PHẦN
HAI
THỰC
HÀNH NUÔI DẠY :
NHỮNG
THỰC TẬP
DẪN
VÀO NHỮNG THỰC TẬP
Hãy
nhanh chóng một cách chậm chậm và bạn sẽ mau đến đích.
Milarepa
Trong
phần một của cuốn sách này, người ta đã quen biết với
con cọp bên trong và người ta đã hiểu sự cần thiết phải
điều phục nó. Phần hai này gồm những công việc thực hành
: một toàn bộ những bài thực tập có mục đích chỉ cho
chúng ta làm sao chế ngự tâm thức mình và trau dồi lòng bi
một cách thực tiễn trong đời sống hàng ngày, vì chính ở
trong lòng đời sống hàng ngày mà việc đó phải được làm.
Những trách nhiệm nghề nghiệp hay gia đình của chúng ta không
phải là một chướng ngại ngăn cản chúng ta làm việc trên
chính mình ; trái lại chúng là một mảnh đất tuyệt hảo,
giàu vô số những cơ hội để học và để trưởng thành.
Đó cũng là một chỗ kiểm nghiệm không bao giờ nói dối
: thử thách của hàng ngày phát hiện nhanh chóng những yếu
đuối và những thiếu sót của chúng ta và ngay sau đó người
ta thấy cái cần phải tẩy xóa, làm lại hay làm vững chắc
thêm. Không phải vuốt ve ý tưởng bỏ đi tất cả để ra
đi tìm trí huệ : nó không ở đâu khác ngoài chính mình, ở
nơi mà người ta đang ở. Bước đầu tiên tiến về sự trưởng
thành có lẽ cốt ở không chối bỏ thực tại – của cái
mà người ta là và của tình huống hiện tại – thay vì những
giấc mộng mà chắc chắn người ta chẳng bao giờ thực hiện
được và chúng chỉ là những bằng cớ của chủ nghĩa an
nhàn bất động.
Tất
cả chúng ta đều có một hành trang nào đó, từ khi sinh ra,
đã học nhiều điều ích lợi, nhưng cũng mang lấy một số
những thói quen xấu góp phần lớn vào những vấn đề và
những khổ đau của chúng ta. Được nền giáo dục của chúng
ta khuyến khích để phát triển bản ngã, người ta thường
quen cho nó một ưu tiên luôn luôn, xem đấy là một chiều
hướng tự nhiên. Người ta càng bị điều kiện hóa bởi
những giá trị hiện đại bao nhiêu khi chúng thường ưu đãi
chủ nghĩa cá nhân : sự quan trọng của quan niệm “nhân cách”,
sự phá hủy gia đình và làm yếu sự liên đới cộng đồng,
tuyên dương thành công vật chất và những lạc thú tiêu dùng
với sự thành công đó.
Trong
một thời gian đầu, sẽ ích lợi khi phân tích một ít những
thói quen và sự bị quy định của mình để phân biệt cái
gì cần giữ gìn và trau dồi và cái gì tốt hơn hết là nên
bỏ. Đó sẽ là dịp để biết một số tính khí hiện thời
của chúng ta thường là những thói quen xưa cũ, hay thậm chí
những phản xạ gắn liền với chúng ta từ thời thơ ấu,
mặc dầu chúng hoàn toàn không phù hợp với tình trạng tâm
thức hiện thời của chúng ta nữa. Cũng giống như con bướm
kéo theo sau nó những mảnh của con nhộng của mình.
Những
bài thực tập sau sẽ cho chúng ta những phương tiện để
đối mặt với mọi trường hợp của đời sống hàng ngày,
một cách quân bình tốt nhất. Phải tìm ra một sự quân bình,
một điều độ nào đó, để có thể nhận những sự vật
như chúng đến, không tự chiến đấu để sửa sang chúng
một cách thường trực bằng cách từ chối cái người ta
không ưa và chỉ theo đuổi cái làm cho người ta thích. Chỉ
sự kiện ngừng dứt cuộc chiến đấu vô bổ này sẽ cất
nhẹ cho chúng ta khỏi một trọng lượng lớn lao của thất
vọng và căng thẳng : luôn luôn khó khăn lắm khi chèo ngược
dòng !
Thường
người ta khổ đau vì họ phản ứng quá mạnh với điều
đến với mình – vui hay buồn. Đây cũng thế, cần phải
điều hòa để không để cho những biến cố tràn ngập :
thế nên người ta học điều phục con cọp tâm thức để
tìm thấy một sự ổn định bên trong và không hoàn toàn phụ
thuộc vào sự thuận lợi của những hoàn cảnh bên ngoài
nữa. Nếu ngày này qua ngày khác, người ta có can đảm giáp
mặt với sự giận dữ hay khổ đau của mình trong những bài
tập thiền định, cuối cùng người ta có thể đối mặt
với chúng khi gặp chúng trong cuộc sống hàng ngày. Người
ta dạy dần dần con cọp để không sợ lửa nữa, cho đến
một ngày có thể nhảy qua một vòng lửa.
Những
bài thực tập nhằm tạo ra một không gian, để hiểu rõ hơn
cái gì đang xảy ra. Người ta tự cho mình một bước thụt
lui đối với những biến cố và những khó khăn của đời
mình. Như bài thực tập Quả Cầu Cầu Vồng (số 15), với
những quán tưởng của nó về những ánh sáng màu sắc khác
nhau, có thể cho chúng ta học đối mặt với những cảm xúc
mãnh liệt chúng rất thường làm cho chúng ta hụt hẫng. Những
bài thực tập về Người Bạn (số 7) và Kẻ Thù (số 11)
giúp chúng ta tương đối hóa ý nghĩ người ta tạo ra về
tình bạn và thù oán. Người chúng ta xem như một kẻ thù
về lâu sau này có thể trở thành người bạn quý nhất, vì
nó cho chúng ta cơ hội học sự nhẫn nhục và lòng bi. Ngược
lại, những người chúng ta gọi là “bạn”, không phải
luôn luôn nhất thiết làm điều tốt cho chúng ta : họ có
thể thậm chí là một chướng ngại trầm trọng cho sự phát
triển bên trong nếu chúng ta quá luyến chấp vào họ, hay nếu
tình thương yêu của họ quá có tính sở hữu.
Những
bài thực tập được đề nghị ở đây tạo thành một toàn
bộ những kỹ thuật làm chủ tâm thức mà người ta có thể
xem như một hình thức “trị liệu”. Đó là một trị liệu
toàn thể (như đức Phật được tôn xưng là bậc Đại Y
Vương – dịch giả) hơn là ý nghĩa của sự chữa trị hay
đề phòng một bệnh trạng đặc biệt : một sự tái quân
bình hay một sự tái giáo dục toàn diện. Dù người ta không
bệnh theo nghĩa thường tình, người ta đã mất cảm thức
bản năng của sự quân bình mà một số người thuộc tổ
tiên xa xưa của chúng ta đã có. Khi làm cho cuộc đời chúng
ta được dễ dàng, thuận tiện, văn minh đô thị cũng làm
chúng ta mong manh dễ vỡ và xa cách những thực tại tự nhiên.
Đến nỗi người ta bị bắt buộc học lại điều mà người
ta không biết làm một cách tự phát nữa : học tôn trọng
những nhịp điệu sinh học và môi trường tự nhiên mà chúng
ta tùy thuộc vào, làm quân bình sự dinh dưỡng của chúng
ta, tập thể dục để bù cho một cuộc sống quá ít hoạt
động... Không đặc trưng sao khi thậm chí người ta cần phải
học lại thở cho đúng, trong khi thở là một bản năng sinh
lý sơ khai nhất nơi một con người ? Chính trong mức độ
những bài thực tập đề nghị ở đây có thể giúp tự giáo
dục lại để tìm lại sự quân bình của mình mà người
ta có thể nói đến một sự “trị liệu” – một sự can
thiệp có ý thức với mục đích tái lập những cơ chế tự
nhiên của sự quân bình. Thật ra, có nhiều cái có một giá
trị trị liệu, chỉ cần người ta biết nhận ra và khai thác
nó đúng đắn : thực phẩm người ta ăn, y phục người ta
mặc, cách bước đi và tư thế ngồi, những cử động, những
màu sắc và âm thanh chung quanh – tất cả những cái đó có
thể có tác dụng trị liệu đối với chúng ta, nghĩa là giúp
chúng ta tìm thấy một sự quân bình tốt hơn, nhất là giữa
thân và tâm. Phần đông chúng ta làm việc với cái đầu hơn
là với thân thể, điều này chỉ làm nặng thêm khuynh hướng
tự nhiên của chúng ta là trải nghiệm thế giới qua những
tư tưởng hơn là qua cách trực tiếp và đơn giản hơn. Người
ta ít có cố gắng thân xác và có khuynh hướng tạo tác lo
âu hơn...
