu hỏi : Làm thế nào tôi có thể làm mạnh động lực của tôi, ý muốn thực hành lòng bi của tôi ? Tôi hoàn toàn tin sự cần thiết làm việc đó, nhưng luôn luôn có một cái gì ngăn cản tôi – sự lười biếng, những bế tắc trong tâm trí.

Trả lời : Điều quan trọng là làm hết sức mình, tính đến những điều kiện của riêng mình, hơn là chờ đợi được hoàn hảo để giúp đỡ những người khác. Khi giúp đỡ họ, người ta cũng tự giúp đỡ chính mình, và dù cho người ta lầm lẫn, người ta cũng có thể rút ra những bài học để tự cải thiện. Đặt sự thực hành của bạn trên ý tưởng rằng bạn sẵn sàng giúp đỡ mọi người nào cần đến bạn và làm tất cả những gì bạn có thể làm được trong chiều hướng đó tốt hơn là nói với những người khác : “Tôi rất thích giúp các bạn, nhưng tôi còn chưa hoàn toàn sẵn sàng.”

Câu hỏi : Đâu là sự khác biệt hay là mối tương quan, giữa trị liệu và thiền định ?

Trả lời : Không có sự khác biệt giữa chữa lành và thiền định. Trị liệu muốn nói đến điều trị, chăm sóc, chữa lành, và cũng phòng ngừa những bệnh tật, những mất quân bình. Chúng ta hãy lấy một thí dụ đơn giản để phác họa : nếu bạn làm đứt tay và bạn dán miếng băng lên đó, thì ấy là một trị liệu vật lý ; nếu đồng thời bạn lợi dụng điều đó để học không tự làm đứt tay một lần nữa, điều này thuộc về phương diện tâm thức của sự trị liệu. Mọi sự trị liệu liên hệ với phương diện tâm thức đều liên kết với thiền định.

Câu hỏi : Thế có phải muốn nói rằng, khi người ta biết thiền định đúng, tức là người ta đang làm trị liệu bằng cách thiền định ?

Trả lời : Vâng, đúng thế. Nhưng điều đó cũng áp dụng cho những việc khác : ăn, ngủ, mặc quần áo, và thư giãn, tất cả những cái đó tham gia vào sự trị liệu theo nghĩa rộng – mọi cái đáp ứng đầy đủ cho những nhu cầu của chúng ta.

Câu hỏi : “Có lòng bi” hiểu cho đúng là thế nào ?

Trả lời : Theo tôi, có lòng bi nghĩa là bao gồm tất cả mọi người vào trong cuộc đời của bạn. Để được như vậy phải hiểu rằng tất cả chúng ta không trừ một ai đều đi tìm hạnh phúc và đều tránh đau khổ và bất hạnh. Phiền não, đó là do vô minh của chúng ta về bản tánh đích thực của những sự vật mà người ta không thể tìm thấy hạnh phúc, trong khi người ta không ngừng có những khổ nhọc và khó khăn đủ mọi loại. Lòng bi, đó là tình thương vô điều kiện. Đó là ý chí giúp đỡ bất kỳ ai cần sự giúp đỡ của bạn, và với cùng một chăm sóc ân cần cho tất cả : người mà bạn giúp đỡ có thể là hữu ích cho bạn hay thậm chí giận dữ, hung bạo với bạn, hay tố cáo bạn những việc bạn không hề làm – tất cả chẳng thay đổi gì được ý chí muốn giúp đỡ họ. Ngược lại, những phản ứng như vậy chỉ làm cho ý chí đó mạnh thêm. Người ta không chờ đợi cái gì cho mình, không mong chờ một kết quả nào. Và nếu một tình cờ bi thảm khiến người ta ngồi tù vì điều người ta đã giúp đỡ một ai đó, lòng bi sẽ đưa đến sự vui mừng đã có thể mang lấy gánh nặng của người khác, đổi lấy hạnh phúc của mình. Thế đó là lòng bi thật sự, cái cho đi tất cả mà không chờ đền đáp.

Câu hỏi : Thầy đã nói có một lúc mà, nếu người ta thực hành đúng đắn những bài thực tập, người ta có thể tự nhủ người ta đang đi trong chiều hướng đúng. Thầy nghĩ điều đó như thế nào ? Có những dấu hiệu cho phép người ta đánh giá những tiến bộ của mình không ?

Trả lời : Tôi nghĩ rằng nếu bạn nhận thấy rằng khi thực hành những bài thực tập bạn đến chỗ sống những biến cố hàng ngày tốt hơn và đối mặt với chúng tương xứng hơn, đó là có một tiến bộ nào đấy. Nếu thực hành đúng đắn những bài thực tập, người ta sẽ có ít khuynh hướng tự tạo ra những vấn đề và tự đặt mình trong những tình huống khó khăn. Người ta sẽ phát triển cái tốt nhất của chính mình để trở thành một con người xứng đáng với danh từ này.


CHƯƠNG TRÌNH LÀM VIỆC

Đây là vài chỉ dẫn cụ thể sẽ cho bạn một ý tưởng về thời gian cần thiết để trải qua mỗi một thực tập, để bạn có thể tổ chức công việc của bạn.

Những điểm sơ khởi :

• Chúng ta hãy nhấn mạnh một lần nữa vào sự quan trọng cần theo THứ Tự những bài tập và chỉ đi qua cái tiếp theo sau khi đã làm xong thời gian “học nghề” dự kiến cho mỗi bài.

