CHƯƠNG
V
ĐỐI
MẶT
Chớ
vui thích khóc than cho số phận mình !
Bảy
Điểm Tu Tâm của Atisha
Giữa
khoảnh khắc người ta gặp đạo lần đầu tiên và giờ phút
tâm thức thức tỉnh hoàn toàn trong sự trọn vẹn những phẩm
chất tự nhiên của nó, cuộc du hành có thể lâu dài và gian
khổ. Nếu người ta trù tính một cách nghiêm túc để ra đi,
phải suy nghĩ đến sự tổ chức thực tiễn của cuộc du
hành của mình. Chẳng hạn, chỉ nói : “Tôi muốn đi từ
Việt Nam sang Ấn Độ” thì không đủ để đến đó. Phải
chọn một phương tiện chuyên chở – xe hơi, xe lửa hay máy
bay và khó nhọc tổ chức hành trình. Nếu người ta không
cố gắng một chút cần thiết khi khởi hành, người ta không
bao giờ đi đến đâu cả, và người ta sẽ cứ giam hãm trong
nhà mình – và thất vọng.
Khi
muốn đi đâu, phải xác định điểm khởi hành của mình,
phương tiện di chuyển và hành trình của mình, rồi phải
ra đi. Điều đó cũng đúng với sự du hành tâm linh : mục
đích của nó là đưa ta đến chỗ sống một cuộc đời hoan
hỷ hơn và bừng nở hơn, đồng thời hữu ích hơn cho những
người khác, và điểm khởi hành là cái đời sống bình thường
hàng ngày của chúng ta. Cái hàng ngày đầy dẫy những sự
kiện đủ mọi loại tạo thành nguyên liệu cho công việc
tâm linh, bởi vì chính qua sự đa dạng của những kinh nghiệm
mà người ta có thể học và tiến hóa. Đời sống hàng ngày
là một mỏ những bài học của trí huệ ban cho những ai muốn
học chúng, bất kể trình độ giáo dục hay văn hóa.
Bài
học đầu tiên chắc chắn cốt ở quên đi những thói quen
xấu của chúng ta. Người ta có khuynh hướng lẩn tránh hay
bỏ lơ những vấn đề đặt ra cho chúng ta trong môi trường
xã hội, nghề nghiệp hay gia đình, như thể người ta thử
che dấu sự không thỏa mãn và khổ đau mà người ta cảm
thấy nơi mình. Nếu người ta muốn thành thật với chính
mình, người ta sẽ bắt buộc nhận ra rằng trong một nghĩa
nào đó người ta vẫn còn tập đánh vần trong việc quản
lý những khó khăn của cuộc sống hàng ngày. Có lẽ người
ta thích thực hành những kỹ thuật thiền định ngoại lai
trong hy vọng ngày nào có thể khinh thân hay bay lên, trong khi
chắc hẳn ích lợi hơn nếu trước tiên học đứng vững
trên đôi chân của mình. Một số người tự đánh giá đã
nhiều tiến hóa, nghĩ rằng họ chẳng cần gì một lời giáo
huấn, khuyên bảo, trong khi một cách vô thức họ tái sản
xuất không ngừng cùng những bản in như nhau trong cuộc sống
và luôn luôn tự tạo cùng những khó khăn. Thế nên ở đây
chúng ta nhắm đến mục tiêu chính yếu là học chấp nhận
và điều hành những tình huống thông thường của cuộc đời
hàng ngày. Người ta không thể chờ đợi những tiến bộ
thật sự trước khi biết rằng người ta cần một sự tập
sự như vậy.
Đã
hiểu sự cần thiết của một con đường, còn phải lên đường.
Trong một thế giới lý tưởng, có lẽ có thể ăn ở một
cách tiện nghi, một điếu xì gà trong tay, một ly rượu vang
trong tay kia, bao quanh bởi những cô nàng lộng lẫy hay những
tình nhân nồng nhiệt, và thanh thản chờ đợi tâm thức tỉnh
dậy một mình. Thực tại không phải cũng mộng mơ như vậy
: người ta chẳng đến đâu cả nếu không có một cố gắng
tối thiểu. Không có giấc mộng nào, không có ám ảnh hoang
đường nào có thể che chở cho chúng ta khỏi những khổ đau
đang chờ đợi chúng ta nếu chúng ta không học đối mặt
với cái hàng ngày bằng cách bình định tâm thức chúng ta.
Vậy
người ta cần xét xem những phương tiện để thực hiện
cuộc hành trình tâm linh. Việc đầu tiên là thuần hóa tâm
thức mình để có một căn cứ vững chắc từ đó người
ta có thể tiến bộ. Đó là căn bản. Thiếu một căn cứ
như vậy, người ta sẽ không thể lợi dụng đầy đủ cơ
hội hãn hữu cho sự phát triển mà cuộc đời làm đàn ông
hay đàn bà mang lại. Điều phục tâm thức là một ưu tiên
tuyệt đối : đối với chính mình, bởi vì đó là cách duy
nhất để học điều hành một cách tích cực tất cả những
gì cuộc đời mang lại cho chúng ta, bằng cách dùng mọi chất
liệu của cuộc hiện sinh để làm sanh trưởng trong chính
mình trí huệ và lòng bi. Nhưng cũng đối với những người
khác, bởi vì một trong những mục tiêu chính của sự nuôi
dạy tâm thức là thu hoạch lòng bi, cái cho chúng ta có thể
giúp đỡ người khác, không phân biệt chúng sanh nào.
Một
khi căn cứ này đã được lập, người ta sẽ có thể tiến
hóa một cách xây dựng nhưng tiệm tiến, vì người ta không
thể đốt giai đoạn. Dù người ta có thành công trong nghề
nghiệp hay trong xã hội, phải chấp nhận rằng người ta chưa
thật tiến hóa trên bình diện làm chủ tâm thức – những
xúc động, những tư tưởng, những tình cảm của mình. Nếu
người ta cần chế ngự tâm thức mình, đó là bởi vì bao
giờ người ta còn sợ mất cái người ta có – tiền bạc,
đồ vật, người thân, chưa nói đến chính cuộc đời mình
– thì người ta còn khổ đau. Phải bắt đầu bằng sự bắt
đầu.
Hãy
tưởng tượng bạn tìm ra một cục kim cương nguyên sơ ; nếu
bạn biết mài giũa đẽo gọt, bạn có thể phát giác tất
cả vẻ đẹp của nó và làm thành một đồ trang sức huy
hoàng. Nhưng nếu bạn không làm chủ một cách khéo léo những
kỹ thuật đẽo gọt, bạn sẽ làm hỏng hay làm vỡ nó, nó
sẽ trở nên vô dụng và không giá trị. Những thực tập
và những kỹ thuật thiền định được đề nghị ở đây
là những công cụ cho phép làm việc với viên kim cương nguyên
sơ là tâm thức ; nếu người ta biết thao tác những dụng
cụ đó khéo léo và cẩn trọng, người ta sẽ gọt giũa và
đánh bóng nó để làm hiển lộ tất cả sự rực rỡ và
thuần khiết của nó.
Có
lẽ không phải là một viễn cảnh đặc biệt vui thích hay
đầy khích lệ khi mỗi ngày đối diện với những người
bao quanh bạn và những hoàn cảnh của cuộc đời thường
nhật. Người ta thích nghe nói rằng người ta chẳng phải
làm gì và mọi sự sẽ tự dàn xếp, ổn định, như trong
những phim của Hollywood. Người ta có thể luôn luôn mơ mộng,
nhưng chuyện đó chẳng tới đâu, người ta biết thế. Một
ngày nào cũng phải bắt đầu nhìn thấy những sự vật như
chúng là, và phải chấp nhận chúng như vậy, nghĩa là rất
tầm thường, đối với đa số người. Đời sống hàng ngày
được tạo thành bằng vô số sự việc rất bình thường
: mỗi ngày chưng cất một ít liều bất hạnh hay hạnh phúc
nhỏ hay lớn. Đôi khi người ta cảm thấy cả hai cùng lúc
: sự vật có thể vừa chua chát vừa ngọt ngào. Không phải
mùi vị của những sự việc là quan trọng, mà chính sự kiện
chúng xảy đến : đó là chất liệu thô sơ, nguyên phác của
sự sống, cái mà người ta đối mặt.
Nghịch
lý thay, chỉ có những hoàn cảnh khó nhọc mới đặt vấn
đề với chúng ta. Người ta có thể cảm thấy lo âu ngay cả
khi mọi sự tiến hành tốt đẹp, bởi vì người ta sợ nó
thay đổi. Người ta phải có thể hiểu và điều hành, xử
lý mọi cái xảy đến, dù tốt hay xấu. Đôi khi người ta
sẽ bắt buộc uốn mình theo những hoàn cảnh, trong khi những
lúc khác có lẽ cần làm cái gì đó để cải thiện chúng.
Nhưng cách nào thì chính chúng ta nắm những sự việc trong
tay, không có ai làm điều đó thay chỗ chúng ta, dù đôi khi
người ta nhờ được sự nâng đỡ và những khuyến khích
của người khác. Rốt cuộc, người ta là người độc nhất
có thể làm cái gì đó cho chính cuộc đời mình.
Một
số người tỏ ra thành thạo trong nghệ thuật lẩn tránh những
khó khăn, và mỗi người chúng ta có kỹ thuật ưa thích của
mình : thay đổi công việc hay địa chỉ, có một người tình,
đổi vợ, lao đến y sĩ, ăn mải miết những thẻ sô-cô-la
hay để thì giờ gọi điện thoại cho bạn bè. Người ta cũng
có thể tự ám ảnh hơn, dính chặt với truyền hình, dùng
ma túy, ăn không biết no hay say sưa. Chẳng có cái gì hiệu
quả ; người ta đến mức không thể ngủ hay suy nghĩ ; bỏ
ăn bỏ uống và cảm thấy bất hạnh như đã bị bệnh nặng.
Thậm chí người ta có thể định tự vẫn, điều cũng tiêu
cực như giết người khác. Khi xem những bất hạnh nhỏ là
quá trầm trọng, người ta có thể tự tạo ra những buồn
phiền thực sự và trở nên càng bất lực hơn trong việc
giải quyết chúng.
Khi
tránh khéo hay trốn thoát những khó khăn, người ta tự tạo
một sự xao lãng, khuây nguôi nhất thời, nhưng người ta không
thể thanh toán chúng. Khi người ta bằng lòng chỉ làm điều
mình thích và tránh mọi cái mình không thích, thì trái lại
người ta càng có thêm những vấn đề rắc rối. Không nói
đến những tổn hại tâm sinh lý mà việc đó gây ra, và sự
thống trị càng lớn của những thói quen xấu người ta đã
mang lấy và sau đó sẽ rất khó phá. Khi thả mình cho sự
yếu đuối, người ta còn yếu đuối thêm và người ta giảm
bớt những cơ may thoát khỏi những khổ đau.
Cần
có một sự thụt lui nào đó trong liên hệ với những sự
việc của cuộc đời, và tránh những sự thái quá của khắc
khổ và dễ dãi. Nếu người ta quá chặt chẽ và nghiêm trọng,
người ta có khuynh hướng luôn luôn bi kịch hóa. Người ta
mất đi bình dưỡng khí khôi hài. Ngược lại, nếu quá khinh
suất và luôn luôn xem nhẹ, người ta sẽ sống trong một thế
giới ảo tưởng. Cách nào đi nữa, người ta cũng sẽ bị
cắt đứt khỏi những sự thật hàng ngày và không ý thức
đến những tình cảm khởi lên trong chúng ta, như khi người
ta ở dưới đế chế của một xúc tình mãnh liệt – giận
dữ hay ghen tuông –, hay người ta bị ám ảnh bởi quá khứ
hay tương lai. Vậy người ta không thể làm việc một cách
ích lợi trên chính bản thân mình nếu người ta mất cái
nhìn thấy thực tại hiện tiền của những sự vật, thế
giới trong đó người ta đang sống.
Cho
đến bây giờ, người ta cứ lo toan tìm phương tiện để
trốn tránh những vấn đề. Để hàng phục tâm thức, phải
giáo dục lại và làm điều ngược lại : giáp mặt trực
tiếp cái khó chịu hay nhọc nhằn với chúng ta, và làm điều
đó một cách hiệu quả. Điều đó sẽ không thiếu lợi lạc
với chúng ta, ít nhất vì chúng ta không phải điên đầu để
sáng chế những phương tiện để tự trốn thoát mình ! Có
lẽ người ta thậm chí sẽ ngạc nhiên nhận ra rằng cái làm
cho chúng ta sợ đến thế, hay cái xáo trộn chúng ta đến
thế, rốt cùng không quá khủng khiếp, một khi người ta quyết
định nắm lấy sừng con bò tót. Ý tưởng mà chúng ta có
đối với những sự vật và những con người thường tệ
hơn thực tế của chúng...