Dầu
danh từ người ta gán cho những thực tập này là gì – “thiền
định” hay “trị liệu” – trong mọi trường hợp chúng
có thể giúp chúng ta tái lập cảm thức những quân bình tự
nhiên, đấy chỉ là nhờ sự thư giãn cần thiết trong việc
thực hành chúng. Sự buông xả là cần thiết cho mọi hình
thức trị liệu hay thiền định ; khi người ta vừa có một
cố gắng thể xác và người ta nghỉ một lát để uống một
chút cà phê hay một tách trà, đó vừa là một chốc lát làm
tươi mới lại vừa là thư giãn, điều đã hơi giống với
một thực tập thiền định hay trị liệu, nếu người ta
biết thư giãn tốt. Ngược lại, nếu người ta suốt ngày
uống cà phê, thì không chỉ người ta không thư giãn mà còn
căng thẳng và kích động hơn trước. Cũng thế, người ta
sẽ không rút ra được gì hay từ những bài thực tập này
nếu họ phóng mình vào trong đó mà hoàn toàn co rút và căng
thẳng. Không phải một cái gì kỳ diệu làm cho bạn tức
thời đi từ sự rối loạn qua một trạng thái ân sủng, nhưng
những bài thực tập đòi hỏi một sự tập trung nào đó.
Thế nên, khi cảm thấy căng thẳng, kích động, quan trọng
là trước tiên tạo ra trong đầu khoảng không gian bằng cách
thư giãn một ít trước khi bắt đầu những bài thực tập.
Trong trường hợp đó, người ta có nhiều lợi lạc khi bắt
đầu với một hoạt động thể xác nhẹ nhàng – một cuộc
đi dạo, làm vườn, nấu ăn sơ sài – sau đó người ta cảm
thấy bình an và thư giãn hơn, sẵn sàng làm việc với những
“bắp thịt” tâm thức.
Những
lời khuyên thực tiễn cho sự thực hiện những bài thực
tập
Những
bài thực tập được trình bày trong hình thức một chuỗi
được yêu cầu đi theo thứ tự. Sự tiến hành những bài
thực tập không phải được tổ chức theo lối tùy ý, nó
là một tập sự tuần tự những khả năng tâm thức khác
nhau. Vậy quan trọng là phải xem những thực tập này như
một tổng thể và thực hành chúng lần lượt, theo một chương
trình vạch sẵn. Không nên chờ đợi gì nhiều nếu người
ta nhảy qua những bài thực tập người ta không thích, hay
tập trung đặc biệt vào những bài thực tập người ta thích
ý, hay bay chập chờn giữa nhiều cái. Đó là một toàn thể
mà mỗi thành phần là cần thiết để bảo đảm sự liền
lạc ổn cố và hiệu quả của tất cả. Nếu một lực sĩ
chỉ làm việc với bụng và ngực, nó sẽ có một phần trên
quá nở, đặt trên đôi chân cào cào, thay vì một thân thể
hài hòa của một người trau dồi toàn thể những bắp thịt
của nó một cách quân bình.
Hiển
nhiên người ta nên thực hành những thực tập này càng đều
đặn càng tốt, những lợi lạc tùy theo mức độ cố gắng
mà họ đầu tư vào. Chúng ta hãy biết rằng nếu điều gì
chúng ta giữ trong lòng, chúng ta luôn luôn tìm thấy phương
tiện để làm điều đó : nếu những người làm việc suốt
ngày từ chối sự êm ái của cái giường vào lúc bình minh
để chạy bộ hay chơi quần vợt, chính là bởi vì họ tin
rằng điều đó làm tốt đẹp cho họ, và họ sẵn sàng có
cố gắng cần thiết để kiếm được lợi lạc phụ đó.
Nếu người ta thấy rằng những thực tập có một xác đáng
nào đó cho mình, người ta sẽ tìm ra thời gian để làm chúng,
như những người chạy bộ buổi sáng sớm. Người ta càng
đầu tư vào cái gì, người ta càng thành công trong cái đó.
Điều đó muốn nói rằng, mọi thực hành đều ích lợi,
dù nó có giới hạn thế nào, và dù người ta còn chưa có
thể có một sự thường xuyên. Thậm chí, trong một thời
gian đầu, người ta chỉ đọc những bài thực tập, người
ta có thể có ý thích trở lại với chúng và thực hành chúng
về sau, vào một lúc người ta thực sự cảm thấy chúng là
nhu cầu.
Càng
tiến trong chương trình những bài thực tập, có lẽ người
ta sẽ có cảm tưởng rằng một số được thích hơn những
cái khác, chuyện đó không có gì trầm trọng. Quan trọng là
làm tất cả với hết lòng mình, cái này sau cái kia, mà không
trú trong ý tưởng về một “kết quả”. Bạn chớ nản
lòng khi gặp vài khó khăn và hãy đơn giản kiên trì trong
sự thực hành của bạn. Ngược lại, nếu bạn đến một
điểm mà bạn có cảm tưởng mình đang liên tục chiến đấu
với chính mình, hay chiến đấu với bài thực tập đang đặt
cho bạn những vấn đề nan giải, tốt hơn là ngưng lại và
hãy tự cho mình một sự nghỉ mệt một hai ngày, trước khi
làm lại. Thật vậy, người ta chẳng được gì khi cưỡng
ép quá, vì việc đó chỉ làm mình thêm căng thẳng, trong khi
trái lại, cần để tâm thức thư giãn tối đa. Trong thời
gian nghỉ thực tập, chớ ngừng tất cả những thực hành
mà hãy dùng ba cái đầu tiên, “Thư Giãn” (số 2), “Cảm
Nhận” (số 3) và “Tự Mở Mình Ra” (số 4). Chúng sẽ giúp
bạn thư giãn để trở lại với thực tập “khó” với
tâm thức đã lại tươi mới.
Nếu
bạn bị nhiều tư tưởng tấn công trong khi thực tập, chớ
có lo âu. Ngay khi biết sự xao lãng của mình, bạn chỉ thư
giãn, rồi tập trung trở lại vào đối tượng thiền định.
Nếu như vậy không đủ, người ta cũng có thể nghỉ ngơi
một chút hay làm những thực tập thư giãn, trước khi nắm
lại sợi dây thực tập. Phải học cách nhận ra khi nào người
ta sẽ quá cứng rắn hay trái lại quá dễ dãi, để giữ một
mức độ trung dung.
Bạn
sẽ nhận thấy có nhiều thực tập đặt nền trên một sự
quán tưởng đức Phật. Không phải là Phật với tư cách
là một nhân vật lịch sử và tôn giáo, mà với tư cách là
biểu tượng chiến thắng của sự thanh tịnh nội tại của
tâm thức – giác ngộ, thức tỉnh và tràn đầy lòng bi –
đối với những nhiễm ô đã tạm thời che đậy sự thanh
tịnh đó. Tuy nhiên, nếu biểu tượng này làm khó khăn bạn
vì những lý do trí thức hay tôn giáo, để thay thế hãy tưởng
tượng tinh túy của lòng bi vũ trụ, trong hình thức một quả
cầu bằng ánh sáng thanh tịnh rực rỡ.
Những
thực tập sau đây không có ý định cho bạn những năng lực
siêu phàm, mà giúp bạn đối mặt với mọi trường hợp người
ta phải đương đầu trong đời sống hàng ngày. Nếu bạn
có cảm tưởng tiến bộ tốt hơn, nhất là trong việc giáp
mặt những khó khăn của bạn, thì bạn đang ở trên con đường
đúng. Thế nghĩa là, phải biết kiên nhẫn và không chờ đợi
có tức khắc những kết quả ngoạn mục : người ta không
thể xóa đi trong ngày một ngày hai những thói quen và những
phản xạ ích kỷ có hàng bao nhiêu năm. Người ta sẽ tìm
thấy một sự an ủi và khuyến khích nào đó khi tự nhớ
lại rằng người ta không làm công việc này chỉ cho mình
nó hay vì một kết quả tức thời, mà cũng cho tất cả những
người khác, và với những lợi lạc bao la dài hạn, cho họ
cũng như cho chúng ta.
Nếu
mặc dù với một liều lượng cố gắng và kiên nhẫn đủ
khá, người ta tiếp tục có nhiều khó khăn khi đối mặt
với những sự việc hàng ngày, với trong mình hay xung quanh
mình, người ta có thể tiếp xúc với tác giả (để tiếp
xúc với tác giả về những bài thực tập, xem Phụ lục cuối
sách) hay những người cộng tác với chương trình thực tập
này. Người ta cũng có thể nhờ một vị thầy tâm linh giúp
đỡ, hay tham dự một nhóm đã từng thực hành những bài
tập này và họ có thể cho một sự nương dựa nào. Tuy nhiên,
quan trọng là chớ lao ngay vào vòng tay của một “guru” đầu
tiên vừa mới đến, và cần biết về giá trị của vị thầy
hay của nhóm liên quan.
Khi
chương trình những thực tập hoàn toàn chấm dứt, người
ta có thể dùng theo ý muốn một thiền định nào đó đối
với những khó khăn đặc biệt mà họ sẽ gặp. Mỗi bài
thực tập đóng một vai trò riêng, và toàn bộ tạo thành
một chuẩn bị tốt đẹp cho những ai muốn theo đuổi một
hành trình tâm linh lâu dài và có kết quả. (Đối với đạo
Phật, cái gì có ở đích cuối cùng phải đã có ở những
bước đầu tiên. Những bài thực tập này đặt nền trên
căn bản Phật tánh và đưa đến mục đích là Phật tánh,
trí huệ và đại bi, vì thế giải thoát hay chứng ngộ viên
mãn Phật tánh là sự khai triển và thành tựu rốt ráo những
thực tập này ở mức độ cao nhất – ghi chú thêm của người
dịch tiếng Việt).