THờI GIAN NHữNG THờI THựC HÀNH tùy thuộc vào sự mong muốn của người ta muốn thực sự rút ra lợi lạc tối đa của những thực tập. Chẳng hạn nếu người ta quá bận và chỉ có nửa giờ một ngày cho chúng hay là có thời gian nhưng người ta không cảm thấy có thể tự bó buộc để theo trọn vẹn chương trình được yêu cầu thì làm sao ? Tốt hơn là chẳng làm gì cả ? Thật ra, mọi nỗ lực đều khó nhọc : cốt yếu là bạn tự định một thời khóa làm việc hàng ngày kéo dài bao lâu, theo những bổn phận bắt buộc của bạn, và giữ như vậy. Có lợi lạc hơn nhiều khi thực hành nửa giờ mỗi ngày, đều đặn, hơn là một giờ lúc này, hai giờ lúc khác. Chính sự liên tục của nỗ lực là điều quan trọng.

Lúc ban đầu, có lẽ người ta thích làm hai thời ngắn hơn là một thời dài ; điều đó không thành vấn đề, miễn là đều đặn.

Thời gian tổng thể để thực hành một thực tập – vài ngày, một tuần hay hơn nữa – là một TốI THIểU theo chỉ định ; người ta không được gì cả nếu muốn đi qua quá nhanh đến bài thực tập tiếp theo.

Lịch và thời gian tối thiểu 
thực hành những bài thực tập

1. TƯ THế : vài phút trước khi bắt đầu mỗi thời làm việc. Tùy ý theo nhu cầu.
2. THƯ GIÃN (BUÔNG Xả) : một phần tư giờ, trước mỗi thời. Tiếp theo, tùy ý theo nhu cầu.
3. CảM NHậN : 1 tuần, một thời một giờ mỗi ngày.
4. Tự Mở MÌNH RA : 3 ngày, một thời 20 phút mỗi ngày. Tiếp theo, tùy ý, khi nào người ta cảm thấy quá co rút.
5. CầU VồNG : 1 tuần, một giờ mỗi ngày.
6. TấM GƯƠNG :
Phần đầu – 1 tuần là tối thiểu ; 15-20 phút một hoặc hai lần mỗi ngày.
Phần hai – 3 hay 4 tuần ; 15-20 phút mỗi ngày.
7. BạN : 3 đến 4 tuần ; 45 phút mỗi ngày.
8. ĐứC PHậT BÊN TRONG : 1 tuần ; một thời một giờ bốn mươi lăm phút mỗi ngày.
9. LÀM SốNG ĐộNG ĐứC PHậT BÊN TRONG : 4 tuần ; một thời một giờ mười lăm phút mỗi ngày.
10. TRIểN Nở, THU RÚT : 3 tuần ; một giờ mỗi ngày.
11. Kẻ THÙ : 4 tuần ; một giờ hai mươi phút mỗi ngày.
12. NHậN TRÊN CHÍNH MÌNH Sự KHổ ĐAU CủA CHA Mẹ VÀ GIA ĐÌNH : 2 tuần ; một giờ mười lăm phút mỗi ngày.
13. NHậN TRÊN CHÍNH MÌNH Sự KHổ ĐAU CủA Xứ Sở MÌNH, NHữNG BạN BÈ VÀ THÚ VậT : 2 tuần ; một giờ mười lăm phút mỗi ngày.
14. NHậN TRÊN CHÍNH MÌNH Sự KHổ ĐAU CủA NHữNG Kẻ THÙ CủA MÌNH : 4 tuần ; một giờ rưỡi mỗi ngày.
15. KHốI CầU CầU VồNG : 6 tuần tất cả ; một giờ mỗi ngày trong một tuần, cho mỗi màu.
16. LÒNG BI VŨ TRụ : 4 tuần ; nửa giờ mỗi ngày.
 
 


Bài Thực Tập số 1
TƯ THẾ

Bạn đã quyết định học điều phục con cọp bên trong, để tìm thấy bình an trong chính bạn. Đây là vài chuẩn bị thực tiễn để cho bạn dễ dàng trong khi tập sự những thực tập : cần xác định nơi chốn và tư thế mà bạn sắp sử dụng.

Chọn một nơi thích hợp

Nơi ở là đặc biệt quan trọng với người mới học. Phải ở một nơi tương đối yên tĩnh, xa tiếng ồn, những chuyện vãn, và tổng quát hơn là xa mọi thứ có thể làm cho bạn nhiều xao lãng.

Người ta có thể ở ngoài trời, hay ở một chỗ yên tĩnh khác – một khu vườn. Những “tiếng ồn” tự nhiên như nước chảy hay chim hót không thành vấn đề, hơn nữa chúng còn thường làm thư giãn. Nếu có dịp, đặc biệt tốt khi ngồi trên đỉnh một ngọn đồi hay một chỗ bao quát cảnh vật, hay bên bờ biển, nếu không có nhiều thứ làm xao lãng ở chung quanh.

Nếu ở trong nhà, phải tìm một nơi yên tĩnh, nghĩa là một góc không bị quấy rầy bởi mọi loại làm bạn xao lãng (điện thoại, người nói chuyện, TV, radio hay âm nhạc). Chỗ ngồi phải thông thoáng và không nóng. Nói chung, một chỗ ngồi hơi nóng một chút hơn là quá nóng, để tâm thức không ngủ gật và cảnh tỉnh.

Một tư thế tốt


Tư thế thân thể có một ảnh hưởng thật sự với chúng ta, trong mọi thời khắc của đời sống, hẳn thế, nhưng còn hơn nữa trong thực tập thiền định. Tư thế có thể làm thuận tiện hay ngược lại làm khó khăn cho hơi thở, sự tuần hoàn của máu và những năng lực thần kinh trong thân thể ; nó ảnh hưởng cách tích cực hay tiêu cực lên tình trạng những cơ quan của chúng ta. Y học Tây Tạng và y học Trung Hoa chứng tỏ rõ ràng thân thể chúng ta có một mạng kinh mạch tinh vi như thế nào, chúng vận chuyển năng lực qua toàn thân và những bộ phận khác nhau. Chính trên nguyên lý này đã lập nên khoa châm cứu và những kỹ thuật xoa bóp ; chúng cho phép chữa trị một số bệnh bằng cách tái lập những quân bình năng lực qua trung gian một số điểm năng lực ở những chỗ khác nhau của những đường kinh mạch. Thế nên tư thế ngồi là quan trọng, để cho không ngăn chặn sự lưu thông tự do của năng lực – gồm cả năng lực tinh tấn – trong thân thể.