Một
khi người ta sẵn sàng chấp nhận những sự việc y như chúng
là, tất cả mọi sự được chuyển hóa, thậm chí cả những
khó khăn hơn trong cuộc đời. Bên ngoài, chẳng có gì thay
đổi ; tuy nhiên, tất cả đều khác, vì người ta đã tự
mình thay đổi thái độ. Khi người ta chấp nhận nhìn tình
huống như nó là, người ta tự biết làm sao để đáp ứng
với nó : chính những hoàn cảnh cung cấp cho chúng ta sự chỉ
dẫn khi chúng ta không nhọc mệt làm méo mó chúng bởi những
thiên kiến tiên định của chúng ta. Trái lại, khi người
ta làm con đà điểu vùi đầu trong cát và không nhìn những
sự việc thẳng mặt, luôn luôn trì hỗn chúng, tình huống
chắc chắn chỉ tệ hơn. Người ta phải học định giá những
sự việc đúng theo giá trị của chúng. Những sự việc có
khó nhọc, dễ chịu hay hoàn toàn tầm thường, điều quan
trọng là nhận biết mỗi tình huống thật sự là gì. Không
làm méo mó và làm rắc rối nó bởi hệ thống lọc ngoắt
nghéo của những phản ứng trí thức hay tình cảm của chúng
ta. Ngay khi những xúc tình trộn lẫn vào, tất cả tri giác
về tình huống của chúng ta lập tức méo mó. Thực tại mất
dấu đằng sau sự diễn dịch về những sự kiện của chúng
ta.
Phải
tiếc mà nhận ra rằng, sống trong nền văn minh hiện thời
của chúng ta, chúng ta được trang bị quá kém để chấp nhận
những sự việc như chúng là. Trong khi đó một tâm thức lành
mạnh thì sống trong một thế giới lành mạnh, một tâm thức
an bình thì cảm nhận thế giới an bình. Những bài thực tập
ở phần hai là để làm cho tâm thức lành mạnh, đẹp đẽ,
bình an và hạnh phúc thay vì một tâm thức bệnh hoạn để
chịu đựng một thế giới bệnh hoạn, đìu hiu, hỗn loạn
và khổ đau.
CHƯƠNG
VI
CÁI
GƯƠNG
Sanh
từ luân hồi là khuynh hướng tìm thấy
những
lỗi lầm nơi người khác.
Naropa
Người
ta lầm địa chỉ khi tìm hạnh phúc bên ngoài mình, người
ta đã thấy điều đó. Người ta có đi du lịch đến đầu
kia của thế giới và nhân lên nhiều lần những kinh nghiệm
cho đến vô tận cũng vô ích, người ta vẫn sẽ luôn luôn
thấy những sự vật qua cùng một đôi mắt, vì người ta
tri giác thế giới theo cái mà người ta nghĩ và cảm nhận.
Mỗi người có cách diễn dịch riêng của nó về thế giới
trong đó nó đang sống.
Mọi
cố gắng sửa đổi thế giới cho phù hợp với những tham
muốn và hy vọng của chúng ta đều đưa đến thất bại.
Nếu trời mưa, người ta không thể làm gì và không phải
vì người ta muốn thấy mặt trời mà trời nắng. Tuy nhiên,
có một điều mà người ta có quyền thay đổi : sự khó chịu
mà cơn mưa gây ra cho chúng ta. Điều này không muốn nói rằng
người ta phải tự tạo mọi mảnh của một nhân cách mới
khác – con người mà người ta có là đã quá đủ. Một cách
thực tiễn, điều này nghĩa là người ta cần một tấm gương
để giúp người ta thấy đích xác người ta ở đâu, và phát
giác cho người ta thấy những khía cạnh của nhân cách mình
mà trên đó người ta cần làm việc.
Con
người có một khuynh hướng rõ ràng là sưu tầm những cái
mặt nạ ; mỗi người thực sự có một mặt nạ cho mỗi
hoàn cảnh. Nếu người ta không biết người ta có cái đầu
gì, thì thực ra bởi vì người ta không bao giờ thực sự
quan sát nó một cách chăm chú. Chắc hẳn người ta thiếu
sự thụt lui để thấy nó rõ ràng. Rồi người ta nhìn cái
đầu của những người khác, và khi thấy một cái đầu đẹp,
người ta mong cái đầu mình giống được như nó.
Tuy
nhiên, có đôi khi mặt nạ rơi tuột đi, hay người ta đã
quên mang nó, và trong khoảnh khắc ngắn ngủi, người ta lập
tức tự thấy mình nguyên dạng. Nói chung, sự chấn động
khiến người ta không chịu đựng nổi. Người ta vội vã
che dấu điều người ta đã thấy và làm lại rất mau một
mặt nạ mới. Người ta có thói quen luôn luôn muốn sửa chữa
lại thực tại để làm lại nó theo ý thích đến độ người
ta không đảm đương cái thực sự người ta là. Trong thời
gian đó, khuôn mặt thật của chúng ta đang hư thối dưới
những mặt nạ, thiếu ánh sáng và không khí, và cũng bởi
vì người ta không bao giờ nghĩ đến việc lau rửa nó.
Người
ta có thể đến chỗ cho những người khác một hình ảnh
đẹp về mình, trong khi cái người ta dấu sau những mặt nạ
cần một sự giảm xuống nghiêm túc. Vậy là người ta chông
chênh khi cho hình tướng bên ngoài đặc quyền so với thực
tại, bởi vì chính cái người ta thực sự có nơi mình mới
quyết định phẩm chất những kinh nghiệm và dòng sống của
chúng ta. Khi nào người ta còn che dấu sự thối nát dưới
một sự điểm trang hấp dẫn, người ta chẳng có ích lợi
gì nhiều cho chính mình hay cho những người khác, dù người
ta duy trì thành công một sự giả bộ toàn vẹn.
Chính
là sau cái mặt nạ mà người ta phải đuổi cái ta ra khỏi
sào huyệt để học nhận biết nó. Tất cả chúng ta đều
có nhãn hiệu một “cái tôi”, tuy nhiên thật hiếm người
biết họ thực sự là gì. Chỉ cần người ta cho một cái
gì nhỏ nhặt, dư thừa – như một đồ chơi trẻ con vặt
vãnh hay một mẩu bánh mì – để tự xưng là một lương
tâm tốt hay tự cho là một nhà từ thiện vĩ đại, và người
ta không thể quên cử chỉ đó. Bấy giờ người ta biểu lộ
chứng quên lẫn sâu xa đối với những cơn ích kỷ hay với
những trận giận dữ. Và như vậy người ta tự xây dựng
một hình ảnh sai lầm về mình để tự củng cố, tự an
tâm. Tất cả ý tưởng người ta tự tạo về mình đặt nền
trên một sự lừa đảo còn khó phá hơn khi chính người ta
là tác giả. Bởi thế tại sao người ta cần một tấm gương
soi.
Đây
là lời nói về vấn đề này của một trong những vị thầy
tâm linh vĩ đại của Tây Tạng, Jamgon Lodro Thaye : “Khi tôi
nhìn một số người thực hành Phật giáo, họ hoàn toàn có
vẻ tốt đẹp, nhìn theo bên ngoài : họ nói hay, ăn mặc đúng,
họ biết ngồi như một vị Phật. Nhưng khi tôi quan sát khuôn
mặt bên trong của họ, họ có vẻ của những con rắn độc.
Chỉ cần họ chạm phải chút khó khăn hay chút chướng ngại
nhỏ nhặt thì tính khí đích thực của họ lộ ra ngay. Như
con rắn có vẻ trơn láng và mềm mại trong khi luôn luôn sẵn
sàng mổ, những người đó sẵn sàng gây gổ đổ lỗi cho
bất kỳ ai làm chướng ngại họ.”
Không
phải tự thân con rắn là xấu, nhưng sự sợ hãi, thù hận
và vô minh đã quy định nó phải giết mỗi khi nó cảm thấy
bị đe dọa. Chúng ta cũng hơi giống như vậy : cái xấu người
ta có thể thấy nơi mình là sản phẩm của vô minh – sự
nhận biết sai lầm về bản tánh thật sự của những sự
vật. Vậy thì người ta có thể, và người ta phải, chuyển
hóa vô minh này thành trí huệ, bằng cách nhìn vào trong, xoay
tâm thức về trên chính nó. Điều này sẽ tự động tác
động lên những tương quan lành mạnh hơn, phong phú hơn với
thế giới bao quanh chúng ta.
Điều
trên có nghĩa quan trọng là tỏ ra điều độ và lương tri
đối với cái mà người ta sắp khám trong gương. Để cho
những lỗi lầm, khuyết điểm được che dấu thì chẳng lợi
ích gì, cũng không hiệu quả và có hại khi chỉ thấy những
mặt tốt của mình. Nếu người ta quá đặt nặng những thói
xấu, những lệch lạc của mình, người ta sẽ chìm trong thất
vọng và chán nản tất cả. Người ta phải có thể tự xem
mình trong cái gương một cách khách quan, không kết án điều
mình thấy trong đó, và không muốn đập bể gương thành muôn
mảnh. Ngược lại, vô ích khi không biết đến những khuyết
điểm hay đè nén chúng, điều chỉ làm chúng mạnh thêm khi
luôn luôn đặt mình dưới sức ép, sẵn sàng bùng nổ trước
một cơ hội nhỏ.
Vũ
khí nguyên tử là một chuyện làm cho nhiều người trong chúng
ta tức giận, tuy nhiên người ta không biết rằng tâm thức
chúng ta thường trực là chỗ ở của một loại phản ứng
nguyên tử. Mỗi ngày, cái “ta” sản xuất ra hàng triệu
tấn kiêu ngạo, ghen ghét, giận dữ, tham muốn và thù hận,
chúng gieo rắc kinh hoàng và căng thẳng ở mọi phương vị
và gây nên những tổn hại khủng khiếp nơi ta và nơi những
người khác. Rõ ràng không phải chôn vùi những vũ khí nguyên
tử xuống đất hay tự bằng lòng với ước mong chúng biến
mất mà người ta làm cho chúng thành vô hại. Nếu người
ta muốn hóa giải những sức mạnh tàn phá chứa trong mình,
phải tỏ ra khôn khéo và thiện xảo để tháo gỡ và triệt
hạ chúng. Người ta phải kêu gọi hiểu biết và tình thương,
cộng với khá kiên nhẫn và không bám luyến. Không quên một
chút thư giãn và khôi hài...
Điều
người ta sắp khám phá khi nhìn “tấm gương” sẽ rất ích
lợi cho chúng ta để thành tựu con đường tâm linh, nhưng
quan trọng nhất là cái trí huệ rất mới mẻ này không nằm
trong chữ nghĩa chết khô. Phải đem nó vào kinh nghiệm của
mình và nuôi dưỡng thường trực nó trong cuộc sống hàng
ngày. Nếu người ta không áp dụng vào cuộc sống trí huệ
và lòng bi vừa thức giấc trong mình, người ta sẽ chỉ có
thêm một mặt nạ khác.
Một
kỹ thuật chỉ có giá trị nếu người ta có thể áp dụng
nó vào một tình huống thực tiễn. Dù bạn có một hiểu
biết lý thuyết hoàn hảo về cơ khí, bạn cũng sẽ không
thể sửa chiếc xe của bạn nổ máy trở lại trước khi chính
bạn bước vào thực hành bằng cách thọc tay vào dầu mỡ.
Những kỹ thuật làm chủ tâm thức chẳng giúp gì bạn nếu
chúng vẫn còn nguyên là những lý thuyết trừu tượng ; chúng
chỉ có giá trị nếu chúng hiện thân trong thực tế hàng
ngày và nuôi dưỡng thực tế đó. Chẳng hạn có ăn nhập
gì khi trải qua một giờ thiền định về sự ghen tuông để
cố thoát khỏi nó, rồi tức thì sau thời thiền, người ta
lại nổ bùng một cơn ghen tuông với vợ hay chồng chỉ vì
một cái cớ nhỏ nhặt.
Người
ta có thể trải qua một đời thu thập sưu tầm những giáo
huấn đủ mọi loại với những thiện ý tốt đẹp nhất
cho thế giới : chúng chẳng giúp gì nhiều khi người ta không
áp dụng chúng vào hoàn cảnh cụ thể. Sự giáo dục và khả
năng trí thức của chúng ta có thể có một ích lợi nào đó
để chúng ta hiểu cái gì xảy đến với chúng ta trong đời
sống hàng ngày và giúp chúng ta quản lý nó. Nhưng vô cùng
quan trọng hơn là có một tâm thức mở rộng, sẵn sàng chấp
nhận cái gì tự xuất hiện và đối mặt với nó. Tiến bộ
tâm linh không phải là một vấn đề trình độ trí thức
hay và văn hóa : ở Tây Tạng không thiếu những người rất
đơn giản, họ không biết đọc không biết viết, đã đạt
đến một trạng thái thức tỉnh hoàn toàn của tâm thức.