Một
điểm chót quan trọng : điều người ta học và hiểu về
những thực tập không phải là để cho chữ nghĩa chết khô,
mà để được đưa vào thực hành. Ích lợi gì khi thiền
định về lòng bi trong một giờ đồng hồ nếu giờ phút
sau đó người ta đã có một màn gây lộn với vợ hay cãi
nhau với hàng xóm ? Điều bạn đã học phải trở thành một
bản chất thứ hai, một cái gì theo bạn khắp nơi và trong
mọi hoàn cảnh. Để làm vững chắc động lực của bạn
và tránh quy về chính mình, bạn hãy kết thúc mỗi thời làm
việc với những thực tập bằng một ý nghĩ cho những người
khác, theo chủ đề sau :
Tôi
ước mong có thể áp dụng trong cuộc đời hàng ngày của
tôi và chia xẻ với tất cả những ai khổ đau về thể xác
hay tâm thức, tất cả điều gì tôi đã học hay hiểu hôm
nay. Nguyện rằng những nỗ lực của tôi liên hiệp với năng
lực của lòng bi vũ trụ để giúp đỡ họ vượt qua những
khó khăn của họ và tìm thấy lại hạnh phúc.
Câu
hỏi : Có nên tránh đặt ra những mục tiêu quá tham vọng
khi người ta làm những thực tập ?
Trả
lời : Không ích lợi lắm khi hy vọng những kết quả
quá lớn lao, bởi vì điều đó dẫn chúng ta đến chỗ hơi
bắt ép những sự việc. Những thực tập không phải được
làm để chuyển hóa đen ra trắng trong ngày một ngày hai, mà
để cho người ta hòa nhập những giáo pháp vào đời sống
hàng ngày.
Câu
hỏi : Khi thầy nói đến cái ngã (cái ta) được làm mạnh
thêm bởi giáo dục, đó có phải cùng một thứ với một
cảm giác mạnh mẽ về bản sắc của nó ? Có cái gì tốt
đẹp trong cái ngã không ? Nó không cần thiết với chúng ta
để sinh hoạt bình thường trong thế giới này sao ?
Trả
lời : Rõ ràng người ta cần một cái ngã có chức
năng nào đó, một cái gì để nói : “Tôi muốn đi đến
chỗ kia, tôi phải làm điều đó.” Nhưng một khi cái ngã
đã đóng vai trò thiết lập một bản sắc sơ khai này, không
cần thiết phải bám vào nó nữa và phải sẵn sàng lìa bỏ
nó, như khi người ta vất bỏ một đôi giày cũ mòn. Vậy
thì người ta cần một hình thức cái ngã nào đó lúc ban
đầu, nhưng khi nó đã phục vụ xong, người ta không cần
đến nó nữa.
Câu
hỏi : Nếu vì lý do này hay lý do khác mà người ta không muốn
quán tưởng đức Phật, người ta có thể thế chỗ bằng
cách tưởng tượng đức Jesus hay một đạo sư vĩ đại khác
mà người ta tin tưởng không ?
Trả
lời : Khi người ta nói đến một vị “Phật”, người
ta muốn nói đến một người có mọi phẩm tính mà danh từ
đó diễn tả : một người mà tâm thức hoàn toàn trong sạch
và đã thức tỉnh với bản tánh thật sự của những sự
vật, mà lòng bi là toàn khắp vũ trụ, và hoàn toàn tận tụy
vì những người khác. Nếu đó là điều mà đức Jesus hiện
thân đối với bạn, bấy giờ là như nhau khi hình dung Chúa
hay Phật.
Câu
hỏi : Nếu người ta bắt đầu thực hành những thực tập
đều đặn và người ta phải ngưng chúng trong vài tuần hay
vài tháng vì một lý do nào đó, người ta có thể bắt đầu
làm lại từ chỗ người ta đã ngừng hay tốt hơn là bắt
đầu trở lại hết ?
Trả
lời : Tất cả tùy thuộc vào cái mà bạn đã rút ra
được từ những bài tập bạn đã làm. Nếu bạn có cảm
tưởng bạn đã thâu hóa chúng khá tốt và chúng thật sự
làm lợi lạc cho bạn, bạn có thể tiếp tục từ chỗ bạn
đã dừng trước kia. Nếu không phải thế, tốt hơn là bắt
đầu lại từ đầu.
Câu
hỏi : Làm sao để tránh khỏi rơi vào những cạm bẫy của
thực hành tâm linh, như sự kiêu mạn khi người ta cảm thấy
có những tiến bộ ? Tôi tự hỏi khi người ta thực hành
một mình, với sách, không có thầy bên cạnh, người ta sẽ
tiến bộ thiên lệch chăng ?
Trả
lời : Rất có thể hình ảnh mà bạn tạo ra về chính
bạn từ khi sanh ra không tương đồng với thực tế, nếu
bạn không bao giờ phân tích. Có thể bạn tự tạo ra một
ý tưởng về mình hoàn toàn không có cơ sở nào cả, nhưng
bạn không biết gì, hơn nữa không có ai đã nói với bạn
hình ảnh ấy về bạn có trung thực hay không. Người ta có
thể tự nhủ “tôi là ánh sáng”, hay là Phật hay là Chúa,
nhưng rõ ràng đó chỉ là một tưởng tượng ảo giác. Thế
nên rất ích lợi khi có người nói cho chúng ta rằng chúng
ta không đẹp, không đức hạnh, không dị thường như chúng
ta tin như vậy, bởi vì điều đó tránh cho chúng ta tin vào
hình ảnh về mình mà chúng ta phóng chiếu và tránh cho chúng
ta tiếp tục đồng hóa với nó. Và chính trong chiều hướng
đó mà một vị thầy có thể làm cho chúng ta bớt loại sai
lầm này khi lột trần những ảo tưởng của chúng ta và dẫn
dắt chúng ta trong hướng đi đúng. Vậy thì quả là đúng
rằng người ta có thể tự lừa dối mình khi chỉ tín nhiệm
vào độc nhất một cuốn sách, bởi vì người ta có nguy cơ
giải thích nó riêng biệt theo hình ảnh mà người ta tự tạo
về mình, và một đường lối như vậy hoàn toàn nghèo nàn,
kém cỏi. Tôi cũng thêm rằng một cuốn sách thế nào cũng
có những giới hạn nội tại : nó cho một khuôn khổ quy chiếu
tổng quát, xác định một lần cho tất cả trên giấy, trong
khi cuộc sống thì thường trực biến đổi và mỗi trường
hợp người ta gặp là độc nhất.
Câu
hỏi : Vậy thì làm sao tránh loại vấn đề này khi người
ta không làm việc dưới sự hướng dẫn của một vị thầy
?
Trả
lời : Hãy nhấn mạnh vào lòng bi đến mức nào bạn
còn có thể, và hãy để bạn được hướng dẫn bởi nó
trong khi chờ đợi gặp được một người nào biết đường
lối mà chúng ta đang nói ở đây.
Câu
hỏi : Một sự tăng trưởng những cảm xúc tiêu cực và những
khó khăn có phải tất yếu là dấu hiệu là có cái gì không
ổn trong thực hành hay đó là một tác dụng phụ của việc
“chữa trị” đã đưa lên bề mặt những khuynh hướng có
thức ?
Trả
lời : Khó mà nói một cách trừu tượng như vậy ;
đó có thể là cái này hoặc cái kia, hay cả hai. Có thể người
ta luôn luôn có những phiền não này trong họ, nhưng người
ta còn chưa biết bởi vì người ta ít ý thức đến cái gì
xảy trong tâm thức. Khi người ta luôn luôn có khuynh hướng
có một ý kiến quá tốt về mình, người ta chỉ thấy cái
người ta muốn thấy – những mặt tốt. Đến nỗi rằng
những phiền não có vẻ khởi lên chẳng từ đâu cả khi người
ta lại ý thức đến chúng và tự phân tích. Có lẽ đó không
phải là một nhận xét khích lệ lắm, nhưng dầu sao, cái
đáng nói là chớ xem quá nghiêm trọng những tình cảm và
những phiền não này khi chúng được tìm thấy ở trong mình.
Chỉ cần ý thức cái gì đang xảy ra nơi mình, và nếu người
ta không phân cực vào một cái gì, thì người ta không phải
có những vấn đề lớn lao.
Câu
hỏi : Hiện giờ có nhiều người đề nghị nhiều loại hệ
thống “trị liệu”. Những hệ thống khác nhau này nói chung
đều ích lợi, và chúng khác với đường lối đặt nền
trên đạo Phật của ngài như thế nào ?
Trả
lời : Tôi không thể trả lời thay cho những người
khác, nhưng tôi tưởng tượng có nhiều người đề nghị
những biện pháp trị liệu lợi lạc, điều đó là tốt.
Có những cái khác thành công ít nhiều, và một số thậm
chí gây ra tai hại. Thật ra, phẩm chất của một phương pháp
chữa lành tùy thuộc nhiều vào động cơ của nhà trị liệu,
trong mức độ nhân cách của người ấy có một ảnh hưởng
lớn trên những phương pháp của mình. Nhưng điều ấy còn
tùy thuộc vào mức độ kinh nghiệm, và giá trị truyền thống
mà người ấy dựa vào : có một khác biệt lớn lao giữa
một hệ thống “gia đình” mà một người nào đó đã biến
chế từ những ý tưởng riêng của mình và của những người
khác rải rác đó đây, với những phát huy được truyền
thừa bởi một truyền thống đã có những chứng cớ của
nó. Trong nhãn quan Phật giáo, sự chữa lành được đặt nền
trên những kỹ thuật tâm thức nhắm đến thu hoạch sự điều
phục tâm thức. Điều này muốn nói rằng người nào biết
làm sao hàng phục tâm thức – bằng kinh nghiệm cá nhân và
không chỉ qua một hiểu biết lý thuyết – được đánh giá
là có đủ thẩm quyền để dạy những phương pháp ấy.
