THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả
 
Mật TôngTây Tạng
 

 
.
NGHỆ THUẬT 
ĐỂ SỐNG TRỌN VẸN Ý NGHĨA CUỘC ĐỜI
Akong Tulku Rinpoche
Kagyu Samye Ling 1987, L’art de dresser le tigre intérieur Akong Rinpoche, 1991 Sand, Paris
Việt dịch: Nguyễn An Cư - Nhà xuất bản Thiện Tri Thức, 2001

CHƯƠNG V
ĐỐI MẶT

Chớ vui thích khóc than cho số phận mình !
Bảy Điểm Tu Tâm của Atisha

Giữa khoảnh khắc người ta gặp đạo lần đầu tiên và giờ phút tâm thức thức tỉnh hoàn toàn trong sự trọn vẹn những phẩm chất tự nhiên của nó, cuộc du hành có thể lâu dài và gian khổ. Nếu người ta trù tính một cách nghiêm túc để ra đi, phải suy nghĩ đến sự tổ chức thực tiễn của cuộc du hành của mình. Chẳng hạn, chỉ nói : “Tôi muốn đi từ Việt Nam sang Ấn Độ” thì không đủ để đến đó. Phải chọn một phương tiện chuyên chở – xe hơi, xe lửa hay máy bay và khó nhọc tổ chức hành trình. Nếu người ta không cố gắng một chút cần thiết khi khởi hành, người ta không bao giờ đi đến đâu cả, và người ta sẽ cứ giam hãm trong nhà mình – và thất vọng.

Khi muốn đi đâu, phải xác định điểm khởi hành của mình, phương tiện di chuyển và hành trình của mình, rồi phải ra đi. Điều đó cũng đúng với sự du hành tâm linh : mục đích của nó là đưa ta đến chỗ sống một cuộc đời hoan hỷ hơn và bừng nở hơn, đồng thời hữu ích hơn cho những người khác, và điểm khởi hành là cái đời sống bình thường hàng ngày của chúng ta. Cái hàng ngày đầy dẫy những sự kiện đủ mọi loại tạo thành nguyên liệu cho công việc tâm linh, bởi vì chính qua sự đa dạng của những kinh nghiệm mà người ta có thể học và tiến hóa. Đời sống hàng ngày là một mỏ những bài học của trí huệ ban cho những ai muốn học chúng, bất kể trình độ giáo dục hay văn hóa.

Bài học đầu tiên chắc chắn cốt ở quên đi những thói quen xấu của chúng ta. Người ta có khuynh hướng lẩn tránh hay bỏ lơ những vấn đề đặt ra cho chúng ta trong môi trường xã hội, nghề nghiệp hay gia đình, như thể người ta thử che dấu sự không thỏa mãn và khổ đau mà người ta cảm thấy nơi mình. Nếu người ta muốn thành thật với chính mình, người ta sẽ bắt buộc nhận ra rằng trong một nghĩa nào đó người ta vẫn còn tập đánh vần trong việc quản lý những khó khăn của cuộc sống hàng ngày. Có lẽ người ta thích thực hành những kỹ thuật thiền định ngoại lai trong hy vọng ngày nào có thể khinh thân hay bay lên, trong khi chắc hẳn ích lợi hơn nếu trước tiên học đứng vững trên đôi chân của mình. Một số người tự đánh giá đã nhiều tiến hóa, nghĩ rằng họ chẳng cần gì một lời giáo huấn, khuyên bảo, trong khi một cách vô thức họ tái sản xuất không ngừng cùng những bản in như nhau trong cuộc sống và luôn luôn tự tạo cùng những khó khăn. Thế nên ở đây chúng ta nhắm đến mục tiêu chính yếu là học chấp nhận và điều hành những tình huống thông thường của cuộc đời hàng ngày. Người ta không thể chờ đợi những tiến bộ thật sự trước khi biết rằng người ta cần một sự tập sự như vậy.

Đã hiểu sự cần thiết của một con đường, còn phải lên đường. Trong một thế giới lý tưởng, có lẽ có thể ăn ở một cách tiện nghi, một điếu xì gà trong tay, một ly rượu vang trong tay kia, bao quanh bởi những cô nàng lộng lẫy hay những tình nhân nồng nhiệt, và thanh thản chờ đợi tâm thức tỉnh dậy một mình. Thực tại không phải cũng mộng mơ như vậy : người ta chẳng đến đâu cả nếu không có một cố gắng tối thiểu. Không có giấc mộng nào, không có ám ảnh hoang đường nào có thể che chở cho chúng ta khỏi những khổ đau đang chờ đợi chúng ta nếu chúng ta không học đối mặt với cái hàng ngày bằng cách bình định tâm thức chúng ta.

Vậy người ta cần xét xem những phương tiện để thực hiện cuộc hành trình tâm linh. Việc đầu tiên là thuần hóa tâm thức mình để có một căn cứ vững chắc từ đó người ta có thể tiến bộ. Đó là căn bản. Thiếu một căn cứ như vậy, người ta sẽ không thể lợi dụng đầy đủ cơ hội hãn hữu cho sự phát triển mà cuộc đời làm đàn ông hay đàn bà mang lại. Điều phục tâm thức là một ưu tiên tuyệt đối : đối với chính mình, bởi vì đó là cách duy nhất để học điều hành một cách tích cực tất cả những gì cuộc đời mang lại cho chúng ta, bằng cách dùng mọi chất liệu của cuộc hiện sinh để làm sanh trưởng trong chính mình trí huệ và lòng bi. Nhưng cũng đối với những người khác, bởi vì một trong những mục tiêu chính của sự nuôi dạy tâm thức là thu hoạch lòng bi, cái cho chúng ta có thể giúp đỡ người khác, không phân biệt chúng sanh nào.

Một khi căn cứ này đã được lập, người ta sẽ có thể tiến hóa một cách xây dựng nhưng tiệm tiến, vì người ta không thể đốt giai đoạn. Dù người ta có thành công trong nghề nghiệp hay trong xã hội, phải chấp nhận rằng người ta chưa thật tiến hóa trên bình diện làm chủ tâm thức – những xúc động, những tư tưởng, những tình cảm của mình. Nếu người ta cần chế ngự tâm thức mình, đó là bởi vì bao giờ người ta còn sợ mất cái người ta có – tiền bạc, đồ vật, người thân, chưa nói đến chính cuộc đời mình – thì người ta còn khổ đau. Phải bắt đầu bằng sự bắt đầu.

Hãy tưởng tượng bạn tìm ra một cục kim cương nguyên sơ ; nếu bạn biết mài giũa đẽo gọt, bạn có thể phát giác tất cả vẻ đẹp của nó và làm thành một đồ trang sức huy hoàng. Nhưng nếu bạn không làm chủ một cách khéo léo những kỹ thuật đẽo gọt, bạn sẽ làm hỏng hay làm vỡ nó, nó sẽ trở nên vô dụng và không giá trị. Những thực tập và những kỹ thuật thiền định được đề nghị ở đây là những công cụ cho phép làm việc với viên kim cương nguyên sơ là tâm thức ; nếu người ta biết thao tác những dụng cụ đó khéo léo và cẩn trọng, người ta sẽ gọt giũa và đánh bóng nó để làm hiển lộ tất cả sự rực rỡ và thuần khiết của nó.

Có lẽ không phải là một viễn cảnh đặc biệt vui thích hay đầy khích lệ khi mỗi ngày đối diện với những người bao quanh bạn và những hoàn cảnh của cuộc đời thường nhật. Người ta thích nghe nói rằng người ta chẳng phải làm gì và mọi sự sẽ tự dàn xếp, ổn định, như trong những phim của Hollywood. Người ta có thể luôn luôn mơ mộng, nhưng chuyện đó chẳng tới đâu, người ta biết thế. Một ngày nào cũng phải bắt đầu nhìn thấy những sự vật như chúng là, và phải chấp nhận chúng như vậy, nghĩa là rất tầm thường, đối với đa số người. Đời sống hàng ngày được tạo thành bằng vô số sự việc rất bình thường : mỗi ngày chưng cất một ít liều bất hạnh hay hạnh phúc nhỏ hay lớn. Đôi khi người ta cảm thấy cả hai cùng lúc : sự vật có thể vừa chua chát vừa ngọt ngào. Không phải mùi vị của những sự việc là quan trọng, mà chính sự kiện chúng xảy đến : đó là chất liệu thô sơ, nguyên phác của sự sống, cái mà người ta đối mặt.

Nghịch lý thay, chỉ có những hoàn cảnh khó nhọc mới đặt vấn đề với chúng ta. Người ta có thể cảm thấy lo âu ngay cả khi mọi sự tiến hành tốt đẹp, bởi vì người ta sợ nó thay đổi. Người ta phải có thể hiểu và điều hành, xử lý mọi cái xảy đến, dù tốt hay xấu. Đôi khi người ta sẽ bắt buộc uốn mình theo những hoàn cảnh, trong khi những lúc khác có lẽ cần làm cái gì đó để cải thiện chúng. Nhưng cách nào thì chính chúng ta nắm những sự việc trong tay, không có ai làm điều đó thay chỗ chúng ta, dù đôi khi người ta nhờ được sự nâng đỡ và những khuyến khích của người khác. Rốt cuộc, người ta là người độc nhất có thể làm cái gì đó cho chính cuộc đời mình.

Một số người tỏ ra thành thạo trong nghệ thuật lẩn tránh những khó khăn, và mỗi người chúng ta có kỹ thuật ưa thích của mình : thay đổi công việc hay địa chỉ, có một người tình, đổi vợ, lao đến y sĩ, ăn mải miết những thẻ sô-cô-la hay để thì giờ gọi điện thoại cho bạn bè. Người ta cũng có thể tự ám ảnh hơn, dính chặt với truyền hình, dùng ma túy, ăn không biết no hay say sưa. Chẳng có cái gì hiệu quả ; người ta đến mức không thể ngủ hay suy nghĩ ; bỏ ăn bỏ uống và cảm thấy bất hạnh như đã bị bệnh nặng. Thậm chí người ta có thể định tự vẫn, điều cũng tiêu cực như giết người khác. Khi xem những bất hạnh nhỏ là quá trầm trọng, người ta có thể tự tạo ra những buồn phiền thực sự và trở nên càng bất lực hơn trong việc giải quyết chúng.

Khi tránh khéo hay trốn thoát những khó khăn, người ta tự tạo một sự xao lãng, khuây nguôi nhất thời, nhưng người ta không thể thanh toán chúng. Khi người ta bằng lòng chỉ làm điều mình thích và tránh mọi cái mình không thích, thì trái lại người ta càng có thêm những vấn đề rắc rối. Không nói đến những tổn hại tâm sinh lý mà việc đó gây ra, và sự thống trị càng lớn của những thói quen xấu người ta đã mang lấy và sau đó sẽ rất khó phá. Khi thả mình cho sự yếu đuối, người ta còn yếu đuối thêm và người ta giảm bớt những cơ may thoát khỏi những khổ đau.

Cần có một sự thụt lui nào đó trong liên hệ với những sự việc của cuộc đời, và tránh những sự thái quá của khắc khổ và dễ dãi. Nếu người ta quá chặt chẽ và nghiêm trọng, người ta có khuynh hướng luôn luôn bi kịch hóa. Người ta mất đi bình dưỡng khí khôi hài. Ngược lại, nếu quá khinh suất và luôn luôn xem nhẹ, người ta sẽ sống trong một thế giới ảo tưởng. Cách nào đi nữa, người ta cũng sẽ bị cắt đứt khỏi những sự thật hàng ngày và không ý thức đến những tình cảm khởi lên trong chúng ta, như khi người ta ở dưới đế chế của một xúc tình mãnh liệt – giận dữ hay ghen tuông –, hay người ta bị ám ảnh bởi quá khứ hay tương lai. Vậy người ta không thể làm việc một cách ích lợi trên chính bản thân mình nếu người ta mất cái nhìn thấy thực tại hiện tiền của những sự vật, thế giới trong đó người ta đang sống.