Nếu ngồi tốt, những năng lực sẽ có thể di chuyển tự do trong thân thể và người ta không cảm thấy khó chịu hay không thoải mái. Điều này không chỉ nói đến một sự không thoải mái thân thể – người nào cũng biết tê rần như kiến chạy trong chân – mà cả tâm thức : nếu những năng lực (khí) không lưu chuyển tốt trong thân, người ta có thể cảm thấy khó chịu, bải hoải và mất quân bình, dễ bị kích động...

Nếu có thể, người ta được yêu cầu ngồi xếp bằng, tốt nhất trong tư thế hoa sen hay nửa hoa sen (kiết già hay bán già), (hình 1 và 2). Nếu không thể, vì đôi chân quá cứng hay những vấn đề sức khỏe riêng biệt, không phải khó nhọc tự làm đau đớn

khi vặn vẹo bằng bất cứ giá nào : người ta cũng có thể học ngồi đúng trên một cái ghế (hình 3). Nếu người ta còn trẻ và không có trở ngại đặc biệt, cần cố gắng vượt qua những đau đớn ban đầu và học một trong các tư thế này.

Dù ngồi thế hoa sen hay nửa hoa sen, phải luôn luôn xếp chân trái vào trước, chân phải đặt lên chân trái. Rồi điều quan trọng nhất : thẳng lưng lên để cho tạo thành một đường thẳng từ đáy xương sống đến ót. Thật vậy, chính trong lưng mà tất cả mạng thần kinh làm các bộ phận thông thương với bộ óc, và nếu thẳng lưng, những năng lực thần kinh sẽ lưu chuyển quân bình trong toàn thân. Để ngồi tốt, phải cảm thấy quân bình, vai thẳng mà vẫn thư giãn, không ép về phía sau và không có cái này cao hơn cái kia.

Một cái gối đệm là một phụ tùng quan trọng cho tư thế và nó giúp giữ lưng thẳng : người ta sẽ chọn một khối đệm vuông khá cứng, khoảng bốn mươi phân mỗi cạnh và dày từ sáu đến mười hai phân. Thế nghĩa là tùy mỗi người tìm thấy bề dày thích hợp nhất cho mình, theo hình thể và tư thế của mình. Nếu ngồi theo thế hoa sen, tốt hơn là dùng một gối đệm hơi dày hơn – khoảng mười hai phân.

Nếu thế hoa sen hay nửa hoa sen tạo ra nhiều vấn đề, người ta có thể ngồi trên ghế như nói ở trên hay quỳ gối, đùi hơi xa nhau, ngồi trên một ghế đẩu thấp hay trên nhiều đệm chất lên cho đủ chiều cao, để giữ lưng thẳng.

Về hai tay có hai tư thế để chọn. Người ta có thể chỉ đặt chúng duỗi thẳng nghỉ ngơi, bàn tay úp trên đùi, hai cùi chỏ hơi mở (hình 3 và 4). Hay tay này đặt trên tay kia, phía trước, nhẹ nhàng được đặt trên chân đã xếp : đặt bàn tay trái lên trước, lưng bàn tay trên chân, lòng bàn tay hướng về phía mình và những ngón tay hơi cong về phía trên, thành hình như cái lò luyện vàng bạc. Rồi đặt bàn tay phải lên, tư thế giống như bàn tay trái, và nối đầu hai ngón cái lại (như hình 1). Cần giữ hai tay mềm mại và thư giãn : không dựa lên với sức mạnh – trên đùi hay tay này trên tay kia hay những ngón tay cái – mà để chúng ở tư thế đó với nhiều thư giãn và tự nhiên càng tốt, điều không khó khăn khi đã quen.

Khi lưng thẳng và hai tay thư giãn, người ta hoàn thành tư thế bằng cách nghiêng nhẹ ót về phía trước, như thế hơi kéo cằm vào trong cổ. Người ta để miệng hơi mở, lưỡi ở trên nóc họng ; người ta có thể thở cả bằng mũi và bằng miệng, theo cách thích hợp với mình. Về phần mắt, thích hợp là mở cả hai mắt, trừ khi dành cho những quán tưởng, vì nếu quán tưởng mà mở mắt thì hơi khó, nhất là đối với người mới học. Người ta cố định cái nhìn trước mặt, ngay tầm lỗ mũi, trên một điểm khoảng nửa thước đến hai thước. Không phải tập trung cái nhìn để thấy một cái gì, mà để nó ở đó, trước mặt, không cố gắng nhìn thấy. Nếu bạn thường mang kính, hãy gỡ nó ra.

Một tư thế đúng là một sự quân bình giữa nỗ lực và buông xả, để tạo những điều kiện tốt nhất cho sự an định tâm thức. Không nên quá căng thẳng, cũng không quá thả lỏng. Nếu người ta cảm thấy một sự chống cự tự thân mạnh mẽ đối với tư thế, hay một căng thẳng quá độ, người ta có thể làm ba bài thực tập đầu trong tư thế nằm dài, ngửa lưng (hình 6). Như đối với thế ngồi, cốt yếu là lưng thẳng. Để cho ót thẳng hàng với xương sống, cũng phải hơi kéo cằm vào : người ta có thể dùng một cuốn sách, một cái gối hay mền xếp dưới đầu. Nếu có đau đớn trong phần dưới lưng, tốt hơn hãy nâng đùi lên một chút với những cái gối để loại trừ sự không thoải mái trong vùng thắt lưng (hình 5). Tuy nhiên, nên xem tư thế nằm này như một sự sửa chữa tạm thời, và khi bạn đã quen với những thực tập, hãy cố gắng tìm ra một tư thế ngồi thoải mái.