Câu
hỏi : Làm thế nào tôi có thể làm mạnh động lực của
tôi, ý muốn thực hành lòng bi của tôi ? Tôi hoàn toàn tin
sự cần thiết làm việc đó, nhưng luôn luôn có một cái
gì ngăn cản tôi – sự lười biếng, những bế tắc trong
tâm trí.
Trả
lời : Điều quan trọng là làm hết sức mình, tính
đến những điều kiện của riêng mình, hơn là chờ đợi
được hoàn hảo để giúp đỡ những người khác. Khi giúp
đỡ họ, người ta cũng tự giúp đỡ chính mình, và dù cho
người ta lầm lẫn, người ta cũng có thể rút ra những bài
học để tự cải thiện. Đặt sự thực hành của bạn trên
ý tưởng rằng bạn sẵn sàng giúp đỡ mọi người nào cần
đến bạn và làm tất cả những gì bạn có thể làm được
trong chiều hướng đó tốt hơn là nói với những người
khác : “Tôi rất thích giúp các bạn, nhưng tôi còn chưa hoàn
toàn sẵn sàng.”
Câu
hỏi : Đâu là sự khác biệt hay là mối tương quan, giữa
trị liệu và thiền định ?
Trả
lời : Không có sự khác biệt giữa chữa lành và thiền
định. Trị liệu muốn nói đến điều trị, chăm sóc, chữa
lành, và cũng phòng ngừa những bệnh tật, những mất quân
bình. Chúng ta hãy lấy một thí dụ đơn giản để phác họa
: nếu bạn làm đứt tay và bạn dán miếng băng lên đó, thì
ấy là một trị liệu vật lý ; nếu đồng thời bạn lợi
dụng điều đó để học không tự làm đứt tay một lần
nữa, điều này thuộc về phương diện tâm thức của sự
trị liệu. Mọi sự trị liệu liên hệ với phương diện
tâm thức đều liên kết với thiền định.
Câu
hỏi : Thế có phải muốn nói rằng, khi người ta biết thiền
định đúng, tức là người ta đang làm trị liệu bằng cách
thiền định ?
Trả
lời : Vâng, đúng thế. Nhưng điều đó cũng áp dụng
cho những việc khác : ăn, ngủ, mặc quần áo, và thư giãn,
tất cả những cái đó tham gia vào sự trị liệu theo nghĩa
rộng – mọi cái đáp ứng đầy đủ cho những nhu cầu của
chúng ta.
Câu
hỏi : “Có lòng bi” hiểu cho đúng là thế nào ?
Trả
lời : Theo tôi, có lòng bi nghĩa là bao gồm tất cả
mọi người vào trong cuộc đời của bạn. Để được như
vậy phải hiểu rằng tất cả chúng ta không trừ một ai đều
đi tìm hạnh phúc và đều tránh đau khổ và bất hạnh. Phiền
não, đó là do vô minh của chúng ta về bản tánh đích thực
của những sự vật mà người ta không thể tìm thấy hạnh
phúc, trong khi người ta không ngừng có những khổ nhọc và
khó khăn đủ mọi loại. Lòng bi, đó là tình thương vô điều
kiện. Đó là ý chí giúp đỡ bất kỳ ai cần sự giúp đỡ
của bạn, và với cùng một chăm sóc ân cần cho tất cả
: người mà bạn giúp đỡ có thể là hữu ích cho bạn hay
thậm chí giận dữ, hung bạo với bạn, hay tố cáo bạn những
việc bạn không hề làm – tất cả chẳng thay đổi gì được
ý chí muốn giúp đỡ họ. Ngược lại, những phản ứng như
vậy chỉ làm cho ý chí đó mạnh thêm. Người ta không chờ
đợi cái gì cho mình, không mong chờ một kết quả nào. Và
nếu một tình cờ bi thảm khiến người ta ngồi tù vì điều
người ta đã giúp đỡ một ai đó, lòng bi sẽ đưa đến
sự vui mừng đã có thể mang lấy gánh nặng của người khác,
đổi lấy hạnh phúc của mình. Thế đó là lòng bi thật sự,
cái cho đi tất cả mà không chờ đền đáp.
Câu
hỏi : Thầy đã nói có một lúc mà, nếu người ta thực hành
đúng đắn những bài thực tập, người ta có thể tự nhủ
người ta đang đi trong chiều hướng đúng. Thầy nghĩ điều
đó như thế nào ? Có những dấu hiệu cho phép người ta đánh
giá những tiến bộ của mình không ?
Trả
lời : Tôi nghĩ rằng nếu bạn nhận thấy rằng khi
thực hành những bài thực tập bạn đến chỗ sống những
biến cố hàng ngày tốt hơn và đối mặt với chúng tương
xứng hơn, đó là có một tiến bộ nào đấy. Nếu thực hành
đúng đắn những bài thực tập, người ta sẽ có ít khuynh
hướng tự tạo ra những vấn đề và tự đặt mình trong
những tình huống khó khăn. Người ta sẽ phát triển cái tốt
nhất của chính mình để trở thành một con người xứng
đáng với danh từ này.
CHƯƠNG
TRÌNH LÀM VIỆC
Đây
là vài chỉ dẫn cụ thể sẽ cho bạn một ý tưởng về thời
gian cần thiết để trải qua mỗi một thực tập, để bạn
có thể tổ chức công việc của bạn.
Những
điểm sơ khởi :
•
Chúng ta hãy nhấn mạnh một lần nữa vào sự quan trọng cần
theo THứ Tự những bài tập và chỉ đi qua cái tiếp theo sau
khi đã làm xong thời gian “học nghề” dự kiến cho mỗi
bài.
•
THờI
GIAN NHữNG THờI THựC HÀNH tùy thuộc vào sự mong muốn
của người ta muốn thực sự rút ra lợi lạc tối đa của
những thực tập. Chẳng hạn nếu người ta quá bận và chỉ
có nửa giờ một ngày cho chúng hay là có thời gian nhưng người
ta không cảm thấy có thể tự bó buộc để theo trọn vẹn
chương trình được yêu cầu thì làm sao ? Tốt hơn là chẳng
làm gì cả ? Thật ra, mọi nỗ lực đều khó nhọc : cốt
yếu là bạn tự định một thời khóa làm việc hàng ngày
kéo dài bao lâu, theo những bổn phận bắt buộc của bạn,
và giữ như vậy. Có lợi lạc hơn nhiều khi thực hành nửa
giờ mỗi ngày, đều đặn, hơn là một giờ lúc này, hai giờ
lúc khác. Chính sự liên tục của nỗ lực là điều quan trọng.
Lúc
ban đầu, có lẽ người ta thích làm hai thời ngắn hơn là
một thời dài ; điều đó không thành vấn đề, miễn là
đều đặn.
Thời
gian tổng thể để thực hành một thực tập – vài ngày,
một tuần hay hơn nữa – là một TốI THIểU theo chỉ định
; người ta không được gì cả nếu muốn đi qua quá nhanh
đến bài thực tập tiếp theo.
Lịch
và thời gian tối thiểu
thực
hành những bài thực tập
1.
TƯ THế : vài phút trước khi bắt đầu mỗi thời làm việc.
Tùy ý theo nhu cầu.
2.
THƯ GIÃN (BUÔNG Xả) : một phần tư giờ, trước mỗi thời.
Tiếp theo, tùy ý theo nhu cầu.
3.
CảM NHậN : 1 tuần, một thời một giờ mỗi ngày.
4.
Tự Mở MÌNH RA : 3 ngày, một thời 20 phút mỗi ngày. Tiếp
theo, tùy ý, khi nào người ta cảm thấy quá co rút.
5.
CầU VồNG : 1 tuần, một giờ mỗi ngày.
6.
TấM GƯƠNG :
Phần
đầu – 1 tuần là tối thiểu ; 15-20 phút một hoặc hai lần
mỗi ngày.
Phần
hai – 3 hay 4 tuần ; 15-20 phút mỗi ngày.
7.
BạN : 3 đến 4 tuần ; 45 phút mỗi ngày.
8.
ĐứC PHậT BÊN TRONG : 1 tuần ; một thời một giờ bốn mươi
lăm phút mỗi ngày.
9.
LÀM SốNG ĐộNG ĐứC PHậT BÊN TRONG : 4 tuần ; một thời
một giờ mười lăm phút mỗi ngày.
10.
TRIểN Nở, THU RÚT : 3 tuần ; một giờ mỗi ngày.
11.
Kẻ THÙ : 4 tuần ; một giờ hai mươi phút mỗi ngày.
12.
NHậN TRÊN CHÍNH MÌNH Sự KHổ ĐAU CủA CHA Mẹ VÀ GIA ĐÌNH
: 2 tuần ; một giờ mười lăm phút mỗi ngày.
13.
NHậN TRÊN CHÍNH MÌNH Sự KHổ ĐAU CủA Xứ Sở MÌNH, NHữNG
BạN BÈ VÀ THÚ VậT : 2 tuần ; một giờ mười lăm phút mỗi
ngày.
14.
NHậN TRÊN CHÍNH MÌNH Sự KHổ ĐAU CủA NHữNG Kẻ THÙ CủA
MÌNH : 4 tuần ; một giờ rưỡi mỗi ngày.