Mỗi
người đều mang nơi bản thân mình tiềm năng của sự thức
tỉnh tâm linh. Nếu người ta thêm vào đó sự phong phú lớn
lao những kinh nghiệm mà chúng ta đều có, người ta có tất
cả nguyên liệu cần thiết cho sự phát triển tâm linh, miễn
là người ta khai thác nó. Bởi vì người ta không dùng nó,
thì cũng như nó không có gì cả ở nơi người ta. Một người
giàu có không biết cách dùng tiền sẽ có nhiều vấn đề
khó khăn hơn một người đạm bạc biết rút phần tốt nhất
có thể từ mỗi đồng xu. Một ví dụ khác : hãy tưởng tượng
rằng bạn muốn nổ máy chiếc xe hơi của bạn. Nó không nhạy
: bình ắc quy hết điện. Bạn có hàng trăm bình ắc quy để
thay đổi trong ga-ra, nhưng bạn cũng quên sạc chúng. Tất cả
tiềm năng năng lượng mà bạn có là vô ích, vì không được
dùng, và bạn chẳng thể chạy đi. Từ đó là sự quan trọng
phải nghiêm mật và lợi dụng cái người ta đã vốn có.
Trở
lại tấm gương của chúng ta, không chỉ đơn giản ngắm hình
ảnh mình trong đó, mà còn phải chuyển sang hành động. Không
phải chỉ nhận ra mình đang ghen tuông, giận dữ, rồi thôi.
Phải thể hiện sự kiên trì và sáng suốt để học nhận
diện, rồi hóa giải, trung hòa những chất độc bên trong
của mình và những trạng thái tâm lý phát sanh từ chúng,
những trạng thái tâm lý đã tạo cho chúng ta một thế giới
quá đỗi khó khăn để sống. Nếu chúng ta không thể kiểm
soát thế giới bên ngoài, ít ra tất cả chúng ta đều có
thể đánh bại những kẻ xúi giục ra những rối rắm khổ
nạn này là giận dữ, kiêu căng, tham muốn, thù hận và ghen
tỵ. Càng tiến theo chiều hướng này, người ta càng cảm
thấy biến mất cái cảm tưởng xung đột thường trực với
những sự vật và những con người mà người ta đã có trước
kia, và những vấn đề và những khổ đau của chúng ta càng
giảm đi bấy nhiêu. Khi người ta chấm dứt tự đánh lộn
với chính mình, người ta không còn chiến đấu với phần
còn lại của thế giới. Nếu người ta biết tự chấp nhận
mình như mình đang là, người ta có thể chấp nhận phần
còn lại của thế giới và những người đang chia xẻ thế
giới với chúng ta. Không còn nữa sự hao tán thất thoát năng
lượng trong những xung đột bên trong hay bên ngoài ; mọi điều
người ta làm, ở mọi cấp độ, đều hòa nhập vào hành
trình tâm linh, và đem lại lợi lạc cho những người khác
đồng thời cho chính mình.
Trước
khi đến đó, tốt hơn là tránh rơi vào một quá độ của
sự tự soi xét mình bằng cách tự phân cực mình thái quá
trên chính mình và trên những vấn đề cá nhân. Để giữ
sự chừng mực, cần không mất quan điểm vị tha của động
lực ban đầu : nhớ rằng người ta tiến hành công việc này
trên chính mình là để tìm ra khá đủ những nguồn lực nơi
mình để có thể giúp đỡ những người khác. Một thái độ
như thế sẽ cho chúng ta một điểm quy chiếu khách quan và
tránh cho chúng ta khỏi quá tự trầm ngâm về chính mình. Người
ta sẽ mang lại một cái nhìn tỏ rõ hơn về những sự vật
khi thấy chúng như chính chúng là, và người ta sẽ tri giác
tốt hơn cái gì không ổn trong đời họ. Người ta sẽ học
thay đổi cái có thể thay đổi và chấp nhận cái không thể
tránh.
Không
dễ chịu lắm khi sống trước mặt một tấm gương, nhưng
trò chơi xứng đáng bỏ công để giúp chúng ta hiểu những
khó khăn của chúng ta và giúp giải quyết chúng. Bình thường,
người ta có khuynh hướng phê phán những người khác và muốn
thay đổi họ nhiều hơn. Thế nên người ta có thể hơi hoảng
sợ khi lần đầu tiên nhìn thấy những quan hệ của mình
và thế giới bằng cách mới mẻ này : thay vì chờ đợi những
sự việc thay đổi từ bên ngoài, người ta nắm chính mình
trong tay. Ban đầu, chắc chắn người ta hơi sợ vì cái không
biết, cái xa lạ, điều đó rất bình thường, nhưng việc
đó cũng không phải khó khăn như nó có vẻ thế : chỉ cần
chấp nhận tìm hiểu chính mình, làm bạn với chính mình,
như một người nuôi thú giỏi trước tiên phải có được
sự tin cậy của con cọp trước khi có thể dạy dỗ nó. Một
khi người ta biết thiết lập những quan hệ thật sự với
chính mình, người ta có lẽ sẽ thấy rằng người ta có không
nhiều những vấn đề hơn người ta tưởng, và những vấn
đề thực sự còn lại có thể tự giải quyết khá dễ dàng.
Điều
đó mở ra những viễn tưởng đáng để khổ công đầu tư
vào công việc làm trên chính mình này. Khi học điều phục
tâm thức mình, người ta có khả năng giải quyết những vấn
đề riêng tư. Có một cái gì thay thế cho sự khó nhọc này
không ? Có chứ, nếu người ta thích ở lại hơn mãi mãi trong
tình trạng xung đột chiến đấu thường trực với thế giới,
bằng cách cứ tiếp tục đổ những cái gì không song suốt
lên lưng những người khác hay những hoàn cảnh. Nếu quả
thật người ta chọn biện pháp này, phải tiên liệu sự nhiễm
độc với hàng triệu cá nhân khác... Thật là một chương
trình vĩ đại ! Thế thì dạy dỗ thuần hóa tâm thức của
chính mình sẽ trở thành một cách giải quyết duy nhất đơn
giản mà hấp dẫn vô song...
CHƯƠNG
VII
THÂN,
NGỮ, TÂM :
BA
CỬA CỦA THỰC TẠI CON NGƯỜI
Thật
rất tốt khi giúp đỡ cho những người khác nếu có thể
;
nhưng
nếu người ta không thể, thì ít nhất chớ làm hại cho họ.
Dalai
Lama thứ Mười Bốn
Khi
người ta khổ đau và những sự việc không song suốt, người
ta có khuynh hướng tự nhủ rằng đây là lỗi của những
người khác hay của những hoàn cảnh. Chính là thoải mái
hơn và ít khó chịu hơn khi tự hỏi rằng sau cùng chẳng lẽ
người ta không chịu chút gì trách nhiệm về mọi sự hay
sao. Để biết khổ đau từ đâu mà đến, trước tiên phải
hiểu cơ cấu vận hành của tri giác của chúng ta về thế
giới. Chính là qua thân, ngữ, tâm, ba cái tạo thành cá thể
con người của chúng ta, mà chúng ta tiếp thông với môi trường
xung quanh của chúng ta và biến chúng thành cái đại diện
cho mình.
Dù
người ta trẻ, đang độ trưởng thành hay tuổi đã cao, ai
cũng có một thân thể bằng xương bằng thịt và mọi thứ
chất liệu khác – một cơ cấu phức tạp cho vô số cảm
giác. Người cũng có lời nói, khả năng nói và truyền thông
nhờ âm thanh và những chữ. Cuối cùng, người ta cũng được
phú bẩm cái sáng tạo ra những tư tưởng và những hình ảnh,
tốt hay xấu, mà người ta gọi là tâm thức. Cái chúng ta
chú ý hiện thời ở đây, thân, ngữ, tâm là những thực
tại hiển nhiên mà người ta kinh nghiệm mỗi ngày.
Thân
là dụng cụ cho sự hoạt động của chúng ta, biểu hiện
bằng chuyển động. Ngữ phát ra những tiếng và những chữ
chuyên chở điều người ta muốn diễn đạt. Về phần tâm,
chính nó làm sinh động hai cái kia ; nó là nguồn của mọi
thứ tốt xấu người ta mang trong mình. Thân và ngữ hơi giống
với những con múa rối của tâm. Một cách có lý, điều ấy
muốn nói rằng người ta có thể khiến chúng làm điều người
ta muốn, thay vì những điều chúng tham muốn. Thật ra, sự
việc không xảy ra hoàn toàn như vậy : người ta có thói quen
đối xử với những người và những sự kiện như thể người
ta đã quên những sợi dây điều khiển nối thân, ngữ với
tâm trong bản thân chúng ta. Đến độ những sợi dây giãn
ra, và con rối không đáp ứng hoàn hảo nữa. Người ta cảm
thấy rất rõ rằng có một cái gì khập khễnh, người ta
không bằng lòng sự vận hành của con rối. Người ta cảm
thấy thất vọng.
Lý
tưởng là thân phải vận hành hòa hợp với tâm mà không
có sự cách phân giữa hai cái đó. Nhưng thực ra, nếu người
ta để cho mình đi theo những xu hướng sơ khai nhất của thân,
người ta sẽ rơi vào một loại duy vật xoay quanh nhục dục,
rất khó dứt ra. Mối hiểm nguy có với tất cả mọi người,
những người yếu cũng như những người mạnh, và nó cũng
có nghĩa là sự mất tự do. Để tránh một sự nguy hiểm
như vậy, người ta phải tìm cách sử dụng những sợi dây
điều khiển các con rối, và học điều khiển nó thông minh
hơn, theo một cách tùy thuộc hơn vào những nguyện vọng thực
sự của chúng ta. Ngược lại, phải không rơi vào sự trấn
áp có hệ thống và mù quáng những nhu cầu vật lý, bởi
vì chúng là sự biểu lộ của một trí huệ bản năng nào
đó của thân. Người ta có thể học để thấy sự khác nhau
giữa những thông điệp tự nhiên và có ích này với những
dở chứng thất thường của những giác quan chúng ta.
Thân
thể chúng ta là một phương tiện mạnh mẽ để thông tin.
Nếu người ta thấy một con chó chạy đến và người ta chìa
tay ra, con vật sẽ xáp gần, chờ đợi được vuốt ve hay
cho cái gì để ăn. Nếu trái lại, người ta đưa tay lên,
chắc chắn con chó sẽ bỏ chạy, sợ người ta làm hại nó.
Cũng thế, cử chỉ nhỏ của chúng ta ảnh hưởng những người
chung quanh – và sự việc cũng đúng như vậy với lời nói
và suy nghĩ. Mọi cái toát ra từ chúng ta tạo nên một loại
dấu hiệu đối với những người khác. Cần phải cẩn trọng
khi biết rằng mỗi một cử chỉ ảnh hưởng những người
đang có mặt và có thể gây ra những phản ứng về phía họ.
Cũng
như với cử chỉ của thân, phải chú ý đến lời nói. Người
ta phải luôn luôn cẩn trọng về điều người ta nói cũng
như cách người ta nói điều đó. Giọng nói cũng quan trọng
như cách chọn chữ. Những việc dễ thương được nói với
giọng thiện cảm có hậu quả khuyến khích và an ủi. Người
ta có thể làm nhẹ cho người đang nhiều khổ đau nếu người
ta biết tìm ra những chữ làm cho người ấy an tâm, hay nhờ
vào năng lực chữa trị của một lời cầu nguyện hay thần
chú. Cũng như điều người ta nói, cách nói là quan trọng.
Sau
mỗi hành vi và mỗi lời nói, có tâm thức. Biết nó ở đâu
không có gì quan trọng – người cho nó ở trong óc, người
cho nó ở chỗ khác – điều quan trọng là nhận biết rằng
tâm thức là cội nguồn của tất cả những gì chúng ta có
thể nói hay làm. Cần yếu phải hiểu điều đó, bởi vì
người ta muốn tiến bộ và cải thiện phẩm chất những
lời nói và hành vi của mình, phải lên đến tận nguồn và
lưu tâm đến tâm thức, dù cho tâm thức thì thiếu hình thể
vật chất và nơi trú ngụ hữu hình – những hậu quả của
nó không phải là kém được cảm nhận cụ thể.