Cho đến bây giờ, người ta cứ lo toan tìm phương tiện để trốn tránh những vấn đề. Để hàng phục tâm thức, phải giáo dục lại và làm điều ngược lại : giáp mặt trực tiếp cái khó chịu hay nhọc nhằn với chúng ta, và làm điều đó một cách hiệu quả. Điều đó sẽ không thiếu lợi lạc với chúng ta, ít nhất vì chúng ta không phải điên đầu để sáng chế những phương tiện để tự trốn thoát mình ! Có lẽ người ta thậm chí sẽ ngạc nhiên nhận ra rằng cái làm cho chúng ta sợ đến thế, hay cái xáo trộn chúng ta đến thế, rốt cùng không quá khủng khiếp, một khi người ta quyết định nắm lấy sừng con bò tót. Ý tưởng mà chúng ta có đối với những sự vật và những con người thường tệ hơn thực tế của chúng...

Một khi người ta sẵn sàng chấp nhận những sự việc y như chúng là, tất cả mọi sự được chuyển hóa, thậm chí cả những khó khăn hơn trong cuộc đời. Bên ngoài, chẳng có gì thay đổi ; tuy nhiên, tất cả đều khác, vì người ta đã tự mình thay đổi thái độ. Khi người ta chấp nhận nhìn tình huống như nó là, người ta tự biết làm sao để đáp ứng với nó : chính những hoàn cảnh cung cấp cho chúng ta sự chỉ dẫn khi chúng ta không nhọc mệt làm méo mó chúng bởi những thiên kiến tiên định của chúng ta. Trái lại, khi người ta làm con đà điểu vùi đầu trong cát và không nhìn những sự việc thẳng mặt, luôn luôn trì hỗn chúng, tình huống chắc chắn chỉ tệ hơn. Người ta phải học định giá những sự việc đúng theo giá trị của chúng. Những sự việc có khó nhọc, dễ chịu hay hoàn toàn tầm thường, điều quan trọng là nhận biết mỗi tình huống thật sự là gì. Không làm méo mó và làm rắc rối nó bởi hệ thống lọc ngoắt nghéo của những phản ứng trí thức hay tình cảm của chúng ta. Ngay khi những xúc tình trộn lẫn vào, tất cả tri giác về tình huống của chúng ta lập tức méo mó. Thực tại mất dấu đằng sau sự diễn dịch về những sự kiện của chúng ta.

Phải tiếc mà nhận ra rằng, sống trong nền văn minh hiện thời của chúng ta, chúng ta được trang bị quá kém để chấp nhận những sự việc như chúng là. Trong khi đó một tâm thức lành mạnh thì sống trong một thế giới lành mạnh, một tâm thức an bình thì cảm nhận thế giới an bình. Những bài thực tập ở phần hai là để làm cho tâm thức lành mạnh, đẹp đẽ, bình an và hạnh phúc thay vì một tâm thức bệnh hoạn để chịu đựng một thế giới bệnh hoạn, đìu hiu, hỗn loạn và khổ đau.


CHƯƠNG VI
CÁI GƯƠNG

Sanh từ luân hồi là khuynh hướng tìm thấy 
những lỗi lầm nơi người khác.
Naropa

Người ta lầm địa chỉ khi tìm hạnh phúc bên ngoài mình, người ta đã thấy điều đó. Người ta có đi du lịch đến đầu kia của thế giới và nhân lên nhiều lần những kinh nghiệm cho đến vô tận cũng vô ích, người ta vẫn sẽ luôn luôn thấy những sự vật qua cùng một đôi mắt, vì người ta tri giác thế giới theo cái mà người ta nghĩ và cảm nhận. Mỗi người có cách diễn dịch riêng của nó về thế giới trong đó nó đang sống.

Mọi cố gắng sửa đổi thế giới cho phù hợp với những tham muốn và hy vọng của chúng ta đều đưa đến thất bại. Nếu trời mưa, người ta không thể làm gì và không phải vì người ta muốn thấy mặt trời mà trời nắng. Tuy nhiên, có một điều mà người ta có quyền thay đổi : sự khó chịu mà cơn mưa gây ra cho chúng ta. Điều này không muốn nói rằng người ta phải tự tạo mọi mảnh của một nhân cách mới khác – con người mà người ta có là đã quá đủ. Một cách thực tiễn, điều này nghĩa là người ta cần một tấm gương để giúp người ta thấy đích xác người ta ở đâu, và phát giác cho người ta thấy những khía cạnh của nhân cách mình mà trên đó người ta cần làm việc.

Con người có một khuynh hướng rõ ràng là sưu tầm những cái mặt nạ ; mỗi người thực sự có một mặt nạ cho mỗi hoàn cảnh. Nếu người ta không biết người ta có cái đầu gì, thì thực ra bởi vì người ta không bao giờ thực sự quan sát nó một cách chăm chú. Chắc hẳn người ta thiếu sự thụt lui để thấy nó rõ ràng. Rồi người ta nhìn cái đầu của những người khác, và khi thấy một cái đầu đẹp, người ta mong cái đầu mình giống được như nó.

Tuy nhiên, có đôi khi mặt nạ rơi tuột đi, hay người ta đã quên mang nó, và trong khoảnh khắc ngắn ngủi, người ta lập tức tự thấy mình nguyên dạng. Nói chung, sự chấn động khiến người ta không chịu đựng nổi. Người ta vội vã che dấu điều người ta đã thấy và làm lại rất mau một mặt nạ mới. Người ta có thói quen luôn luôn muốn sửa chữa lại thực tại để làm lại nó theo ý thích đến độ người ta không đảm đương cái thực sự người ta là. Trong thời gian đó, khuôn mặt thật của chúng ta đang hư thối dưới những mặt nạ, thiếu ánh sáng và không khí, và cũng bởi vì người ta không bao giờ nghĩ đến việc lau rửa nó.

Người ta có thể đến chỗ cho những người khác một hình ảnh đẹp về mình, trong khi cái người ta dấu sau những mặt nạ cần một sự giảm xuống nghiêm túc. Vậy là người ta chông chênh khi cho hình tướng bên ngoài đặc quyền so với thực tại, bởi vì chính cái người ta thực sự có nơi mình mới quyết định phẩm chất những kinh nghiệm và dòng sống của chúng ta. Khi nào người ta còn che dấu sự thối nát dưới một sự điểm trang hấp dẫn, người ta chẳng có ích lợi gì nhiều cho chính mình hay cho những người khác, dù người ta duy trì thành công một sự giả bộ toàn vẹn.

Chính là sau cái mặt nạ mà người ta phải đuổi cái ta ra khỏi sào huyệt để học nhận biết nó. Tất cả chúng ta đều có nhãn hiệu một “cái tôi”, tuy nhiên thật hiếm người biết họ thực sự là gì. Chỉ cần người ta cho một cái gì nhỏ nhặt, dư thừa – như một đồ chơi trẻ con vặt vãnh hay một mẩu bánh mì – để tự xưng là một lương tâm tốt hay tự cho là một nhà từ thiện vĩ đại, và người ta không thể quên cử chỉ đó. Bấy giờ người ta biểu lộ chứng quên lẫn sâu xa đối với những cơn ích kỷ hay với những trận giận dữ. Và như vậy người ta tự xây dựng một hình ảnh sai lầm về mình để tự củng cố, tự an tâm. Tất cả ý tưởng người ta tự tạo về mình đặt nền trên một sự lừa đảo còn khó phá hơn khi chính người ta là tác giả. Bởi thế tại sao người ta cần một tấm gương soi.

Đây là lời nói về vấn đề này của một trong những vị thầy tâm linh vĩ đại của Tây Tạng, Jamgon Lodro Thaye : “Khi tôi nhìn một số người thực hành Phật giáo, họ hoàn toàn có vẻ tốt đẹp, nhìn theo bên ngoài : họ nói hay, ăn mặc đúng, họ biết ngồi như một vị Phật. Nhưng khi tôi quan sát khuôn mặt bên trong của họ, họ có vẻ của những con rắn độc. Chỉ cần họ chạm phải chút khó khăn hay chút chướng ngại nhỏ nhặt thì tính khí đích thực của họ lộ ra ngay. Như con rắn có vẻ trơn láng và mềm mại trong khi luôn luôn sẵn sàng mổ, những người đó sẵn sàng gây gổ đổ lỗi cho bất kỳ ai làm chướng ngại họ.”

Không phải tự thân con rắn là xấu, nhưng sự sợ hãi, thù hận và vô minh đã quy định nó phải giết mỗi khi nó cảm thấy bị đe dọa. Chúng ta cũng hơi giống như vậy : cái xấu người ta có thể thấy nơi mình là sản phẩm của vô minh – sự nhận biết sai lầm về bản tánh thật sự của những sự vật. Vậy thì người ta có thể, và người ta phải, chuyển hóa vô minh này thành trí huệ, bằng cách nhìn vào trong, xoay tâm thức về trên chính nó. Điều này sẽ tự động tác động lên những tương quan lành mạnh hơn, phong phú hơn với thế giới bao quanh chúng ta.

Điều trên có nghĩa quan trọng là tỏ ra điều độ và lương tri đối với cái mà người ta sắp khám trong gương. Để cho những lỗi lầm, khuyết điểm được che dấu thì chẳng lợi ích gì, cũng không hiệu quả và có hại khi chỉ thấy những mặt tốt của mình. Nếu người ta quá đặt nặng những thói xấu, những lệch lạc của mình, người ta sẽ chìm trong thất vọng và chán nản tất cả. Người ta phải có thể tự xem mình trong cái gương một cách khách quan, không kết án điều mình thấy trong đó, và không muốn đập bể gương thành muôn mảnh. Ngược lại, vô ích khi không biết đến những khuyết điểm hay đè nén chúng, điều chỉ làm chúng mạnh thêm khi luôn luôn đặt mình dưới sức ép, sẵn sàng bùng nổ trước một cơ hội nhỏ.

Vũ khí nguyên tử là một chuyện làm cho nhiều người trong chúng ta tức giận, tuy nhiên người ta không biết rằng tâm thức chúng ta thường trực là chỗ ở của một loại phản ứng nguyên tử. Mỗi ngày, cái “ta” sản xuất ra hàng triệu tấn kiêu ngạo, ghen ghét, giận dữ, tham muốn và thù hận, chúng gieo rắc kinh hoàng và căng thẳng ở mọi phương vị và gây nên những tổn hại khủng khiếp nơi ta và nơi những người khác. Rõ ràng không phải chôn vùi những vũ khí nguyên tử xuống đất hay tự bằng lòng với ước mong chúng biến mất mà người ta làm cho chúng thành vô hại. Nếu người ta muốn hóa giải những sức mạnh tàn phá chứa trong mình, phải tỏ ra khôn khéo và thiện xảo để tháo gỡ và triệt hạ chúng. Người ta phải kêu gọi hiểu biết và tình thương, cộng với khá kiên nhẫn và không bám luyến. Không quên một chút thư giãn và khôi hài...

Điều người ta sắp khám phá khi nhìn “tấm gương” sẽ rất ích lợi cho chúng ta để thành tựu con đường tâm linh, nhưng quan trọng nhất là cái trí huệ rất mới mẻ này không nằm trong chữ nghĩa chết khô. Phải đem nó vào kinh nghiệm của mình và nuôi dưỡng thường trực nó trong cuộc sống hàng ngày. Nếu người ta không áp dụng vào cuộc sống trí huệ và lòng bi vừa thức giấc trong mình, người ta sẽ chỉ có thêm một mặt nạ khác.

Một kỹ thuật chỉ có giá trị nếu người ta có thể áp dụng nó vào một tình huống thực tiễn. Dù bạn có một hiểu biết lý thuyết hoàn hảo về cơ khí, bạn cũng sẽ không thể sửa chiếc xe của bạn nổ máy trở lại trước khi chính bạn bước vào thực hành bằng cách thọc tay vào dầu mỡ. Những kỹ thuật làm chủ tâm thức chẳng giúp gì bạn nếu chúng vẫn còn nguyên là những lý thuyết trừu tượng ; chúng chỉ có giá trị nếu chúng hiện thân trong thực tế hàng ngày và nuôi dưỡng thực tế đó. Chẳng hạn có ăn nhập gì khi trải qua một giờ thiền định về sự ghen tuông để cố thoát khỏi nó, rồi tức thì sau thời thiền, người ta lại nổ bùng một cơn ghen tuông với vợ hay chồng chỉ vì một cái cớ nhỏ nhặt.