15.
KHốI CầU CầU VồNG : 6 tuần tất cả ; một giờ mỗi ngày
trong một tuần, cho mỗi màu.
16.
LÒNG BI VŨ TRụ : 4 tuần ; nửa giờ mỗi ngày.
Bài
Thực Tập số 1
TƯ
THẾ
Bạn
đã quyết định học điều phục con cọp bên trong, để tìm
thấy bình an trong chính bạn. Đây là vài chuẩn bị thực
tiễn để cho bạn dễ dàng trong khi tập sự những thực tập
: cần xác định nơi chốn và tư thế mà bạn sắp sử dụng.
Chọn
một nơi thích hợp
Nơi
ở là đặc biệt quan trọng với người mới học. Phải ở
một nơi tương đối yên tĩnh, xa tiếng ồn, những chuyện
vãn, và tổng quát hơn là xa mọi thứ có thể làm cho bạn
nhiều xao lãng.
Người
ta có thể ở ngoài trời, hay ở một chỗ yên tĩnh khác –
một khu vườn. Những “tiếng ồn” tự nhiên như nước
chảy hay chim hót không thành vấn đề, hơn nữa chúng còn
thường làm thư giãn. Nếu có dịp, đặc biệt tốt khi ngồi
trên đỉnh một ngọn đồi hay một chỗ bao quát cảnh vật,
hay bên bờ biển, nếu không có nhiều thứ làm xao lãng ở
chung quanh.
Nếu
ở trong nhà, phải tìm một nơi yên tĩnh, nghĩa là một góc
không bị quấy rầy bởi mọi loại làm bạn xao lãng (điện
thoại, người nói chuyện, TV, radio hay âm nhạc). Chỗ ngồi
phải thông thoáng và không nóng. Nói chung, một chỗ ngồi
hơi nóng một chút hơn là quá nóng, để tâm thức không ngủ
gật và cảnh tỉnh.
Một
tư thế tốt
Tư
thế thân thể có một ảnh hưởng thật sự với chúng ta,
trong mọi thời khắc của đời sống, hẳn thế, nhưng còn
hơn nữa trong thực tập thiền định. Tư thế có thể làm
thuận tiện hay ngược lại làm khó khăn cho hơi thở, sự
tuần hoàn của máu và những năng lực thần kinh trong thân
thể ; nó ảnh hưởng cách tích cực hay tiêu cực lên tình
trạng những cơ quan của chúng ta. Y học Tây Tạng và y học
Trung Hoa chứng tỏ rõ ràng thân thể chúng ta có một mạng
kinh mạch tinh vi như thế nào, chúng vận chuyển năng lực
qua toàn thân và những bộ phận khác nhau. Chính trên nguyên
lý này đã lập nên khoa châm cứu và những kỹ thuật xoa
bóp ; chúng cho phép chữa trị một số bệnh bằng cách tái
lập những quân bình năng lực qua trung gian một số điểm
năng lực ở những chỗ khác nhau của những đường kinh mạch.
Thế nên tư thế ngồi là quan trọng, để cho không ngăn chặn
sự lưu thông tự do của năng lực – gồm cả năng lực tinh
tấn – trong thân thể.
Nếu
ngồi tốt, những năng lực sẽ có thể di chuyển tự do trong
thân thể và người ta không cảm thấy khó chịu hay không
thoải mái. Điều này không chỉ nói đến một sự không thoải
mái thân thể – người nào cũng biết tê rần như kiến chạy
trong chân – mà cả tâm thức : nếu những năng lực (khí)
không lưu chuyển tốt trong thân, người ta có thể cảm thấy
khó chịu, bải hoải và mất quân bình, dễ bị kích động...
Nếu
có thể, người ta được yêu cầu ngồi xếp bằng, tốt nhất
trong tư thế hoa sen hay nửa hoa sen (kiết già hay bán già),
(hình 1 và 2). Nếu không thể, vì đôi chân quá cứng hay những
vấn đề sức khỏe riêng biệt, không phải khó nhọc tự
làm đau đớn
khi
vặn vẹo bằng bất cứ giá nào : người ta cũng có thể học
ngồi đúng trên một cái ghế (hình 3). Nếu người ta còn
trẻ và không có trở ngại đặc biệt, cần cố gắng vượt
qua những đau đớn ban đầu và học một trong các tư thế
này.
Dù
ngồi thế hoa sen hay nửa hoa sen, phải luôn luôn xếp chân
trái vào trước, chân phải đặt lên chân trái. Rồi điều
quan trọng nhất : thẳng lưng lên để cho tạo thành một đường
thẳng từ đáy xương sống đến ót. Thật vậy, chính trong
lưng mà tất cả mạng thần kinh làm các bộ phận thông thương
với bộ óc, và nếu thẳng lưng, những năng lực thần kinh
sẽ lưu chuyển quân bình trong toàn thân. Để ngồi tốt, phải
cảm thấy quân bình, vai thẳng mà vẫn thư giãn, không ép
về phía sau và không có cái này cao hơn cái kia.
Một
cái gối đệm là một phụ tùng quan trọng cho tư thế và
nó giúp giữ lưng thẳng : người ta sẽ chọn một khối đệm
vuông khá cứng, khoảng bốn mươi phân mỗi cạnh và dày từ
sáu đến mười hai phân. Thế nghĩa là tùy mỗi người tìm
thấy bề dày thích hợp nhất cho mình, theo hình thể và tư
thế của mình. Nếu ngồi theo thế hoa sen, tốt hơn là dùng
một gối đệm hơi dày hơn – khoảng mười hai phân.
Nếu
thế hoa sen hay nửa hoa sen tạo ra nhiều vấn đề, người
ta có thể ngồi trên ghế như nói ở trên hay quỳ gối, đùi
hơi xa nhau, ngồi trên một ghế đẩu thấp hay trên nhiều
đệm chất lên cho đủ chiều cao, để giữ lưng thẳng.
Về
hai tay có hai tư thế để chọn. Người ta có thể chỉ đặt
chúng duỗi thẳng nghỉ ngơi, bàn tay úp trên đùi, hai cùi
chỏ hơi mở (hình 3 và 4). Hay tay này đặt trên tay kia, phía
trước, nhẹ nhàng được đặt trên chân đã xếp : đặt
bàn tay trái lên trước, lưng bàn tay trên chân, lòng bàn tay
hướng về phía mình và những ngón tay hơi cong về phía trên,
thành hình như cái lò luyện vàng bạc. Rồi đặt bàn tay phải
lên, tư thế giống như bàn tay trái, và nối đầu hai ngón
cái lại (như hình 1). Cần giữ hai tay mềm mại và thư giãn
: không dựa lên với sức mạnh – trên đùi hay tay này trên
tay kia hay những ngón tay cái – mà để chúng ở tư thế đó
với nhiều thư giãn và tự nhiên càng tốt, điều không khó
khăn khi đã quen.
Khi
lưng thẳng và hai tay thư giãn, người ta hoàn thành tư thế
bằng cách nghiêng nhẹ ót về phía trước, như thế hơi kéo
cằm vào trong cổ. Người ta để miệng hơi mở, lưỡi ở
trên nóc họng ; người ta có thể thở cả bằng mũi và bằng
miệng, theo cách thích hợp với mình. Về phần mắt, thích
hợp là mở cả hai mắt, trừ khi dành cho những quán tưởng,
vì nếu quán tưởng mà mở mắt thì hơi khó, nhất là đối
với người mới học. Người ta cố định cái nhìn trước
mặt, ngay tầm lỗ mũi, trên một điểm khoảng nửa thước
đến hai thước. Không phải tập trung cái nhìn để thấy
một cái gì, mà để nó ở đó, trước mặt, không cố gắng
nhìn thấy. Nếu bạn thường mang kính, hãy gỡ nó ra.
Một
tư thế đúng là một sự quân bình giữa nỗ lực và buông
xả, để tạo những điều kiện tốt nhất cho sự an định
tâm thức. Không nên quá căng thẳng, cũng không quá thả lỏng.
Nếu người ta cảm thấy một sự chống cự tự thân mạnh
mẽ đối với tư thế, hay một căng thẳng quá độ, người
ta có thể làm ba bài thực tập đầu trong tư thế nằm dài,
ngửa lưng (hình 6). Như đối với thế ngồi, cốt yếu là
lưng thẳng. Để cho ót thẳng hàng với xương sống, cũng
phải hơi kéo cằm vào : người ta có thể dùng một cuốn
sách, một cái gối hay mền xếp dưới đầu. Nếu có đau
đớn trong phần dưới lưng, tốt hơn hãy nâng đùi lên một
chút với những cái gối để loại trừ sự không thoải mái
trong vùng thắt lưng (hình 5). Tuy nhiên, nên xem tư thế nằm
này như một sự sửa chữa tạm thời, và khi bạn đã quen
với những thực tập, hãy cố gắng tìm ra một tư thế ngồi
thoải mái.
Bài
Thực Tập số 2
THƯ
GIÃN
Hai
thực tập thư giãn này được đặt nền trên hơi thở và
dùng để thư giãn trước mỗi thời ngồi thiền. Người ta
có thể chọn lựa sự chuyển thể này hay chuyển thể kia
của thực tập, tùy theo sở thích.
Quan
trọng là thở tự nhiên, không ép buộc. Hơi thở vào có thể
sâu hơn và dài hơn bình thường, nếu điều đó tự nhiên.