Bài Thực Tập số 2
THƯ GIÃN

Hai thực tập thư giãn này được đặt nền trên hơi thở và dùng để thư giãn trước mỗi thời ngồi thiền. Người ta có thể chọn lựa sự chuyển thể này hay chuyển thể kia của thực tập, tùy theo sở thích.

Quan trọng là thở tự nhiên, không ép buộc. Hơi thở vào có thể sâu hơn và dài hơn bình thường, nếu điều đó tự nhiên. Nhịp điệu của chu kỳ hơi thở của mỗi chuyển thể của thực tập có thể phù hợp với trạng thái tâm thức đang có : người ta có thể thở hơi nhanh nếu cảm thấy đau hay bị những xúc cảm mạnh mẽ, hay trái lại chậm hơn nếu cảm thấy tĩnh lặng và thư giãn.

Nếu bạn khó buông lỏng trong bài tập thở này, hay bất kỳ bài tập nào khác, hãy nằm dài ra một lát và để cho những tư tưởng và những tình cảm của bạn đến đi tùy ý – mọi thứ đi qua trong đầu bạn. Tiếp theo, thử làm lại thực tập thở bằng cách kém thúc ép hơn trước.

Chuyển thể thứ nhất :
Thực tập gồm thở trong ba giai đoạn bằng nhau :

1. Hãy thở vào tận cùng khi đếm đến năm.

Thật ra, con số năm chỉ để biểu thị và bạn có thể giảm hoặc tăng một chút để cho nó trùng hợp với nhịp điệu thở tự nhiên của bạn lúc đó ; chỉ cần con số như nhau trong ba giai đoạn thở.

2. Giữ hơi thở của bạn lại và đếm đến năm.

3. Thở ra (đếm đến năm) bằng miệng, vì nhờ vậy mà người ta làm hết những căng thẳng một cách tốt nhất. Khi thở ra hãy tưởng tượng bạn thoát khỏi mọi căng thẳng, như bạn đổ trống một bình chứa đầy nước tù đọng, và hãy để tâm thức đến và đi tùy theo ý nó.

Chớ chú ý thời gian dừng vào cuối hơi thở ra ; hãy tiếp nối tức thì hơi thở vào tiếp theo.

• Hãy lập lại toàn bộ thực tập ba hay bốn lần.

Chuyển thể thứ hai :

Ở đây một hơi thở ra và một hơi thở vào tính là một chu kỳ và bài tập cốt ở đếm thầm trong trí hai mươi mốt chu kỳ thở.

1. Hãy thở ra bằng miệng, hơi dài hơn bình thường, và hãy nghỉ một chút trước khi tiếp tục thở vào.

2. Thở vào bằng mũi, chậm và sâu hơn bình thường. Hãy nghỉ trước khi thở ra, vừa đếm “MộT” cho chu kỳ đầu tiên.

• Hãy lập lại chu kỳ hai mươi mốt lần, mỗi lần mỗi đếm. Nếu bạn đếm lộn, hãy bắt đầu lại từ đầu.

Hãy chọn phương pháp thích hợp hơn cho bạn và thực hành nó trong ít ra là BốN NGÀY trước khi đi vào những bài thực tập. Sau đó, nên bắt đầu một cách có hệ thống mỗi thời thiền bằng một thư giãn ngắn ; người ta cũng có thể dùng thực tập thở này để buông lỏng khi người ta cảm thấy hơi bị căng, trong khi thực hiện một bài tập khác hay vào mọi lúc khác của đời sống hàng ngày.


Bài Thực Tập số 3
CẢM NHẬN

Thực tập nhằm để hòa giải với một trong những sự kiện sơ đẳng nhất của đời sống chúng ta : cái người ta cảm nhận, ở mức độ vật lý cũng như mức độ tình cảm. Một trong những kết quả đáng giá của sự quan sát những cảm giác thân thể là cảm thức thư giãn sâu xa do nó mang lại. Nhưng điều đó đi xa hơn nhiều so với một thực tập thư giãn đơn giản : sự kiện đơn giản nhìn thẳng vào những sự việc rất cá nhân mà bình thường người ta thích che dấu sẽ cho phép thanh toán một số lo ngại vẩn vơ và những căng thẳng nối kết với nỗi sợ hãi giáp mặt với thực tế – một thực tế thường tỏ ra rất đơn giản hơn nhiều so với ý tưởng đáng sợ mà người ta đã tự tạo. Người ta học nhận diện rất chính xác mọi cái người ta cảm nhận và học tiếp nhận tất cả cấp độ màu sắc những cảm giác và tình cảm được quan sát – từ những cái rất dễ chịu đến những cái rất khó chịu. Chính sự học tập nhận biết và tiếp nhận cái trải nghiệm bên trong này sẽ dùng làm nền tảng cho sự thực hiện mục tiêu chính yếu của sự chữa trị này : đối mặt với những sự vật và những con người, như chúng tự trình diện với chúng ta trong cuộc sống hàng ngày.