Nếu
như tương đối dễ dàng ý thức được những biểu lộ rõ
ràng nhất của chủ nghĩa thủ đoạn của tâm thức ranh ma
của chúng ta, thì phải nhiều tinh tế hơn để phòng giữ
những sự vận dụng tinh tế nhất của nó. Khi người ta xem
một phim đầy bạo lực trong truyền hình, việc ấy có thể
giống như một trò giải trí vô hại, nhưng nếu tâm thức
đồng hóa với cảnh tượng những hành hạ và giết chóc
được trình bày cho nó, khuynh hướng hung dữ của chúng ta
sẽ được củng cố thêm mà chúng ta không biết.
Chắc
chắn là cho đến bây giờ, những hoạt động và những lời
nói của chúng ta phần lớn được khơi gợi từ một tâm
thức ích kỷ và quy ngã càng ngày càng mạnh mẽ và quyền
uy nếu nó không gặp một sự chống đối nào về phía chúng
ta : người ta không muốn chống lại hay không thể chống lại.
Có lẽ người ta còn chưa thật sự tin lắm vào sự hiện
hữu của nó, nhưng một ngày nào sẽ phải rõ ràng kẻ độc
đoán này chạy ra khỏi hang và người ta sẽ đối diện với
nó. Phải cáng đáng nó và học quản lý nó như nó trình diện
với chúng ta. Người ta sẽ có thể nói với nó : “Ê mày
! Đã quá lâu mày cai trị tao, mày quy định thân và ngữ của
tao. Mày đã làm cho tao khá nhiều sai lầm và hư hại. Giờ
đây, chính tao là người cai trị mày !” Người ta sẽ không
có tiến bộ nào bao giờ người ta chưa từ chối bản ngã
của người ta hay chưa chuyển hóa nó. Trái lại, công việc
này hoàn thành thì những sự vật sẽ vận hành theo chiều
hướng tốt đẹp. Thiền định có thể góp phần vào tiến
trình này khi cho chúng ta sự thụt lui cần thiết để thấy
nó rõ ràng hơn. Khi thiền định, người ta bắt đầu hiểu
tâm thức là gì và nó vận động như thế nào, ở trong chính
người ta cũng như qua những phương tiện biểu lộ là thân
và ngữ.
Đến
bây giờ chúng ta đã xem xét thân, ngữ, tâm một cách tách
biệt. Thực ra, chúng rõ ràng tương thuộc và cuộc du lịch
tâm linh không xảy ra nếu cả không cùng tiến bước. Vậy
thì phải làm việc đồng thời ở ba cấp độ, cố gắng
tẩy xóa tất cả cái gì có thể có hậu quả tiêu cực hay
độc hại, và ngược lại tăng cường tất cả cái gì có
thể là tích cực hay tốt lành cho mình và cho người. Chính
lòng bi sẽ bảo đảm cho sự hợp tác của thân ngữ tâm tiến
đến một mục đích chung. Nó làm động cơ cho chúng và thống
nhất sự năng động của chúng, khiến thân, ngữ, tâm hoạt
động và tiến hóa luôn luôn trong hòa hợp, ở mọi cấp độ.
Những
thực tập được trình bày trong phần hai cuốn sách này để
đưa ra một căn cứ thực hành cho công việc này. Khi người
ta đã tiến bộ trong sự làm cho trong sạch thân, ngữ, tâm,
có lẽ người ta có thể tiến xa hơn, và biết rằng trong
thực tế chúng không có bản chất riêng và hiện hữu độc
lập. Người ta sẽ hiểu rằng thân giống như một cái cầu
vồng, ngữ như một tiếng vang và tâm như một hình ảnh phản
chiếu trong nước. Nhưng phải chắc chắn rằng không thể
làm việc làng nhàng trước khi đến đó...
CHƯƠNG
VIII
PHƯƠNG
DIỆN ĐẠO ĐỨC CỦA ĐỜI SỐNG :
“HẠNH
KIỂM CHÂN CHÁNH”
Không
làm điều ác,
Thực
hành đức hạnh,
Điều
phục tâm mình,
Là
lời Phật dạy.
Phật
Cồ Đàm
Những
dòng này tinh lọc triết lý của đức Phật. Chúng tóm tắt
một cách gọn gàng nhưng đầy đủ một dạy bảo có thể
có một ý nghĩa cho mỗi người, bất kể mức độ phát triển
tâm linh của họ đến đâu. Mới nhìn, lời khuyên có vẻ
đơn giản, nhưng trên thực tiễn không dễ luôn luôn kiêng
cữ điều ác để chỉ thuần làm điều thiện. Về phần
điều phục tâm thức, việc này đòi hỏi khá nhiều kiên
nhẫn và khéo léo. Tuy nhiên, không nên nản lòng, vì người
ta sẽ có được tất cả khi theo những lời khuyên này. Những
lợi lạc thì không thể tính toán được. Một “chánh hạnh”,
một đời sống chân chánh là nguồn hạnh phúc cho mình và
cho những người khác, và khi nào người ta còn gắn bó với
nó, người ta có thể chắc chắn đang ở trên con đường
tốt đẹp, đúng đắn.
Tất
cả chúng ta đều tìm kiếm hạnh phúc, dù cho nhân danh nó
mà có quá nhiều thái quá và ngu xuẩn đã mắc phải. Người
ta đi đến chỗ giết hại, lường gạt hay trộm cắp những
người khác với niềm tin rằng mình đang theo đuổi hạnh
phúc cho riêng mình. Nếu người ta không có đạo đức để
hướng dẫn những hành động của mình, thì có ai nói cho
người ta rằng người ta thật sự chịu trách nhiệm về sự
khổ đau của một người khác, chưa tính đến khổ đau mà
người ta đang tự sửa soạn cho mình, trong cùng một cơ hội
?
Đâu
là nguyên nhân của những hành động bất thiện của chúng
ta ? Chúng phát xuất từ vô minh của chúng ta về bản tánh
của những sự vật khiến chúng ta tin vào sự hiện hữu của
một bản ngã hay một cái ta cá biệt. Cái tôi thì rất thân
thiết với chúng ta, và rộng ra, người ta cũng quá bám luyến
mọi thứ liên hệ với cái tôi đó. Người ta bám níu vào
cái họ có và vào những người họ yêu, vào những cảm giác
dễ chịu. Và chính từ ý niệm về cái ngã này và về tính
sở hữu của cái ngã mà kiêu căng, tham lam, ghen tỵ, ham muốn
phát triển. Mặt khác, người ta ghét mọi cái gì chống lại
cái nhìn quy ngã của mình, chống lại cảm tưởng mình là
cái rốn của vũ trụ, và thế là nảy sinh sự không khoan
dung, giận dữ và thù hận.
Ý
tưởng cái tôi rõ ràng là một quan niệm thích nghi và thậm
chí hữu ích trong đời sống hàng ngày, nhưng phải biết rằng,
trên bình diện chân lý tuyệt đối, cái tôi đó không có
hiện hữu riêng, không có thực tại độc lập, nói theo kinh
điển là vô tự tánh. Điều này trở nên rõ ràng khi người
ta hiểu sự tùy thuộc lẫn nhau của tất cả mọi hiện tượng
và bản chất tương đối và bị điều kiện chi phối của
chúng (duyên sanh).
Vậy
thì chính sự không biết, vô minh và sai lầm là những nguyên
nhân cho những lỗi lầm của chúng ta và tạo ra những đau
buồn cho mọi người. Ngược lại, sự chính trực về đạo
đức sẽ cải thiện phẩm chất và giá trị của đời sống,
cho chính chúng ta và cho những người khác. Nó tán trợ cho
sự hiểu biết chính mình và sự điều phục tâm thức, như
thế cho phép chữa lành những chuỗi sai lầm quá khứ.
Trong
những cách đánh giá về những hành động của mình, có một
cách khá thuận tiện : người ta xem mọi cái gì đức hạnh
là tích cực, mọi hành vi ác hại là tiêu cực. Mỗi ngày,
người ta tính sổ cái tích cực và tiêu cực, mục đích của
thực tập là tối đa hóa cái tích cực và tối thiểu hóa
cái tiêu cực, để cuối cùng chỉ có cái tích cực. Mỗi
ngày, người ta củng cố động lực của mình bằng cách tái
xác nhận ý chí làm thiện và tránh làm ác cho người khác,
và người ta tập giữ gìn ý tưởng này hiện diện trong trí
suốt ngày, dù đang làm việc, vui chơi hay thư giãn, một mình
hay với những người khác. Người ta tự nhớ lại điều
đó mọi lúc, biến nó thành sợi dây dẫn đường của mọi
điều người ta làm, nói hay nghĩ. Sống với ý tưởng “an
vui của những người khác” trong đầu óc, thì ngay cả một
việc tầm thường nhất cũng có giá trị, in dấu của một
phẩm giá mới.
Chiều
tối, trước khi ngủ, người ta tính sổ ngày hôm đó, đánh
giá những hành vi, lời nói và tư tưởng của mình. Với một
ít sáng suốt, người ta có thể phán đoán chính mình về
sự tiến bộ của mình mà không cần tham khảo một ai. Người
ta sẽ học nhận ra những khuynh hướng tiêu cực của mình
và thấy chúng biểu lộ như thế nào, nhờ đó người ta sẽ
có thể giảm thiểu sự xuất hiện thường xuyên của chúng.
Đồng thời, người ta biết nhận ra và kích thích những vận
hành tích cực. Về phần mọi hành vi “trung tính” mà người
ta phải làm hàng ngày (ăn, tắm rửa, đi, ngủ...), không cần
thiết phải bận tâm chút nào với chúng.
Tính
sổ hàng ngày không phải là một kiểu cách thực tập đơn
giản. Người ta sẽ không nhận xét lỗi lầm của mình bằng
cách tự nhủ mình là một con quái vật, hay củng cố cho ý
kiến tốt về mình bằng cách tự chúc mừng đã làm điều
tốt. Mục đích của công việc này là nhổ sạch hay chuyển
hóa cái ít tốt ở nơi mình, bằng cách nuôi dưỡng cái tốt
nhất của chính mình. Đó thật sự là làm thế nào cải thiện
phẩm chất cuộc sống của mình.
Còn
phải biết phân biệt giữa tốt và xấu, thiện và ác. Truyền
thống Phật giáo định nghĩa hạnh kiểm đạo đức nhờ hai
phạm trù : tất cả cái gì người ta làm bởi thân, ngữ,
tâm bắt buộc nằm trong “mười thiện hạnh” hay “mười
ác hạnh”. Từ hơn hai ngàn năm trăm năm những nguyên tắc
đạo đức này đã được áp dụng, đã tỏ ra lợi ích, và
người ta có thể nhận thấy rằng ngày nay chúng không mất
sự chính đáng thích hợp.
Có
mười hành vi làm hại được khuyên là phải tránh : ba của
thân, bốn của ngữ và ba của tâm. Về những hành vi của
thân, (1) không giết hại bất kỳ chúng sanh nào, (2) không
trộm cắp – không lấy cái mà người ta không cho mình, (3)
không tà dâm. Điều thứ ba này hiểu là không cưỡng ép người
nào vào những liên hệ dục tính trái với ý muốn của họ,
và không dẫn dắt ai phạm vào những lời nguyện tôn giáo
của họ hay phá vỡ những cam kết đã có của họ với một
người khác.
Bốn
hành vi làm hại của ngữ (4) nói dối, dẫn dụ người khác
lầm lẫn khi nói điều mà người ta biết là sai. (5) Nói những
sự việc gây bất hòa và xáo trộn giữa những người bạn
hay những người thông cảm nhau, khiến họ có thể chia rẽ
nhau. (6) Nói điều xấu cho những người khác, gièm pha, chê
bai họ hay chưởi mắng, làm nhục họ bằng cách trưng bày
những lỗi lầm của họ ra giữa thanh thiên bạch nhật. (7)
Cuối cùng nói lăng nhăng như không nói điều gì cả, tiêu
phí thời gian trong những thói lắm mồm vu vơ và vô ích.
Ba
hành vi làm hại cuối cùng thuộc về tâm thức. Vậy là tâm
thức là cái quan trọng nhất, vì chính nó quyết định phẩm
chất mọi cái người ta làm hay nói. Hôm nay người ta để
cho mình cắm rễ trong một tư tưởng tiêu cực, và chắc chắn
người ta sẽ gặt hái không lâu những trái quả đau buồn,
khi tư tưởng nhiễm độc này đã chín và bắt đầu ảnh
hưởng đến những hành vi và lời nói của chúng ta. Thế
nên có ba khuynh hướng tiêu cực phải tuyệt đối tránh không
để chúng phát triển trong tâm thức. Cái thứ nhất là tham
muốn, khi người ta thèm khát cái của người bên cạnh, dù
đó là vợ anh ta, xe cộ hay địa vị xã hội của anh ta (8).
Tiếp theo là ác cảm, ý muốn làm hại hay làm điều xấu
cho những người khác, bằng bất cứ phương tiện nào (9).