Nhịp điệu của chu kỳ hơi thở của mỗi chuyển thể của
thực tập có thể phù hợp với trạng thái tâm thức đang
có : người ta có thể thở hơi nhanh nếu cảm thấy đau hay
bị những xúc cảm mạnh mẽ, hay trái lại chậm hơn nếu
cảm thấy tĩnh lặng và thư giãn.
Nếu
bạn khó buông lỏng trong bài tập thở này, hay bất kỳ bài
tập nào khác, hãy nằm dài ra một lát và để cho những tư
tưởng và những tình cảm của bạn đến đi tùy ý – mọi
thứ đi qua trong đầu bạn. Tiếp theo, thử làm lại thực
tập thở bằng cách kém thúc ép hơn trước.
Chuyển
thể thứ nhất :
Thực
tập gồm thở trong ba giai đoạn bằng nhau :
1.
Hãy thở vào tận cùng khi đếm đến năm.
Thật
ra, con số năm chỉ để biểu thị và bạn có thể giảm hoặc
tăng một chút để cho nó trùng hợp với nhịp điệu thở
tự nhiên của bạn lúc đó ; chỉ cần con số như nhau trong
ba giai đoạn thở.
2.
Giữ hơi thở của bạn lại và đếm đến năm.
3.
Thở ra (đếm đến năm) bằng miệng, vì nhờ vậy mà người
ta làm hết những căng thẳng một cách tốt nhất. Khi thở
ra hãy tưởng tượng bạn thoát khỏi mọi căng thẳng, như
bạn đổ trống một bình chứa đầy nước tù đọng, và
hãy để tâm thức đến và đi tùy theo ý nó.
Chớ
chú ý thời gian dừng vào cuối hơi thở ra ; hãy tiếp nối
tức thì hơi thở vào tiếp theo.
•
Hãy lập lại toàn bộ thực tập ba hay bốn lần.
Chuyển
thể thứ hai :
Ở
đây một hơi thở ra và một hơi thở vào tính là một chu
kỳ và bài tập cốt ở đếm thầm trong trí hai mươi mốt
chu kỳ thở.
1.
Hãy thở ra bằng miệng, hơi dài hơn bình thường, và hãy
nghỉ một chút trước khi tiếp tục thở vào.
2.
Thở vào bằng mũi, chậm và sâu hơn bình thường. Hãy nghỉ
trước khi thở ra, vừa đếm “MộT” cho chu kỳ đầu tiên.
•
Hãy lập lại chu kỳ hai mươi mốt lần, mỗi lần mỗi đếm.
Nếu bạn đếm lộn, hãy bắt đầu lại từ đầu.
Hãy
chọn phương pháp thích hợp hơn cho bạn và thực hành nó
trong ít ra là BốN NGÀY trước khi đi vào những bài thực
tập. Sau đó, nên bắt đầu một cách có hệ thống mỗi thời
thiền bằng một thư giãn ngắn ; người ta cũng có thể dùng
thực tập thở này để buông lỏng khi người ta cảm thấy
hơi bị căng, trong khi thực hiện một bài tập khác hay vào
mọi lúc khác của đời sống hàng ngày.
Bài
Thực Tập số 3
CẢM
NHẬN
Thực
tập nhằm để hòa giải với một trong những sự kiện sơ
đẳng nhất của đời sống chúng ta : cái người ta cảm nhận,
ở mức độ vật lý cũng như mức độ tình cảm. Một trong
những kết quả đáng giá của sự quan sát những cảm giác
thân thể là cảm thức thư giãn sâu xa do nó mang lại. Nhưng
điều đó đi xa hơn nhiều so với một thực tập thư giãn
đơn giản : sự kiện đơn giản nhìn thẳng vào những sự
việc rất cá nhân mà bình thường người ta thích che dấu
sẽ cho phép thanh toán một số lo ngại vẩn vơ và những căng
thẳng nối kết với nỗi sợ hãi giáp mặt với thực tế
– một thực tế thường tỏ ra rất đơn giản hơn nhiều
so với ý tưởng đáng sợ mà người ta đã tự tạo. Người
ta học nhận diện rất chính xác mọi cái người ta cảm nhận
và học tiếp nhận tất cả cấp độ màu sắc những cảm
giác và tình cảm được quan sát – từ những cái rất dễ
chịu đến những cái rất khó chịu. Chính sự học tập nhận
biết và tiếp nhận cái trải nghiệm bên trong này sẽ dùng
làm nền tảng cho sự thực hiện mục tiêu chính yếu của
sự chữa trị này : đối mặt với những sự vật và những
con người, như chúng tự trình diện với chúng ta trong cuộc
sống hàng ngày.
Người
ta thường có nhiều khuynh hướng lựa chọn điều người
ta cảm nhận : chạy theo những cảm giác dễ chịu, vật lý
hay tâm lý, và cố gắng tránh khỏi cái gì khó chịu với
mình. Đến mức độ người ta có thể bị khổ đau hay khó
nhọc xâm chiếm khi người ta không thấy và hiểu rằng khổ
đau không phải là cái gì cứng chắc và bất biến, rằng
nó cũng như mọi cảm giác khác, không phải là sự kiện cố
định mà là một thủy triều của kinh nghiệm thường trực
biến đổi và chuyển hóa và tiếp nối với những cái trung
tính hay tích cực. Ở đó người ta chạm đến sự biểu lộ
của vô thường ở mức độ tinh vi và sâu xa của kinh nghiệm,
một sự thực mà người ta sẽ khám phá càng lúc càng rõ
hơn khi thực hành thực tập này. Điều đó sẽ cho phép chúng
ta thu hoạch dần dần một thái độ thư giãn hơn đối với
những tình cảm và cảm giác của chúng ta.
Mô
tả thực tập
1.
Sắp đặt
Hãy
ngồi thẳng lưng, hay nằm duỗi dài, và ý thức sự xúc chạm
của thân thể bạn với đệm ngồi, hay mặt đất. Hãy cảm
thấy rõ ràng tất cả những điểm tiếp xúc và những khác
biệt về cường độ tựa vào, từ một chỗ này đến chỗ
khác. Hãy nhận xét những cử động thở biến đổi rất
nhẹ áp lực trên những điểm tiếp xúc khác nhau giữa thân
thể và những điểm tựa như thế nào. Khi bạn đã ý thức
những cảm giác này tác động lên thân thể đang ngồi hay
nằm của bạn, bạn có thể qua giai đoạn tiếp theo, đi vào
một phân tích chi tiết hơn.
2.
Phân tích chi tiết những cảm giác thân thể
A.
Từ thấp lên cao
Hãy
quan sát những cảm giác bạn cảm thấy trong ngón chân cái.
Nếu bạn không thấy có gì đặc biệt, hãy đơn giản cảm
nghiệm nó và đi qua những ngón kế tiếp khi ghi nhận điều
bạn cảm thấy trong hai chân.
Di
chuyển sự chú ý của bạn dần dần từ những ngón chân
đến tất cả bàn chân và hãy chú ý vào sự khác biệt cảm
giác nhỏ nhất mà bạn có thể quan sát được từ một điểm
khác, dần lên khắp bàn chân : một cảm giác lạnh, nóng,
nặng, nhẹ, nhột, trọng lượng, bồng bềnh v.v... Ghi nhận
điều bạn cảm thấy mà không có những bình luận gì.
Hãy
tiếp tục di chuyển sự chú ý của bạn lên đùi và đến
háng, vừa hoàn toàn ý thức điều bạn cảm nhận. Tiếp theo
qua tay, bắt đầu từ những ngón tay ; đi lên từ bàn tay và
cánh tay cho đến vai. Dẫn sự chú ý của bạn xuống cuối
xương sống và đi lên rất nhẹ nhàng, từng đốt từng đốt
; hãy nhận xét dần dần mọi điều bạn cảm thấy, trong
lưng và phần thân. Hãy lưu ý những cảm giác liên kết với
một vài bộ phận và với chuyển động thở. Trong mức độ
có thể, hãy bằng lòng nhận xét những cảm giác của bạn,
không phân tích, giải thích hay ghi chép chúng.
Khi
bạn đến ót, tiếp tục di chuyển sự chú ý của bạn qua
cổ và yết hầu – cảm thấy cả ngoài lẫn trong – và đến
miệng. Rồi khám phá mỗi chi tiết của mặt và đầu – bên
trong và bên ngoài – và chấm dứt bằng cách để sự chú
ý của bạn nghỉ ngơi nơi trung tâm đỉnh đầu.
B.
Về phía dưới
Lần
này, người ta làm lại cuộc du lịch theo chiều ngược lại,
nhưng nhanh hơn nhiều. Hãy tưởng tượng thân thể bạn là
một loại bình chứa đầy nước, và bạn mở những nút ở
dưới bàn chân. Hãy theo dõi sự hạ thấp mực nước đang
chảy ra và ghi nhận những cảm giác của bạn về mỗi mức
nước trong khi lưu ý điều bạn cảm thấy một cách toàn
bộ mà không phải trong chi tiết về mỗi phần thân thể nước
rút qua. Khi bạn xuống đến những ngón chân, hãy dẫn sự
chú ý vào chuyển động tự nhiên của hơi thở đối với
toàn bộ thân thể.
Phần
còn lại của thời thiền để chỉ quan sát những chuyển
động của hơi thở, mà vẫn rất thư giãn và không ép buộc
sự chú ý. Hãy chấm dứt bài thực tập bằng cách duỗi hết
toàn thân.