Người ta thường có nhiều khuynh hướng lựa chọn điều người ta cảm nhận : chạy theo những cảm giác dễ chịu, vật lý hay tâm lý, và cố gắng tránh khỏi cái gì khó chịu với mình. Đến mức độ người ta có thể bị khổ đau hay khó nhọc xâm chiếm khi người ta không thấy và hiểu rằng khổ đau không phải là cái gì cứng chắc và bất biến, rằng nó cũng như mọi cảm giác khác, không phải là sự kiện cố định mà là một thủy triều của kinh nghiệm thường trực biến đổi và chuyển hóa và tiếp nối với những cái trung tính hay tích cực. Ở đó người ta chạm đến sự biểu lộ của vô thường ở mức độ tinh vi và sâu xa của kinh nghiệm, một sự thực mà người ta sẽ khám phá càng lúc càng rõ hơn khi thực hành thực tập này. Điều đó sẽ cho phép chúng ta thu hoạch dần dần một thái độ thư giãn hơn đối với những tình cảm và cảm giác của chúng ta.

Mô tả thực tập

1. Sắp đặt

Hãy ngồi thẳng lưng, hay nằm duỗi dài, và ý thức sự xúc chạm của thân thể bạn với đệm ngồi, hay mặt đất. Hãy cảm thấy rõ ràng tất cả những điểm tiếp xúc và những khác biệt về cường độ tựa vào, từ một chỗ này đến chỗ khác. Hãy nhận xét những cử động thở biến đổi rất nhẹ áp lực trên những điểm tiếp xúc khác nhau giữa thân thể và những điểm tựa như thế nào. Khi bạn đã ý thức những cảm giác này tác động lên thân thể đang ngồi hay nằm của bạn, bạn có thể qua giai đoạn tiếp theo, đi vào một phân tích chi tiết hơn.

2. Phân tích chi tiết những cảm giác thân thể

A. Từ thấp lên cao

Hãy quan sát những cảm giác bạn cảm thấy trong ngón chân cái. Nếu bạn không thấy có gì đặc biệt, hãy đơn giản cảm nghiệm nó và đi qua những ngón kế tiếp khi ghi nhận điều bạn cảm thấy trong hai chân.

Di chuyển sự chú ý của bạn dần dần từ những ngón chân đến tất cả bàn chân và hãy chú ý vào sự khác biệt cảm giác nhỏ nhất mà bạn có thể quan sát được từ một điểm khác, dần lên khắp bàn chân : một cảm giác lạnh, nóng, nặng, nhẹ, nhột, trọng lượng, bồng bềnh v.v... Ghi nhận điều bạn cảm thấy mà không có những bình luận gì.

Hãy tiếp tục di chuyển sự chú ý của bạn lên đùi và đến háng, vừa hoàn toàn ý thức điều bạn cảm nhận. Tiếp theo qua tay, bắt đầu từ những ngón tay ; đi lên từ bàn tay và cánh tay cho đến vai. Dẫn sự chú ý của bạn xuống cuối xương sống và đi lên rất nhẹ nhàng, từng đốt từng đốt ; hãy nhận xét dần dần mọi điều bạn cảm thấy, trong lưng và phần thân. Hãy lưu ý những cảm giác liên kết với một vài bộ phận và với chuyển động thở. Trong mức độ có thể, hãy bằng lòng nhận xét những cảm giác của bạn, không phân tích, giải thích hay ghi chép chúng.

Khi bạn đến ót, tiếp tục di chuyển sự chú ý của bạn qua cổ và yết hầu – cảm thấy cả ngoài lẫn trong – và đến miệng. Rồi khám phá mỗi chi tiết của mặt và đầu – bên trong và bên ngoài – và chấm dứt bằng cách để sự chú ý của bạn nghỉ ngơi nơi trung tâm đỉnh đầu.

B. Về phía dưới

Lần này, người ta làm lại cuộc du lịch theo chiều ngược lại, nhưng nhanh hơn nhiều. Hãy tưởng tượng thân thể bạn là một loại bình chứa đầy nước, và bạn mở những nút ở dưới bàn chân. Hãy theo dõi sự hạ thấp mực nước đang chảy ra và ghi nhận những cảm giác của bạn về mỗi mức nước trong khi lưu ý điều bạn cảm thấy một cách toàn bộ mà không phải trong chi tiết về mỗi phần thân thể nước rút qua. Khi bạn xuống đến những ngón chân, hãy dẫn sự chú ý vào chuyển động tự nhiên của hơi thở đối với toàn bộ thân thể.

Phần còn lại của thời thiền để chỉ quan sát những chuyển động của hơi thở, mà vẫn rất thư giãn và không ép buộc sự chú ý. Hãy chấm dứt bài thực tập bằng cách duỗi hết toàn thân.

Quan trọng : Hai thời của bài tập bổ túc lẫn nhau : chớ quên phần hai – sự đi xuống trở lại từ đầu đến chân. Dầu có thích một trong hai thời hơn, thì cả hai tạo thành một tổng thể và phải được thực hiện như vậy.

Câu hỏi : Nên làm gì khi trong thực tập, người ta gặp những cảm giác rất khó chịu, không thể bỏ qua được, và người ta không thể tiếp tục như không có gì xảy ra ?

Trả lời : Chắc chắn tốt hơn là làm lại một ít thư giãn hơn là muốn bằng mọi giá qua bài tập kế tiếp. Tuy nhiên, nếu những cảm giác khó chịu ấy kéo dài, thậm chí sau nhiều tháng thực hành, có lẽ phải đối diện bằng cách nắm sừng con bò mộng : chấp nhận sự có mặt của những cảm giác ấy và nhìn thẳng vào chúng.

Câu hỏi : Khi thầy nói “làm lại sự thư giãn”, có phải đó có nghĩa là một trong những thực tập hơi thở ?