Cuối cùng, người ta phải không bao giờ nghi ngờ những định
luật nhân quả – sự không thể tránh, không thể sai chạy
của mối liên hệ giữa một nguyên nhân và kết quả của
nó (10). Mọi nguyên nhân đều có hậu quả của chính nó,
và người ta luôn luôn gặt cái người ta đã gieo, tốt cũng
như xấu.
Người
ta có thể tự hỏi tại sao tránh những hành động có hại
này là quan trọng đến thế. Câu trả lời thì đơn giản
: khi phạm vào chúng, người ta chỉ tạo ra những khổ đau
tương lai cho mình, và như vậy mất đi hạnh phúc và bình
an mà người ta đang tìm kiếm. Thật vậy, đó là một sự
tính toán rất sai lầm, tệ hại : nếu người ta hành động
bất kể thế nào, người ta sẵn sàng bước qua xác chết
của những người khác với lý do say mê một hạnh phúc không
bị ngăn ngại, rồi người ta phải trả giá cho những gì
đổ vỡ – chịu những hậu quả của những sai lầm của
mình. Đó sẽ không phải là hạnh phúc, mà chính là những
lo buồn khổ đau trầm trọng người ta tự mang đến cho mình
: ai gieo thù hận sẽ gặt cơn bão. Kiêng cữ mười hành động
làm hại tức là tránh được nhiều vấn đề, bởi vì người
ta thôi tự tạo ra chúng ; và tự động, những sự việc diễn
tiến tốt hơn cho chúng ta và cho những người khác. Nhưng
những thói quen thì cần thay đổi, người ta phải học cẩn
trọng với điều mình làm, với điều mình nói và suy nghĩ.
Song
song với sự tránh làm các ác hạnh, người ta cố gắng trau
dồi mười hành vi công chính, chúng là cái đối nghịch, cái
đối trị của mười hành vi làm hại. Thay vì giết, người
ta tập tôn trọng và bảo tồn sự sống dưới mọi hình thức
của nó. Hơn là lấy cái người ta không cho, chúng ta chia xẻ
cái chúng ta có, dù đó là cái nhỏ nhặt. Thay vì tự cho phép
bất cứ điều gì, người ta sẽ trau dồi sự chính trực
trong những liên hệ cá nhân và tình dục.
Về
lời nói, người ta sẽ cố gắng nói sự thật và trung thực,
giảng hòa và đưa lại gần nhau những người cãi cọ nhau
hay không thông cảm với nhau, nói tốt về những người khác
– nếu người ta phải nói về họ – và nói một cách tổng
quát, sử dụng lời nói một cách có ý thức.
Trên
bình diện tâm thức, thay vì luôn luôn ước ao, đố kỵ với
những người khác, người ta sẽ tùy hỷ với may mắn của
họ ; người ta sẽ cố gắng muốn điều tốt đẹp cho họ
; và người ta tìm cách hiểu rõ hơn những định luật nhân
quả và chấp nhận chúng.
Sự
xếp loại mười hành vi làm hại và muời hành vi chân chánh
này tiêu biểu cho một căn cứ đạo đức cần thiết cho những
ai muốn sống một cuộc đời ngay chính, dù họ có là người
Phật giáo hay không. Nếu người ta biết chế ngự thái độ
cư xử của mình, người ta sẽ ít phạm vào những luật tắc
của trò chơi đời sống trong cộng đồng và ít làm thương
tổn hay làm hại những người khác. Như vậy người ta sẽ
có những quan hệ tương giao tốt đẹp với họ và cái vũ
trụ cá nhân của chúng ta sẽ rõ ràng sống động đáng sống
hơn. Hơn nữa, người ta có sự thanh thản khi biết rằng người
ta không đang liên tục tạo ra sự bất hạnh cho riêng mình
và bất hạnh cho những người khác như trước kia nữa.
Dù
người ta đã tiến bộ nhiều, tuyệt đối giữ gìn không
phê phán những người khác và lần lựa nơi những khuyết
điểm mà người ta tìm thấy nơi họ. Nếu người ta lưu tâm
quá nhiều cái mà họ làm, cái mà họ có thể nói hay nghĩ,
hay người ta luôn luôn tự so sánh với họ, người ta sẽ
làm mạnh hơn sự kiêu căng của mình hay ngược lại sẽ chán
nản mình. Sẽ tốt hơn rất nhiều khi chú ý điều phục tâm
thức mình, nhắm vào những mục tiêu cao hơn mà những giáo
huấn đề nghị cho chúng ta. Không phải tìm những câu trả
lời ở ngoài mình : chỉ nhìn vào trong mình để tìm thấy
ở những chỉ dẫn của sự tiến bộ đã làm được, hay
của công việc còn phải làm.
Một
tiêu chuẩn tuyệt hảo để đo lường sự tiến hóa của chúng
ta nằm ở sự khảo sát thái độ người ta có với những
khuyết điểm của người khác. Tâm thức càng được thuần
hóa, người ta càng ít thấy những khuyết điểm ở những
người khác. Ngược lại, tâm thức càng ít được thuần
hóa thì người ta càng có nhiều khuynh hướng nghĩ rằng không
có cái gì là lỗi của mình cả. Khi người ta có một thái
độ và một động cơ tích cực, người ta có khuynh hướng
xem sự vật về phía tốt nhiều hơn ; trong khi, nếu sự ích
kỷ và vô minh trộn lẫn vào, người ta có một tri giác rất
ít bằng lòng với thế giới, vì tri giác đó phản chiếu
những khuyết điểm riêng của chúng ta. Cũng như cái đẹp,
sự trong sạch thanh tịnh nằm trong con mắt người nhìn sự
vật.
Rõ
ràng đơn giản hơn khi thích ứng với thế giới thay vì tìm
cách uốn bẻ nó theo chiếu hướng thích hợp với chúng ta.
Hãy tưởng tượng chẳng hạn khắp mặt trái đất phủ đầy
cây tầm ma và gai, không biết đặt chân ở đâu nữa, nếu
cố gắng cắt tất cả thì đó là một việc không chấm dứt
và hầu như không thể. Ngược lại, chỉ cần mang một đôi
giày to tướng, để giày vào chân là có thể đi bất cứ
nơi đâu. Sự việc cũng như vậy với tâm thức : một khi
người ta đã thuần hóa nó, rõ ràng người ta ít khó chịu
để đảm đương mọi cái đến với mình, từ trong cũng như
chung quanh chúng ta, và đối mặt với nó một cách tích cực.
Điều
ấy sẽ thay đổi một cách căn bản cách thế nhìn những
sự vật của chúng ta, nhưng không nên chờ đợi mọi sự
xảy ra tự động, ngày một ngày hai. Phải có vài chuyện
hỏng, lúc ban đầu, tuy nhiên đó không phải là một lý do
để nản lòng, để tức giận hay tự trừng phạt mình. Trái
lại, phải biết kiên nhẫn và giữ một thái độ có lòng
bi với chính mình, thử rút ra những bài học từ những sai
lầm của mình. Chúng ta đang dấn thân vào một tiến trình
giáo dục lại toàn diện để học đối mặt với bất kỳ
hoàn cảnh nào, dù khó khăn thế nào, và để trở nên có
thể có những tương quan đích thực hơn và quân bình hơn
với những người khác.
Thái
độ của người ta khi những sự việc trục trặc là rất
quan trọng. Thật ra không khó khăn lắm bình thản với chính
mình trước thành công và hạnh phúc, nhưng đặc biệt rắc
rối trong trường hợp thất bại hay bất hạnh. Với một
số người, phải trấn tỉnh lại và ổn định mình để
có thể rút ra những bài học từ những sai lầm và tránh
chúng tái diễn. Với những người khác, phải dùng cách dịu
dàng và suy nghĩ yên tĩnh cái gì trục trặc. Điều đó chứng
tỏ quan trọng đến mức độ nào cần học cách tự hiểu
biết mình để tìm ra phương cách tốt nhất để tiến bộ
theo chiều hướng tích cực trên cả ba mặt trận : thân, ngữ,
tâm.
Hạnh
kiểm chúng ta càng cải thiện và những khuynh hướng xấu
càng chuyển hóa, thì song song với chuyện đó chúng ta sẽ
nhận ra một sự gia tăng những thúc đẩy xấu hay những toan
tính tự để cho xao lãng. Đó không phải là dấu hiệu xấu,
mà trái lại : mặt trời càng sáng chiếu càng để lộ rõ
những bóng hơn khi nó yếu ớt hay bị che. Nói cách khác, mặt
tích cực càng mạnh mẽ bao nhiêu, người ta càng thấy rõ
mặt tiêu cực bấy nhiêu. Vậy thì không có gì ngạc nhiên
hay hốt hoảng nếu điều đó xảy đến. Chỉ cần tiếp tục
làm tốt hết sức mình.
Với
phần đông người mới học như chúng ta, học phân biệt tốt
với xấu, tích cực với tiêu cực và nhận biết cần phải
huấn luyện tâm thức cho có kỷ luật là điều ích lợi.
Đấy là những quan niệm nhị nguyên, hẳn thế, nhưng chúng
cần thiết lúc khởi hành, bởi vì chúng cung cấp cho chúng
ta những dụng cụ làm việc và chỉ cho hướng phải theo.
Sau này, khi người ta đã tiến bộ trong con đường tâm linh,
người ta không cần phải quy chiếu trực tiếp vào những
quan niệm này nữa, sự tiến hóa của chúng ta sẽ tự nhiên
hướng theo chiều hướng đúng. Nhờ những phản ứng mới
của tâm thức, hoạt động của chúng ta ở mọi cấp độ
– thân, ngữ, tâm – sẽ tự động có lợi lạc cho những
người khác. Đấy cũng hơi giống với học lái xe : ban đầu,
phải rất chú ý đến mỗi cử chỉ, mỗi thao tác. Nhưng khi
đã có thói quen lái xe, người ta không cần học lại tất
cả lý thuyết mỗi khi muốn đi đâu và thậm chí người ta
còn nói chuyện và ngắm cảnh khi đang lái. Nhờ những sự
tự động đã tự hình thành khi học điều phục tâm thức,
hạnh kiểm đạo đức trở thành một bản chất thứ hai.
Một
điểm chót rất quan trọng : người ta phải học tin cậy vào
những phương pháp tâm linh mà người ta dùng và không nhường
bước cho sự muốn bỏ cuộc khi người ta thấy có chút khó
khăn. Những giáo huấn từ đó những phương pháp này được
rút ra là hoàn toàn xác thực đáng tin cậy trên bình diện
lý thuyết – từ chân lý của những nguyên tắc trên đó
những phương pháp ấy được đặt nền – cũng như bình
diện thực hành : đức Phật, và sau ngài biết bao thế hệ
nam nữ đã thí nghiệm những kỹ thuật và đã nếm những
quả trái. Đến lượt chúng ta hội nhập chúng vào đời sống
hàng ngày của chúng ta, làm cho chúng thành thật sự của chúng
ta. Nếu được như thế, toàn bộ cuộc sống của chúng ta
sẽ được biến hình, chuyển hóa : hoạt động của chúng
ta sẽ làm lợi lạc một cách tự động cho những người
khác, không làm hại bất kỳ ai. Người ta cũng tự mình trở
thành một mắt xích trong chuỗi dài đảm bảo sự chuyển
giao truyền thống tâm linh này từ thế hệ này sang thế hệ
khác.
Câu
hỏi : Người ta có thể tự hỏi tại sao người ta phải tự
ép mình tuân theo những phép tắc thiện hạnh, trong khi vài
người làm trái ngược lại thì không có vẻ gì bị chuyện
xấu cả. Người ta thường thấy những cá nhân ít đáng tin
cậy lại trở nên rất giàu và rất quyền lực, trong khi những
người rất tốt lại nghèo suốt đời.
Trả
lời : Có thể có những người lừa đảo, lường gạt giàu
có lớn lao, nhưng điều đó không có nghĩa là họ được
hạnh phúc. Sự giàu có thật sự là sống thỏa mãn với cái
mình có, hân thưởng mọi cái đến với mình. Sự giàu có
đó theo bạn đi khắp nơi, dầu bạn ở đâu, trong hoàn cảnh
nào. Dầu người ta sống ngoài đường và ngủ dưới gầm
cầu, trong một thùng bằng cạc-tông, người ta vẫn có thể
có cái cảm thức đó, cái cảm giác bạn đã đầy đủ. Không
phải mất gì cả, người ta không lo về chuyện này nữa :
người ta không phải run vì viễn cảnh có ai lấy cái thùng
cạc-tông của bạn, có khối gì các thứ ấy... Không phải
người ta có nhiều sự vật mà người ta giàu có, theo nghĩa
đích thực của danh từ. Nhưng nếu người ta biết hành động
theo cách chính đáng và biết cảm kích, hân thưởng cái mình
có, bây giờ người ta thực sự giàu có.