•
Quan
trọng : Hai thời của bài tập bổ túc lẫn nhau : chớ
quên phần hai – sự đi xuống trở lại từ đầu đến chân.
Dầu có thích một trong hai thời hơn, thì cả hai tạo thành
một tổng thể và phải được thực hiện như vậy.
Câu
hỏi : Nên làm gì khi trong thực tập, người ta gặp những
cảm giác rất khó chịu, không thể bỏ qua được, và người
ta không thể tiếp tục như không có gì xảy ra ?
Trả
lời : Chắc chắn tốt hơn là làm lại một ít thư
giãn hơn là muốn bằng mọi giá qua bài tập kế tiếp. Tuy
nhiên, nếu những cảm giác khó chịu ấy kéo dài, thậm chí
sau nhiều tháng thực hành, có lẽ phải đối diện bằng cách
nắm sừng con bò mộng : chấp nhận sự có mặt của những
cảm giác ấy và nhìn thẳng vào chúng.
Câu
hỏi : Khi thầy nói “làm lại sự thư giãn”, có phải đó
có nghĩa là một trong những thực tập hơi thở ?
Trả
lời : Tôi nghĩ rằng bạn chỉ cần tự thư giãn, buông
lỏng một lúc, thời gian để cho những cảm giác của bạn
tan biến. Hãy thử không nghĩ gì khác đặc biệt, không loay
hoay bực bội.
Câu
hỏi : Khi tôi thực tập bài này, tôi không thể gỡ sự chú
ý của tôi khỏi chỗ nó đã ở. Phải làm sao ?
Trả
lời : Có lẽ bạn đã tự tạo một ý tưởng quá cứng
đặc hay quá nặng nề về cái bạn tưởng tượng khi thực
tập, hay bạn đã cung cấp một cố gắng không hợp cỡ cho
việc cần làm. Đôi khi, một cái vít không vào trong lỗ, đó
là vì nó lớn quá, phải cần cái nhỏ hơn. Có lẽ bạn cần
làm nhẹ nhàng hơn...
Câu
hỏi : Nếu những cảm giác tôi thể nghiệm làm nổi dậy
mọi loại tình cảm và kỷ niệm không ngừng trở lại, phải
xem xét và phân tích chúng hay chỉ chú ý vào những cảm giác
mà thôi ?
Trả
lời : Bạn hãy cố gắng quan tâm vào những cảm giác
và không chú ý quá vào điều gì chúng gây ra trong bạn.
Câu
hỏi : Khi làm thực tập này, tôi đã khám phá ra những cảm
giác tôi chưa hề cảm thấy. Đó có phải chỉ là kết quả
của sự tưởng tượng của tôi không ?
Trả
lời : Không nhất thiết. Có lẽ những cảm giác ấy
đã có ở trong đó, trong bạn từ lâu, nhưng bây giờ bạn
mới ý thức. Bạn bắt đầu thấy chúng rõ ràng hơn một
chút.
Bài
Thực Tập số 4
TỰ
MỞ MÌNH RA
Bài
tập này nhằm giúp bạn nuôi dưỡng một thái độ mở rộng
với những người khác, và sửa soạn cho bạn giúp đỡ họ
tốt hơn. Sự phát triển cá nhân của bạn không phải là
một cái gì trừu tượng xảy ra ngoài dòng sống hàng ngày
của bạn ; trái lại nó tự nuôi dưỡng bằng tất cả những
gì đến với bạn mỗi ngày và bằng mọi thứ xảy ra trong
bạn. Vậy bạn hãy chấp nhận toàn khối chất liệu nguyên
sơ này. Hãy quan sát những tư tưởng của bạn, những tình
cảm và cảm giác của bạn, và hãy để chúng đến và đi
tự do, không phân biệt cũng không kiểm duyệt.
Thực
tập này cũng rất ích lợi để thực hành sự thư giãn, trong
mức độ người ta học tự để cho những tư tưởng hay tình
cảm đến một cách trọn vẹn, không tìm cách giữ lại hay
kiểm soát, dù chúng có dữ dội hay hủy hoại thế nào. Thực
ra chúng là những chất liệu cần thiết cho sự phát triển
lòng bi, và để cho điều này, không có gì tốt nhất so với
những cái khác : chúng đều có cùng giá trị và cùng sự
ích dụng trực tiếp như nhau. Vậy thì đó là phương tiện
tuyệt hảo để giải thoát khỏi những tình cảm mà người
ta đã dồn nén hay kềm giữ trong mình.
Mô
tả thực tập
Chuẩn
bị
Hãy
dành một chốc lát ý thức về những cảm giác thân thể
của bạn, toàn bộ và tự nhiên, không theo một lộ trình
cố định và chi tiết như trong thực tập trước. Để bắt
đầu, hãy ghi nhận những tư tưởng và những tình cảm mà
những cảm giác khác nhau này gây ra nơi bạn, rồi hãy quan
sát mọi cái tự trình diện với tâm thức bạn : tư tưởng,
ý tưởng, cảm giác, xúc động. Hãy để chúng đến và đi
tự do, không chọn lọc hay chối bỏ bất cứ cái gì. Chớ
nghi ngờ rằng bạn đang có ở đó chất liệu ban đầu cho
sự phát triển cá nhân của bạn và rằng tất cả đều ích
lợi.
Quán
tưởng
Bài
thực tập này phối hợp sự quán tưởng một hình ảnh –
sự hình dung của tâm thức về một hình ảnh – với hơi
thở của bạn, ở đây sự nhấn mạnh đặt vào thời gian
thở ra.
Hãy
tưởng tượng sự bao la của không gian trước mặt bạn. Tiếp
theo hình dung một cái cửa lớn mở rộng ra không gian. Hãy
tưởng tượng khi bạn thở ra, mọi tư tưởng, tình cảm và
cảm giác trút ra khỏi bạn và tạo thành một dòng chảy lớn
và liên tục. Khi dòng này đi qua cửa lớn, hãy cảm thấy
dòng chảy biến thành ánh sáng chói lọi mặc dầu hình thức
hay bản chất ban đầu của những tư tưởng và những yếu
tố kinh nghiệm khác tạo thành dòng chảy có thế nào. Mọi
cái biến thành ánh sáng chói lọi, tượng trưng lòng bi vũ
trụ, tuôn trên tất cả cái gì đang sống trong vũ trụ. Hãy
cảm thấy ánh sáng chói lọi này của lòng bi đem đến cho
mỗi chúng sanh khắp trong vũ trụ điều mà nó muốn và nó
cần.
Dần
dần, tất cả không gian tràn đầy ánh sáng chói lọi, đến
độ không còn ai trong thế giới ở ngoài ảnh hưởng của
lòng bi vũ trụ. Điều này rõ ràng cũng áp dụng cho chính
bạn : bạn hãy thâm nhập vào cảm thức rằng ánh sáng chói
lọi mang lại cái mà bạn muốn.
Nếu
bạn không thể hình dung rõ ràng ánh sáng chói lọi và giữ
hình ảnh của nó trong tâm thức, điều đó không trầm trọng.
Quan trọng là cảm nhận nó, cảm nhận rằng mọi cái trong
bạn đã thực sự chuyển hóa thành ánh sáng chói lọi tuôn
trào lên toàn bộ vũ trụ.
Dù
cường độ hay sự dữ dội nhất thời của những tình cảm
của bạn có thế nào, chớ sợ hãi ; chớ đè nén chúng vì
chúng cấu thành chất liệu ban sơ của lòng bi. Hãy đặc biệt
nghĩ đến những người đang khổ đau vì những tình cảm
tương tự.
•
Hãy
thực hành bài tập này trong ba ngày, một thời hai mươi phút
mỗi ngày.
Ngoài
ba ngày dành cho thực tập này trong khuôn khổ toàn bộ chương
trình, bạn có thể luôn luôn làm nó vào bất kỳ lúc nào,
ngay khi bạn hơi cảm thấy căng thẳng. Bạn cũng có thể trở
lại với nó một hay hai ngày nếu bạn có vài khó khăn hay
căng thẳng đặc biệt khi bạn thực hành một trong những
bài tập về sau.
Chớ
ngần ngại mà không dùng nó vào mọi lúc của đời sống
hàng ngày, dù chỉ vài phút, khi bạn cảm thấy bức bách,
căng thẳng, hay lo âu bởi những khó khăn đặc biệt.
Câu
hỏi : Khi người ta thở ra và mọi thứ đi ra qua cái cửa
lớn, cửa vẫn mở hay đóng lại mỗi khi thở vào ?
Trả
lời : Trên nguyên tắc, nó vẫn mở, nhưng không bắt
buộc cấm tưởng tượng cái cửa mở khi thở ra và đóng
khi thở vào.
Câu
hỏi : Nếu người ta chỉ tập chú vào hơi thở ra, những
tư tưởng và tình cảm có tiếp tục đi ra qua cánh cửa lớn
trong thời gian thở vào không ?
Trả
lời : Vâng, điều đó tiếp tục (dầu người ta có
tập trung vào điều đó hay không).
Câu
hỏi : Có thể thay vì quán tưởng cái cửa lớn trước mặt
tôi trong không gian, tôi lại tưởng tượng chính tôi là cánh
cửa lớn ấy ?
Trả
lời : Điều đó không đặt thành vấn đề.