Người ta có thể trải qua một đời thu thập sưu tầm những giáo huấn đủ mọi loại với những thiện ý tốt đẹp nhất cho thế giới : chúng chẳng giúp gì nhiều khi người ta không áp dụng chúng vào hoàn cảnh cụ thể. Sự giáo dục và khả năng trí thức của chúng ta có thể có một ích lợi nào đó để chúng ta hiểu cái gì xảy đến với chúng ta trong đời sống hàng ngày và giúp chúng ta quản lý nó. Nhưng vô cùng quan trọng hơn là có một tâm thức mở rộng, sẵn sàng chấp nhận cái gì tự xuất hiện và đối mặt với nó. Tiến bộ tâm linh không phải là một vấn đề trình độ trí thức hay và văn hóa : ở Tây Tạng không thiếu những người rất đơn giản, họ không biết đọc không biết viết, đã đạt đến một trạng thái thức tỉnh hoàn toàn của tâm thức.

Mỗi người đều mang nơi bản thân mình tiềm năng của sự thức tỉnh tâm linh. Nếu người ta thêm vào đó sự phong phú lớn lao những kinh nghiệm mà chúng ta đều có, người ta có tất cả nguyên liệu cần thiết cho sự phát triển tâm linh, miễn là người ta khai thác nó. Bởi vì người ta không dùng nó, thì cũng như nó không có gì cả ở nơi người ta. Một người giàu có không biết cách dùng tiền sẽ có nhiều vấn đề khó khăn hơn một người đạm bạc biết rút phần tốt nhất có thể từ mỗi đồng xu. Một ví dụ khác : hãy tưởng tượng rằng bạn muốn nổ máy chiếc xe hơi của bạn. Nó không nhạy : bình ắc quy hết điện. Bạn có hàng trăm bình ắc quy để thay đổi trong ga-ra, nhưng bạn cũng quên sạc chúng. Tất cả tiềm năng năng lượng mà bạn có là vô ích, vì không được dùng, và bạn chẳng thể chạy đi. Từ đó là sự quan trọng phải nghiêm mật và lợi dụng cái người ta đã vốn có.

Trở lại tấm gương của chúng ta, không chỉ đơn giản ngắm hình ảnh mình trong đó, mà còn phải chuyển sang hành động. Không phải chỉ nhận ra mình đang ghen tuông, giận dữ, rồi thôi. Phải thể hiện sự kiên trì và sáng suốt để học nhận diện, rồi hóa giải, trung hòa những chất độc bên trong của mình và những trạng thái tâm lý phát sanh từ chúng, những trạng thái tâm lý đã tạo cho chúng ta một thế giới quá đỗi khó khăn để sống. Nếu chúng ta không thể kiểm soát thế giới bên ngoài, ít ra tất cả chúng ta đều có thể đánh bại những kẻ xúi giục ra những rối rắm khổ nạn này là giận dữ, kiêu căng, tham muốn, thù hận và ghen tỵ. Càng tiến theo chiều hướng này, người ta càng cảm thấy biến mất cái cảm tưởng xung đột thường trực với những sự vật và những con người mà người ta đã có trước kia, và những vấn đề và những khổ đau của chúng ta càng giảm đi bấy nhiêu. Khi người ta chấm dứt tự đánh lộn với chính mình, người ta không còn chiến đấu với phần còn lại của thế giới. Nếu người ta biết tự chấp nhận mình như mình đang là, người ta có thể chấp nhận phần còn lại của thế giới và những người đang chia xẻ thế giới với chúng ta. Không còn nữa sự hao tán thất thoát năng lượng trong những xung đột bên trong hay bên ngoài ; mọi điều người ta làm, ở mọi cấp độ, đều hòa nhập vào hành trình tâm linh, và đem lại lợi lạc cho những người khác đồng thời cho chính mình.

Trước khi đến đó, tốt hơn là tránh rơi vào một quá độ của sự tự soi xét mình bằng cách tự phân cực mình thái quá trên chính mình và trên những vấn đề cá nhân. Để giữ sự chừng mực, cần không mất quan điểm vị tha của động lực ban đầu : nhớ rằng người ta tiến hành công việc này trên chính mình là để tìm ra khá đủ những nguồn lực nơi mình để có thể giúp đỡ những người khác. Một thái độ như thế sẽ cho chúng ta một điểm quy chiếu khách quan và tránh cho chúng ta khỏi quá tự trầm ngâm về chính mình. Người ta sẽ mang lại một cái nhìn tỏ rõ hơn về những sự vật khi thấy chúng như chính chúng là, và người ta sẽ tri giác tốt hơn cái gì không ổn trong đời họ. Người ta sẽ học thay đổi cái có thể thay đổi và chấp nhận cái không thể tránh.

Không dễ chịu lắm khi sống trước mặt một tấm gương, nhưng trò chơi xứng đáng bỏ công để giúp chúng ta hiểu những khó khăn của chúng ta và giúp giải quyết chúng. Bình thường, người ta có khuynh hướng phê phán những người khác và muốn thay đổi họ nhiều hơn. Thế nên người ta có thể hơi hoảng sợ khi lần đầu tiên nhìn thấy những quan hệ của mình và thế giới bằng cách mới mẻ này : thay vì chờ đợi những sự việc thay đổi từ bên ngoài, người ta nắm chính mình trong tay. Ban đầu, chắc chắn người ta hơi sợ vì cái không biết, cái xa lạ, điều đó rất bình thường, nhưng việc đó cũng không phải khó khăn như nó có vẻ thế : chỉ cần chấp nhận tìm hiểu chính mình, làm bạn với chính mình, như một người nuôi thú giỏi trước tiên phải có được sự tin cậy của con cọp trước khi có thể dạy dỗ nó. Một khi người ta biết thiết lập những quan hệ thật sự với chính mình, người ta có lẽ sẽ thấy rằng người ta có không nhiều những vấn đề hơn người ta tưởng, và những vấn đề thực sự còn lại có thể tự giải quyết khá dễ dàng.

Điều đó mở ra những viễn tưởng đáng để khổ công đầu tư vào công việc làm trên chính mình này. Khi học điều phục tâm thức mình, người ta có khả năng giải quyết những vấn đề riêng tư. Có một cái gì thay thế cho sự khó nhọc này không ? Có chứ, nếu người ta thích ở lại hơn mãi mãi trong tình trạng xung đột chiến đấu thường trực với thế giới, bằng cách cứ tiếp tục đổ những cái gì không song suốt lên lưng những người khác hay những hoàn cảnh. Nếu quả thật người ta chọn biện pháp này, phải tiên liệu sự nhiễm độc với hàng triệu cá nhân khác... Thật là một chương trình vĩ đại ! Thế thì dạy dỗ thuần hóa tâm thức của chính mình sẽ trở thành một cách giải quyết duy nhất đơn giản mà hấp dẫn vô song...


CHƯƠNG VII
THÂN, NGỮ, TÂM :
BA CỬA CỦA THỰC TẠI CON NGƯỜI

Thật rất tốt khi giúp đỡ cho những người khác nếu có thể ; 
nhưng nếu người ta không thể, thì ít nhất chớ làm hại cho họ.
Dalai Lama thứ Mười Bốn

Khi người ta khổ đau và những sự việc không song suốt, người ta có khuynh hướng tự nhủ rằng đây là lỗi của những người khác hay của những hoàn cảnh. Chính là thoải mái hơn và ít khó chịu hơn khi tự hỏi rằng sau cùng chẳng lẽ người ta không chịu chút gì trách nhiệm về mọi sự hay sao. Để biết khổ đau từ đâu mà đến, trước tiên phải hiểu cơ cấu vận hành của tri giác của chúng ta về thế giới. Chính là qua thân, ngữ, tâm, ba cái tạo thành cá thể con người của chúng ta, mà chúng ta tiếp thông với môi trường xung quanh của chúng ta và biến chúng thành cái đại diện cho mình.

Dù người ta trẻ, đang độ trưởng thành hay tuổi đã cao, ai cũng có một thân thể bằng xương bằng thịt và mọi thứ chất liệu khác – một cơ cấu phức tạp cho vô số cảm giác. Người cũng có lời nói, khả năng nói và truyền thông nhờ âm thanh và những chữ. Cuối cùng, người ta cũng được phú bẩm cái sáng tạo ra những tư tưởng và những hình ảnh, tốt hay xấu, mà người ta gọi là tâm thức. Cái chúng ta chú ý hiện thời ở đây, thân, ngữ, tâm là những thực tại hiển nhiên mà người ta kinh nghiệm mỗi ngày.

Thân là dụng cụ cho sự hoạt động của chúng ta, biểu hiện bằng chuyển động. Ngữ phát ra những tiếng và những chữ chuyên chở điều người ta muốn diễn đạt. Về phần tâm, chính nó làm sinh động hai cái kia ; nó là nguồn của mọi thứ tốt xấu người ta mang trong mình. Thân và ngữ hơi giống với những con múa rối của tâm. Một cách có lý, điều ấy muốn nói rằng người ta có thể khiến chúng làm điều người ta muốn, thay vì những điều chúng tham muốn. Thật ra, sự việc không xảy ra hoàn toàn như vậy : người ta có thói quen đối xử với những người và những sự kiện như thể người ta đã quên những sợi dây điều khiển nối thân, ngữ với tâm trong bản thân chúng ta. Đến độ những sợi dây giãn ra, và con rối không đáp ứng hoàn hảo nữa. Người ta cảm thấy rất rõ rằng có một cái gì khập khễnh, người ta không bằng lòng sự vận hành của con rối. Người ta cảm thấy thất vọng.

Lý tưởng là thân phải vận hành hòa hợp với tâm mà không có sự cách phân giữa hai cái đó. Nhưng thực ra, nếu người ta để cho mình đi theo những xu hướng sơ khai nhất của thân, người ta sẽ rơi vào một loại duy vật xoay quanh nhục dục, rất khó dứt ra. Mối hiểm nguy có với tất cả mọi người, những người yếu cũng như những người mạnh, và nó cũng có nghĩa là sự mất tự do. Để tránh một sự nguy hiểm như vậy, người ta phải tìm cách sử dụng những sợi dây điều khiển các con rối, và học điều khiển nó thông minh hơn, theo một cách tùy thuộc hơn vào những nguyện vọng thực sự của chúng ta. Ngược lại, phải không rơi vào sự trấn áp có hệ thống và mù quáng những nhu cầu vật lý, bởi vì chúng là sự biểu lộ của một trí huệ bản năng nào đó của thân. Người ta có thể học để thấy sự khác nhau giữa những thông điệp tự nhiên và có ích này với những dở chứng thất thường của những giác quan chúng ta.

Thân thể chúng ta là một phương tiện mạnh mẽ để thông tin. Nếu người ta thấy một con chó chạy đến và người ta chìa tay ra, con vật sẽ xáp gần, chờ đợi được vuốt ve hay cho cái gì để ăn. Nếu trái lại, người ta đưa tay lên, chắc chắn con chó sẽ bỏ chạy, sợ người ta làm hại nó. Cũng thế, cử chỉ nhỏ của chúng ta ảnh hưởng những người chung quanh – và sự việc cũng đúng như vậy với lời nói và suy nghĩ. Mọi cái toát ra từ chúng ta tạo nên một loại dấu hiệu đối với những người khác. Cần phải cẩn trọng khi biết rằng mỗi một cử chỉ ảnh hưởng những người đang có mặt và có thể gây ra những phản ứng về phía họ.

Cũng như với cử chỉ của thân, phải chú ý đến lời nói. Người ta phải luôn luôn cẩn trọng về điều người ta nói cũng như cách người ta nói điều đó. Giọng nói cũng quan trọng như cách chọn chữ. Những việc dễ thương được nói với giọng thiện cảm có hậu quả khuyến khích và an ủi. Người ta có thể làm nhẹ cho người đang nhiều khổ đau nếu người ta biết tìm ra những chữ làm cho người ấy an tâm, hay nhờ vào năng lực chữa trị của một lời cầu nguyện hay thần chú. Cũng như điều người ta nói, cách nói là quan trọng.

Sau mỗi hành vi và mỗi lời nói, có tâm thức. Biết nó ở đâu không có gì quan trọng – người cho nó ở trong óc, người cho nó ở chỗ khác – điều quan trọng là nhận biết rằng tâm thức là cội nguồn của tất cả những gì chúng ta có thể nói hay làm. Cần yếu phải hiểu điều đó, bởi vì người ta muốn tiến bộ và cải thiện phẩm chất những lời nói và hành vi của mình, phải lên đến tận nguồn và lưu tâm đến tâm thức, dù cho tâm thức thì thiếu hình thể vật chất và nơi trú ngụ hữu hình – những hậu quả của nó không phải là kém được cảm nhận cụ thể.