Câu
hỏi : Hình như có những cách giải thích khác nhau về sự
thực hành hạnh kiểm đạo đức. Người ta nói tổng quát
rằng cần trau dồi những hành vi tích cực và lìa bỏ những
hành vi tiêu cực, hầu như phải nhổ sạch chúng. Nhưng đôi
khi, về vài điểm riêng biệt, người ta khuyên chúng ta chớ
có đánh nhau với chính mình hay với cái tiêu cực trong chúng
ta, mà nhìn vào trạng thái tâm thức như chính nó là, trong
tính chất đặc biệt riêng của nó. Ngài có thể nói nhiều
hơn về hai đường lối này ?
Trả
lời : Đường lối thích hợp là do mức độ phát triển mỗi
người, tùy theo người ta còn là một người mới học, hơi
tiến bộ hay rất tiến bộ. Với người mới học, rất quan
trọng là học không trau dồi khía cạnh tiêu cực của tư
tưởng, lời nói và hành vi của mình, và vào mức độ này,
hoàn toàn vô ích khi nhìn vào chúng hay chấp nhận chúng. Tâm
thức chưa đủ chín cho việc đó. Trái lại, đó là lúc phải
loại bỏ cái tiêu cực và trau dồi cái tích cực. Đường
lối đầu tiên này là thiết yếu cho những “chiến dịch”
tiếp theo, bởi nó là nền tảng cần thiết cho sự phát triển
của chúng ta.
Giai
đoạn thứ hai là khi đã học đối mặt với những khía cạnh
tiêu cực của chính mình, người ta không thải bỏ chúng một
cách đơn giản và tinh thuần, mà người ta có thể nhận biết
chúng và thưởng thức tính chất đặc biệt của chúng.
Giai
đoạn thứ ba là khi tâm thức đã đạt đến sự chín muồi,
trưởng thành của nó, bây giờ không có gì loại bỏ khỏi
sự thực hành tâm linh : tất cả những gì đến với chúng
ta đều hòa nhập vào đó một cách tự động và nuôi dưỡng
sự tiến hóa của chúng ta. Có thể vài người đã trưởng
thành đủ về tâm linh để được miễn những giai đoạn
sơ bộ. Trong trường hợp nào, dù mức độ phát triển cá
nhân có thế nào, sự quan trọng là không bao giờ làm hại
những người khác và luôn luôn cố gắng hành động, nói
và nghĩ theo một cách có lợi lạc cho họ.
CHƯƠNG
IX
ĐÁNH
THỨC TRÁI TIM MÌNH :
LÒNG
BI
Để
giúp đỡ mọi chúng sanh đang bị giam giữ trong những khổ
đau mà họ tin là không thể sửa tránh được, chúng ta hãy
mặc áo giáp mềm mại của một lòng bi không chỉ giới hạn
vào nhân loại, mà bao trùm toàn bộ hiện hữu, hữu hình hay
vô hình.
Gyalwa
Karmapa thứ 16
Có
một kho tàng mà mọi chúng sanh đều có đặc quyền chia xẻ,
tham dự : đó là mang nơi mình tiềm năng của sự toàn thiện,
của trạng thái thức tỉnh của tâm thức. Đó là cái mà
trong Phật giáo Đại thừa gọi là Phật tánh : tâm thức được
phú bẩm tự nhiên mọi phẩm chất hiểu biết, trí huệ, tình
thương và lòng bi, và người nào khám phá ra cái ấy (Phật
tánh) nơi mình và đến chỗ biểu lộ trọn vẹn cái tiềm
năng ấy là “một người đã thức tỉnh” – một trong
những nghĩa của chữ Phật –, thức tỉnh khỏi giấc ngủ
của vô minh. Mọi phẩm chất này đang hiện diện trong mỗi
chúng ta, ở trạng thái tiềm năng trong tâm thức chúng ta,
và chính vô minh – sự không hiểu biết, hiểu sai bản tánh
chân thật của những sự vật – cùng tất cả sự tích tập
những bất tịnh do vô minh gây ra, đã ngăn chặn những phẩm
chất ấy biểu lộ trong sự tròn đầy vinh quang và sống động
của chúng.
Tuy
nhiên, nếu người ta dần dần trừ bỏ những biến thể méo
mó này của tri giác và của những tình cảm, người ta sẽ
nhận ra rằng mọi chúng sanh và mọi sự vật của thế giới
này, gồm cả và bắt đầu bởi cái tôi, không phải là những
thực thể độc lập, mà là những hiện tượng chỉ hiện
hữu liên lập, tương thuộc. Trong những điều kiện như thế,
rõ ràng rằng làm điều xấu hay điều tốt cho một người
nào, trở lại là tự làm cho chính mình. Một khi người ta
đã hiểu rằng mọi người đang sở hữu cùng tiềm năng của
sự toàn thiện – chính mình, những bạn bè và những kẻ
thù ghét mình – và chịu đựng cùng những chướng ngại
cho sự thể hiện trọn vẹn bản tánh thật sự của mỗi
người, người ta từ từ đến chỗ cảm thấy cùng lòng đại
bi cho tất cả.
Sự
kiện biết rằng tất cả chúng ta đang có trong chúng ta tinh
túy của sự toàn thiện mang một hy vọng vĩ đại : lòng bi
không phải là cái gì xa lạ hay bên ngoài chúng ta, một mảnh
miếng được mang đến mà người ta phải khó khăn cực khổ
để có được và thâu hóa vào mình. Đó không phải là một
đức hạnh riêng cho những vị thánh có thân thể bằng thanh
khí hay những hiện thể ngoài trái đất, mà là một sức
mạnh vốn đã hiện hữu nơi chúng ta, dự phần vào chúng
ta. Người ta chỉ tưới nước và nuôi dưỡng hạt giống
này với sự kiên trì, và rồi nó nảy mầm, lớn lên và trĩu
quả. Không thể có chút nghi ngờ nào : nếu bạn nỗ lực
hiểu biết tâm thức và điều phục nó, lòng bi sẽ phát lộ
và bừng nở dần dần nơi bạn – bởi vì nó đã ở đó,
một cách tiềm ẩn. Thậm chí nó tạo thành tinh túy của con
người bạn. Những kinh văn cổ minh họa điều đó bằng một
hình ảnh rất ấn tượng : nếu bạn lấy sữa và đánh nó,
bạn sẽ có bơ. Trong khi bạn có khuấy nước trong hàng thế
kỷ, bạn cũng không thể rút ra một gam nào...
Mỗi
người mang trong nó tia lửa nhỏ của lòng bi. Ngay cả những
người ích kỷ nhất cũng có thể chăm lo cho cha mẹ, con cái,
người bạn trăm năm và những bạn bè của họ. Điều ấy
người ta cũng thấy trong thế giới loài vật, nơi ngay cả
những kẻ giết chóc như rắn hay cá sấu cũng rất chăm lo
cho con cái của chúng. Tuy nhiên, loại lòng bi này chỉ dành
riêng cho kẻ thân thuộc hay chủng loại mà sự loại trừ
nhiều hơn là sự bao trùm. Vậy thì nó rất chật hẹp, nhất
là nếu người ta so sánh nó với lòng bi không giới hạn mà
tất cả chúng ta đều có khả năng, nếu chúng ta chịu khó
để cho nó bừng nở, khai triển nơi chúng ta.
Quyền
lực và những kết quả của lòng bi tùy theo mức độ khai
triển của nó. Nó càng mạnh mẽ và sâu xa, tác động và
phạm vi ảnh hưởng của nó sẽ càng quan trọng. Nếu người
ta có khả năng cho lòng bi vũ trụ, người ta có thể cho mỗi
người đúng cái mà họ cần, nhưng dù với một ít lòng bi,
người ta có thể tự mình sống tốt hơn và làm cho những
người khác hạnh phúc.
Có
người có thể tự hỏi lòng bi đóng góp cái gì để cải
thiện phẩm chất cuộc đời của mỗi người về mặt cá
nhân và của xã hội về mặt toàn thể. Càng khai phát lòng
bi, người ta dần dần thoát khỏi thế lực của tham lam và
thù hận ; người ta có thể làm cho gia đình mình, những người
gần gũi với mình hạnh phúc hơn, và hạnh phúc ấy của những
người này phun vọt trên những người khác. Nếu càng ngày
những cá nhân nhổ nơi họ gốc rễ của mọi cuộc xung đột
– lòng ích kỷ – và thay thế vào đó tình thương (từ)
và bi, tiến bộ này phản chiếu trước tiên lên giai tầng
gia đình, rồi môi trường gần gũi, rồi toàn thể xã hội,
và cuối cùng toàn thể thế giới. Hòa bình xã hội và hòa
bình trong thế giới bắt đầu trong lòng của mỗi cá nhân.
Mặc
dù người ta có thể tưởng tượng lòng bi như thế là cái
gì, chắc chắn là người ta còn chưa tới đó. Vào lúc này,
đã khá khó khăn khi tự nắm mình trong tay mà không là một
gánh nặng cho những người khác, và cố gắng không làm tổn
hại họ. Nhưng trước khi người ta đến đó, điều này không
phải là nhỏ đâu, nó đã là một bước tiến lớn về phía
trước bởi vì đó là nền tảng của mọi tiến bộ tương
lai. Thật vậy, làm sao cảm thấy lòng bi cho những người
khác nếu người ta không trước tiên cảm thấy nó một chút
cho mình ?
Làm
phát triển nơi mình tình thương và lòng bi chắc hẳn là một
tiến trình tiệm tiến : một công trình làm đi làm lại cả
trăm lần... Nhờ kiên nhẫn và kiên trì, tâm thức phải đi
đến chỗ xếp những nếp thói quen tốt đẹp mới, đến
mức có thể giữ gìn một thái độ từ bi ngay cả khi mọi
sự trục trặc. Người ta sẽ phân biệt ba giai đoạn trong
việc học nghề tập sự này : thứ nhất, ý thức sự kiện
rằng khổ đau là phần của tất cả chúng ta ; thứ hai, trau
dồi ham muốn nồng nhiệt chấm dứt những khổ đau này ;
và thứ ba, không chỉ có một lời nguyện chân thành, mà chuyển
qua hành động bằng cách tự mình giúp đỡ những người
khác giải thoát khỏi những khổ đau của họ.
Giai
đoạn thứ nhất cốt ở biết rằng tất cả chúng ta đều
lệ thuộc vào khổ đau. Trước hết là khổ đau gắn liền
với thân phận con người, dù những cá nhân có khác nhau thế
nào đi nữa. Mỗi người đều phải đương đầu với những
khó khăn và nhọc nhằn không thể tránh dính liền với hiện
hữu của mình : sanh, bệnh, già và chết. Đó là những sự
kiện không thể đảo ngược của cuộc đời và người ta
chẳng thể làm gì cả, dù cường độ của mong muốn khỏi
khổ của chúng ta có đến mức nào. Không có chỗ nào để
trốn tránh sự thoát mất của thời gian – vô thường –
và phần khổ đau của nó. Người ta là một kẻ bị kết
tội chết được thường xuyên hỗn lại ngay từ phút giây
mới sanh ra.
Ngoài
những khổ nhọc chung cho mọi cuộc đời này, còn có những
vấn đề đặc biệt cho mỗi cá nhân. Dầu hoàn cảnh của
mỗi người có thế nào, không ai có thể trốn tránh. Những
khó khăn của người nghèo thì rõ ràng : chỗ ở thậm chí
cả cái ăn và sống trong lo âu không thể cung cấp một đời
sống đàng hoàng cho gia đình. Nhưng người giàu sang cũng không
được miễn trừ. Họ có những lo lắng riêng, như sợ mất
tiền, sợ tiền bạc làm cho hư hỏng, không có bạn bè chân
thật yêu quý mình thật sự chứ không phải vì tài sản.
Dù thông minh hay thiển cận, luôn luôn vẫn là một sự việc
: những người tài giỏi luôn luôn có nhiều vấn đề, mặc
dù – hay có lẽ là bởi vì – những tài năng và phẩm chất
đặc biệt của họ, trong khi những người khả năng giới
hạn hơn cảm thấy dễ dàng bị những biến cố nhỏ nhất
vượt qua.