Trả lời : Tôi nghĩ rằng bạn chỉ cần tự thư giãn, buông lỏng một lúc, thời gian để cho những cảm giác của bạn tan biến. Hãy thử không nghĩ gì khác đặc biệt, không loay hoay bực bội.

Câu hỏi : Khi tôi thực tập bài này, tôi không thể gỡ sự chú ý của tôi khỏi chỗ nó đã ở. Phải làm sao ?

Trả lời : Có lẽ bạn đã tự tạo một ý tưởng quá cứng đặc hay quá nặng nề về cái bạn tưởng tượng khi thực tập, hay bạn đã cung cấp một cố gắng không hợp cỡ cho việc cần làm. Đôi khi, một cái vít không vào trong lỗ, đó là vì nó lớn quá, phải cần cái nhỏ hơn. Có lẽ bạn cần làm nhẹ nhàng hơn...

Câu hỏi : Nếu những cảm giác tôi thể nghiệm làm nổi dậy mọi loại tình cảm và kỷ niệm không ngừng trở lại, phải xem xét và phân tích chúng hay chỉ chú ý vào những cảm giác mà thôi ?

Trả lời : Bạn hãy cố gắng quan tâm vào những cảm giác và không chú ý quá vào điều gì chúng gây ra trong bạn.

Câu hỏi : Khi làm thực tập này, tôi đã khám phá ra những cảm giác tôi chưa hề cảm thấy. Đó có phải chỉ là kết quả của sự tưởng tượng của tôi không ?

Trả lời : Không nhất thiết. Có lẽ những cảm giác ấy đã có ở trong đó, trong bạn từ lâu, nhưng bây giờ bạn mới ý thức. Bạn bắt đầu thấy chúng rõ ràng hơn một chút.


Bài Thực Tập số 4
TỰ MỞ MÌNH RA

Bài tập này nhằm giúp bạn nuôi dưỡng một thái độ mở rộng với những người khác, và sửa soạn cho bạn giúp đỡ họ tốt hơn. Sự phát triển cá nhân của bạn không phải là một cái gì trừu tượng xảy ra ngoài dòng sống hàng ngày của bạn ; trái lại nó tự nuôi dưỡng bằng tất cả những gì đến với bạn mỗi ngày và bằng mọi thứ xảy ra trong bạn. Vậy bạn hãy chấp nhận toàn khối chất liệu nguyên sơ này. Hãy quan sát những tư tưởng của bạn, những tình cảm và cảm giác của bạn, và hãy để chúng đến và đi tự do, không phân biệt cũng không kiểm duyệt.

Thực tập này cũng rất ích lợi để thực hành sự thư giãn, trong mức độ người ta học tự để cho những tư tưởng hay tình cảm đến một cách trọn vẹn, không tìm cách giữ lại hay kiểm soát, dù chúng có dữ dội hay hủy hoại thế nào. Thực ra chúng là những chất liệu cần thiết cho sự phát triển lòng bi, và để cho điều này, không có gì tốt nhất so với những cái khác : chúng đều có cùng giá trị và cùng sự ích dụng trực tiếp như nhau. Vậy thì đó là phương tiện tuyệt hảo để giải thoát khỏi những tình cảm mà người ta đã dồn nén hay kềm giữ trong mình.

Mô tả thực tập

Chuẩn bị

Hãy dành một chốc lát ý thức về những cảm giác thân thể của bạn, toàn bộ và tự nhiên, không theo một lộ trình cố định và chi tiết như trong thực tập trước. Để bắt đầu, hãy ghi nhận những tư tưởng và những tình cảm mà những cảm giác khác nhau này gây ra nơi bạn, rồi hãy quan sát mọi cái tự trình diện với tâm thức bạn : tư tưởng, ý tưởng, cảm giác, xúc động. Hãy để chúng đến và đi tự do, không chọn lọc hay chối bỏ bất cứ cái gì. Chớ nghi ngờ rằng bạn đang có ở đó chất liệu ban đầu cho sự phát triển cá nhân của bạn và rằng tất cả đều ích lợi.

Quán tưởng

Bài thực tập này phối hợp sự quán tưởng một hình ảnh – sự hình dung của tâm thức về một hình ảnh – với hơi thở của bạn, ở đây sự nhấn mạnh đặt vào thời gian thở ra. 

Hãy tưởng tượng sự bao la của không gian trước mặt bạn. Tiếp theo hình dung một cái cửa lớn mở rộng ra không gian. Hãy tưởng tượng khi bạn thở ra, mọi tư tưởng, tình cảm và cảm giác trút ra khỏi bạn và tạo thành một dòng chảy lớn và liên tục. Khi dòng này đi qua cửa lớn, hãy cảm thấy dòng chảy biến thành ánh sáng chói lọi mặc dầu hình thức hay bản chất ban đầu của những tư tưởng và những yếu tố kinh nghiệm khác tạo thành dòng chảy có thế nào. Mọi cái biến thành ánh sáng chói lọi, tượng trưng lòng bi vũ trụ, tuôn trên tất cả cái gì đang sống trong vũ trụ. Hãy cảm thấy ánh sáng chói lọi này của lòng bi đem đến cho mỗi chúng sanh khắp trong vũ trụ điều mà nó muốn và nó cần.

Dần dần, tất cả không gian tràn đầy ánh sáng chói lọi, đến độ không còn ai trong thế giới ở ngoài ảnh hưởng của lòng bi vũ trụ. Điều này rõ ràng cũng áp dụng cho chính bạn : bạn hãy thâm nhập vào cảm thức rằng ánh sáng chói lọi mang lại cái mà bạn muốn.

Nếu bạn không thể hình dung rõ ràng ánh sáng chói lọi và giữ hình ảnh của nó trong tâm thức, điều đó không trầm trọng. Quan trọng là cảm nhận nó, cảm nhận rằng mọi cái trong bạn đã thực sự chuyển hóa thành ánh sáng chói lọi tuôn trào lên toàn bộ vũ trụ.