Nếu như tương đối dễ dàng ý thức được những biểu lộ rõ ràng nhất của chủ nghĩa thủ đoạn của tâm thức ranh ma của chúng ta, thì phải nhiều tinh tế hơn để phòng giữ những sự vận dụng tinh tế nhất của nó. Khi người ta xem một phim đầy bạo lực trong truyền hình, việc ấy có thể giống như một trò giải trí vô hại, nhưng nếu tâm thức đồng hóa với cảnh tượng những hành hạ và giết chóc được trình bày cho nó, khuynh hướng hung dữ của chúng ta sẽ được củng cố thêm mà chúng ta không biết.

Chắc chắn là cho đến bây giờ, những hoạt động và những lời nói của chúng ta phần lớn được khơi gợi từ một tâm thức ích kỷ và quy ngã càng ngày càng mạnh mẽ và quyền uy nếu nó không gặp một sự chống đối nào về phía chúng ta : người ta không muốn chống lại hay không thể chống lại. Có lẽ người ta còn chưa thật sự tin lắm vào sự hiện hữu của nó, nhưng một ngày nào sẽ phải rõ ràng kẻ độc đoán này chạy ra khỏi hang và người ta sẽ đối diện với nó. Phải cáng đáng nó và học quản lý nó như nó trình diện với chúng ta. Người ta sẽ có thể nói với nó : “Ê mày ! Đã quá lâu mày cai trị tao, mày quy định thân và ngữ của tao. Mày đã làm cho tao khá nhiều sai lầm và hư hại. Giờ đây, chính tao là người cai trị mày !” Người ta sẽ không có tiến bộ nào bao giờ người ta chưa từ chối bản ngã của người ta hay chưa chuyển hóa nó. Trái lại, công việc này hoàn thành thì những sự vật sẽ vận hành theo chiều hướng tốt đẹp. Thiền định có thể góp phần vào tiến trình này khi cho chúng ta sự thụt lui cần thiết để thấy nó rõ ràng hơn. Khi thiền định, người ta bắt đầu hiểu tâm thức là gì và nó vận động như thế nào, ở trong chính người ta cũng như qua những phương tiện biểu lộ là thân và ngữ.

Đến bây giờ chúng ta đã xem xét thân, ngữ, tâm một cách tách biệt. Thực ra, chúng rõ ràng tương thuộc và cuộc du lịch tâm linh không xảy ra nếu cả không cùng tiến bước. Vậy thì phải làm việc đồng thời ở ba cấp độ, cố gắng tẩy xóa tất cả cái gì có thể có hậu quả tiêu cực hay độc hại, và ngược lại tăng cường tất cả cái gì có thể là tích cực hay tốt lành cho mình và cho người. Chính lòng bi sẽ bảo đảm cho sự hợp tác của thân ngữ tâm tiến đến một mục đích chung. Nó làm động cơ cho chúng và thống nhất sự năng động của chúng, khiến thân, ngữ, tâm hoạt động và tiến hóa luôn luôn trong hòa hợp, ở mọi cấp độ.

Những thực tập được trình bày trong phần hai cuốn sách này để đưa ra một căn cứ thực hành cho công việc này. Khi người ta đã tiến bộ trong sự làm cho trong sạch thân, ngữ, tâm, có lẽ người ta có thể tiến xa hơn, và biết rằng trong thực tế chúng không có bản chất riêng và hiện hữu độc lập. Người ta sẽ hiểu rằng thân giống như một cái cầu vồng, ngữ như một tiếng vang và tâm như một hình ảnh phản chiếu trong nước. Nhưng phải chắc chắn rằng không thể làm việc làng nhàng trước khi đến đó...


CHƯƠNG VIII
PHƯƠNG DIỆN ĐẠO ĐỨC CỦA ĐỜI SỐNG : 
“HẠNH KIỂM CHÂN CHÁNH”

Không làm điều ác,
Thực hành đức hạnh, 
Điều phục tâm mình,
Là lời Phật dạy.
Phật Cồ Đàm

Những dòng này tinh lọc triết lý của đức Phật. Chúng tóm tắt một cách gọn gàng nhưng đầy đủ một dạy bảo có thể có một ý nghĩa cho mỗi người, bất kể mức độ phát triển tâm linh của họ đến đâu. Mới nhìn, lời khuyên có vẻ đơn giản, nhưng trên thực tiễn không dễ luôn luôn kiêng cữ điều ác để chỉ thuần làm điều thiện. Về phần điều phục tâm thức, việc này đòi hỏi khá nhiều kiên nhẫn và khéo léo. Tuy nhiên, không nên nản lòng, vì người ta sẽ có được tất cả khi theo những lời khuyên này. Những lợi lạc thì không thể tính toán được. Một “chánh hạnh”, một đời sống chân chánh là nguồn hạnh phúc cho mình và cho những người khác, và khi nào người ta còn gắn bó với nó, người ta có thể chắc chắn đang ở trên con đường tốt đẹp, đúng đắn.

Tất cả chúng ta đều tìm kiếm hạnh phúc, dù cho nhân danh nó mà có quá nhiều thái quá và ngu xuẩn đã mắc phải. Người ta đi đến chỗ giết hại, lường gạt hay trộm cắp những người khác với niềm tin rằng mình đang theo đuổi hạnh phúc cho riêng mình. Nếu người ta không có đạo đức để hướng dẫn những hành động của mình, thì có ai nói cho người ta rằng người ta thật sự chịu trách nhiệm về sự khổ đau của một người khác, chưa tính đến khổ đau mà người ta đang tự sửa soạn cho mình, trong cùng một cơ hội ?

Đâu là nguyên nhân của những hành động bất thiện của chúng ta ? Chúng phát xuất từ vô minh của chúng ta về bản tánh của những sự vật khiến chúng ta tin vào sự hiện hữu của một bản ngã hay một cái ta cá biệt. Cái tôi thì rất thân thiết với chúng ta, và rộng ra, người ta cũng quá bám luyến mọi thứ liên hệ với cái tôi đó. Người ta bám níu vào cái họ có và vào những người họ yêu, vào những cảm giác dễ chịu. Và chính từ ý niệm về cái ngã này và về tính sở hữu của cái ngã mà kiêu căng, tham lam, ghen tỵ, ham muốn phát triển. Mặt khác, người ta ghét mọi cái gì chống lại cái nhìn quy ngã của mình, chống lại cảm tưởng mình là cái rốn của vũ trụ, và thế là nảy sinh sự không khoan dung, giận dữ và thù hận.

Ý tưởng cái tôi rõ ràng là một quan niệm thích nghi và thậm chí hữu ích trong đời sống hàng ngày, nhưng phải biết rằng, trên bình diện chân lý tuyệt đối, cái tôi đó không có hiện hữu riêng, không có thực tại độc lập, nói theo kinh điển là vô tự tánh. Điều này trở nên rõ ràng khi người ta hiểu sự tùy thuộc lẫn nhau của tất cả mọi hiện tượng và bản chất tương đối và bị điều kiện chi phối của chúng (duyên sanh).

Vậy thì chính sự không biết, vô minh và sai lầm là những nguyên nhân cho những lỗi lầm của chúng ta và tạo ra những đau buồn cho mọi người. Ngược lại, sự chính trực về đạo đức sẽ cải thiện phẩm chất và giá trị của đời sống, cho chính chúng ta và cho những người khác. Nó tán trợ cho sự hiểu biết chính mình và sự điều phục tâm thức, như thế cho phép chữa lành những chuỗi sai lầm quá khứ.

Trong những cách đánh giá về những hành động của mình, có một cách khá thuận tiện : người ta xem mọi cái gì đức hạnh là tích cực, mọi hành vi ác hại là tiêu cực. Mỗi ngày, người ta tính sổ cái tích cực và tiêu cực, mục đích của thực tập là tối đa hóa cái tích cực và tối thiểu hóa cái tiêu cực, để cuối cùng chỉ có cái tích cực. Mỗi ngày, người ta củng cố động lực của mình bằng cách tái xác nhận ý chí làm thiện và tránh làm ác cho người khác, và người ta tập giữ gìn ý tưởng này hiện diện trong trí suốt ngày, dù đang làm việc, vui chơi hay thư giãn, một mình hay với những người khác. Người ta tự nhớ lại điều đó mọi lúc, biến nó thành sợi dây dẫn đường của mọi điều người ta làm, nói hay nghĩ. Sống với ý tưởng “an vui của những người khác” trong đầu óc, thì ngay cả một việc tầm thường nhất cũng có giá trị, in dấu của một phẩm giá mới.

Chiều tối, trước khi ngủ, người ta tính sổ ngày hôm đó, đánh giá những hành vi, lời nói và tư tưởng của mình. Với một ít sáng suốt, người ta có thể phán đoán chính mình về sự tiến bộ của mình mà không cần tham khảo một ai. Người ta sẽ học nhận ra những khuynh hướng tiêu cực của mình và thấy chúng biểu lộ như thế nào, nhờ đó người ta sẽ có thể giảm thiểu sự xuất hiện thường xuyên của chúng. Đồng thời, người ta biết nhận ra và kích thích những vận hành tích cực. Về phần mọi hành vi “trung tính” mà người ta phải làm hàng ngày (ăn, tắm rửa, đi, ngủ...), không cần thiết phải bận tâm chút nào với chúng.

Tính sổ hàng ngày không phải là một kiểu cách thực tập đơn giản. Người ta sẽ không nhận xét lỗi lầm của mình bằng cách tự nhủ mình là một con quái vật, hay củng cố cho ý kiến tốt về mình bằng cách tự chúc mừng đã làm điều tốt. Mục đích của công việc này là nhổ sạch hay chuyển hóa cái ít tốt ở nơi mình, bằng cách nuôi dưỡng cái tốt nhất của chính mình. Đó thật sự là làm thế nào cải thiện phẩm chất cuộc sống của mình.

Còn phải biết phân biệt giữa tốt và xấu, thiện và ác. Truyền thống Phật giáo định nghĩa hạnh kiểm đạo đức nhờ hai phạm trù : tất cả cái gì người ta làm bởi thân, ngữ, tâm bắt buộc nằm trong “mười thiện hạnh” hay “mười ác hạnh”. Từ hơn hai ngàn năm trăm năm những nguyên tắc đạo đức này đã được áp dụng, đã tỏ ra lợi ích, và người ta có thể nhận thấy rằng ngày nay chúng không mất sự chính đáng thích hợp.

Có mười hành vi làm hại được khuyên là phải tránh : ba của thân, bốn của ngữ và ba của tâm. Về những hành vi của thân, (1) không giết hại bất kỳ chúng sanh nào, (2) không trộm cắp – không lấy cái mà người ta không cho mình, (3) không tà dâm. Điều thứ ba này hiểu là không cưỡng ép người nào vào những liên hệ dục tính trái với ý muốn của họ, và không dẫn dắt ai phạm vào những lời nguyện tôn giáo của họ hay phá vỡ những cam kết đã có của họ với một người khác.

Bốn hành vi làm hại của ngữ (4) nói dối, dẫn dụ người khác lầm lẫn khi nói điều mà người ta biết là sai. (5) Nói những sự việc gây bất hòa và xáo trộn giữa những người bạn hay những người thông cảm nhau, khiến họ có thể chia rẽ nhau. (6) Nói điều xấu cho những người khác, gièm pha, chê bai họ hay chưởi mắng, làm nhục họ bằng cách trưng bày những lỗi lầm của họ ra giữa thanh thiên bạch nhật. (7) Cuối cùng nói lăng nhăng như không nói điều gì cả, tiêu phí thời gian trong những thói lắm mồm vu vơ và vô ích.

Ba hành vi làm hại cuối cùng thuộc về tâm thức. Vậy là tâm thức là cái quan trọng nhất, vì chính nó quyết định phẩm chất mọi cái người ta làm hay nói. Hôm nay người ta để cho mình cắm rễ trong một tư tưởng tiêu cực, và chắc chắn người ta sẽ gặt hái không lâu những trái quả đau buồn, khi tư tưởng nhiễm độc này đã chín và bắt đầu ảnh hưởng đến những hành vi và lời nói của chúng ta. Thế nên có ba khuynh hướng tiêu cực phải tuyệt đối tránh không để chúng phát triển trong tâm thức. Cái thứ nhất là tham muốn, khi người ta thèm khát cái của người bên cạnh, dù đó là vợ anh ta, xe cộ hay địa vị xã hội của anh ta (8). Tiếp theo là ác cảm, ý muốn làm hại hay làm điều xấu cho những người khác, bằng bất cứ phương tiện nào (9). Cuối cùng, người ta phải không bao giờ nghi ngờ những định luật nhân quả – sự không thể tránh, không thể sai chạy của mối liên hệ giữa một nguyên nhân và kết quả của nó (10). Mọi nguyên nhân đều có hậu quả của chính nó, và người ta luôn luôn gặt cái người ta đã gieo, tốt cũng như xấu.

Người ta có thể tự hỏi tại sao tránh những hành động có hại này là quan trọng đến thế. Câu trả lời thì đơn giản : khi phạm vào chúng, người ta chỉ tạo ra những khổ đau tương lai cho mình, và như vậy mất đi hạnh phúc và bình an mà người ta đang tìm kiếm. Thật vậy, đó là một sự tính toán rất sai lầm, tệ hại : nếu người ta hành động bất kể thế nào, người ta sẵn sàng bước qua xác chết của những người khác với lý do say mê một hạnh phúc không bị ngăn ngại, rồi người ta phải trả giá cho những gì đổ vỡ – chịu những hậu quả của những sai lầm của mình. Đó sẽ không phải là hạnh phúc, mà chính là những lo buồn khổ đau trầm trọng người ta tự mang đến cho mình : ai gieo thù hận sẽ gặt cơn bão. Kiêng cữ mười hành động làm hại tức là tránh được nhiều vấn đề, bởi vì người ta thôi tự tạo ra chúng ; và tự động, những sự việc diễn tiến tốt hơn cho chúng ta và cho những người khác. Nhưng những thói quen thì cần thay đổi, người ta phải học cẩn trọng với điều mình làm, với điều mình nói và suy nghĩ.

Song song với sự tránh làm các ác hạnh, người ta cố gắng trau dồi mười hành vi công chính, chúng là cái đối nghịch, cái đối trị của mười hành vi làm hại. Thay vì giết, người ta tập tôn trọng và bảo tồn sự sống dưới mọi hình thức của nó. Hơn là lấy cái người ta không cho, chúng ta chia xẻ cái chúng ta có, dù đó là cái nhỏ nhặt. Thay vì tự cho phép bất cứ điều gì, người ta sẽ trau dồi sự chính trực trong những liên hệ cá nhân và tình dục.

Về lời nói, người ta sẽ cố gắng nói sự thật và trung thực, giảng hòa và đưa lại gần nhau những người cãi cọ nhau hay không thông cảm với nhau, nói tốt về những người khác – nếu người ta phải nói về họ – và nói một cách tổng quát, sử dụng lời nói một cách có ý thức.

Trên bình diện tâm thức, thay vì luôn luôn ước ao, đố kỵ với những người khác, người ta sẽ tùy hỷ với may mắn của họ ; người ta sẽ cố gắng muốn điều tốt đẹp cho họ ; và người ta tìm cách hiểu rõ hơn những định luật nhân quả và chấp nhận chúng.

Sự xếp loại mười hành vi làm hại và muời hành vi chân chánh này tiêu biểu cho một căn cứ đạo đức cần thiết cho những ai muốn sống một cuộc đời ngay chính, dù họ có là người Phật giáo hay không. Nếu người ta biết chế ngự thái độ cư xử của mình, người ta sẽ ít phạm vào những luật tắc của trò chơi đời sống trong cộng đồng và ít làm thương tổn hay làm hại những người khác. Như vậy người ta sẽ có những quan hệ tương giao tốt đẹp với họ và cái vũ trụ cá nhân của chúng ta sẽ rõ ràng sống động đáng sống hơn. Hơn nữa, người ta có sự thanh thản khi biết rằng người ta không đang liên tục tạo ra sự bất hạnh cho riêng mình và bất hạnh cho những người khác như trước kia nữa.

Dù người ta đã tiến bộ nhiều, tuyệt đối giữ gìn không phê phán những người khác và lần lựa nơi những khuyết điểm mà người ta tìm thấy nơi họ. Nếu người ta lưu tâm quá nhiều cái mà họ làm, cái mà họ có thể nói hay nghĩ, hay người ta luôn luôn tự so sánh với họ, người ta sẽ làm mạnh hơn sự kiêu căng của mình hay ngược lại sẽ chán nản mình. Sẽ tốt hơn rất nhiều khi chú ý điều phục tâm thức mình, nhắm vào những mục tiêu cao hơn mà những giáo huấn đề nghị cho chúng ta. Không phải tìm những câu trả lời ở ngoài mình : chỉ nhìn vào trong mình để tìm thấy ở những chỉ dẫn của sự tiến bộ đã làm được, hay của công việc còn phải làm.

Một tiêu chuẩn tuyệt hảo để đo lường sự tiến hóa của chúng ta nằm ở sự khảo sát thái độ người ta có với những khuyết điểm của người khác. Tâm thức càng được thuần hóa, người ta càng ít thấy những khuyết điểm ở những người khác. Ngược lại, tâm thức càng ít được thuần hóa thì người ta càng có nhiều khuynh hướng nghĩ rằng không có cái gì là lỗi của mình cả. Khi người ta có một thái độ và một động cơ tích cực, người ta có khuynh hướng xem sự vật về phía tốt nhiều hơn ; trong khi, nếu sự ích kỷ và vô minh trộn lẫn vào, người ta có một tri giác rất ít bằng lòng với thế giới, vì tri giác đó phản chiếu những khuyết điểm riêng của chúng ta. Cũng như cái đẹp, sự trong sạch thanh tịnh nằm trong con mắt người nhìn sự vật.

Rõ ràng đơn giản hơn khi thích ứng với thế giới thay vì tìm cách uốn bẻ nó theo chiếu hướng thích hợp với chúng ta. Hãy tưởng tượng chẳng hạn khắp mặt trái đất phủ đầy cây tầm ma và gai, không biết đặt chân ở đâu nữa, nếu cố gắng cắt tất cả thì đó là một việc không chấm dứt và hầu như không thể. Ngược lại, chỉ cần mang một đôi giày to tướng, để giày vào chân là có thể đi bất cứ nơi đâu. Sự việc cũng như vậy với tâm thức : một khi người ta đã thuần hóa nó, rõ ràng người ta ít khó chịu để đảm đương mọi cái đến với mình, từ trong cũng như chung quanh chúng ta, và đối mặt với nó một cách tích cực.

Điều ấy sẽ thay đổi một cách căn bản cách thế nhìn những sự vật của chúng ta, nhưng không nên chờ đợi mọi sự xảy ra tự động, ngày một ngày hai. Phải có vài chuyện hỏng, lúc ban đầu, tuy nhiên đó không phải là một lý do để nản lòng, để tức giận hay tự trừng phạt mình. Trái lại, phải biết kiên nhẫn và giữ một thái độ có lòng bi với chính mình, thử rút ra những bài học từ những sai lầm của mình. Chúng ta đang dấn thân vào một tiến trình giáo dục lại toàn diện để học đối mặt với bất kỳ hoàn cảnh nào, dù khó khăn thế nào, và để trở nên có thể có những tương quan đích thực hơn và quân bình hơn với những người khác.

Thái độ của người ta khi những sự việc trục trặc là rất quan trọng. Thật ra không khó khăn lắm bình thản với chính mình trước thành công và hạnh phúc, nhưng đặc biệt rắc rối trong trường hợp thất bại hay bất hạnh. Với một số người, phải trấn tỉnh lại và ổn định mình để có thể rút ra những bài học từ những sai lầm và tránh chúng tái diễn. Với những người khác, phải dùng cách dịu dàng và suy nghĩ yên tĩnh cái gì trục trặc. Điều đó chứng tỏ quan trọng đến mức độ nào cần học cách tự hiểu biết mình để tìm ra phương cách tốt nhất để tiến bộ theo chiều hướng tích cực trên cả ba mặt trận : thân, ngữ, tâm.

Hạnh kiểm chúng ta càng cải thiện và những khuynh hướng xấu càng chuyển hóa, thì song song với chuyện đó chúng ta sẽ nhận ra một sự gia tăng những thúc đẩy xấu hay những toan tính tự để cho xao lãng. Đó không phải là dấu hiệu xấu, mà trái lại : mặt trời càng sáng chiếu càng để lộ rõ những bóng hơn khi nó yếu ớt hay bị che. Nói cách khác, mặt tích cực càng mạnh mẽ bao nhiêu, người ta càng thấy rõ mặt tiêu cực bấy nhiêu. Vậy thì không có gì ngạc nhiên hay hốt hoảng nếu điều đó xảy đến. Chỉ cần tiếp tục làm tốt hết sức mình.

Với phần đông người mới học như chúng ta, học phân biệt tốt với xấu, tích cực với tiêu cực và nhận biết cần phải huấn luyện tâm thức cho có kỷ luật là điều ích lợi. Đấy là những quan niệm nhị nguyên, hẳn thế, nhưng chúng cần thiết lúc khởi hành, bởi vì chúng cung cấp cho chúng ta những dụng cụ làm việc và chỉ cho hướng phải theo. Sau này, khi người ta đã tiến bộ trong con đường tâm linh, người ta không cần phải quy chiếu trực tiếp vào những quan niệm này nữa, sự tiến hóa của chúng ta sẽ tự nhiên hướng theo chiều hướng đúng. Nhờ những phản ứng mới của tâm thức, hoạt động của chúng ta ở mọi cấp độ – thân, ngữ, tâm – sẽ tự động có lợi lạc cho những người khác. Đấy cũng hơi giống với học lái xe : ban đầu, phải rất chú ý đến mỗi cử chỉ, mỗi thao tác. Nhưng khi đã có thói quen lái xe, người ta không cần học lại tất cả lý thuyết mỗi khi muốn đi đâu và thậm chí người ta còn nói chuyện và ngắm cảnh khi đang lái. Nhờ những sự tự động đã tự hình thành khi học điều phục tâm thức, hạnh kiểm đạo đức trở thành một bản chất thứ hai.

Một điểm chót rất quan trọng : người ta phải học tin cậy vào những phương pháp tâm linh mà người ta dùng và không nhường bước cho sự muốn bỏ cuộc khi người ta thấy có chút khó khăn. Những giáo huấn từ đó những phương pháp này được rút ra là hoàn toàn xác thực đáng tin cậy trên bình diện lý thuyết – từ chân lý của những nguyên tắc trên đó những phương pháp ấy được đặt nền – cũng như bình diện thực hành : đức Phật, và sau ngài biết bao thế hệ nam nữ đã thí nghiệm những kỹ thuật và đã nếm những quả trái. Đến lượt chúng ta hội nhập chúng vào đời sống hàng ngày của chúng ta, làm cho chúng thành thật sự của chúng ta. Nếu được như thế, toàn bộ cuộc sống của chúng ta sẽ được biến hình, chuyển hóa : hoạt động của chúng ta sẽ làm lợi lạc một cách tự động cho những người khác, không làm hại bất kỳ ai. Người ta cũng tự mình trở thành một mắt xích trong chuỗi dài đảm bảo sự chuyển giao truyền thống tâm linh này từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Câu hỏi : Người ta có thể tự hỏi tại sao người ta phải tự ép mình tuân theo những phép tắc thiện hạnh, trong khi vài người làm trái ngược lại thì không có vẻ gì bị chuyện xấu cả. Người ta thường thấy những cá nhân ít đáng tin cậy lại trở nên rất giàu và rất quyền lực, trong khi những người rất tốt lại nghèo suốt đời.

Trả lời : Có thể có những người lừa đảo, lường gạt giàu có lớn lao, nhưng điều đó không có nghĩa là họ được hạnh phúc. Sự giàu có thật sự là sống thỏa mãn với cái mình có, hân thưởng mọi cái đến với mình. Sự giàu có đó theo bạn đi khắp nơi, dầu bạn ở đâu, trong hoàn cảnh nào. Dầu người ta sống ngoài đường và ngủ dưới gầm cầu, trong một thùng bằng cạc-tông, người ta vẫn có thể có cái cảm thức đó, cái cảm giác bạn đã đầy đủ. Không phải mất gì cả, người ta không lo về chuyện này nữa : người ta không phải run vì viễn cảnh có ai lấy cái thùng cạc-tông của bạn, có khối gì các thứ ấy... Không phải người ta có nhiều sự vật mà người ta giàu có, theo nghĩa đích thực của danh từ. Nhưng nếu người ta biết hành động theo cách chính đáng và biết cảm kích, hân thưởng cái mình có, bây giờ người ta thực sự giàu có.

Câu hỏi : Hình như có những cách giải thích khác nhau về sự thực hành hạnh kiểm đạo đức. Người ta nói tổng quát rằng cần trau dồi những hành vi tích cực và lìa bỏ những hành vi tiêu cực, hầu như phải nhổ sạch chúng. Nhưng đôi khi, về vài điểm riêng biệt, người ta khuyên chúng ta chớ có đánh nhau với chính mình hay với cái tiêu cực trong chúng ta, mà nhìn vào trạng thái tâm thức như chính nó là, trong tính chất đặc biệt riêng của nó. Ngài có thể nói nhiều hơn về hai đường lối này ?

Trả lời : Đường lối thích hợp là do mức độ phát triển mỗi người, tùy theo người ta còn là một người mới học, hơi tiến bộ hay rất tiến bộ. Với người mới học, rất quan trọng là học không trau dồi khía cạnh tiêu cực của tư tưởng, lời nói và hành vi của mình, và vào mức độ này, hoàn toàn vô ích khi nhìn vào chúng hay chấp nhận chúng. Tâm thức chưa đủ chín cho việc đó. Trái lại, đó là lúc phải loại bỏ cái tiêu cực và trau dồi cái tích cực. Đường lối đầu tiên này là thiết yếu cho những “chiến dịch” tiếp theo, bởi nó là nền tảng cần thiết cho sự phát triển của chúng ta.

Giai đoạn thứ hai là khi đã học đối mặt với những khía cạnh tiêu cực của chính mình, người ta không thải bỏ chúng một cách đơn giản và tinh thuần, mà người ta có thể nhận biết chúng và thưởng thức tính chất đặc biệt của chúng.

Giai đoạn thứ ba là khi tâm thức đã đạt đến sự chín muồi, trưởng thành của nó, bây giờ không có gì loại bỏ khỏi sự thực hành tâm linh : tất cả những gì đến với chúng ta đều hòa nhập vào đó một cách tự động và nuôi dưỡng sự tiến hóa của chúng ta. Có thể vài người đã trưởng thành đủ về tâm linh để được miễn những giai đoạn sơ bộ. Trong trường hợp nào, dù mức độ phát triển cá nhân có thế nào, sự quan trọng là không bao giờ làm hại những người khác và luôn luôn cố gắng hành động, nói và nghĩ theo một cách có lợi lạc cho họ.


CHƯƠNG IX
ĐÁNH THỨC TRÁI TIM MÌNH : 
LÒNG BI

Để giúp đỡ mọi chúng sanh đang bị giam giữ trong những khổ đau mà họ tin là không thể sửa tránh được, chúng ta hãy mặc áo giáp mềm mại của một lòng bi không chỉ giới hạn vào nhân loại, mà bao trùm toàn bộ hiện hữu, hữu hình hay vô hình.
Gyalwa Karmapa thứ 16

Có một kho tàng mà mọi chúng sanh đều có đặc quyền chia xẻ, tham dự : đó là mang nơi mình tiềm năng của sự toàn thiện, của trạng thái thức tỉnh của tâm thức. Đó là cái mà trong Phật giáo Đại thừa gọi là Phật tánh : tâm thức được phú bẩm tự nhiên mọi phẩm chất hiểu biết, trí huệ, tình thương và lòng bi, và người nào khám phá ra cái ấy (Phật tánh) nơi mình và đến chỗ biểu lộ trọn vẹn cái tiềm năng ấy là “một người đã thức tỉnh” – một trong những nghĩa của chữ Phật –, thức tỉnh khỏi giấc ngủ của vô minh. Mọi phẩm chất này đang hiện diện trong mỗi chúng ta, ở trạng thái tiềm năng trong tâm thức chúng ta, và chính vô minh – sự không hiểu biết, hiểu sai bản tánh chân thật của những sự vật – cùng tất cả sự tích tập những bất tịnh do vô minh gây ra, đã ngăn chặn những phẩm chất ấy biểu lộ trong sự tròn đầy vinh quang và sống động của chúng.

Tuy nhiên, nếu người ta dần dần trừ bỏ những biến thể méo mó này của tri giác và của những tình cảm, người ta sẽ nhận ra rằng mọi chúng sanh và mọi sự vật của thế giới này, gồm cả và bắt đầu bởi cái tôi, không phải là những thực thể độc lập, mà là những hiện tượng chỉ hiện hữu liên lập, tương thuộc. Trong những điều kiện như thế, rõ ràng rằng làm điều xấu hay điều tốt cho một người nào, trở lại là tự làm cho chính mình. Một khi người ta đã hiểu rằng mọi người đang sở hữu cùng tiềm năng của sự toàn thiện – chính mình, những bạn bè và những kẻ thù ghét mình – và chịu đựng cùng những chướng ngại cho sự thể hiện trọn vẹn bản tánh thật sự của mỗi người, người ta từ từ đến chỗ cảm thấy cùng lòng đại bi cho tất cả.

Sự kiện biết rằng tất cả chúng ta đang có trong chúng ta tinh túy của sự toàn thiện mang một hy vọng vĩ đại : lòng bi không phải là cái gì xa lạ hay bên ngoài chúng ta, một mảnh miếng được mang đến mà người ta phải khó khăn cực khổ để có được và thâu hóa vào mình. Đó không phải là một đức hạnh riêng cho những vị thánh có thân thể bằng thanh khí hay những hiện thể ngoài trái đất, mà là một sức mạnh vốn đã hiện hữu nơi chúng ta, dự phần vào chúng ta. Người ta chỉ tưới nước và nuôi dưỡng hạt giống này với sự kiên trì, và rồi nó nảy mầm, lớn lên và trĩu quả. Không thể có chút nghi ngờ nào : nếu bạn nỗ lực hiểu biết tâm thức và điều phục nó, lòng bi sẽ phát lộ và bừng nở dần dần nơi bạn – bởi vì nó đã ở đó, một cách tiềm ẩn. Thậm chí nó tạo thành tinh túy của con người bạn. Những kinh văn cổ minh họa điều đó bằng một hình ảnh rất ấn tượng : nếu bạn lấy sữa và đánh nó, bạn sẽ có bơ. Trong khi bạn có khuấy nước trong hàng thế kỷ, bạn cũng không thể rút ra một gam nào...

Mỗi người mang trong nó tia lửa nhỏ của lòng bi. Ngay cả những người ích kỷ nhất cũng có thể chăm lo cho cha mẹ, con cái, người bạn trăm năm và những bạn bè của họ. Điều ấy người ta cũng thấy trong thế giới loài vật, nơi ngay cả những kẻ giết chóc như rắn hay cá sấu cũng rất chăm lo cho con cái của chúng. Tuy nhiên, loại lòng bi này chỉ dành riêng cho kẻ thân thuộc hay chủng loại mà sự loại trừ nhiều hơn là sự bao trùm. Vậy thì nó rất chật hẹp, nhất là nếu người ta so sánh nó với lòng bi không giới hạn mà tất cả chúng ta đều có khả năng, nếu chúng ta chịu khó để cho nó bừng nở, khai triển nơi chúng ta.

Quyền lực và những kết quả của lòng bi tùy theo mức độ khai triển của nó. Nó càng mạnh mẽ và sâu xa, tác động và phạm vi ảnh hưởng của nó sẽ càng quan trọng. Nếu người ta có khả năng cho lòng bi vũ trụ, người ta có thể cho mỗi người đúng cái mà họ cần, nhưng dù với một ít lòng bi, người ta có thể tự mình sống tốt hơn và làm cho những người khác hạnh phúc.

Có người có thể tự hỏi lòng bi đóng góp cái gì để cải thiện phẩm chất cuộc đời của mỗi người về mặt cá nhân và của xã hội về mặt toàn thể. Càng khai phát lòng bi, người ta dần dần thoát khỏi thế lực của tham lam và thù hận ; người ta có thể làm cho gia đình mình, những người gần gũi với mình hạnh phúc hơn, và hạnh phúc ấy của những người này phun vọt trên những người khác. Nếu càng ngày những cá nhân nhổ nơi họ gốc rễ của mọi cuộc xung đột – lòng ích kỷ – và thay thế vào đó tình thương (từ) và bi, tiến bộ này phản chiếu trước tiên lên giai tầng gia đình, rồi môi trường gần gũi, rồi toàn thể xã hội, và cuối cùng toàn thể thế giới. Hòa bình xã hội và hòa bình trong thế giới bắt đầu trong lòng của mỗi cá nhân.

Mặc dù người ta có thể tưởng tượng lòng bi như thế là cái gì, chắc chắn là người ta còn chưa tới đó. Vào lúc này, đã khá khó khăn khi tự nắm mình trong tay mà không là một gánh nặng cho những người khác, và cố gắng không làm tổn hại họ. Nhưng trước khi người ta đến đó, điều này không phải là nhỏ đâu, nó đã là một bước tiến lớn về phía trước bởi vì đó là nền tảng của mọi tiến bộ tương lai. Thật vậy, làm sao cảm thấy lòng bi cho những người khác nếu người ta không trước tiên cảm thấy nó một chút cho mình ?

Làm phát triển nơi mình tình thương và lòng bi chắc hẳn là một tiến trình tiệm tiến : một công trình làm đi làm lại cả trăm lần... Nhờ kiên nhẫn và kiên trì, tâm thức phải đi đến chỗ xếp những nếp thói quen tốt đẹp mới, đến mức có thể giữ gìn một thái độ từ bi ngay cả khi mọi sự trục trặc. Người ta sẽ phân biệt ba giai đoạn trong việc học nghề tập sự này : thứ nhất, ý thức sự kiện rằng khổ đau là phần của tất cả chúng ta ; thứ hai, trau dồi ham muốn nồng nhiệt chấm dứt những khổ đau này ; và thứ ba, không chỉ có một lời nguyện chân thành, mà chuyển qua hành động bằng cách tự mình giúp đỡ những người khác giải thoát khỏi những khổ đau của họ.

Giai đoạn thứ nhất cốt ở biết rằng tất cả chúng ta đều lệ thuộc vào khổ đau. Trước hết là khổ đau gắn liền với thân phận con người, dù những cá nhân có khác nhau thế nào đi nữa. Mỗi người đều phải đương đầu với những khó khăn và nhọc nhằn không thể tránh dính liền với hiện hữu của mình : sanh, bệnh, già và chết. Đó là những sự kiện không thể đảo ngược của cuộc đời và người ta chẳng thể làm gì cả, dù cường độ của mong muốn khỏi khổ của chúng ta có đến mức nào. Không có chỗ nào để trốn tránh sự thoát mất của thời gian – vô thường – và phần khổ đau của nó. Người ta là một kẻ bị kết tội chết được thường xuyên hỗn lại ngay từ phút giây mới sanh ra.

Ngoài những khổ nhọc chung cho mọi cuộc đời này, còn có những vấn đề đặc biệt cho mỗi cá nhân. Dầu hoàn cảnh của mỗi người có thế nào, không ai có thể trốn tránh. Những khó khăn của người nghèo thì rõ ràng : chỗ ở thậm chí cả cái ăn và sống trong lo âu không thể cung cấp một đời sống đàng hoàng cho gia đình. Nhưng người giàu sang cũng không được miễn trừ. Họ có những lo lắng riêng, như sợ mất tiền, sợ tiền bạc làm cho hư hỏng, không có bạn bè chân thật yêu quý mình thật sự chứ không phải vì tài sản. Dù thông minh hay thiển cận, luôn luôn vẫn là một sự việc : những người tài giỏi luôn luôn có nhiều vấn đề, mặc dù – hay có lẽ là bởi vì – những tài năng và phẩm chất đặc biệt của họ, trong khi những người khả năng giới hạn hơn cảm thấy dễ dàng bị những biến cố nhỏ nhất vượt qua.

Có một điều quan trọng cần hiểu đối với người muốn khai triển nơi mình lòng bi : không khó để cảm thấy xúc động khi thấy những người bất hạnh biểu hiện ra rõ ràng, nhưng không phải những người không có vẻ bất hạnh hay nghèo khó lại không khổ đau, theo cách của họ. Hơn nữa, người có vẻ bằng lòng làm nhiễm độc cuộc đời của những người khác có lẽ không nghèo hay bệnh, nhưng nó là vô minh : đó là bệnh tật tệ hại nhất, vì chính vô minh là nguồn gốc của mọi bệnh tật và khổ đau. Tự nhiên thì thường thường người ta nổi giận với loại người đó ; nhưng chính nơi đó mà người ta cần trau dồi lòng bi, khi hiểu rằng họ làm hại cho chúng ta bởi vì ác tâm thì ít mà vô minh thì nhiều. Cũng giống như con rắn cắn đứa bé chơi trong bụi cỏ : con rắn không chủ định làm hại đứa bé, nhưng nó không hiểu rằng nó chẳng có gì phải sợ cả. Nó đã hoạt động một cách mù quáng, dưới ảnh hưởng của sợ hãi và vô minh.

Đó là một suy xét rất có ích cho chúng ta khi chúng ta có những phiền não với một người nào đó, để tránh nổi giận, mà trái lại, dùng tình huống để làm lớn thêm lòng bi. Thông thường, người ta có nhiều khuynh hướng tuân theo xu hướng tự nhiên bình thường và ích kỷ và phản ứng trong chiều hướng những lợi ích riêng mình. Vậy thì, đối với người tìm cách khai triển từ bi nơi mình, thiết yếu hãy thử đặt mình vào địa vị của những người khác và thấy những sự việc từ quan điểm của họ : không làm cho những người khác điều mà mình muốn họ không làm cho mình, và cho họ hạnh phúc mà họ đang muốn cho chính họ. Khi cảm thấy ít khác biệt với người khác, chúng ta sẽ trở nên ít thản nhiên lạnh lùng hơn, và một sự hòa điệu nào đó trở nên có thể.

Một khi người ta hiểu rằng tất cả đều bị gộp chung trong cùng một lời giáo huấn – phù du và khổ đau – người ta có thể qua giai đoạn hai của cuộc hành trình : trau dồi ham muốn nồng nhiệt giúp đỡ mọi người thoát khỏi ách nạn của khổ đau. Người ta không chừa ai cả : lòng bi chúng ta nhắm đến ở đây là không thiên vị và vô điều kiện, nó đến với mọi chúng sanh, vì sự kiện đơn giản rằng họ hiện hữu và phơi mình dưới khổ đau.

Có lẽ người ta khó tưởng tượng ra lòng bi không giới hạn này, vì người ta đã có thói quen lựa chọn giữa vài người được chọn mà người ta xem là xứng đáng với “tình yêu” của họ với tất cả những người khác, mà người ta ném vào sự thản nhiên cho đến thù ghét. Chiều sâu và phẩm chất của một tình cảm như vậy có lẽ tìm thấy hình ảnh của nó trong tình thương nối kết một bà mẹ với đứa con, mà ở đây nó được thêm vào một chiều kích không thiên vị và phổ quát : một tình thương vô điều kiện ôm lấy mọi chúng sanh một cách bình đẳng.

Một khi người ta thoáng thấy một ít bản chất của lòng bi, người ta có thể khai triển nó trong mình. Người ta nghĩ đến một người rất thân thiết – nói chung, bà mẹ mình, nhưng người ta cũng có thể chọn một người khác nếu thấy khó khăn – và người ta tập ý thức trước tiên tất cả chiều sâu của những tình cảm mà người ta cảm thấy đối với người thân ấy. Rồi người ta tưởng tượng rằng mẹ mình – hay người thân – đang bị khổ sở. Thế là hoàn toàn không thể chịu đựng nổi, người ta chỉ có một mong muốn : tìm ra phương tiện để chấm dứt những khổ sở ấy càng nhanh càng tốt. Lòng bi chính là như vậy : ham muốn mãnh liệt chấm dứt khổ đau của những người khác. Ban đầu, sẽ dễ cảm thấy với người mẹ hay một người người ta thương yêu nhiều, nhưng một khi tình cảm này đã thiết lập được nơi mình đối với một người, người ta sẽ dần dần tập trải tình cảm đó cho những người khác. Dần dần, người ta thành thật cầu mong điều ấy cho người bạn thân nhất, rồi cho những người khác ít gần gũi hơn, rối đến những láng giềng, và cứ thế cho đến ngày người ta cảm thấy cùng một mong muốn cho tất cả, thậm chí với người trước kia người ta xem như kẻ thù. Tình thương chân thật và lòng bi là cái đối nghịch với thói quen thiên chấp của chúng ta. Người ta cũng có thể lợi dụng những suy nghĩ này để hiểu biết tính chất chuyên chế và thay đổi của những quan niệm bạn và thù : bạn hôm nay có thể thành thù ngày mai và ngược lại. Người ta có lợi gì đâu khi cho những phân biệt này là nghiêm túc thế kia và biến chúng thành những thực tại quá cứng chắc trong tâm trí mình ?

Một chi tiết khác quan trọng : lòng bi phổ quát, vũ trụ không giới hạn vào nhân loại, nó bao trùm toàn thể sự sống. Như chúng ta, những con vật lệ thuộc vào khổ đau nội tại trong mọi hình thức hiện hữu, nhưng hoàn cảnh của chúng thì tệ hơn của chúng ta, vì vị trí thống trị của chúng ta trong thiên nhiên. Hãy tưởng tượng bạn đang ở dưới lớp da của một con thú vật : bạn sẽ khó khăn tự nuôi sống mỗi ngày, rồi những đứa con nhỏ của bạn, bạn sợ loài thú khác và loài người săn bắn đôi khi chỉ để vui chơi. Hãy tưởng tượng một chốc bạn là một con cá, một con sâu lềnh bềnh trên mặt nước, bạn há miệng đớp mồi, và một sự đau đớn khủng khiếp hủy diệt bạn khi một luỡi câu xé rách cổ họng bạn. Trên kia, người câu kéo dây ; dưới nước móc câu đâm sâu vào đầu, thân thể bạn quằn quại đau đớn kịch liệt. Rồi thình lình, còn tệ hơn cái đau đang còn đóng đinh bạn, bạn đã ở ngoài nước, không thở được, không khí tấn công bạn. Sự nổ bùng của đau đớn mới khi người ta rút lưỡi câu ra khỏi miệng bạn, va chạm với đất ; bạn cháy bỏng bên trong, mang phập phồng, mong có chút nước, mắt mờ đi và suộc sống từ từ thoát khỏi bạn... Người ta có thể nhân sự thực tập lên vô tận, khi thì làm con thỏ, con chồn, con chim... Chắc chắn người ta sẽ ý thức được thế nào là một cuộc đời và những khổ đau của một con thú, và một sự kính trọng nào đó đối với sự sống, dưới mọi hình thức. Dù cho chúng ta không có quyền để lật đổ thái độ và tổ chức của cả một xã hội, mỗi người trong chúng ta ít ra có thể cố gắng, ở mức độ của mình, tốt với loài vật và tránh làm nặng thêm những khổ đau của các tạo vật khác cùng chia xẻ, thừa hưởng trái đất với chúng ta.

Đáng ca ngợi khi biết rằng mọi chúng sanh đang đau khổ và muốn làm cách nào cho sự việc ấy chấm dứt. Nhưng như thế chưa đủ : còn phải đi vào hành động. Và chính đó là giai đoạn thứ ba của sự khai triển lòng bi : người ta thử làm việc gì trong khả năng mình để chấm dứt sự khổ đau của những người khác.

Làm thế nào bắt tay vào giúp đỡ những người khác ? Bằng cách nhờ vào kinh nghiệm của riêng mình, vì làm sao thực sự giúp đỡ một người có những vấn đề khó khăn nếu người ta không biết đảm nhận những khó khăn riêng của mình và đối mặt với những khổ đau của riêng mình ? Khi người ta đã tự giúp mình được, người ta có thể giúp được những người khác. Điều này đưa ta trở lại một lần nữa sự cần thiết phải trước tiên làm việc trên chính mình. Như người ta đã thấy ở trước, thế giới chúng ta tri giác là hình ảnh của chúng ta : người ta càng có khuyết điểm nơi mình, người ta càng tìm thấy những khuyết điểm nơi những người khác. Không phải cố làm chúng thay đổi hay ghét chúng ; sự việc sẽ trôi chảy nếu người ta thử trau dồi một thái độ lòng bi đối với chúng, khi hoàn toàn tiếp tục làm việc trên chính mình.

Tình thương và lòng bi chắc chắn là những phẩm tính kỳ diệu có quyền lực biến chuyển cuộc đời của chúng ta. Nhưng có lẽ có một số người trong chúng ta nghi ngờ về chính họ và về khả năng tiến hành một đường lối như vậy : người ta cần một cú thúc đẩy nhỏ để tiến về phía trước. Vậy thì, trong gương mẫu những người khác người ta có thể tìm thấy một sự khuyến khích như vậy : có biết bao người đàn ông và đàn bà trong quá khứ đã đi trước chúng ta trên con đường tâm linh này cũng như một số người đương thời. Không phải do sức mạnh của lưỡi gươm, của tiền bạc hay những bằng cấp mà những bậc Thánh vĩ đại hay những vị thầy tâm linh đã được nhân loại ghi nhớ : chính là điều họ đã làm cho những người xung quanh. Chính là tình thương, lòng bi, sự khiêm hạ và sự hiến mình toàn diện cho sự tốt đẹp cho những người khác đã khiến một Francois d’Assie hay một Milarepa, chỉ kể hai người thôi, đã có thể giúp đỡ biết bao người, không chỉ trong thời đại họ, mà còn sau khi họ chết. Và cũng những phẩm chất đó người ta tìm thấy ở một số người đương thời đã hoàn toàn hiến dâng đời mình cho sự phụng sự những người khác, như mẹ Teresa hay tu viện trưởng Pierre. Ở một cấp bậc khiêm tốn hơn, người ta cũng thấy chung quanh chúng ta có nhiều người quan tâm đến việc khác hơn là sự an sinh của chính họ và của những người thân, chẳng hạn góp tiền vào những tổ chức từ thiện hay làm việc trong đó, đỡ đầu cho trẻ em thế giới thứ ba, đem lại một sự an ủi và một hiện diện ấm áp cho những người bệnh và người sắp chết, hay giúp đỡ những người không nơi nương tựa của xã hội chúng ta. Mọi hành động này theo chiều hướng tốt, khi nào người ta đơn giản bị điều động bởi mong muốn giúp đỡ và làm nhẹ cho những người khác, mà không phải vì nhu cầu thỏa mãn tà tâm hay vì những ham muốn vinh danh cá nhân. Hơn là cứ bị đè nặng bởi sự bất lực và những giới hạn cá nhân, chúng ta hãy rút nguồn cảm hứng trong sự khẩn thiết cần giúp đỡ của những người đang khổ đau và trong gương mẫu tích cực của những người đã giúp đỡ họ. Hoàn toàn ý thức về những chướng ngại, cạm bẫy của lòng ích kỷ hiện thời của chúng ta, phải học tin cậy vào tiềm năng lòng bi này tạo thành bản tánh thật sự của chúng ta, vào quyền lực của tình thương vô điều kiện đang ngủ trong lòng chúng ta và nó chỉ cần được đánh thức để cho tất cả đều biến hình, chuyển hóa trong chúng ta và chung quanh chúng ta. Chính là khi trui rèn mà người ta trở thành thợ rèn...

Chính trong thực tế hàng ngày mà người ta học trau dồi lòng bi. Sanh, lão, bệnh, tử diễn ra hàng ngày, sự khổ đau, cô đơn, đơn độc xảy ra hàng ngày. Rất tốt khi có một tâm hồn rộng rãi và những tư tưởng rộng lượng và rõ biết những kỹ thuật thư giãn, nhưng tất cả những lý thuyết đẹp đẽ này chẳng giúp ích gì nhiều nếu người ta đóng kín và co lại trong đời sống thường nhật. Khi người ta có một con ngựa giống, người ta không để mặc nó trong chuồng ngựa, người ta cỡi nó hàng ngày, nếu không nó chẳng dùng được gì và hình dáng đẹp đẽ sẽ mất đi. Lòng bi không phải là một phòng đẹp đẽ của bảo tàng viện mà người ta xếp vào một góc để thỉnh thoảng ngắm nghía, tán dương, sùng mộ và cảm động rơi lệ. Đó là một sức mạnh lớn dần khi người ta nuôi dưỡng nó mỗi ngày bằng máu thịt của mình, bằng những nụ cười và những nước mắt, bằng những sức mạnh và những yếu đuối, bằng những giấc mơ và những thất vọng, và nó hoàn thành khi cho mỗi khoảnh khắc của đời sống một chớp sáng của sự toàn thiện.

Không phải vì người ta nỗ lực thực hành lòng bi để chờ đợi được đền trả, và để nổi giận nếu những người khác không nỗ lực như chúng ta. Tình thương không phải là một tương tác buôn bán : tôi cho anh cái này, nếu anh cho tôi cái kia. Nếu người ta không biết cho một cách vô điều kiện, tình thương sẽ ô uế bởi ích kỷ và tiếp tục cô lập chúng ta với những người khác thay vì đem chúng ta xích lại gần họ. Lòng bi, đó là lơ là một chút với chính mình để lưu tâm hơn đến những người khác. Người ta ra khỏi tháp ngà của mình, khỏi cái thấy quy ngã khi nhìn thế giới ; khi tỉnh lại trong cảnh quan của thực tại, người ta tri giác tốt hơn sự tương đồng căn bản của tất cả đời sống.

Lòng bi vượt khỏi sự phản ứng đơn thuần đối với sự đau khổ của người khác ; nó cũng giả thiết một sự thông minh nào đó về tình thế của người kia. Chẳng hạn, nếu một người nghiện rượu đòi bạn cho uống, hay một người chơi ma túy xin bạn tiền để mua héroine, không phải là lòng tốt khi đáp ứng cho họ. Lòng bi phải đi đôi với một trí huệ nào đó, nếu không người ta sẽ làm điều xấu hơn là tốt, với những ý định tốt đẹp hơn cho thế giới. Phải biết đánh giá khi nào nên làm hay không nên, và bằng cách nào. Khi người ta chưa đủ lòng bi để làm chủ chính những xúc tình của mình, tốt hơn là chớ nên đi vào những hoàn cảnh quá tế nhị.

Điều đó nói lên rằng quan trọng là không tìm cách làm quá mức khả năng của mình, ở mỗi giai đoạn tiến hóa. Cố gắng làm tốt nhất để giúp đỡ những người khác, hẳn thế, nhưng chớ quên rằng người ta không phải là một loại siêu nhân cứu độ của nhân loại. Chúng ta hãy luôn luôn nhớ rằng nguyên tắc thiết yếu là luôn luôn không làm gì, nói gì, nghĩ gì có thể làm hại cho những người khác. Lòng bi sẽ lớn lên và an vững nơi chúng ta từng bước nếu chúng ta biết tỏ ra kiên nhẫn, khiêm hạ và thực tiễn đối với chính mình, cẩn trọng và nhạy cảm đối với những người khác, tất cả kèm theo một lương tri và một ít khôi hài.

Một khuyên nhủ cuối : chớ hỗn lại ngày mai điều chúng ta có thể làm hôm nay, về sự làm chủ tâm thức cũng như về lòng bi. Người ta thường có khuynh hướng tự nhủ rằng mọi điều đó thì rất tốt đẹp, nhưng người ta sẽ có thời gian để quan tâm đến chúng sau này, khi người ta đã kiếm được chút ít những lạc thú của cuộc đời. Tuy nhiên chúng ta hãy coi chừng thả mồi bắt bóng : những lạc thú của chúng ta cũng phù du như bông tuyết dưới ánh mặt trời và những sự vật và những con người hôm nay làm nên hạnh phúc của chúng ta có thể sẽ là nguyên nhân của những giọt nước mắt của chúng ta ngày mai. Tất cả đều qua đi, tất cả đều mệt mỏi, tất cả đều tan vỡ. Và người ta cuối cùng mới hiểu rằng không đâu khác ngoài chính mình mà người ta phải tìm kiếm cội nguồn của hạnh phúc đích thực. Điều đó không có nghĩa phải từ chối những niềm vui mà cuộc sống có thể mang lại cho chúng ta, mà không đầu tư hết mình vào đó, bởi vì những lạc thú thì mong manh và sự đếm ngược tiến về cái chết theo đuổi không ngừng. Trong nhãn quan của lòng bi, chúng ta có thể sống với đôi tay và tấm lòng rộng mở với cái gì xảy ra, sẵn sàng làm tốt nhất điều mà mỗi tình huống đòi hỏi chúng ta, càng ngày càng có khả năng thương yêu và giúp đỡ những người khác bởi vì chúng ta làm chủ tốt hơn tâm thức của mình.

Không ai có thể lẩn tránh cái chết, nhưng người ta có chọn lựa sống tốt đẹp hơn : chinh phục con cọp tâm thức để tránh khỏi việc chính mình là nguyên nhân cho những khổ đau của chính mình và của những người khác, và để cho sức mạnh của lòng bi hướng dẫn hầu cho chúng ta cơ hội để sống tốt hơn – nơi chính mình và cùng với toàn thể – để rút ra phần lợi lạc nhất có thể có của sự băng qua phù du của chúng ta trên trái đất này.


CHƯƠNG X
SỰ CHÚ Ý CẨN TRỌNG 
HAY 
CON CỌP ĐƯỢC THUẦN HÓA

Sự việc đơn giản là buông xả toàn diện và quan sát cái gì đang xảy ra sẽ cho bạn một sức mạnh vĩ đại.
Milarepa

Một phần lớn những vấn đề khó khăn người ta gặp trong đời sống mọi ngày là do một sự thiếu chú ý về phần chúng ta. Luôn luôn người ta làm một cách xung động, theo những tình cảm nhất thời, không chú ý đến bản chất của những hành động của mình hay những phản hồi của chúng lên chính mình hay lên những người khác. Khi với một cẩn trọng tối thiểu, người ta có thể thấy biết những tư tưởng và tình cảm của mình ngay lúc chúng xuất hiện, và vậy là ý thức được cái thúc đẩy chúng ta hành động. Thay vì để cho bị lôi cuốn một cách mù quáng thụ động phải làm hay nói những điều mà sau đó người ta sẽ hối tiếc, người ta ý thức những động lực của chúng và người ta có thể hành động trong sự hiểu biết rõ ràng nguyên nhân. Khi người ta chú tâm vào cái gì đang xảy ra nơi mình, người ta không bị bắt buộc làm món đồ chơi cho những tình cảm của mình nữa ; thay vì để cho những phản ứng xung động và thói quen cuốn trôi, người ta trở thành người chứng và người diễn viên sáng suốt của cái đang chuẩn bị trong tâm thức và của những hành động có từ đó.

Nếu thiền định nhắm vào việc phát triển chú ý và cẩn trọng, thì đó không phải là những phẩm chất đặc biệt tâm linh hay những đức hạnh bí truyền dành riêng cho những người quan tâm đến tâm linh. Thật vậy, không có gì thường ngày và bình thường hơn chú ý, vì người ta không thể làm gì mà không có nó. Không ngừng có hàng đống sự việc cần có sự chú ý : thời giờ, cách người ta ăn mặc y phục, cách người ta băng qua đường, lái xe và đậu xe, cái người ta ăn, cái người ta làm... Chú ý, là cố gắng nghĩ đến một sự việc nhất định, ý thức nó mà không để cho chuyện khác làm xao lãng. Vậy thì chú ý và cẩn trọng không phải là những quan niệm trừu tượng hay những đức hạnh ngoại lai, mà là những dụng cụ cần thiết cho sự sống còn và cho sự an toàn hàng ngày của chúng ta. Và hơn nữa, nếu người ta học cách phát triển nó, thì chính nhờ những công cụ này mà người ta có thể chinh phục con cọp và khiến nó phải làm điều mà người ta chờ đợi ở nó.

Đời sống hàng ngày đầy những cơ hội để thi hành sự chú ý, và thiền định cho ta một toàn bộ những kỹ thuật cho phép phát triển nó đến mức tỉnh thức với mọi khoảnh khắc của cái đang xảy ra trong tâm thức. Vậy thì có một bổ túc cho nhau rõ ràng giữa đời thường hàng ngày và thiền định. Tuy nhiên có người tưởng tượng rằng thiền định là một cách trốn thoát những thực tế của đời sống và quay lưng với những vấn đề của nó bằng cách trầm mình trong những thiền “hư không”. Chính điều ngược lại mới đúng và ít ra đối với cái thiền định xứng đáng với từ này, và không phải những giả mạo của những thầy lang bịp bợm hứa hẹn với bạn cái phúc lạc tức thời và những quyền năng huyền thuật. Thiền định chân thật không phải được thực hành để nuôi dưỡng những ảo vọng hoang đường của chúng ta và củng cố cho cái nhìn ích kỷ của chúng ta về thế giới, trái lại nó nhắm đến việc đưa chúng ta đến gần thực tại của cái mà chúng ta thực sự là. Nó loại bỏ những méo mó ngăn cản chúng ta có một nhận thức đúng về chính mình, và về thế giới, về những người khác đúng như họ là. Về tiến trình phát triển sự chú ý, thiền định giống như một pha tu hành mãnh liệt, còn cái hàng ngày vừa như một chỗ thử cái người ta đã học vừa như một chỗ chứa những kinh nghiệm mới để nuôi dưỡng và kích thích thiền định.

Phần đông chúng ta tự bằng lòng ở lại trong một giai đoạn sơ khai của sự phát triển chú ý, chỉ đủ để làm gấp những chuyện thông thường. Tâm thức tập trung một cách chừng mực – nhiều hay ít – trên một đối tượng mà bên ngoài khuyến khích sự chú ý vào giây phút đó, nhưng nó luôn luôn sẵn sàng trả lời tức khắc cho một khuyến khích khác làm vui lòng nó hơn. Nhưng người ta không biết những tiến trình tâm thức diễn tiến trong chúng ta ngay cùng lúc đó, nơi tấm màn phông. Người ta không ý thức những tư tưởng, những cảm giác và những tình cảm nổi lên không ngừng trong tâm thức, định hình tri giác của chúng ta về những sự vật và những phản ứng của chúng ta về những biến cố. Người ta chỉ thấy cái xảy ra trên sân khấu và không thấy trong hậu trường. Và bởi vì người ta không thấy những xung động, những động cơ trong sáng của mình mà nhiều khi người ta có những phản ứng, đối xử vô lý, không được kiểm soát gây ra bao nhiêu hỗn loạn cho cuộc đời.

Mối tương quan của chúng ta với những người khác và với thế giới hoàn toàn được xác định bởi cái xảy trong tâm thức chúng ta, và nếu người ta biết chú ý vào tâm thức, người ta ý thức được tác động, ảnh hưởng mà những hành vi nhỏ nhất của chúng ta có thể có trên những người khác. Người ta học nhận diện điều mà người ta cảm thấy – giận dữ, ghen ghét, ham muốn – điều này không hàm ý rằng người ta nuôi dưỡng tình cảm đó, hay ngược lại đè nén nó, bởi vì cách nào thì một ngày nào đó nó sẽ nổ bùng. Người ta bằng lòng nhận ra sự hiện diện của nó, không để cho mình hành động một cách xung động vô ý thức, vì người ta biết những thiệt hại người ta có thể gây ra cho những người khác.

Hẳn nhiên, nói thì dễ dàng hơn là làm, và phải đã có một sự tu tập chú ý nào đó khả dĩ cách ly đủ với tư tưởng và những tình cảm của mình để không phản ứng tức khắc. Nhưng chớ có tin rằng điều ấy sẽ làm cho cuộc đời chúng ta thêm rắc rối, phức tạp, mà trái lại. Người ta không tìm kiếm sưu tập thêm những nguyên tắc và những mánh lới, mà tự để cho không gian cần thiết để thấy rõ hơn, khi giản dị hóa một chút những sự vật. Người ta càng cần điều này khi cuộc sống trong những xã hội hiện đại đã đủ phức tạp và cuồng loạn.

Chính khi học tập trung sự chú ý mà người ta tìm ra không gian cần thiết để nhận diện cái gì đang xảy ra nơi mình và thụt lui khá đủ đối với cái ấy. Tập trung, đó là giản dị hóa : thay vì phân tán sự chú ý của mình trên nhiều sự vật, người ta chỉ để tâm vào một cái – một cách chú ý, và do đó có hiệu quả, không mất thời gian. (Trái với điều người ta thường tin, người ta không có thời giờ làm nhiều việc một lúc, vì chú ý không thể hiệu quả khắp nơi vào cùng một lúc.) Một vị thầy Tây Tạng vĩ đại đã nói : tâm thức phải