Có
một điều quan trọng cần hiểu đối với người muốn khai
triển nơi mình lòng bi : không khó để cảm thấy xúc động
khi thấy những người bất hạnh biểu hiện ra rõ ràng, nhưng
không phải những người không có vẻ bất hạnh hay nghèo
khó lại không khổ đau, theo cách của họ. Hơn nữa, người
có vẻ bằng lòng làm nhiễm độc cuộc đời của những người
khác có lẽ không nghèo hay bệnh, nhưng nó là vô minh : đó
là bệnh tật tệ hại nhất, vì chính vô minh là nguồn gốc
của mọi bệnh tật và khổ đau. Tự nhiên thì thường thường
người ta nổi giận với loại người đó ; nhưng chính nơi
đó mà người ta cần trau dồi lòng bi, khi hiểu rằng họ
làm hại cho chúng ta bởi vì ác tâm thì ít mà vô minh thì
nhiều. Cũng giống như con rắn cắn đứa bé chơi trong bụi
cỏ : con rắn không chủ định làm hại đứa bé, nhưng nó
không hiểu rằng nó chẳng có gì phải sợ cả. Nó đã hoạt
động một cách mù quáng, dưới ảnh hưởng của sợ hãi
và vô minh.
Đó
là một suy xét rất có ích cho chúng ta khi chúng ta có những
phiền não với một người nào đó, để tránh nổi giận,
mà trái lại, dùng tình huống để làm lớn thêm lòng bi. Thông
thường, người ta có nhiều khuynh hướng tuân theo xu hướng
tự nhiên bình thường và ích kỷ và phản ứng trong chiều
hướng những lợi ích riêng mình. Vậy thì, đối với người
tìm cách khai triển từ bi nơi mình, thiết yếu hãy thử đặt
mình vào địa vị của những người khác và thấy những
sự việc từ quan điểm của họ : không làm cho những người
khác điều mà mình muốn họ không làm cho mình, và cho họ
hạnh phúc mà họ đang muốn cho chính họ. Khi cảm thấy ít
khác biệt với người khác, chúng ta sẽ trở nên ít thản
nhiên lạnh lùng hơn, và một sự hòa điệu nào đó trở nên
có thể.
Một
khi người ta hiểu rằng tất cả đều bị gộp chung trong
cùng một lời giáo huấn – phù du và khổ đau – người
ta có thể qua giai đoạn hai của cuộc hành trình : trau dồi
ham muốn nồng nhiệt giúp đỡ mọi người thoát khỏi ách
nạn của khổ đau. Người ta không chừa ai cả : lòng bi chúng
ta nhắm đến ở đây là không thiên vị và vô điều kiện,
nó đến với mọi chúng sanh, vì sự kiện đơn giản rằng
họ hiện hữu và phơi mình dưới khổ đau.
Có
lẽ người ta khó tưởng tượng ra lòng bi không giới hạn
này, vì người ta đã có thói quen lựa chọn giữa vài người
được chọn mà người ta xem là xứng đáng với “tình yêu”
của họ với tất cả những người khác, mà người ta ném
vào sự thản nhiên cho đến thù ghét. Chiều sâu và phẩm
chất của một tình cảm như vậy có lẽ tìm thấy hình ảnh
của nó trong tình thương nối kết một bà mẹ với đứa
con, mà ở đây nó được thêm vào một chiều kích không thiên
vị và phổ quát : một tình thương vô điều kiện ôm lấy
mọi chúng sanh một cách bình đẳng.
Một
khi người ta thoáng thấy một ít bản chất của lòng bi, người
ta có thể khai triển nó trong mình. Người ta nghĩ đến một
người rất thân thiết – nói chung, bà mẹ mình, nhưng người
ta cũng có thể chọn một người khác nếu thấy khó khăn
– và người ta tập ý thức trước tiên tất cả chiều sâu
của những tình cảm mà người ta cảm thấy đối với người
thân ấy. Rồi người ta tưởng tượng rằng mẹ mình – hay
người thân – đang bị khổ sở. Thế là hoàn toàn không
thể chịu đựng nổi, người ta chỉ có một mong muốn : tìm
ra phương tiện để chấm dứt những khổ sở ấy càng nhanh
càng tốt. Lòng bi chính là như vậy : ham muốn mãnh liệt chấm
dứt khổ đau của những người khác. Ban đầu, sẽ dễ cảm
thấy với người mẹ hay một người người ta thương yêu
nhiều, nhưng một khi tình cảm này đã thiết lập được
nơi mình đối với một người, người ta sẽ dần dần tập
trải tình cảm đó cho những người khác. Dần dần, người
ta thành thật cầu mong điều ấy cho người bạn thân nhất,
rồi cho những người khác ít gần gũi hơn, rối đến những
láng giềng, và cứ thế cho đến ngày người ta cảm thấy
cùng một mong muốn cho tất cả, thậm chí với người trước
kia người ta xem như kẻ thù. Tình thương chân thật và lòng
bi là cái đối nghịch với thói quen thiên chấp của chúng
ta. Người ta cũng có thể lợi dụng những suy nghĩ này để
hiểu biết tính chất chuyên chế và thay đổi của những
quan niệm bạn và thù : bạn hôm nay có thể thành thù ngày
mai và ngược lại. Người ta có lợi gì đâu khi cho những
phân biệt này là nghiêm túc thế kia và biến chúng thành những
thực tại quá cứng chắc trong tâm trí mình ?
Một
chi tiết khác quan trọng : lòng bi phổ quát, vũ trụ không
giới hạn vào nhân loại, nó bao trùm toàn thể sự sống.
Như chúng ta, những con vật lệ thuộc vào khổ đau nội tại
trong mọi hình thức hiện hữu, nhưng hoàn cảnh của chúng
thì tệ hơn của chúng ta, vì vị trí thống trị của chúng
ta trong thiên nhiên. Hãy tưởng tượng bạn đang ở dưới
lớp da của một con thú vật : bạn sẽ khó khăn tự nuôi
sống mỗi ngày, rồi những đứa con nhỏ của bạn, bạn sợ
loài thú khác và loài người săn bắn đôi khi chỉ để vui
chơi. Hãy tưởng tượng một chốc bạn là một con cá, một
con sâu lềnh bềnh trên mặt nước, bạn há miệng đớp mồi,
và một sự đau đớn khủng khiếp hủy diệt bạn khi một
luỡi câu xé rách cổ họng bạn. Trên kia, người câu kéo
dây ; dưới nước móc câu đâm sâu vào đầu, thân thể bạn
quằn quại đau đớn kịch liệt. Rồi thình lình, còn tệ
hơn cái đau đang còn đóng đinh bạn, bạn đã ở ngoài nước,
không thở được, không khí tấn công bạn. Sự nổ bùng của
đau đớn mới khi người ta rút lưỡi câu ra khỏi miệng bạn,
va chạm với đất ; bạn cháy bỏng bên trong, mang phập phồng,
mong có chút nước, mắt mờ đi và suộc sống từ từ thoát
khỏi bạn... Người ta có thể nhân sự thực tập lên vô
tận, khi thì làm con thỏ, con chồn, con chim... Chắc chắn người
ta sẽ ý thức được thế nào là một cuộc đời và những
khổ đau của một con thú, và một sự kính trọng nào đó
đối với sự sống, dưới mọi hình thức. Dù cho chúng ta
không có quyền để lật đổ thái độ và tổ chức của
cả một xã hội, mỗi người trong chúng ta ít ra có thể cố
gắng, ở mức độ của mình, tốt với loài vật và tránh
làm nặng thêm những khổ đau của các tạo vật khác cùng
chia xẻ, thừa hưởng trái đất với chúng ta.
Đáng
ca ngợi khi biết rằng mọi chúng sanh đang đau khổ và muốn
làm cách nào cho sự việc ấy chấm dứt. Nhưng như thế chưa
đủ : còn phải đi vào hành động. Và chính đó là giai đoạn
thứ ba của sự khai triển lòng bi : người ta thử làm việc
gì trong khả năng mình để chấm dứt sự khổ đau của những
người khác.
Làm
thế nào bắt tay vào giúp đỡ những người khác ? Bằng cách
nhờ vào kinh nghiệm của riêng mình, vì làm sao thực sự giúp
đỡ một người có những vấn đề khó khăn nếu người
ta không biết đảm nhận những khó khăn riêng của mình và
đối mặt với những khổ đau của riêng mình ? Khi người
ta đã tự giúp mình được, người ta có thể giúp được
những người khác. Điều này đưa ta trở lại một lần nữa
sự cần thiết phải trước tiên làm việc trên chính mình.
Như người ta đã thấy ở trước, thế giới chúng ta tri giác
là hình ảnh của chúng ta : người ta càng có khuyết điểm
nơi mình, người ta càng tìm thấy những khuyết điểm nơi
những người khác. Không phải cố làm chúng thay đổi hay
ghét chúng ; sự việc sẽ trôi chảy nếu người ta thử trau
dồi một thái độ lòng bi đối với chúng, khi hoàn toàn tiếp
tục làm việc trên chính mình.
Tình
thương và lòng bi chắc chắn là những phẩm tính kỳ diệu
có quyền lực biến chuyển cuộc đời của chúng ta. Nhưng
có lẽ có một số người trong chúng ta nghi ngờ về chính
họ và về khả năng tiến hành một đường lối như vậy
: người ta cần một cú thúc đẩy nhỏ để tiến về phía
trước. Vậy thì, trong gương mẫu những người khác người
ta có thể tìm thấy một sự khuyến khích như vậy : có biết
bao người đàn ông và đàn bà trong quá khứ đã đi trước
chúng ta trên con đường tâm linh này cũng như một số người
đương thời. Không phải do sức mạnh của lưỡi gươm, của
tiền bạc hay những bằng cấp mà những bậc Thánh vĩ đại
hay những vị thầy tâm linh đã được nhân loại ghi nhớ
: chính là điều họ đã làm cho những người xung quanh. Chính
là tình thương, lòng bi, sự khiêm hạ và sự hiến mình toàn
diện cho sự tốt đẹp cho những người khác đã khiến một
Francois d’Assie hay một Milarepa, chỉ kể hai người thôi, đã
có thể giúp đỡ biết bao người, không chỉ trong thời đại
họ, mà còn sau khi họ chết. Và cũng những phẩm chất đó
người ta tìm thấy ở một số người đương thời đã hoàn
toàn hiến dâng đời mình cho sự phụng sự những người
khác, như mẹ Teresa hay tu viện trưởng Pierre. Ở một cấp
bậc khiêm tốn hơn, người ta cũng thấy chung quanh chúng ta
có nhiều người quan tâm đến việc khác hơn là sự an sinh
của chính họ và của những người thân, chẳng hạn góp
tiền vào những tổ chức từ thiện hay làm việc trong đó,
đỡ đầu cho trẻ em thế giới thứ ba, đem lại một sự
an ủi và một hiện diện ấm áp cho những người bệnh và
người sắp chết, hay giúp đỡ những người không nơi nương
tựa của xã hội chúng ta. Mọi hành động này theo chiều
hướng tốt, khi nào người ta đơn giản bị điều động
bởi mong muốn giúp đỡ và làm nhẹ cho những người khác,
mà không phải vì nhu cầu thỏa mãn tà tâm hay vì những ham
muốn vinh danh cá nhân. Hơn là cứ bị đè nặng bởi sự bất
lực và những giới hạn cá nhân, chúng ta hãy rút nguồn cảm
hứng trong sự khẩn thiết cần giúp đỡ của những người
đang khổ đau và trong gương mẫu tích cực của những người
đã giúp đỡ họ. Hoàn toàn ý thức về những chướng ngại,
cạm bẫy của lòng ích kỷ hiện thời của chúng ta, phải
học tin cậy vào tiềm năng lòng bi này tạo thành bản tánh
thật sự của chúng ta, vào quyền lực của tình thương vô
điều kiện đang ngủ trong lòng chúng ta và nó chỉ cần được
đánh thức để cho tất cả đều biến hình, chuyển hóa trong
chúng ta và chung quanh chúng ta. Chính là khi trui rèn mà người
ta trở thành thợ rèn...
Chính
trong thực tế hàng ngày mà người ta học trau dồi lòng bi.
Sanh, lão, bệnh, tử diễn ra hàng ngày, sự khổ đau, cô đơn,
đơn
độc xảy ra hàng ngày. Rất tốt khi có một tâm hồn rộng
rãi và những tư tưởng rộng lượng và rõ biết những kỹ
thuật thư giãn, nhưng tất cả những lý thuyết đẹp đẽ
này chẳng giúp ích gì nhiều nếu người ta đóng kín và co
lại trong đời sống thường nhật. Khi người ta có một con
ngựa giống, người ta không để mặc nó trong chuồng ngựa,
người ta cỡi nó hàng ngày, nếu không nó chẳng dùng được
gì và hình dáng đẹp đẽ sẽ mất đi. Lòng bi không phải
là một phòng đẹp đẽ của bảo tàng viện mà người ta
xếp vào một góc để thỉnh thoảng ngắm nghía, tán dương,
sùng mộ và cảm động rơi lệ. Đó là một sức mạnh lớn
dần khi người ta nuôi dưỡng nó mỗi ngày bằng máu thịt
của mình, bằng những nụ cười và những nước mắt, bằng
những sức mạnh và những yếu đuối, bằng những giấc mơ
và những thất vọng, và nó hoàn thành khi cho mỗi khoảnh
khắc của đời sống một chớp sáng của sự toàn thiện.