Dù cường độ hay sự dữ dội nhất thời của những tình cảm của bạn có thế nào, chớ sợ hãi ; chớ đè nén chúng vì chúng cấu thành chất liệu ban sơ của lòng bi. Hãy đặc biệt nghĩ đến những người đang khổ đau vì những tình cảm tương tự.

Hãy thực hành bài tập này trong ba ngày, một thời hai mươi phút mỗi ngày.

Ngoài ba ngày dành cho thực tập này trong khuôn khổ toàn bộ chương trình, bạn có thể luôn luôn làm nó vào bất kỳ lúc nào, ngay khi bạn hơi cảm thấy căng thẳng. Bạn cũng có thể trở lại với nó một hay hai ngày nếu bạn có vài khó khăn hay căng thẳng đặc biệt khi bạn thực hành một trong những bài tập về sau.

Chớ ngần ngại mà không dùng nó vào mọi lúc của đời sống hàng ngày, dù chỉ vài phút, khi bạn cảm thấy bức bách, căng thẳng, hay lo âu bởi những khó khăn đặc biệt.

Câu hỏi : Khi người ta thở ra và mọi thứ đi ra qua cái cửa lớn, cửa vẫn mở hay đóng lại mỗi khi thở vào ?

Trả lời : Trên nguyên tắc, nó vẫn mở, nhưng không bắt buộc cấm tưởng tượng cái cửa mở khi thở ra và đóng khi thở vào.

Câu hỏi : Nếu người ta chỉ tập chú vào hơi thở ra, những tư tưởng và tình cảm có tiếp tục đi ra qua cánh cửa lớn trong thời gian thở vào không ?

Trả lời : Vâng, điều đó tiếp tục (dầu người ta có tập trung vào điều đó hay không).

Câu hỏi : Có thể thay vì quán tưởng cái cửa lớn trước mặt tôi trong không gian, tôi lại tưởng tượng chính tôi là cánh cửa lớn ấy ?

Trả lời : Điều đó không đặt thành vấn đề.

Câu hỏi : Có phải người ta cũng đi theo bằng tâm thức hành trình của ánh sáng và tưởng tượng rằng những người đang đau khổ nhận được cái mà họ cần ?

Trả lời : Hẳn nhiên. Bạn có thể tưởng tượng bạn gởi ánh sáng một cách tổng quát cho tất cả những ai đang khổ đau, hay riêng biệt cho một hoặc nhiều người nào đó.

Câu hỏi : Người ta có thể dùng thực tập này để làm việc hầu cải thiện vài quan hệ cá nhân khó khăn không ? Chẳng hạn, nếu có người nào có khuynh hướng đối xử với tôi như tôi luôn luôn sai lầm, có ích lợi khi tôi tưởng tượng rằng tất cả sự tức giận và ác cảm của tôi đi ra qua cái cửa lớn và chuyển hóa thành ánh sáng chói lọi của lòng bi, nó giúp đỡ người này tự cảm thấy tốt hơn và không luôn luôn thù ghét tôi nữa ?

Trả lời : Điều đó có thể thực sự ích lợi.

Câu hỏi : Khi những tình cảm đổ về cái cửa lớn, người ta có tưởng tượng chúng trong những hình dạng đặc biệt, hơi giống như một khúc phim trong đầu hay như khói không ? Hay chỉ cảm nhận chúng mà thôi ?

Trả lời : Tôi không tin rằng bạn cần phải tưởng tượng khói – vấn đề chỉ là cảm nhận những sự vật.


Bài Thực Tập số 5
CẦU VỒNG

Trong những thực tập trước, người ta đã làm việc trên tâm thức nhờ những đối tượng “bên trong”, như hơi thở, những cảm giác và một quán tưởng phát sinh của lòng bi. Với “Cầu vồng”, người ta sắp tập trung trên những đối tượng “bên ngoài” mình, và cố gắng tri giác bản tánh thật sự của chúng. Những đối tượng này có thể thuộc về một trong ba phạm trù sau đây :

• những đối tượng có giá trị (như một đá quý) ;
• những đối tượng không có giá trị buôn bán và không thuộc về chúng ta (như một viên sỏi hay một cọng cỏ) ;
• những đối tượng thuộc về chúng ta, có giá trị hay không (tất cả mọi thứ người ta quan niệm “thuộc về tôi” hay “thuộc về chúng ta”).

Thực tập này có một mục tiêu phân ba :

1. Làm cho chúng ta khám phá khuynh hướng của tâm thức bám chặt vào những đối tượng và hiển lộ cho chúng ta thấy sự bám luyến này ngăn cản chúng ta thấy những sự vật đúng như chúng là.

2. Làm cho chúng ta ý thức về vô thường, sự không có tính “cứng đặc” của mọi vật bao quanh ta, ngay cả với những vật có vẻ cứng đặc nhất và bất động nhất.

3. Làm cho chúng ta thoát khỏi ý kiến sai lầm – của rất nhiều người – rằng chúng ta không thể “quán tưởng”, nghĩa là tưởng tượng về những sự vật, không thể tự tạo một hình dung thuộc tâm thức. Ở đây, đối tượng ở trước mặt chúng ta, thường trực trong tầm nhìn, đến độ người ta không có cảm tưởng phải ép buộc nhiều để tưởng tượng ra nó. Thực tập này là một tiếp cận đầu tiên với sự “quán tưởng”. Quán tưởng, là làm ra một hình ảnh thuộc tâm thức rõ ràng và hiện thực một cái gì, nhưng đồng thời hình ảnh đó sáng rỡ và không thể sờ nắm, như một cầu vồng. Chúng ta sẽ trở lại với nó chi tiết hơn trong dịp thực hành bài số 8. Lúc này, người ta học tự tạo một hình ảnh tâm thức của một đối tượng, rồi tiếp theo để cho nó tan biến, một cách rất tự nhiên.