Câu
hỏi : Có phải người ta cũng đi theo bằng tâm thức hành
trình của ánh sáng và tưởng tượng rằng những người đang
đau khổ nhận được cái mà họ cần ?
Trả
lời : Hẳn nhiên. Bạn có thể tưởng tượng bạn gởi
ánh sáng một cách tổng quát cho tất cả những ai đang khổ
đau, hay riêng biệt cho một hoặc nhiều người nào đó.
Câu
hỏi : Người ta có thể dùng thực tập này để làm việc
hầu cải thiện vài quan hệ cá nhân khó khăn không ? Chẳng
hạn, nếu có người nào có khuynh hướng đối xử với tôi
như tôi luôn luôn sai lầm, có ích lợi khi tôi tưởng tượng
rằng tất cả sự tức giận và ác cảm của tôi đi ra qua
cái cửa lớn và chuyển hóa thành ánh sáng chói lọi của
lòng bi, nó giúp đỡ người này tự cảm thấy tốt hơn và
không luôn luôn thù ghét tôi nữa ?
Trả
lời : Điều đó có thể thực sự ích lợi.
Câu
hỏi : Khi những tình cảm đổ về cái cửa lớn, người ta
có tưởng tượng chúng trong những hình dạng đặc biệt,
hơi giống như một khúc phim trong đầu hay như khói không ?
Hay chỉ cảm nhận chúng mà thôi ?
Trả
lời : Tôi không tin rằng bạn cần phải tưởng tượng
khói – vấn đề chỉ là cảm nhận những sự vật.
Bài
Thực Tập số 5
CẦU
VỒNG
Trong
những thực tập trước, người ta đã làm việc trên tâm
thức nhờ những đối tượng “bên trong”, như hơi thở,
những cảm giác và một quán tưởng phát sinh của lòng bi.
Với “Cầu vồng”, người ta sắp tập trung trên những đối
tượng “bên ngoài” mình, và cố gắng tri giác bản tánh
thật sự của chúng. Những đối tượng này có thể thuộc
về một trong ba phạm trù sau đây :
•
những đối tượng có giá trị (như một đá quý) ;
•
những đối tượng không có giá trị buôn bán và không thuộc
về chúng ta (như một viên sỏi hay một cọng cỏ) ;
•
những đối tượng thuộc về chúng ta, có giá trị hay không
(tất cả mọi thứ người ta quan niệm “thuộc về tôi”
hay “thuộc về chúng ta”).
Thực
tập này có một mục tiêu phân ba :
1.
Làm cho chúng ta khám phá khuynh hướng của tâm thức bám chặt
vào những đối tượng và hiển lộ cho chúng ta thấy sự
bám luyến này ngăn cản chúng ta thấy những sự vật đúng
như chúng là.
2.
Làm cho chúng ta ý thức về vô thường, sự không có tính
“cứng đặc” của mọi vật bao quanh ta, ngay cả với những
vật có vẻ cứng đặc nhất và bất động nhất.
3.
Làm cho chúng ta thoát khỏi ý kiến sai lầm – của rất nhiều
người – rằng chúng ta không thể “quán tưởng”, nghĩa
là tưởng tượng về những sự vật, không thể tự tạo
một hình dung thuộc tâm thức. Ở đây, đối tượng ở trước
mặt chúng ta, thường trực trong tầm nhìn, đến độ người
ta không có cảm tưởng phải ép buộc nhiều để tưởng tượng
ra nó. Thực tập này là một tiếp cận đầu tiên với sự
“quán tưởng”. Quán tưởng, là làm ra một hình ảnh thuộc
tâm thức rõ ràng và hiện thực một cái gì, nhưng đồng
thời hình ảnh đó sáng rỡ và không thể sờ nắm, như một
cầu vồng. Chúng ta sẽ trở lại với nó chi tiết hơn trong
dịp thực hành bài số 8. Lúc này, người ta học tự tạo
một hình ảnh tâm thức của một đối tượng, rồi tiếp
theo để cho nó tan biến, một cách rất tự nhiên.
Mô
tả thực tập
Thực
tập này dạy bạn chuyển hóa bằng tâm thức một vật gì
thành cầu vồng. Vậy hãy lấy một đồ vật gì của bạn,
không có giá trị nhiều lắm, và đặt nó trước mặt bạn,
thế nào cho bạn có thể thấy nó trọn vẹn. Hãy nhìn nó
và nghĩ đến trong một lát giá trị nó có đối với bạn.
Tiếp theo, vẫn để mắt mở, hãy tưởng tượng trước mặt
bạn một phiên bản đúng của đồ vật này, bên cạnh nguyên
bản. Rồi tưởng tượng bạn đập vỡ nó, biến nó thành
từng mảnh càng lúc càng nhỏ, và cuối cùng thành bụi. Những
phần tử còn lại nhỏ, tinh vi đến độ người ta khó thấy
chúng.
Hãy
tưởng tượng rằng bạn gom tất cả những hạt bụi đó
lại, không mất một hạt nào, bấy giờ tự hỏi : “Đồ
vật đối tượng ấy đâu rồi ? Mới cách đây vài khoảnh
khắc, có một đồ vật ấy ở đó, với một tên và một
giá trị riêng. Đồ vật đó đã đi đâu, cả tên và giá
trị của nó ?”
Tiếp
theo, hãy chuyển hóa bằng tâm thức đống bụi thành một
cầu vồng có thể là đủ màu sắc, hay một màu nhưng theo
cấp độ đậm nhạt. Tùy theo cái gì bạn thấy dễ dàng nhất.
Từ cái cầu vồng bằng bụi này, hãy tạo lại một cầu
vồng đồ vật. Bạn trở lại với một phiên bản của đồ
vật ban đầu, miễn là cái đồ vật này được làm bằng
cầu vồng ; bởi thế nó không thể sờ nắm, không có chút
chất thể nào.
Bây
giờ hãy nhận ra rằng nó không có một giá trị buôn bán
nào.
Để
chấm dứt, hãy hòa tan đồ vật bằng cầu vồng trong cái
đồ vật nguyên bản luôn luôn ở trước mặt bạn. Hãy nhận
xét kinh nghiệm này có thể chuyển đổi sự đánh giá của
bạn về đối tượng và giá trị mà nó đã có trước đây
trong con mắt bạn như thế nào.
•
Quan trọng là giữ hai mắt mở trong suốt thực tập : khi tưởng
tượng phiên bản của đồ vật, hãy giữ cái nhìn trên nguyên
bản trước mặt bạn, nhưng không chăm chú vào nó. Khi bạn
bắt đầu mệt hay co rút lại, hãy dừng một lúc và làm một
trong ba thực tập đầu tiên để thư giãn.
Hãy
chọn một đối tượng khác vào mỗi lần thực tập. Hãy
bắt đầu bằng một vật có giá trị ít và mỗi lần tiến
thêm đến một sự vật càng ngày càng quý giá với bạn.
Hãy thay đổi một ít về chủng loại đồ vật và hãy tưởng
tượng với sự chính xác rõ ràng cách bạn làm nó tan ra từng
mảnh : chẳng hạn, nếu bạn chọn một bức tranh bạn có
thể cào rách vải, lấy hết sơn đi, biến nó thành bụi,
làm vỡ vụn cái khung. Trong trường hợp một tấm thảm, người
ta có thể tháo khổ vải, rút những sợi chỉ, tháo ra những
sợi tơ... Hãy biểu lộ trí tưởng tượng...
•
Hãy
thực hành bài thực tập này trong một tuần, khoảng một
giờ mỗi ngày.
(Lời
nói thêm của người dịch tiếng Việt : Ngài Tilopa, vị
sư tổ của phái Kagyu có nói : “Không phải các hình tướng
đã trói buộc con vào sanh tử, mà sự bám chấp vào các hình
tướng đã trói buộc con vào sanh tử.” Bài kệ kết thúc
kinh Kim Cang là : “Tất cả pháp hữu vi. Như mộng huyễn bào
ảnh. Như sương cũng như chớp. Hãy quán thấy như vậy.”
Kinh Hoa Nghiêm phẩm Thập Nhẫn cũng nói đến các nhẫn : như
huyễn nhẫn, như mộng nhẫn, như hóa nhẫn, như không nhẫn...
Kinh Đại Bát Nhã nói đến “bất khả đắc” như là chỗ
chứng ngộ của hành giả đối với các hình tướng hiện
tượng.
Tóm
lại có thể nói mục tiêu các pháp quán tưởng của đạo
Phật là nhằm để phá trừ sự chấp tướng này để cho
chân lý, thực tại, Pháp thân, Phật tánh... biểu lộ.
Như
thế, đây là một quán tưởng có vẻ như đơn sơ nhưng thật
ra là để đáp ứng cho một mục tiêu trọng yếu của đạo
Phật, nó là một pháp quán tưởng nhằm hiện thực hóa những
câu kinh được trích dẫn ở trên. Từ một thực tập này,
chúng ta có thể nhìn thấy những bài thực tập ở đây đều
nhằm đến những mục tiêu cao nhất của đạo Phật là giải
thoát và Phật tánh. Bởi thế, những bài thực tập không
chỉ là sự chữa lành, trị liệu theo nghĩa thông thường,
mà có nghĩa là chữa trị mọi phiền não của chúng sanh để
đưa người ta thấy được nền tảng Phật tánh của mình.
Do đó, trong kinh điển đã từng nói đến đức Phật như
là bậc Đại Y Vương, người thầy thuốc chữa khỏi căn
bệnh của ba cõi sanh tử.)