Không
phải vì người ta nỗ lực thực hành lòng bi để chờ đợi
được đền trả, và để nổi giận nếu những người khác
không nỗ lực như chúng ta. Tình thương không phải là một
tương tác buôn bán : tôi cho anh cái này, nếu anh cho tôi cái
kia. Nếu người ta không biết cho một cách vô điều kiện,
tình thương sẽ ô uế bởi ích kỷ và tiếp tục cô lập
chúng ta với những người khác thay vì đem chúng ta xích lại
gần họ. Lòng bi, đó là lơ là một chút với chính mình để
lưu tâm hơn đến những người khác. Người ta ra khỏi tháp
ngà của mình, khỏi cái thấy quy ngã khi nhìn thế giới ;
khi tỉnh lại trong cảnh quan của thực tại, người ta tri
giác tốt hơn sự tương đồng căn bản của tất cả đời
sống.
Lòng
bi vượt khỏi sự phản ứng đơn thuần đối với sự đau
khổ của người khác ; nó cũng giả thiết một sự thông
minh nào đó về tình thế của người kia. Chẳng hạn, nếu
một người nghiện rượu đòi bạn cho uống, hay một người
chơi ma túy xin bạn tiền để mua héroine, không phải là lòng
tốt khi đáp ứng cho họ. Lòng bi phải đi đôi với một trí
huệ nào đó, nếu không người ta sẽ làm điều xấu hơn
là tốt, với những ý định tốt đẹp hơn cho thế giới.
Phải biết đánh giá khi nào nên làm hay không nên, và bằng
cách nào. Khi người ta chưa đủ lòng bi để làm chủ chính
những xúc tình của mình, tốt hơn là chớ nên đi vào những
hoàn cảnh quá tế nhị.
Điều
đó nói lên rằng quan trọng là không tìm cách làm quá mức
khả năng của mình, ở mỗi giai đoạn tiến hóa. Cố gắng
làm tốt nhất để giúp đỡ những người khác, hẳn thế,
nhưng chớ quên rằng người ta không phải là một loại siêu
nhân cứu độ của nhân loại. Chúng ta hãy luôn luôn nhớ
rằng nguyên tắc thiết yếu là luôn luôn không làm gì, nói
gì, nghĩ gì có thể làm hại cho những người khác. Lòng bi
sẽ lớn lên và an vững nơi chúng ta từng bước nếu chúng
ta biết tỏ ra kiên nhẫn, khiêm hạ và thực tiễn đối với
chính mình, cẩn trọng và nhạy cảm đối với những người
khác, tất cả kèm theo một lương tri và một ít khôi hài.
Một
khuyên nhủ cuối : chớ hỗn lại ngày mai điều chúng ta có
thể làm hôm nay, về sự làm chủ tâm thức cũng như về lòng
bi. Người ta thường có khuynh hướng tự nhủ rằng mọi điều
đó thì rất tốt đẹp, nhưng người ta sẽ có thời gian để
quan tâm đến chúng sau này, khi người ta đã kiếm được
chút ít những lạc thú của cuộc đời. Tuy nhiên chúng ta
hãy coi chừng thả mồi bắt bóng : những lạc thú của chúng
ta cũng phù du như bông tuyết dưới ánh mặt trời và những
sự vật và những con người hôm nay làm nên hạnh phúc của
chúng ta có thể sẽ là nguyên nhân của những giọt nước
mắt của chúng ta ngày mai. Tất cả đều qua đi, tất cả
đều mệt mỏi, tất cả đều tan vỡ. Và người ta cuối
cùng mới hiểu rằng không đâu khác ngoài chính mình mà người
ta phải tìm kiếm cội nguồn của hạnh phúc đích thực. Điều
đó không có nghĩa phải từ chối những niềm vui mà cuộc
sống có thể mang lại cho chúng ta, mà không đầu tư hết
mình vào đó, bởi vì những lạc thú thì mong manh và sự đếm
ngược tiến về cái chết theo đuổi không ngừng. Trong nhãn
quan của lòng bi, chúng ta có thể sống với đôi tay và tấm
lòng rộng mở với cái gì xảy ra, sẵn sàng làm tốt nhất
điều mà mỗi tình huống đòi hỏi chúng ta, càng ngày càng
có khả năng thương yêu và giúp đỡ những người khác bởi
vì chúng ta làm chủ tốt hơn tâm thức của mình.
Không
ai có thể lẩn tránh cái chết, nhưng người ta có chọn lựa
sống tốt đẹp hơn : chinh phục con cọp tâm thức để tránh
khỏi việc chính mình là nguyên nhân cho những khổ đau của
chính mình và của những người khác, và để cho sức mạnh
của lòng bi hướng dẫn hầu cho chúng ta cơ hội để sống
tốt hơn – nơi chính mình và cùng với toàn thể – để
rút ra phần lợi lạc nhất có thể có của sự băng qua phù
du của chúng ta trên trái đất này.
CHƯƠNG
X
SỰ
CHÚ Ý CẨN TRỌNG
HAY
CON
CỌP ĐƯỢC THUẦN HÓA
Sự
việc đơn giản là buông xả toàn diện và quan sát cái gì
đang xảy ra sẽ cho bạn một sức mạnh vĩ đại.
Milarepa
Một
phần lớn những vấn đề khó khăn người ta gặp trong đời
sống mọi ngày là do một sự thiếu chú ý về phần chúng
ta. Luôn luôn người ta làm một cách xung động, theo những
tình cảm nhất thời, không chú ý đến bản chất của những
hành động của mình hay những phản hồi của chúng lên chính
mình hay lên những người khác. Khi với một cẩn trọng tối
thiểu, người ta có thể thấy biết những tư tưởng và tình
cảm của mình ngay lúc chúng xuất hiện, và vậy là ý thức
được cái thúc đẩy chúng ta hành động. Thay vì để cho
bị lôi cuốn một cách mù quáng thụ động phải làm hay nói
những điều mà sau đó người ta sẽ hối tiếc, người ta
ý thức những động lực của chúng và người ta có thể
hành động trong sự hiểu biết rõ ràng nguyên nhân. Khi người
ta chú tâm vào cái gì đang xảy ra nơi mình, người ta không
bị bắt buộc làm món đồ chơi cho những tình cảm của mình
nữa ; thay vì để cho những phản ứng xung động và thói
quen cuốn trôi, người ta trở thành người chứng và người
diễn viên sáng suốt của cái đang chuẩn bị trong tâm thức
và của những hành động có từ đó.
Nếu
thiền định nhắm vào việc phát triển chú ý và cẩn trọng,
thì đó không phải là những phẩm chất đặc biệt tâm linh
hay những đức hạnh bí truyền dành riêng cho những người
quan tâm đến tâm linh. Thật vậy, không có gì thường ngày
và bình thường hơn chú ý, vì người ta không thể làm gì
mà không có nó. Không ngừng có hàng đống sự việc cần
có sự chú ý : thời giờ, cách người ta ăn mặc y phục,
cách người ta băng qua đường, lái xe và đậu xe, cái người
ta ăn, cái người ta làm... Chú ý, là cố gắng nghĩ đến
một sự việc nhất định, ý thức nó mà không để cho chuyện
khác làm xao lãng. Vậy thì chú ý và cẩn trọng không phải
là những quan niệm trừu tượng hay những đức hạnh ngoại
lai, mà là những dụng cụ cần thiết cho sự sống còn và
cho sự an toàn hàng ngày của chúng ta. Và hơn nữa, nếu người
ta học cách phát triển nó, thì chính nhờ những công cụ
này mà người ta có thể chinh phục con cọp và khiến nó phải
làm điều mà người ta chờ đợi ở nó.
Đời
sống hàng ngày đầy những cơ hội để thi hành sự chú ý,
và thiền định cho ta một toàn bộ những kỹ thuật cho phép
phát triển nó đến mức tỉnh thức với mọi khoảnh khắc
của cái đang xảy ra trong tâm thức. Vậy thì có một bổ
túc cho nhau rõ ràng giữa đời thường hàng ngày và thiền
định. Tuy nhiên có người tưởng tượng rằng thiền định
là một cách trốn thoát những thực tế của đời sống và
quay lưng với những vấn đề của nó bằng cách trầm mình
trong những thiền “hư không”. Chính điều ngược lại mới
đúng và ít ra đối với cái thiền định xứng đáng với
từ này, và không phải những giả mạo của những thầy lang
bịp bợm hứa hẹn với bạn cái phúc lạc tức thời và những
quyền năng huyền thuật. Thiền định chân thật không phải
được thực hành để nuôi dưỡng những ảo vọng hoang đường
của chúng ta và củng cố cho cái nhìn ích kỷ của chúng ta
về thế giới, trái lại nó nhắm đến việc đưa chúng ta
đến gần thực tại của cái mà chúng ta thực sự là. Nó
loại bỏ những méo mó ngăn cản chúng ta có một nhận thức
đúng về chính mình, và về thế giới, về những người
khác đúng như họ là. Về tiến trình phát triển sự chú
ý, thiền định giống như một pha tu hành mãnh liệt, còn
cái hàng ngày vừa như một chỗ thử cái người ta đã học
vừa như một chỗ chứa những kinh nghiệm mới để nuôi dưỡng
và kích thích thiền định.
Phần
đông chúng ta tự bằng lòng ở lại trong một giai đoạn sơ
khai của sự phát triển chú ý, chỉ đủ để làm gấp những
chuyện thông thường. Tâm thức tập trung một cách chừng
mực – nhiều hay ít – trên một đối tượng mà bên ngoài
khuyến khích sự chú ý vào giây phút đó, nhưng nó luôn luôn
sẵn sàng trả lời tức khắc cho một khuyến khích khác làm
vui lòng nó hơn. Nhưng người ta không biết những tiến trình
tâm thức diễn tiến trong chúng ta ngay cùng lúc đó, nơi tấm
màn phông. Người ta không ý thức những tư tưởng, những
cảm giác và những tình cảm nổi lên không ngừng trong tâm
thức, định hình tri giác của chúng ta về những sự vật
và những phản ứng của chúng ta về những biến cố. Người
ta chỉ thấy cái xảy ra trên sân khấu và không thấy trong
hậu trường. Và bởi vì người ta không thấy những xung động,
những động cơ trong sáng của mình mà nhiều khi người ta
có những phản ứng, đối xử vô lý, không được kiểm soát
gây ra bao nhiêu hỗn loạn cho cuộc đời.
Mối
tương quan của chúng ta với những người khác và với thế
giới hoàn toàn được xác định bởi cái xảy trong tâm thức
chúng ta, và nếu người ta biết chú ý vào tâm thức, người
ta ý thức được tác động, ảnh hưởng mà những hành vi
nhỏ nhất của chúng ta có thể có trên những người khác.
Người ta học nhận diện điều mà người ta cảm thấy –
giận dữ, ghen ghét, ham muốn – điều này không hàm ý rằng
người ta nuôi dưỡng tình cảm đó, hay ngược lại đè nén
nó, bởi vì cách nào thì một ngày nào đó nó sẽ nổ bùng.
Người ta bằng lòng nhận ra sự hiện diện của nó, không
để cho mình hành động một cách xung động vô ý thức, vì
người ta biết những thiệt hại người ta có thể gây ra
cho những người khác.
Hẳn
nhiên, nói thì dễ dàng hơn là làm, và phải đã có một sự
tu tập chú ý nào đó khả dĩ cách ly đủ với tư tưởng
và những tình cảm của mình để không phản ứng tức khắc.
Nhưng chớ có tin rằng điều ấy sẽ làm cho cuộc đời chúng
ta thêm rắc rối, phức tạp, mà trái lại. Người ta không
tìm kiếm sưu tập thêm những nguyên tắc và những mánh lới,
mà tự để cho không gian cần thiết để thấy rõ hơn, khi
giản dị hóa một chút những sự vật. Người ta càng cần
điều này khi cuộc sống trong những xã hội hiện đại đã
đủ phức tạp và cuồng loạn.
Chính
khi học tập trung sự chú ý mà người ta tìm ra không gian
cần thiết để nhận diện cái gì đang xảy ra nơi mình và
thụt lui khá đủ đối với cái ấy. Tập trung, đó là giản
dị hóa : thay vì phân tán sự chú ý của mình trên nhiều
sự vật, người ta chỉ để tâm vào một cái – một cách
chú ý, và do đó có hiệu quả, không mất thời gian. (Trái
với điều người ta thường tin, người ta không có thời
giờ làm nhiều việc một lúc, vì chú ý không thể hiệu quả
khắp nơi vào cùng một lúc.) Một vị thầy Tây Tạng vĩ đại
đã nói : tâm thức phải