Mô tả thực tập

Thực tập này dạy bạn chuyển hóa bằng tâm thức một vật gì thành cầu vồng. Vậy hãy lấy một đồ vật gì của bạn, không có giá trị nhiều lắm, và đặt nó trước mặt bạn, thế nào cho bạn có thể thấy nó trọn vẹn. Hãy nhìn nó và nghĩ đến trong một lát giá trị nó có đối với bạn. Tiếp theo, vẫn để mắt mở, hãy tưởng tượng trước mặt bạn một phiên bản đúng của đồ vật này, bên cạnh nguyên bản. Rồi tưởng tượng bạn đập vỡ nó, biến nó thành từng mảnh càng lúc càng nhỏ, và cuối cùng thành bụi. Những phần tử còn lại nhỏ, tinh vi đến độ người ta khó thấy chúng.

Hãy tưởng tượng rằng bạn gom tất cả những hạt bụi đó lại, không mất một hạt nào, bấy giờ tự hỏi : “Đồ vật đối tượng ấy đâu rồi ? Mới cách đây vài khoảnh khắc, có một đồ vật ấy ở đó, với một tên và một giá trị riêng. Đồ vật đó đã đi đâu, cả tên và giá trị của nó ?”

Tiếp theo, hãy chuyển hóa bằng tâm thức đống bụi thành một cầu vồng có thể là đủ màu sắc, hay một màu nhưng theo cấp độ đậm nhạt. Tùy theo cái gì bạn thấy dễ dàng nhất. Từ cái cầu vồng bằng bụi này, hãy tạo lại một cầu vồng đồ vật. Bạn trở lại với một phiên bản của đồ vật ban đầu, miễn là cái đồ vật này được làm bằng cầu vồng ; bởi thế nó không thể sờ nắm, không có chút chất thể nào.

Bây giờ hãy nhận ra rằng nó không có một giá trị buôn bán nào.

Để chấm dứt, hãy hòa tan đồ vật bằng cầu vồng trong cái đồ vật nguyên bản luôn luôn ở trước mặt bạn. Hãy nhận xét kinh nghiệm này có thể chuyển đổi sự đánh giá của bạn về đối tượng và giá trị mà nó đã có trước đây trong con mắt bạn như thế nào.

• Quan trọng là giữ hai mắt mở trong suốt thực tập : khi tưởng tượng phiên bản của đồ vật, hãy giữ cái nhìn trên nguyên bản trước mặt bạn, nhưng không chăm chú vào nó. Khi bạn bắt đầu mệt hay co rút lại, hãy dừng một lúc và làm một trong ba thực tập đầu tiên để thư giãn.

Hãy chọn một đối tượng khác vào mỗi lần thực tập. Hãy bắt đầu bằng một vật có giá trị ít và mỗi lần tiến thêm đến một sự vật càng ngày càng quý giá với bạn. Hãy thay đổi một ít về chủng loại đồ vật và hãy tưởng tượng với sự chính xác rõ ràng cách bạn làm nó tan ra từng mảnh : chẳng hạn, nếu bạn chọn một bức tranh bạn có thể cào rách vải, lấy hết sơn đi, biến nó thành bụi, làm vỡ vụn cái khung. Trong trường hợp một tấm thảm, người ta có thể tháo khổ vải, rút những sợi chỉ, tháo ra những sợi tơ... Hãy biểu lộ trí tưởng tượng...
 

Hãy thực hành bài thực tập này trong một tuần, khoảng một giờ mỗi ngày.

(Lời nói thêm của người dịch tiếng Việt : Ngài Tilopa, vị sư tổ của phái Kagyu có nói : “Không phải các hình tướng đã trói buộc con vào sanh tử, mà sự bám chấp vào các hình tướng đã trói buộc con vào sanh tử.” Bài kệ kết thúc kinh Kim Cang là : “Tất cả pháp hữu vi. Như mộng huyễn bào ảnh. Như sương cũng như chớp. Hãy quán thấy như vậy.” Kinh Hoa Nghiêm phẩm Thập Nhẫn cũng nói đến các nhẫn : như huyễn nhẫn, như mộng nhẫn, như hóa nhẫn, như không nhẫn... Kinh Đại Bát Nhã nói đến “bất khả đắc” như là chỗ chứng ngộ của hành giả đối với các hình tướng hiện tượng.

Tóm lại có thể nói mục tiêu các pháp quán tưởng của đạo Phật là nhằm để phá trừ sự chấp tướng này để cho chân lý, thực tại, Pháp thân, Phật tánh... biểu lộ.

Như thế, đây là một quán tưởng có vẻ như đơn sơ nhưng thật ra là để đáp ứng cho một mục tiêu trọng yếu của đạo Phật, nó là một pháp quán tưởng nhằm hiện thực hóa những câu kinh được trích dẫn ở trên. Từ một thực tập này, chúng ta có thể nhìn thấy những bài thực tập ở đây đều nhằm đến những mục tiêu cao nhất của đạo Phật là giải thoát và Phật tánh. Bởi thế, những bài thực tập không chỉ là sự chữa lành, trị liệu theo nghĩa thông thường, mà có nghĩa là chữa trị mọi phiền não của chúng sanh để đưa người ta thấy được nền tảng Phật tánh của mình. Do đó, trong kinh điển đã từng nói đến đức Phật như là bậc Đại Y Vương, người thầy thuốc chữa khỏi căn bệnh của ba cõi sanh tử.)

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap