PHẦN
MỘT
NHỮNG
NGUYÊN TẮC NUÔI DẠY TÂM THỨC
VÀO
ĐỀ
Sau
hai mươi năm ở Tây phương để dạy thiền định, hay chỉ
có những lời khuyên cho những người đến hỏi, tôi đi đến
kết luận rằng điều nhiều người chờ đợi từ tôi không
luôn luôn hoàn toàn là cái họ cần. Họ đến gặp tôi, nói
rằng họ muốn nghiên cứu đạo Phật hay thiền định. Nhưng
khi hỏi những chuyện đó, hay dần dần biết rõ họ hơn,
tôi hiểu họ cảm thấy một sự không thỏa mãn nào đó đối
với cuộc đời của họ và thế giới và họ thường không
biết phải làm sao đối diện với những khó khăn của đời
thường.
Thật
vậy, họ tìm kiếm một phương tiện để vượt qua chúng,
hay đôi khi một “bằng chứng không phạm tội” để phớt
lờ chúng đi. Hơn là cơn mơ mộng, thứ tâm linh mơ hồ, triết
học, tôn giáo và những lễ nghi, họ cần phải hiểu : hiểu
tại sao cuộc đời họ không thỏa mãn cho họ, hiểu tại
sao đôi khi họ thấy quá khó khăn để sống với chính mình
và với những người khác, trong một thế giới đang bại
trận tháo chạy. Và để thật sự hiểu điều đó, trước
tiên họ phải học để tự biết mình, bởi vì chính từ
bản thân mình mà người ta nhận biết thế giới.
Để
tự biết mình, phải đi đến cội rễ của bản thể mình,
nghĩa là tinh thần mình, tâm thức mình, bởi vì đó là nguồn
gốc của tất cả những kinh nghiệm của chúng ta. Chính qua
tâm thức mà người ta nhận biết, người ta suy nghĩ, và người
ta cảm nghiệm, điều đó muốn nói rằng chính tâm thức đã
tạo ra bản chuyển dịch riêng của chúng ta về thực tại.
Nhưng chính đó là cái mà hiện giờ phần đông chúng ta không
biết, hay thích không biết thì hơn ; quả là thoải mái, dễ
dàng khi nghĩ rằng mọi cái khó chịu đến với chúng ta là
do lỗi của những người khác, của xã hội hay của nhà cầm
quyền, hơn là tự hỏi phải chăng cái hình ảnh người ta
tự tạo về những sự vật quả có liên hệ với cái nhìn
mà người ta chiếu rọi trên chúng. Một vấn đề mà chúng
ta sẽ có dịp khám phá chi tiết bởi vì đó là một chủ
đề chính của sự chuẩn bị “nuôi dạy con cọp”. Con cọp
là một ẩn dụ về tình trạng hoang dã và không hợp lý của
tâm thức chừng nào nó không nhận biết bản tánh chân thật
của nó là gì. Vậy thì phải dạy cho thuần tính cái năng
lực hoang dã và bất kham này để hiểu cái gì xảy ra trong
chính mình, và trong những tương quan với những người khác
và thế giới bao quanh chúng ta. Chính khi nuôi dạy con cọp,
nghĩa là khi học làm chủ tâm thức mình để nhận ra sự
toàn thiện vốn có của nó, mà người ta sẽ có thể sống
an vui với chính mình và với thế giới.
Vậy
thì cần yếu phải biết tâm thức, vừa như nó xuất hiện
trong chức năng bình thường của nó, mà cũng như nó hiện
hữu trong bản tính thật sự của nó. Cái hiểu biết này
nằm ở ngay tâm của đạo Phật và đạo Phật đã đề nghị
vô số phương tiện và kỹ thuật để nắm được cái hiểu
biết đó. Có đủ loại phương pháp thích hợp với những
nhu cầu của mỗi người, theo những ước muốn cá nhân, mức
độ trưởng thành, những vấn đề và những bổn phận riêng
của họ. Nhưng tôi muốn nhấn mạnh một điểm quan trọng
: những dụng cụ này góp phần vào gia sản của loài người,
cùng một danh nghĩa như sự sáng chế ra bánh xe hay sự khám
phá những định luật hấp dẫn, chúng không chuyên biệt là
“Phật giáo” hay dành riêng cho những người “Phật giáo”.
Thật vậy, Phật nghĩa là “thức tỉnh” – thức tỉnh khỏi
giấc ngủ của vô minh về bản tánh thật sự của tâm thức.
Và trong ý nghĩa đó, một người Phật tử là người thí
nghiệm theo cùng con đường ấy để cùng đến sự hiểu biết
ấy về chính mình. Nếu người ta chỉ quan niệm “đạo Phật”
như một tôn giáo được tổ chức, người ta nhấn mạnh những
yếu tố phân chia ; trong khi nói đến một con đường dẫn
đến sự thức tỉnh của tâm thức, người ta làm mạnh những
yếu tố hợp nhất. Luôn luôn trong ý nghĩa đó mà tôi dùng
những danh từ Phật và đạo Phật trong cuốn sách này. Những
dụng cụ được thừa hưởng từ đạo Phật chỉ tạo thành
một hệ thống hiểu biết cao cấp về tâm thức con người
và về những cơ cấu vận hành của nó, bất cứ ai cũng có
thể dùng – mà không cần nhãn hiệu “Phật tử” hay nhãn
hiệu nào khác – để học tự biết mình, hầu sống tốt
hơn với chính mình và với mọi người. Vả lại đó chính
là điều tôi luôn luôn đặc biệt nhớ cho riêng tôi : tôi
nghĩ rằng tính tâm linh (đạo) không phải ở trong nhà thờ
tôn giáo này hay tôn giáo nọ, mà nó là một sự đóng góp
sống động đem đến cho xã hội hiện thời, bằng cách cung
cấp cho những ai muốn có phương tiện để sống cuộc đời
hạnh phúc hơn và bừng nở hơn, bởi vì ít ích kỷ và vật
chất hơn, và có phương tiện để giúp đỡ những người
khác cũng làm như thế. Chính trong tinh thần đó mà Nghệ thuật
nuôi dạy con cọp bên trong đã được tạo thành, để cho
những người sử dụng nó cảm thấy hoàn toàn tự do với
mọi sự phục tùng một hệ thống hay một tín điều đã
được ban cho.
Vậy
tôi cũng đi đến chỗ đề nghị cho những ai đến với tôi
làm theo những bài thực tập căn cứ trên hiểu biết của
tôi về “Phật tử” – theo nghĩa tôi đã định nghĩa ở
trên – và về người trị liệu, cũng như trên kinh nghiệm
của tôi về việc dạy thiền định, và cũng trên sự đánh
giá của tôi về những nhu cầu và những khó khăn đặc biệt
của người Tây phương sống trong xã hội hiện thời. Phần
đông người ta có đời sống đã khá đầy ắp, phức tạp
và căng thẳng ; vậy tôi đã đề nghị với họ những bài
thực tập đơn giản và cụ thể, đặt nền trên sự thư
giãn, buông xả, thích hợp với cuộc đời hành nghề và gia
đình của họ.
Việc
này hình thành trên một nền tảng cá nhân, trong nhiều năm,
và rồi càng ngày người ta càng rút được lợi lạc từ
bước đi này và rồi nhiều người khác cũng muốn tự mình
thực hành, tôi đã tìm cách hệ thống hóa một ít những
bài thực tập trong một chương trình “trị liệu” mà những
bài thực tập được trình bày ở đây trong Nghệ thuật nuôi
dạy con cọp bên trong là một phần trong số đó. “Trị liệu”
là nói đến “chăm sóc, điều trị, phương cách để chữa
lành” ; ở đây phải hiểu nó trong nghĩa đồng thời phòng
ngừa và chữa bệnh. Đó là tự chữa lành khỏi sự tha hóa
của chính mình, khỏi sự không tự biết chính mình, điều
này là gốc rễ của tất cả những vấn đề phiền não khác
của chúng ta, như chúng ta có dịp xác định nó suốt trong
cuốn sách này. Chữa lành nhưng cũng là phòng ngừa, bằng
cách rút được cái sức mạnh và những phương tiện để
đối mặt với mọi thứ có thể đến với chúng ta sau đó
từ sự hiểu biết về tâm thức.
Những
thực tập mà tôi đề nghị ở đây có mục đích dẫn dắt
những người thực hành chúng đến một mức độ nào đó
của sự thức tỉnh tâm linh bằng cách học điều phục tâm
thức họ để loại bỏ những méo mó thức tình luôn luôn
ngăn cản tâm thức thấy biết thế giới và những người
khác như chúng thật sự là. Một khi tâm thức đã nhận biết
bản tánh toàn thiện của nó, cái tri giác của nó về thế
giới phản ánh cái nó tri giác về chính nó, bấy giờ tất
cả đều được chuyển hóa, mặc dầu xung quanh bên ngoài,
tất cả mọi sự không có gì thay đổi. Thông điệp rõ ràng
và cốt yếu : chính nơi mình mà sự chuyển hóa xảy ra, hơn
là tìm cách làm thay đổi con người và thế giới quanh ta.
Nếu người ta thay đổi bên trong mình, bên ngoài sẽ tự động
được chuyển hóa, biến chất. Người ta mở con mắt với
cái đẹp bên trong của chính mình và của thế giới, để
cuối cùng người ta khám phá toàn thể cái đẹp trong sự
toàn thiện nội tại của nó.
Việc
hệ thống hóa những bài thực tập được làm dần dần,
với sự hợp tác của Edie Irwin, một nhà trị liệu Hoa Kỳ
cũng đã hình thành những kỹ thuật khác nhau về xoa bóp mà
bà đã thực hành ở Edimbourg. Từ năm 1984, dưới sự chỉ
huy của tôi bà đã trông coi những nhóm người muốn thực
hành hệ thống này, ở Anh, Ái Nhĩ Lan, Thụy Sĩ, Bỉ, Tây
Ban Nha, Ý, Nam Phi và Hoa Kỳ. Hiện giờ bà đã để thời gian
của mình cho việc tiến hành chương trình trị liệu này.
Chính từ kinh nghiệm thực tiễn này có được trong nhiều
năm, đã sinh ra chương trình những thực tập trong nhiều giai
đoạn, mà Nghệ thuật nuôi dạy con cọp bên trong là chương
trình thứ hai (cái đầu là “Trở về nơi khởi đầu”).
Bản thân cuốn sách đáp ứng cho sự mong mỏi của nhiều
nhóm và những cá nhân để có thể dùng một thực hành cẩm
nang hướng dẫn họ giữa những khóa tham thiền và theo đuổi
công việc.
Tôi
muốn nói đến “trị liệu” hơn là thiền định, dù cho
những kỹ thuật được sử dụng đôi khi là như nhau, bởi
vì điều đó cho phép tránh một số quan niệm sai lầm và
những ám ảnh. Tôi luôn cố gắng làm cho những người đến
tham vấn tôi hiểu rằng tâm linh không phải là một phương
tiện để trốn tránh thực tại, mà ngược lại để học
giáp mặt với nó, để học không trốn tránh trong chính mình
hay ngoài mình ; bằng cách trở nên thăng bằng hơn và ít quy
ngã hơn, người ta đóng góp trực tiếp vào sự an vui của
những người khác và tôi cầu chúc Nghệ thuật nuôi dạy
con cọp bên trong có thể mang lại sự đóng góp khiêm tốn
của tôi trong chiều hướng đó.
Akong
Rinpoche
Samye-Ling,
tháng tám 1989
CHƯƠNG
I
NGHỆ
THUẬT NUÔI DẠY
CON
CỌP BÊN TRONG
Sự
điều phục tâm thức tán trợ cho hạnh phúc.
Đức
Phật Thích Ca
Tâm
thức là chìa khóa của mọi kinh nghiệm của chúng ta, vì chính
nó quyết định cái nhìn của chúng ta về thế giới, mặc
dầu thường thì người ta không biết điều đó. Không biết
cái cơ cấu vận hành này làm cho chúng ta có một tri giác
khá lầm lộn về những sự vật, bởi vì tính chủ quan của
chúng ta có khuynh hướng làm méo mó đáng kể thực tại, cũng
hơi giống với những người bị những rối loạn thị giác
hay những người mắc chứng hoang tưởng luôn luôn tin rằng
mọi người đều tấn công mình. Hiện thời, nơi phần đông
chúng ta, tâm thức giống như một con cọp hoang dã gieo rắc
kinh hoàng và tàn phá cho những thôn làng. Chúng ta hoàn toàn
bị cái tâm trí điên cuồng này thống trị, nó lôi kéo chúng
ta đi mọi hướng, theo những tham muốn và những ghét bỏ
của nó, phá nát trên đường đi mọi cái có thể ngăn ngại
nó, không ý thức gì về những xung động của riêng nó cũng
như thực tại bao quanh nó. Nó dẫn dắt cuộc múa nhảy theo
ý nó và chúng ta phải trả đền cho những đổ vỡ, không
hiểu điều gì đã xảy ra : chính đó là nơi chúng ta phải
tìm kiếm lý do cho những khổ nhọc và những thất vọng của
chúng ta.
Để
tìm thấy lại sự tự do đã bị giam hãm, phải bắt con cọp
hoang dã này và thuần hóa nó : nó phải phục vụ chúng ta
mà không phải ngược lại. Điều đó không dễ dàng gì, vì
trước tiên phải tìm ra vị trí của nó, và thường thường
người ta quá đỗi mù quáng để biết rằng con cọp đang
xỏ mũi chúng ta kéo đi. Phải biết mình đã bị bệnh trước
khi quyết định tự chăm sóc mình. Vậy mà người ta không
biết chút gì về tình trạng rối loạn mà người ta đang
lâm vào. Khi những sự việc xấu đi, người ta đặt nguyên
nhân của sự việc lên lưng của những người khác hay những
hoàn cảnh, nhưng người ta không bao giờ nghĩ đến việc quét
tước trước cánh cổng của chính mình – nhìn vào chính
mình. Khi người ta muốn thoát khỏi thế lực của cái tâm
thức hoang dã này mà những trò ngông cuồng của nó làm cuộc
đời nhiễm độc, phải bắt đầu bằng cách xem thẳng mặt
nó. Điều đó sẽ khó khăn và nhọc mệt lúc đầu, nhưng
chúng ta bắt buộc phải đi qua đó. Phải phóng tới, dầu
người ta không cảm thấy có đủ tầm cỡ để chạm trán
với nó, bởi vì chính làm như thế mà người ta sẽ tìm thấy
sức mạnh để tiếp tục.
Nghệ
thuật nuôi dạy con cọp bên trong nhằm giúp đỡ những ai
muốn có chủ quyền đối với cái tâm thức nổi loạn này
mà những trở chứng của nó gây ra biết bao tai hại trong
đời chúng ta. Đó không phải là một cuốn sách dành riêng
cho những người Phật giáo và người Đông phương, cho dù
tôi là một người như vậy. Những vấn đề và những khó
nhọc của cuộc đời là như nhau một cách căn bản cho tất
cả, không liên hệ gì đến màu da, dòng giống hay tín ngưỡng
của họ, bởi vì sự kiện chỉ hiện hữu thôi đã tự động
phơi bày chúng ta cho sự khổ đau. Bản chất con người là
phổ quát : từ ái hay ác độc, cũng gây ra những phản ứng
không sai chạy trong bất cứ xã hội nào, vì những tình cảm
là như nhau, dầu mỗi nền văn hóa diễn tả mỗi khác. Tâm
thức thì chẳng phải Tây phương, Đông phương, vàng, đen
hay trắng, nó là nhân loại : mỗi chúng ta đều muốn hạnh
phúc và tránh khổ đau.
Cuộc
đời một người thường theo cái luận lý của tham muốn
: tôi muốn, tôi ham thích, tôi không muốn, tôi ghét. Những
tham muốn của chúng ta mâu thuẫn hay không thỏa mãn làm sao,
và người ta cảm thấy bị lừa dối và bất hạnh ; nhưng
ngay dù người ta có thể có cái người ta muốn, hạnh phúc
đó cũng quá ngắn ngủi, vì người ta đã muốn một cái khác.
Tham muốn là không thể thỏa mãn, không có giới hạn : khi
người ta thỏa mãn nó, nó mang lấy một hình thức khác và
lao vào một đối tượng khác. Và tuy nhiên, người ta không
bao giờ từ chối ý nghĩ phải thỏa mãn nó một ngày nào
đó : đứa trẻ chạy theo mống cầu vồng để bắt những
màu sắc đẹp đẽ của nó, nhưng càng đến gần, mống cầu
càng có vẻ rời xa và thoát khỏi tầm tay.
Tham
muốn là động cơ của cuộc sống chúng ta, luôn luôn thay
đổi và thường trực được làm mới. Khi người ta còn nhỏ,
người ta muốn cái đồ chơi ấy ; rồi khi có nó, phải có
một cái khác, rồi một cái khác nữa, để lại chuyển qua
một cái khác. Về sau người ta sưu tầm giữ lấy và nuối
tiếc những đồ chơi khác : bạn bè, bằng cấp, du lịch,
áo quần, xe cộ, âm nhạc, truyền hình, rượu, những bữa
ăn ngon, những chế độ ăn uống... Điều đó không cùng.
Tham
muốn luôn luôn mâu thuẫn : vừa khi có cái người ta muốn
người ta lại không mong có nó. Chẳng hạn khi đói, người
ta muốn bất cứ giá nào lấp đầy bao tử trống rỗng, nhưng
khi đã ăn – thường là quá nhiều – người ta lại muốn
trở lại cái bụng trống. Đấy là vì luôn luôn có một tham
muốn mới lập tức đến thay thế tham muốn cũ : một khi
thỏa mãn tham muốn được cảm thấy no nê, tức thì nó được
thay thế bằng tham muốn được cảm thấy nhẹ nhõm. Tham muốn
cũng là một con tắc kè đổi màu rất ranh mãnh : người ta
có thể muốn vẫn đẹp đẽ, trẻ trung và hấp dẫn suốt
cuộc đời, nhưng người ta cũng có thể để cho ngã bệnh
để lôi kéo sự chú ý và những chăm sóc của những người
khác vào chính mình ; và nếu người ta đã thành công làm
cho mình bệnh, người ta chỉ còn nghĩ đến một cuộc phục
hồi kỳ diệu. Và cứ như thế... Hãy chú ý, một tham muốn
luôn luôn che dấu một tham muốn khác, như những con búp bê
Nga. Vả lại không có cái gì thoát khỏi sự thèm ăn không
thể thỏa mãn được này : cho đến cơn khao khát tâm linh
cũng có thể là một hình thức vi tế do tham muốn bao bọc,
nó thúc đẩy chúng ta sưu tầm – mà không thực hành – những
giáo huấn có nhiệm vụ giải tỏa bí mật công việc tìm
cầu huyễn mộng này về một hạnh phúc không thể nào tìm
thấy...
Không
thể tìm thấy, bởi vì thật ra có sự lộn sòng. Ý tưởng
người ta có về hạnh phúc y cứ trên một lầm lộn điên
đảo : người ta chờ đợi thấy nó ở bên ngoài mình, mà
không hề biết rằng nó bắt đầu ở chính trong mình. Người
ta có thể tìm cách thỏa mãn cho những tham cầu của mình
đến vô tận, nhưng chẳng bao giờ thỏa mãn, vì sự thỏa
mãn không đến từ bên ngoài, mà là từ bên trong. Đó là
một vấn đề thái độ : tham muốn thì không cùng, và không
phải cứ để cho nó dẫn dắt không cùng mà người ta sẽ
tìm ra hạnh phúc. Để có được thái độ đúng, cần thiết
phải học nhận diện sự có mặt của tham muốn trong mình
và chấp nhận nó – sự đè nén không phải là một giải
pháp – mà không hiến dâng cho nó cả thể xác lẫn tâm hồn.
Nếu
tham muốn là không cùng, đó chính bởi vì mạch nguồn của
nó cũng thế : tham muốn phát xuất từ tâm thức mà bản thân
tâm thức thì thoát khỏi mọi giới hạn, mọi định nghĩa
theo không gian hay thời gian. Tham muốn chỉ là một hiện tượng
phụ, một biểu lộ của tâm thức ; nếu người ta muốn thoát
khỏi sự chuyên chế của nó, phải đi ngược lại đến nguồn
cội, bởi vì không phải chăm sóc cho những triệu chứng một
căn bệnh mà người ta có thể chữa lành nguyên nhân gây bệnh.
Chúng ta hãy biết nhận diện chính xác con cọp gieo rắc kinh
hoàng trong cuộc sống chúng ta : không phải là bản thân tham
muốn, mà chính là tâm thức làm phát sanh tham muốn một cách
liên tục. Không có cái gì có thể dùng để đè nén một
cách hệ thống tất cả những tham muốn ; có lẽ người ta
sai lầm khi tin rằng giải thoát được khỏi chúng, cho đến
một ngày nào tất cả những tham muốn bị dồn nén này nhảy
lên trên bề mặt với sự hung dữ còn mạnh hơn. Vô ích khi
cắt những cỏ dại trong vườn, chúng sẽ tiếp tục mọc
chừng nào người ta chưa nhổ sạch gốc. Thế nên chỉ có
một cách để ra khỏi tình trạng không thỏa mãn thường
trực mà tham muốn ném chúng ta vào : chế ngự con cọp tâm
thức này chừng nào nó còn không biết bản tánh thật sự
của nó.
Sẽ
sai lầm khi nói rằng chúng ta không có sự điều phục tâm
thức nào, vì chúng ta đều có một hiểu biết về một quá
trình tập sự dài lâu. Thật vậy có một thế giới kinh nghiệm
giữa em bé khóc oa oa theo bản năng thuần túy và người lớn
chúng ta : người ta đã thâu hóa mọi cái cần thiết cho sự
sống của con người, rồi cuộc sống trong xã hội. Lớn lên,
người ta học tự biết chính mình ít nhiều và xử sự với
chung quanh tốt hơn. Trong một nghĩa nào, người ta đã bắt
đầu một ít huấn luyện con cọp, nhưng rất bề mặt, vì
người ta chưa thấy tận mặt nó. Bản chất hoang dã của
nó vẫn không được chế ngự, tuy nhiên người ta có thể
làm cho nó chấp nhận tạm thời, một thỏa hiệp ngấm ngầm
và giới hạn, chẳng hạn như không ăn thịt những người
trong vườn nhà chúng ta : một loại quy ước chừng mực nó
không đặt vấn đề với sự thống trị của con cọp.
Người
ta không thể hy vọng thuần dưỡng một con cọp mà không biết
khía cạnh hoang dã của bản chất nó ; như thế sẽ nguy hiểm
cũng như không hiệu quả. Sự việc như vậy cũng đúng với
chúng ta : cần phải tự thấy mình và tự chấp nhận như
mình là vậy. Tố cáo, buộc tội toàn thể thế giới là nguyên
nhân của những rắc rối khó khăn của chúng ta thì chẳng
có nghĩa gì cả : đến một lúc nào người ta phải tự nhìn
mình mặt đối mặt và đảm trách chính mình như mình thực
sự là, toàn khối, không ma mãnh chọn lựa giữ lấy cái hình
ảnh mà người ta thích thấy về chính mình và che dấu mọi
thứ còn lại. Người ta không thể ném tất cả những thứ
mình không thích vào một bao rác và dấu nó vào một góc :
cái bao sẽ đầy ứ đến độ nổ bùng. Sự dồn nén có hệ
thống không bao giờ là một giải pháp, mà ngược lại : nó
có thể thành một nguyên nhân của tâm bệnh. Phải chơi thẳng
thắn với chính mình : người ta đặt tất cả lá bài của
mình trên bàn – cái tốt và cái kém tốt, cái tốt nhất
và cái rất đáng ghét. Vâng, chắc chắn đó không phải là
những con bài lý tưởng, những con bài người ta chọn lựa
cho một ván ngon lành ; mà đấy chỉ là những cái người
ta thật sự có trong tay, và chính đối với chúng mà ta phải
chơi phần mình, dù có ra sao. Dù sao, không có ai khác làm điều
đó nơi chỗ ngồi của bạn, và chính bạn phải sống trò
chơi đó trong bàn tay.
Người
ta bắt đầu trưởng thành khi thôi tạo những ảo tưởng
và chạy theo những giấc mộng hão huyền, thôi cho những tham
muốn của mình là những thực tại. Người ta có nhận xét
đơn giản : “Tôi là thế đó ; điều này không làm tôi khoái,
nhưng đó là tất cả những gì tôi có. Tốt hơn tự xoay xở
để rút ra phần tốt nhất có thể có từ cái trò chơi khập
khiễng này.” Nếu người ta có thể tự chấp nhận mình
như người ta là vậy, người ta sẽ có thể chấp nhận mọi
cái còn lại – những người khác, thế giới, cuộc đời.
Dù sao, không có cái gì là mãi mãi lý tưởng : mỗi thời,
mỗi hoàn cảnh đều có những khó khăn của nó : tuổi nhỏ,
thiếu niên, trưởng thành và tuổi già. Vậy thì không phải
là nổi loạn với hoàn cảnh của chúng ta mà sự việc trở
nên tốt hơn : nguồn của hạnh phúc và khổ đau không nằm
ở đâu khác ngoài chính mình, người ta đã thấy điều đó.
Khi chấp nhận hoàn cảnh như nó là, người ta tác động lên
thực tế của những sự việc, thay vì bì bõm trong những
ý niệm thành kiến. Phần lớn thì người ta không thể thay
đổi gì cả những hoàn cảnh, vì chúng độc lập với ý
chí của chúng ta. Cái mà chúng ta có thể thay đổi chính là
cách phản ứng của chúng ta.
Nếu
người ta không hiểu lầm, chúng ta không đang tán dương cho
sự thụ động ! Có một sự quân bình giữa sự không hoạt
động có hệ thống và sự hoạt động cưỡng bách : sẽ
là ngu si nếu không cải thiện cái có thể làm, nhưng cũng
vô ích để hết thời gian chạy theo những điều kiện lý
tưởng của cuộc sống mà dù sao cũng chỉ hiện hữu trong
đầu óc chúng ta : danh từ “lý tưởng” chẳng phải đến
từ danh từ “ý tưởng” sao ? Ý thức rõ ràng hoàn cảnh
con người và những giới hạn của nó, người ta chấp nhận
chúng. Tiếp theo, người ta đối mặt với cái hàng ngày theo
cách tốt nhất người ta có thể mà không chờ đợi thế
giới phù hợp với những tham muốn hay những ước mong của
chúng ta. Đã biết chỗ của con cọp và ý thức bản chất
hoang dã của nó, người ta sắp học cách nuôi dạy nó.
Dù
người ta so sánh tâm thức không trưởng thành với một con
cọp hay một con ngựa hoang, như Gurdjieff ví von, thì những
nguyên tắc nuôi dạy vẫn như nhau : người dạy phải tìm
thấy chỗ ở giữa của cái quá độ bắt buộc và quyền
uy, và quá tự do, như chúng ta sẽ thấy chi tiết khi nói đến
sự phát triển chú tâm. Nhưng cũng phải yêu thương nó, biểu
lộ thiện cảm với nó, nếu không nó không để cho chúng
ta nuôi dạy. Chắc hẳn người ta biết rằng con cọp chịu
trách nhiệm về mọi vấn đề khó khăn của chúng ta, nếu
không người ta chẳng cần huấn luyện nó làm gì. Nhưng không
phải với sự cau có gắt gỏng và hiềm oán mà chúng ta nuôi
dạy nó ; phải tỏ ra thông hiểu, chấp nhận nó như nó là,
với những phẩm tính và những khuyết điểm của nó, và
tiềm năng người ta cảm thấy nơi nó. Như vậy, chúng ta biết
rằng chính tâm thức chúng ta là nguồn của tham muốn, nguyên
nhân của sự không thỏa mãn căn để và những khổ đau của
chúng ta. Điều đó không có nghĩa là người ta cảm thấy
phạm tội và tự trừng phạt mình, mà chỉ là có được
đủ sự nắm quyền trên tâm thức để không gây ra những
khổ đau cho riêng mình nữa, chứ chưa nói đến những khổ
đau của người khác. Phải tỏ ra thông cảm với chính mình.
Loại chấp nhận với tình thương này phát xuất từ lòng
bi, một trong những động cơ chính yếu của sự tiến bộ
tâm linh, như người ta sẽ thấy, và chính trước tiên với
chính mình mà người ta áp dụng lòng bi đó : sự nhân từ
có trật tự phải bắt đầu từ chính mình... Rồi nhờ kinh
nghiệm có được khi thuần hóa con cọp của mình, người
ta sẽ hiểu sự cần thiết tất yếu biểu lộ cùng một lòng
bi ấy và cùng một sự thông cảm ấy đối với những người
khác.
Sự
nuôi dạy con cọp bên trong là một công việc dài hơi mà người
ta không thể dấn mình sơ sài. Đó không phải là có một
kỹ thuật ngoại quốc, như một đồ vật đẹp người ta
để trong tủ kính, giữa những chiến lợi phẩm và những
bộ sưu tập khác. Trái lại, người ta chấp nhận ngừng sưu
tập, chơi đùa và đi quanh co để nhìn thẳng vào mắt con
cọp. Để tự nhìn mình. Người ta có thể hoàn toàn có văn
hóa và bằng cấp, và có một huyết thống tốt đẹp về
nghề nghiệp, nhưng điều đó không khỏi có lúc họ thấy
hoàn toàn không có vũ khí và bất lực đối mặt với những
vấn đề của cuộc sống cá nhân, bởi vì kiến thức và
những danh hiệu cuộc đời không ích lợi gì lắm trong việc
thuần hóa con cọp bên trong. Đó là cả một nghệ thuật,
nó đòi hỏi nhiều kiên nhẫn và kiên trì để tìm ra chỗ
con cọp, nhiều can đảm và khôn khéo để giáp mặt với nó,
nhiều sáng suốt để nhìn rõ nó và học cách nhận biết
nó. Phải luân phiên chuyển đổi cách êm dịu rồi mạnh mẽ,
theo từng lúc, nhưng luôn luôn đầy đủ sự kính trọng và
tình thương để tạo thành những mối liên hệ bạn bè với
nhau và để cho con cọp chấp nhận người dạy nó và điều
người dạy muốn làm với nó. Một ngày kia nó sẽ được
thuần hóa đến nỗi người ta sẽ tự hỏi làm thế nào mà
người ta đã có thể sợ nó như vậy...
CHƯƠNG
II
GIÁ
TRỊ CỦA ĐỜI SỐNG :
ĐỜI
NGƯỜI QUÝ GIÁ
Cũng
hiếm hoi như một ngôi sao giữa ban ngày,
Cuộc
đời làm người quý giá như vậy.
Gampopa
(Trang
Hoàng của sự Giải Thoát)
Phẩm
chất của cuộc sống là một trong những quan tâm lớn lao
của những xã hội hiện đại giàu có nhất, những xã hội
nơi đó có những ưu thế được cái bụng đầy để đòi
hỏi làm sao làm đầy nó thoải mái hơn. Để biết điều
đó chính xác là gì, đó là một chuyện khác, vì mỗi người
giải thích nó theo cách riêng. Tuy nhiên người ta rút ra cảm
tưởng chung về một ý chí muốn sống tốt hơn, lợi dụng
tốt hơn những khả tính mà đời sống ban cho. Trong ý nghĩa
đó, quan niệm “phẩm chất đời sống” đã quen thuộc với
chúng ta có thể giúp chúng ta tiếp cận với quan niệm “đời
người quý giá”, một quan niệm Phật giáo chúng ta chưa quen.
Nhưng sự giống nhau không đi xa quá : những giá trị mà người
ta theo đuổi khi nói đến phẩm chất đời sống không phải
như nhau với những giá trị ẩn dưới ý tưởng một đời
làm người là quý báu.
Khi
người ta lưu tâm đến phẩm chất đời sống, người ta mặc
nhiên nhận ra giá trị của những sự vật nào đó : giản
lược một cách thô thiển, người ta thích – và cứ mãi
– luôn luôn trẻ, đẹp, thông minh, khỏe mạnh, giàu có, được
yêu và sung sướng, trong một môi trường dễ chịu, yên lành.
Vậy thì người ta có một ý nghĩ nào đó về cái quý giá,
nhưng tiếc thay, người ta lại cho một mớ tạp nhạp là kim
cương. Hầu hết những sự vật mà chúng ta cho là đáng giá
đều phù du và dễ vỡ kinh khủng, thế mà người ta đầu
tư năng lực lớn lao cho sự theo đuổi một cái gì cũng không
thể nắm bắt như cầu vồng. Ý tưởng phẩm chất đời sống
trở thành một nguồn thất vọng thường xuyên khi người
ta biết rằng người ta không thể làm cho nó vững bền. Thế
mà người ta để suốt cả cuộc đời mình mong đạt đến
đó.
Đấy
rõ ràng là một cách nhìn vào hiện hữu, nhưng nó giới hạn
đáng kể tiềm năng của chúng ta. Tổng quát nếu mọi nỗ
lực của một cuộc đời chỉ dùng để sống tiện nghi càng
nhiều càng tốt, người ta cũng không hơn gì một con côn trùng
hay một con thú. Đời sống như vậy bị hạ giá, so với những
khả tính mà cuộc đời một người đàn ông hay đàn bà mang
lại. Một con người có thể rút được phần tốt nhất của
sự hiện hữu của nó, về phương diện phát triển cá nhân
cũng như sự đóng góp cho sự phát triển của nhân loại.
Đó không phải là một phẩm chất giả thiết đem lại giá
trị cho đời người, đó là tiềm năng kinh khủng mà đời
người mang giữ. Mỗi người chúng ta giàu có những tài năng
và phẩm chất và chính khi phát triển tốt nhất những khả
tính của chúng mà người ta tìm thấy hạnh phúc và đóng
góp tốt nhất vào hạnh phúc của người khác. Chỉ một người
thành tựu chính mình, những lợi lạc từ người đó tuôn
trào trên tất cả những người khác. Vả lại, người ấy
càng không chấp thủ và vị tha trong đường tiến của mình,
thì càng có nhiều người hưởng lợi lạc từ những kết
quả trong nỗ lực của người đó. Không phải ngẫu nhiên
mà cuộc đời và những lời dạy của Phật, của Chúa hay
của Tiên Tri Mahomet đã gây cảm hứng, đã hướng dẫn và
giúp đỡ bao nhiêu người qua các thời đại. Ngoài lĩnh vực
tâm linh, những con người như khoa học như Pasteur hay Edison
cũng có một đóng góp rất giá trị cho nhân loại. Nếu mọi
người không hẳn được kêu gọi đến một số phận như
vậy, thì mỗi người vẫn có thể nỗ lực để phát triển
tốt nhất tiềm năng của mình, để tự thực hiện theo bản
chất của mình. Tốt đẹp biết bao nhiêu khi đạt được
một sự làm chủ tâm thức đủ để không còn là nguyên nhân
cho những khổ đau của riêng mình và của những người khác.
Và một khi người ta đã học cách thu xếp những vấn đề
của mình, người ta có thể thật sự giúp đỡ những người
khác thoát khỏi những vấn đề của họ.
Chính
khi nuôi dạy con cọp bên trong mà người ta có thể biến đời
người thành cái gì thật sự quý báu. Chắc chắn chúng ta
tự do không sử dụng tiềm năng này và cứ ngoan cố chạy
theo mống cầu vồng ; người ta sẽ giống như một người
ăn xin đói rách chìa tay xin trong khi ngồi ngay trên một đống
vàng. Ngược lại, người ta kiếm được tất cả khi điều
phục tâm thức : người ta sẽ tìm thấy trong đó một phẩm
chất bình an bên trong nó sẽ chuyển hóa một cách hạnh phúc
cuộc đời và những mối tương quan của người ta với những
người khác. Bình thường, nếu có ai nổi giận với ta, ta
có khuynh hướng làm cùng một việc như vậy. Nhưng khi người
ta dấn thân vào việc điều phục con cọp, người ta không
để cho con cọp đó tức thời chụp lấy cổ của người
khác nữa, dầu chính y đã tấn công chúng ta. Người ta có
sự nhẫn nhục không phản ứng một cách bản năng và biết
tình trạng rối rắm của người kia đang tệ hại khi không
chế ngự nổi mình. Khi hiểu rõ, người ta thậm chí có thể
biểu lộ một sự bi mẫn nào đó đối với kẻ rõ ràng đang
còn rất khốn khổ trong những vấn đề khó khăn của y, và
như vậy rất bất hạnh so với chúng ta, những người bắt
đầu – và rất dịu dàng – thấy mọi việc rõ ra.
Nếu
toàn bộ đời người là có giá trị, thì người ta càng biết
rút lợi lạc từ đó, nó càng có giá trị hơn. Rất tốt
nếu có thể tự đảm đương một mình, không là gánh nặng
cho những người khác. Nhưng đời sống có thể mở ra một
chiều hướng khác khi người ta quyết định thay vì tự giới
hạn trong việc gỡ rối cho chính mình, người ta thử giúp
đỡ những người khác thoát khỏi rối rắm của họ. Một
cuộc đời như thế quả thực là quý báu vì nó phụng sự
cho số lượng đông người, không chỉ cho một cá nhân. Và
người ta càng biết dùng đời mình, nó càng phong phú giàu
có và có giá trị. Đấy cũng giống như bình điện của một
chiếc xe hơi càng được sạc điện khi người ta lái xe nhiều,
và sẽ không hữu dụng nếu xe luôn luôn ở trong ga-ra. Người
ta chẳng mất gì khi rút được lợi lạc lớn nhất từ cuộc
đời mình, trái lại người ta càng ngày càng trích chiết
được sức mạnh từ nó.
Có
lẽ người ta đặt ra câu hỏi là khi vị tha, người ta có
bỏ quên an vui lợi lạc của mình không. Chúng ta hãy rõ ràng
điều đó : có một lý tưởng vì người khác không có nghĩa
là chểnh mãng sự chăm lo cho chính mình. Không phải vì cớ
giúp đỡ những người khác mà phải thôi ăn mặc đúng cách,
lơ là hình thức bên ngoài hay sức khỏe mình ; như thế người
ta chỉ làm cho những người lân cận báo động và lo âu –
một cách giúp đỡ họ thật buồn cười... Không cần phải
hy sinh và hành hạ mình để làm những điều tốt đẹp cho
những người khác. Một khi người ta có thể tự đảm đương
một cách đúng đắn, người ta có thể dùng những sức mạnh,
tài năng, và những tài nguyên bản thân để phục vụ cho
người khác, để giúp đỡ họ bằng sự tốt đẹp nhất
của mình, không ưu đãi cho ai, không loại trừ ai. Chắc chắn
người ta không cảm thấy tức khắc một tình cảm về lòng
bi trùm khắp vũ trụ, nhưng người ta có thể thử vươn đến
đó. Trong giả thiết tệ nhất, điều đó sẽ giúp ta ít nhất
là không rơi vào sự trói buộc của thói ích kỷ.
Để
làm cho đời mình thành “quý báu”, người ta không cần
trở nên một người tử đạo ; chỉ cần biết quan tâm đến
cái gì khác với con người nhỏ bé của mình. Người ta có
thể lợi lạc từ cuộc đời ; đơn giản, người ta sẽ tránh
dấn mình vào những lạc thú có thể đe dọa sự toàn vẹn
cơ thể hay đạo đức của mình, hay sự toàn vẹn của những
người khác, như ma túy, hút thuốc hay uống nhiều rượu.
Cũng
xứng đáng chịu khó suy nghĩ một lát về giá trị của đời
người, người ta không luôn luôn thấy rõ giá trị đó bởi
vì người ta đánh giá thấp sự hiếm có của nó. Có lẽ
hơi lạ lùng khi nói đến sự hiếm có trong khi thế giới
có hơn ba tỷ người ! Phải hiểu sự hiếm có đó theo nghĩa
tương đối : con số người trên hành tinh này hoàn toàn là
thiểu số so với số lượng thú vật và côn trùng ở khắp
mọi nơi. Chỉ cần nhớ đến những con nòng nọc lúc nhúc
trong một cái ao nhỏ, hay những đám mây muỗi trong bầu trời
mùa hạ là hết nghi ngờ về điều này. Con người thuộc
về một thiểu số trên hành tinh này, và hơn nữa, một thiểu
số được đặc ân : khác với loài có lông, nó không hoàn
toàn nằm dưới sự thống trị của một quyết định luận
sinh học hay môi trường. Nó được phúc bẩm một khả năng
suy nghĩ và một ý chí tự do cho phép chọn lựa : chẳng hạn
quan niệm cuộc đời nó khác với một lịch sử đơn giản
của sự thỏa mãn những nhu cầu và sản sinh loài giống.
Đời người là hiếm hoi ở nhiều mặt : trong liên hệ với
những hình thức sống khác trên hành tinh chúng ta, và trong
tương quan với mức độ tự do cho cá nhân chọn lựa cách
sống mình thích. Đó là cái làm cho đời người có giá trị
riêng biệt. Nhưng nó trở nên thật sự “quý báu” khi có
một ai đó quyết định thực hiện tiềm năng con người của
nó, điều mà trong tương quan với toàn thể nhân loại còn
lại, cũng hiếm hoi như thấy một ngôi sao giữa ban ngày. Theo
sự phán đoán này, người ta chắc chắn sẽ đánh giá cao
sự may mắn của cuộc đời làm người và người ta cảm
thấy được động viên hơn để thực hiện tiềm năng của
nó.
Thật
vô ích khi điên cuồng lên nếu người ta có cảm tưởng rằng
đời họ chẳng đáng gì trong lúc này và những cứu cánh
của nó không có gì rõ ràng. Những khó khăn và khổ nhọc
trong đó người ta đang vùng vẫy hiện giờ không nên làm
cho chúng ta quên cái tiềm năng mà người ta đang mang trong
bản thân mình, bởi vì chính từ đó người ta sẽ tìm thấy
những phương cách để giải quyết những vấn đề của họ
và đem đến sự đóng góp, dù khiêm tốn, vào thế giới người
ta đang sống. Phẩm chất thì quan trọng hơn số lượng. Chẳng
hạn, sự tốt đẹp mà người ta có thể làm không tùy thuộc
duy chỉ vào số tiền được đưa vào : có thể thực hiện
những việc lớn lao với rất ít tiền bạc, khi người ta
biết dấn thân với tấm lòng và sự thông minh, như công việc
kiểu mẫu của mẹ Teresa hay của tu viện trưởng Pierre, trong
khi người ta vẫn thấy luôn luôn có hàng triệu đô la được
đầu tư vào những công trình đem lại sự sai lầm hơn là
điều tốt đẹp. Vậy chớ để cho mình nản lòng khi có cảm
tưởng mình chẳng có gì lớn lao để dâng tặng cho thế giới
; điều đó sẽ trở thành một nguyên cớ cho sự ù lì bất
động, trong khi một việc nhỏ mà người ta làm với tấm
lòng và sự thông minh sẽ đem đến những kết quả tốt.
Một
khi người ta hiểu rõ giá trị của cuộc đời mình, người
ta không phải chờ đợi những điều kiện giả thiết lý
tưởng hội tụ đầy đủ để làm một cái gì đó. Cuộc
đời và phẩm chất của nó tùy thuộc vào chúng ta, và chính
bây giờ mà điều đó xảy ra, trong cuộc sống hàng ngày :
trong tàu điện, trong văn phòng, trong bếp, trong một phòng
nhỏ tu viện, ở bệnh viện hay trong tù. Mọi người đều
có cái gì để cho ; hãy dừng lại để tìm thấy đó là cái
gì và làm thế nào để thực hiện – một trong những cứu
cánh của việc nuôi dạy con cọp.
CHƯƠNG
III
CHỈ
MỘT CÁI THƯỜNG HẰNG :
SỰ
VÔ THƯỜNG
Như
những vì sao, sương mù và ngọn lửa,
Những
ảo ảnh, hạt sương và bong bóng nước,
Như
những giấc mộng, tia chớp và những đám mây,
Những
hiện tượng hợp tạo như vậy, và tôi học nhìn thấy chúng
như vậy.
Lời
cầu nguyện của truyền thống Kagyupa
Tỉnh
thức về vô thường, về sự mong manh nội tại của mọi
vật, là một giai đoạn cần thiết của sự phát triển của
chúng ta. Nếu người ta lơ là với sự thực này, người ta
sẽ chỉ làm chậm sự tiến hóa cá nhân của mình, dù cho
người ta có biết tiềm năng của trí huệ người ta đang
mang trong bản thân. Thế nên trước tiên phải tìm hiểu vô
thường này là gì, để học đối mặt với sự hợp tạo
không thể tránh được của đời sống và tiếp theo áp dụng
một cách có ích sự hiểu biết này vào cuộc sống hàng ngày.
Vô
thường là một hiện tượng phổ quát tác động lên mọi
mặt của hiện hữu. Người ta có thể chẳng hạn xem xét
những hậu quả của nó trong môi trường vật chất của chúng
ta – tất cả những cái là đối tượng của tri giác chúng
ta. Mỗi năm mỗi mùa liên tục nối tiếp nhau, mỗi mùa có
những thay đổi đặc trưng : sự chuyển đổi của nhiệt
độ, dài ngắn của ngày đêm, phong cảnh thiên nhiên. Những
thay đổi ấy không thể tránh, dù có thích mùa hè, cái lạnh
mùa đông cũng tới. Không ích gì mơ mộng cái không thể.
Tốt hơn là thử nếm hương vị và vẻ kiều diễm của mỗi
mùa. Và chu kỳ cứ thế lại bắt đầu. Vô thường hoạt
động khắp nơi, vì tất cả thay đổi không ngừng nghỉ một
khoảnh khắc. Đối với người biết nhận ra nó, thậm chí
có một vẻ đẹp vĩ đại trong sự biến chuyển thường hằng
này.
Sự
chuyển biến cũng cảm thấy trong cuộc đời chúng ta. Giàu
hôm nay có thể chuyển sang nghèo ngày mai và ngược lại. Người
ta mất việc làm, rồi kiếm lại chỗ khác, chủ rồi thợ,
thợ rồi chủ. Không có cái gì bất động.
Đời
sống bên trong và những tình cảm của chúng ta cũng không
thoát khỏi những cơ chế của vô thường. Tính khí chúng
ta thay đổi không ngừng từ sáng đến tối ; có những sự
việc người ta thích thú nhiều, những cái khác người ta
e ngại, những cái khác người ta thản nhiên. Nhưng cách gì
đi nữa, trạng thái tâm thức chúng ta bập bềnh xao động
với điều xảy ra quanh chúng ta. Chẳng hạn chỉ cần gặp
một người bạn xa cách nhiều năm, thế là có niềm vui. Rồi
phút tiếp theo, thấy một người mình ghét đi đến, điều
đó đủ làm chúng ta đảo ngược hẳn lại. Để biết tâm
thức chúng ta hiện giờ giống cái gì, chúng ta hãy tưởng
tượng một con khỉ bị nhốt trong một căn nhà trống, nó
không ngừng nhảy nhót mọi phía và chạy đến hết cửa sổ
này đến cửa sổ nọ để xem cái gì xảy ra ngoài kia. Như
con khỉ, những xúc tình của chúng ta không ngừng cử động,
không ngừng ném chúng ta từ những đỉnh cao xuống những
vực sâu và ngược lại.
Không
có gì thường hằng. Người ta sinh ra, lớn lên, đến trường,
làm việc, già đi và sớm hay muộn cũng chấm dứt bằng cái
chết. Vài ba vòng nhỏ rồi đi mất. Cuộc đời trốn thoát
từng khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác mà người ta
chẳng làm gì được. Và khi cái chết đến : phải từ bỏ
tất cả : gia đình, bè bạn, tài sản, những sự vật người
ta giữ. Một số người kinh hoàng, hay tuyệt vọng khi chỉ
nghĩ đến nó, và thế nên văn hóa Tây phương cố công giãy
dụa để thoát hiểm khỏi câu hỏi căn bản này, lấy cớ
rằng nói đến nó là một việc bệnh hoạn. Đó hầu như
một điều húy kỵ, đến nỗi cả danh từ cái chết thường
được ngụy trang : người ta thích nói “người ấy đã từ
bỏ chúng ta” hơn là “nó đã chết”. Một phản ứng tự
vệ vừa tức cười vừa vô ích, bởi vì nó tuyệt đối chẳng
thay đổi được gì trước vô thường. Tốt hơn là nhìn những
sự việc ngay thẳng mặt : tiến trình biến dịch là không
tránh khỏi, chúng ta hãy lợi dụng nó để rút ra cái tốt
nhất có thể từ những năm còn lại, không làm con đà điểu
vùi đầu vào cát và sống như người ta có cả vĩnh cửu
trước mặt mình. Ai lại không cảm thấy sự mãnh liệt mà
người ta đang sống từng khoảnh khắc vào giờ phút chia tay
hay một cuộc ra đi gấp rút : lúc đó người ta ý thức mạnh
mẽ thời gian được tính như thế nào, và thường vào lúc
đó người ta nói với nhau hay làm những điều mà một cách
vô thức hay không, người ta luôn luôn muốn kéo dài. Đó là
giờ của sự thật – sự biểu lộ là đúng lúc ; chỉ còn
ít thời gian để cuối cùng người ta đến cái chính yếu,
đến cái tuyệt đối không thể cho qua trước khi rời xa.
Không làm cho tình thế nặng nề hay khó nhọc, tình cảm khẩn
cấp này, nó thật ra chỉ là một ý thức tức thời và sắc
bén về vô thường, đã cho một cường độ, một sự thật
và một sự giàu có bất ngờ vào tình huống. Sự cảm nhận
tính vô thường, tính cách độc nhất của khoảnh khắc người
ta đang sống, làm mạnh thêm tri giác về cái gì đang trôi
qua và chuyển biến những sự vật tầm thường nhất. Đó
cũng như luôn luôn là lần đầu tiên, đồng thời là lần
cuối cùng. Hãy tưởng tượng rằng bạn biết rằng tất cả
những cây cối trên trái đất sẽ chết hết trong một tháng
hay vài tuần. Ngay khi nghe tin này, bạn sẽ nhìn những cái
cây với một con mắt mới ; thình lình cái bóng màu lục mơ
hồ này mà thói quen khiến bạn thu vào một cách tự động
hầu như vô thức sẽ tự rõ nét một cách phi thường. Bạn
sẽ thấy cây dầu ở góc đường, hay cây ổi trong vườn
bạn như bạn chưa từng bao giờ thấy nó : bạn sẽ tri giác
sự hòa điệu tổng thể của nó, hình dáng những chiếc lá,
cách dệt của vỏ, kiến trúc của thân và những cành, tiếng
xào xạc của lá, sự hiện diện nhẹ nhàng, bóng mát, những
con chim nhỏ trú ngụ ở đó. Không gây sợ hãi, ý thức về
sự phù du, sự mong manh của sự vật và con người làm cho
bạn cảm kích hơn và gợi ra sự kính trọng, tình thương,
lòng bi mẫn. Biết bao đôi cặp thường cãi nhau không thể
khuây nguôi khi cái chết hay sự rời xa của một người khiến
họ cảm thấu được chiều sâu của một tình cảm mà họ
đã thường lơ là không trau dồi, bởi vì họ đã sống như
thể họ có cả vĩnh cửu trước mặt. Khi người ta chết,
tất cả mọi người đồng thuận chỉ thấy những phẩm chất
của người ấy, dù họ không ngừng bị chỉ trích khi còn
sống. Tán dương họ và thương yêu họ khi họ còn đó không
tốt hơn là cái tên sau khi chết sao ? Hiểu vô thường có
thể giúp chúng ta việc đó. Không chán nản và làm mình bệnh
hoạn, trái lại nó gây cảm hứng cho chúng ta sống trọn vẹn
hơn và giúp đỡ tất cả những bạn đồng hành mong manh này
trên trái đất làm được như vậy.
Thời
đại chúng ta khao khát sự rỗi rãnh, thường xem đó là cơ
hội tốt nhất để thỏa mãn sự tham muốn. Trong khi người
ta tràn ứ sự rỗi rãnh – ít nhiều thỏa mãn – người
ta để con người bên trong mình chết đói. Người ta thích
thú với tất cả ngoại trừ có một sự làm chủ nào đối
với tâm thức của họ, cái sức mạnh man dã này – bao giờ
mà sức mạnh đó chưa tự biết chính nó – tuy nhiên chính
nó là động cơ của mọi kinh nghiệm của chúng ta. Và nếu
người ta có nghĩ đến, người ta hỗn nó đến vô hạn định.
Rõ ràng tất cả chúng ta đều cần thư giãn và vui chơi một
ít, nhưng điều đó không phải là người ta phải lưu tâm
đến mọi cái phóng dật. Ý thức vô thường có thể cho đời
sống vị muối ; người ta sẽ muốn lợi dụng tối đa thời
gian của mình và dùng nó theo cách tốt nhất, thay vì để
nó trôi qua một cách ngu xuẩn, không biết đến giá trị của
nó.
Ý
nghĩa thật sự của vô thường luôn luôn bị hiểu sai. Một
số người thử giải thích nó có hơi hư vô chủ nghĩa : vì
mọi sự thế nào cũng qua đi, thì không có gì quan trọng cả.
Ích gì mà làm việc và theo một nghề nghiệp ; không tốt
hơn là buông bỏ hết cả sao ? Đó là một thí dụ hoàn hảo
của việc bẻ quặt một chân lý căn bản để biến nó thành
một cớ cho sự biếng, nhác, để tránh phải đương đầu
với những thực tế của đời sống. Nếu người ta phải
đi giặt và người ta tự nhủ : “Hơi đâu, biết đâu ngày
mai tôi chết”, người ta chắc chắn sẽ tiến bộ nhiều
trên con đường lười biếng, mà chẳng bao nhiêu trên con đường
trí huệ. Ý thức về vô thường không có nghĩa là bỏ công
việc làm hay việc học hành của mình ; chỉ đơn giản là
nhận thấy những sự kiện, biết rằng tất cả là sự biến
dịch mãi mãi.
Nghe
nói đến vô thường không phải là một lý do để sợ hãi
hay có những phản ứng thái quá ; sự hiểu biết này trái
lại phải được dùng để làm cho cuộc đời chúng ta có
giá trị. Người ta có thể quan sát rõ ràng tình trạng biến
dịch thường hằng của đời sống, mà vẫn tiếp tục thương
yêu đời sống và hân thưởng nó.
Vô
thường không phải luôn luôn là một tin tức xấu, nó cũng
có mặt tốt : nếu hạnh phúc không tồn tại mãi, thì sự
bất hạnh cũng không vĩnh cửu. Khi hết hạnh phúc, người
ta bất hạnh ; và người ta trở nên hạnh phúc khi hết bất
hạnh. Đi từ trạng thái này qua trạng thái kia xảy ra tự
nhiên. Không phải hãm lại sự chuyển động và biết nắm
lấy những sự vật như chúng đến, chấp nhận chúng như
vậy, dù cho những xúc tình chúng khơi dậy nơi chúng ta. Mỗi
khoảnh khắc của đời sống là độc nhất vô nhị và không
bao giờ trở lại nữa, và người ta có thể làm giàu lớn
lao kinh nghiệm sống của mình bằng cách không lẩn trốn bất
cứ phần nhỏ nào của kinh nghiệm. Một số thì khó nhọc,
số khác dễ chịu, nhưng mỗi cái có kết cấu và màu sắc
riêng của nó, và người ta sẽ được nhiều khi không lẩn
tránh chúng.
Đã
rõ bản chất vô thường của tất cả mọi hiện tượng,
trong và ngoài chúng ta, người ta thôi gán cho chúng một hiện
hữu vững chắc. Người ta càng làm cho ý tưởng mà người
ta tự tạo trên những sự vật vững chắc bao nhiêu, người
ta càng khổ đau bấy nhiêu khi chúng thay đổi, vì chúng tất
yếu phải thay đổi. Nếu người ta có những ý tưởng chấp
cứng, người ta sẽ có khuynh hướng có những tham muốn và
ghét bỏ rõ ràng và mạnh mẽ và chọn lựa những kinh nghiệm
của mình theo những ý tưởng thành kiến, nắm lấy cái làm
mình ưa thích và chối bỏ cái còn lại. Nhất là người ta
sẽ từ chối rằng những sự vật biến đổi và người ta
cố chống lại điều đó. Hoàn toàn thất bại, rõ ràng thôi.
Nhưng khi người ta bị nhốt kín trong một thái độ ngưng
đọng như vậy, chính những phiền não sẽ dẫn dắt người
ta : cứ không ngừng đi từ cực này sang một cực khác, và
người ta tự làm cho mình bất ổn và mất sự quân bình bên
trong. Từ đó là sự quan trọng của việc học bớt bám níu
– vào những sự vật, những con người và điều người
ta làm – bằng cách chấp nhận sự thật của vô thường.
Bao giờ nó cũng hiện hữu, dù người ta muốn hay không, thì
tốt hơn là bơi theo dòng chảy : người ta sẽ có lợi từ
sức mạnh đẩy tới của nước, thay vì vật lộn với nó.
Tất
cả chúng ta đều có khuynh hướng nghĩ rằng người ta nên
kiếm lợi từ cuộc đời và từ những tham muốn của mình,
và rồi người ta sẽ có nhiều thời gian để suy nghĩ sau
này. Thời gian trôi đi, tâm thức chúng ta không chế ngự được
tiếp tục xỏ mũi dắt chúng ta đi và người ta lại hỏi
tại sao người ta khổ. Trong thời đó, mặt trái nợ nần
đi theo và không có gì bảo đảm cho chúng ta rằng ngày mai
sẽ tốt đẹp khi người ta trì hỗn tất cả cái gì làm cho
người ta phiền muộn. Dù sao đó là một tính toán tệ hại
: người ta không lập tức lo toan cho tâm thức mình, lấy cớ
rằng người ta muốn không bỏ qua thời vận tốt và lợi
dụng cuộc đời. Vậy mà chính tình trạng hoang dã của tâm
thức chúng ta ngăn cản chúng ta thật sự lợi dụng được
đời sống và nó làm chúng ta phí phạm đời sống vì những
trò điên cuồng không kiểm soát được của nó và những
thiệt hại mà các trò đó gây ra. Chẳng phải là do sự tính
toán kiểu khoái lạc chủ nghĩa này, người ta thích học thuần
dưỡng con cọp của mình càng nhanh càng tốt sao ? Chúng ta
hãy biết nắm lấy ân sủng khi nó đến : điều này không
có nghĩa là người ta luôn luôn có cơ hội hay khả năng từ
đó.
Một
tri giác lành mạnh về vô thường có lẽ là món quà tốt
nhất mà người ta có thể làm cho chính mình : trong ngắn hạn
để đánh giá tốt hơn những mặt tốt đẹp của hoàn cảnh
hiện thời của mình, không quá bám níu, và để xem những
mặt xấu với nhiều triết lý hơn, thậm chí những sự việc
xấu nhất cũng có một cứu cánh. Về dài hạn, để không
chậm trễ với cái không thiết yếu và đi trực tiếp đến
cội nguồn của những sự vật bằng cách thuần hóa con cọp
bên trong của mình. Như thế người ta thường có được nhiều
khi đối mặt với một số sự thật thanh tẩy cho mình...
CHƯƠNG
IV
SỐNG
ĐỂ CHO CÁI GÌ ?
“ĐỘNG
CƠ CHÂN CHÁNH”
Mong
rằng tất cả chúng sanh được hạnh phúc và tìm thấy những
nguyên nhân của hạnh phúc,
Được
miễn khỏi khổ đau và nguyên nhân của khổ đau,
Rằng
không ai thiếu hạnh phúc chân thật – mọi khổ đau dứt
bặt,
Và
họ luôn luôn cảm nghiệm sự bình đẳng vĩ đại không biết
luyến ái những người thân, không ghét bỏ những người
khác.
Bốn
Đức Hạnh Vô Lượng
Bài
kệ này dùng làm lời cầu nguyện và tham thiền, xác định
thái độ thích hợp khi người ta muốn dấn thân vào con đường
hiểu biết bản tánh thật sự của sự vật. Nếu hình thức
của nó hơi khó hiểu, nhưng thông điệp của nó hoàn toàn
rõ ràng và giản dị. Mỗi chúng ta vốn có trong mình tinh túy
của sự toàn thiện – cái tột bực của trí huệ và tình
thương này có thể gọi là “Phật tánh”, “tâm giác ngộ”,
hay Chúa Trời bên trong theo quan điểm Thiên Chúa giáo – nhưng
chúng ta không biết nó. Chính sự không biết này, cái vô minh
này – sự không nhìn ra bản tánh thiết yếu của tâm thức
và thực tại – làm cho những tư tưởng, những lời nói,
và những hành vi của chúng ta rất thường trái nghịch với
thật tánh bên trong của chúng ta và tạo thành một loại sương
mù càng lúc càng che mờ nó và ngăn cản nó được tri giác.
Vậy thì có một sự tiến hành phải làm để đi từ trạng
thái tâm thức hiện thời của chúng ta đến trạng thái “giác
ngộ” – sự nhận biết thật tánh của mọi sự. Cuộc du
hành có thể dài, có lẽ với một số người hơn là với
những người khác, nhưng cái chính yếu là thật sự có những
phương tiện cho phép thành tựu một cách trọn vẹn cái tiềm
năng của một đời người. Lời cầu nguyện trích ra ở đây
chỉ cho chúng ta vừa mục đích của cuộc du hành – trạng
thái tâm thức người ta tìm cách trau dồi – và hành trình
của nó – những phương tiện để dùng.
Trong
thuật ngữ Phật giáo, có một “động cơ đúng” cốt ở
mong muốn hạnh phúc và sự tốt đẹp cho tất cả, mong muốn
họ tìm thấy bình an và thoát khỏi những nguyên nhân của
khổ đau. Đó là một tham vọng cao cả, một nguồn cảm hứng
trong những giờ phút tốt đẹp cũng như xấu số. Chắc chắn
lời cầu nguyện này nhắm rất cao, nhưng có lợi khi định
nghĩa rõ ràng, ngay từ bước khởi hành, những mục tiêu sẽ
còn giá trị và phù hợp với mỗi giai đoạn của cuộc du
hành.
Bây
giờ có nhiều người quan tâm đến thiền định, nhưng thường
vì những động cơ tò mò. Phần còn lại của nhân loại có
thể đang sống trong lửa và máu hay chết vì đói, như người
bên cạnh của họ đang chết vì cô đơn, họ không cảm thấy
quan tâm. Tất cả cái mà họ chờ đợi từ thiền định là
một phương tiện để vinh danh hơn cho bản ngã của họ :
họ muốn trở thành những người có thiên nhãn, xuất hồn
đi du hành, có mọi loại thần lực siêu nhiên. Tổng kết
: cái ta mập ù ra một cách êm ả trong khi tấm lòng héo úa.
Còn về phần trí huệ thì... Sự phát triển cá nhân và tâm
linh không cốt tạo ra những kinh nghiệm dị thường, mà ở
chỗ học tâm thức mình vận hành như thế nào và ở quan
tâm nhiều hơn đến những người khác. Nếu đôi khi người
ta có vài kinh nghiệm đến với mình, thì chúng không đáng
để người ta lần lựa, chậm trễ với chúng, trong mức độ
chúng chỉ là một sự sa ngã của những kỹ thuật điều
tâm thức mà không phải là một mục đích tự thân – chưa
nói đến chướng ngại trầm trọng mà chúng có thể tạo
ra nếu người ta bám luyến quá nhiều vào chúng.
Một
ý tưởng sai lầm khác là thấy trong thiền định một phương
tiện, hay một sự biện minh để tự cắt đứt với phần
còn lại của xã hội. Một thái độ như vậy cho thấy có
cái gì khập khiễng trong động cơ : người ta tìm cách sử
dụng thiền định để duy trì và củng cố sự căm hờn của
họ đối với xã hội.
Nếu
hạnh phúc là một trạng thái thường hằng và người ta không
bao giờ cảm nghiệm những khó khăn hay khổ đau, có lẽ người
ta không cần tiến bộ về tâm linh. Thực ra, những vấn đề
và những khó nhọc người ta chạm mặt hết ngày này qua ngày
khác là hậu quả của vô minh chúng ta về những cơ cấu vận
hành của tâm thức và về bản tánh của nó. Chính vì thế
người ta cần một con đường, một hành trình, và trong nhận
định này mà chúng ta phải phát động lực dấn thân vào
chiều hướng này.
Hiếm
khi người ta hành động mà không có động cơ : chính sự
phát động của chúng ta thúc đẩy chúng ta hành động. Nếu
trời lạnh, người ta đốt lửa để sưởi ấm, rõ ràng người
ta không khó nhọc như vậy nếu người ta không lạnh. Trong
chiều hướng này, người muốn tìm ra một công việc tốt
sẽ không ngần ngại theo đuổi một sự huấn luyện lâu dài
và khó khăn để đạt được. Và cũng như thế trong mọi
lĩnh vực : trước hết phải cảm thấy có động lực để
có ý định hành động và để sẵn sàng nỗ lực. Điều
này cũng đúng với với thiền định. Phải được phát động
một cách nghiêm túc để phóng mình vào một công việc đòi
hỏi nỗ lực khổng lồ về phần mình : phải có một lý
do thật sự xứng đáng với khó nhọc. Đó là trường hợp
mà chúng ta trù định ở đây : người ta sẽ không tự giới
hạn vào một dự định cá nhân, mà thấy những sự việc
lớn lao hơn. Vào cuộc chơi, người ta hiến mình trong mục
tiêu chính là giúp đỡ những người khác : người ta muốn
chế ngự con cọp bên trong, không chỉ để tự sống tốt
hơn, mà cũng bởi vì một khi người ta làm chủ tốt hơn tâm
thức mình, người ta sẽ có thể thật sự ích lợi cho những
người khác – giúp đỡ theo nhu cầu đích thực của họ
mà không phải theo những phóng tưởng ích kỷ của chúng ta.
Người ta đặt thanh ngang rất cao, nhưng tốt hơn luôn luôn
nhắm cao hơn một chút, phải tính đến sự yếu sức của
chúng ta. Một khi mục tiêu này được xác định rõ ràng và
được chấp nhận, nó sẽ định hướng tất cả cuộc đời
chúng ta, hơi giống như một từ trường tổ chức, sắp xếp
những yếu tố phân biệt thành một toàn thể cố kết. Một
ý tưởng như vậy sẽ thổi sức mạnh của nó vào tất cả
những gì người ta sắp suy nghĩ, nói hay làm. Chỉ giữ trong
tâm ý định ban đầu cũng đủ để cho những lo toan bận
rộn nhỏ nhất hàng ngày của chúng ta góp phần hòa vào mục
tiêu của chúng ta. Khi động cơ này rất mạnh, biên giới
giữa cái thường tục và cái thiêng liêng tan biến và không
còn sự phân tán năng lực nữa : dù người ta làm việc, chăm
sóc con cái hay thiền định, từ nay tất cả đều góp phần
vào sự thực hiện mục đích của chúng ta.
Người
ta có thể cảm thấy những lý tưởng vừa được gợi ra
đó là hơi vượt cao : “Ích gì khi thử rút cái gì đó từ
tâm thức mình ? Làm sao tôi sẽ có thể hy vọng thay đổi
khi tôi có tham và sân chốt cứng trong thân ?” Trái lại,
đó là lý do hơn nữa để triệt để tận cùng. Nếu người
ta có thể nhìn thấy những sự vật theo cách trong sáng và
tích cực, mở mình ra với những người khác và luôn luôn
hành động trong ích lợi của họ, người ta sẽ ở trong trạng
thái đại bi tự nhiên vốn có và người ta không cần tập
sự. Khi một thái độ như vậy chưa là tự phát, phải làm
việc trên động cơ của nó, động cơ này là nền tảng cần
thiết của nó. Người có thái độ tự lo cho mình trước
hết thì không luôn luôn tự nhiên nghĩ đến những người
khác. Vậy thì một phản xạ cần phải được giáo dục và
nuôi dưỡng, dầu cho ban đầu nó có vẻ hơi giả tạo. Khác
đi, ích gì nói đến lòng bi nếu ít ra người ta không có
ý muốn giúp đỡ những người khác ? Chính điểm khởi hành
cần thiết này mà người ta nói là “động cơ đúng” :
có ý định giúp đỡ những người khác, không phải chỉ
những người mà ta yêu mến.
Vào
lúc này, chắc chắn có một điều làm chúng ta lưu ý : thoát
khỏi những khổ đau riêng của chúng ta – một tình cảm
rất tự nhiên. Vả lại người ta có thể đến đó không
cần thiền định, ít ra với danh nghĩa tạm thời. Nhưng ở
đây chúng ta nói tới một tham vọng lớn lao hơn rất nhiều
: thay vì chỉ lo cho những tham muốn riêng của chúng ta, sự
an vui hạnh phúc cá nhân của chúng ta, không lưu tâm gì đến
cái có thể xảy ra cho những người khác, người ta sắp tìm
cách khai triển nơi bản thân một tình cảm đích thực của
sự nhân từ và bi mẫn đối với tất cả mọi người. Người
ta sẽ thử trau dồi nuôi dưỡng thái độ tích cực này bằng
mọi phương tiện và trong mọi cơ hội, và vẫn chú ý “không
bước nhanh quá trước âm nhạc”. Mỗi sự có lúc của nó
: một khi có thể có một thái độ tích cực hơn đối với
chính mình, người ta sẽ có thể trải rộng ra đến những
người thân cận, rồi dần dần càng lúc càng đến những
người khác.
Tất
cả tiến bộ tâm thức thật ra bắt đầu bằng một công
việc trên chính mình, và quan trọng phải biết công việc
đó. Trước tiên phải học tập trở nên tự chủ, tự đảm
đương chính mình để không là gánh nặng cho những người
khác. Những trách nhiệm và những khó khăn của họ sẽ nhẹ
bớt bao nhiêu, và họ sẽ có một không gian nào đó của tự
do cho chính họ. Dù sao, không ích gì khi đặt cái cày trước
con trâu : người ta có thể làm nhiều cái xấu hơn cái tốt
khi tìm cách giúp đỡ một ai trước khi đã hiểu biết một
ít người ta tự vận hành mình như thế nào – một người
mù dẫn dắt một người mù khác. Đó là cái người ta gọi
là lòng bi trói buộc, giới hạn, nó không được nuôi dưỡng
bởi trí huệ. Rõ ràng phải biết bơi để có thể cứu người
sắp chết đuối, còn không thì tai hại cho cả hai. Cũng thế,
người ta chỉ có thể giúp đỡ thật sự những người khác
– hơn những việc phục vụ nhỏ nhặt đơn giản hàng ngày
– khi người ta đã thuần hóa tâm thức mình và biết quản
lý khổ đau cũng như hạnh phúc.
Cũng
phải biết tỏ ra một cảm thức lành mạnh nào đó để không
rơi vào sự sốt sắng thái quá. Rất tốt khi muốn giúp đỡ
những người khác, nhưng như thế không có nghĩa là phải
không ngừng quấy rối họ để ép buộc họ nhận sự giúp
đỡ bằng tất cả sức mình, dù họ có muốn hay không. Ngược
lại, cũng không phải khó nhọc đợi đạt được sự toàn
thiện rồi mới có ích. Đó là vấn đề của cảm thức lành
mạnh, của lương tri : người ta phải tìm một biện pháp
trung đạo, biết đầu tư năng lực của mình với sự tinh
tế và thông minh. Người ta không cần phải là một đại
thánh để có thể mang giùm những cái bao bị của một bà
già đi đứng khó khăn, hay giúp bà bước lên xe buýt hay để
biết rằng tốt hơn là không dự phần vào những cãi lộn
của những người hàng xóm. Với một chút trông nom cẩn thận,
người ta có thể có ích, khi chờ đợi một ngày người ta
sẽ biết hành động một cách hoàn toàn trong sạch và tất
cả điều người ta làm sẽ tự động tốt đẹp cho những
người khác. Trong thời gian đó, người ta có thể ít ra thử
làm ở mức độ tốt nhất, nhờ những khả năng hiện thời
của họ. Dầu việc đó không rốt ráo, đó là một phương
tiện để làm sâu thêm sự hiểu biết những sự vật và
những con người và làm vững chắc động cơ của họ –
ít ra đó là một thái độ nó sẽ đổ ra lòng bi đích thực
về sau.
Lòng
nhân ái chỉnh tề bắt đầu từ chính mình, người ta trước
tiên học biểu lộ lòng bi đối với chính mình, trước khi
có thể áp dụng nó cho những người khác. Có lẽ vài người
cho rằng người ta có thể miễn giai đoạn trung gian này nếu
người ta đã tự cảm thấy có thể thương yêu và nhân từ
với những người khác. Nhưng nếu quả đúng là đôi khi có
những liên hệ sâu xa và mãnh liệt giữa vợ chồng, anh em
hay giữa bạn bè, thì tình thương đích thực chúng ta nói
ở đây nhằm khiến cho chúng ta có thể thương yêu mạnh mẽ
bất kỳ ai. Những xã hội hiện đại có một quan niệm kỳ
quặc về thương yêu : người ta dễ dàng yêu – bạn bè,
tình nhân, hay thậm chí những vật người ta có – nhưng tình
thương yêu này có cái gì chật hẹp và giới hạn, bởi vì
căn bản là ích kỷ và sở hữu. Hẳn rằng không có gì xấu
khi yêu thương bạn bè và gia đình mình, trái lại đó luôn
luôn là điều tốt, vì đó là điểm khởi hành để khai triển
tình thương thật sự. Nhưng nếu người ta giữ sự đặc
biệt của những yêu mến của mình cho những người đó,
người ta sẽ chỉ rèn thêm những xiềng xích. Những mối
liên hệ của người đó luôn luôn có hai mặt : chúng có thể
làm ngạt thở cũng như khích lệ.
Thế
nên tốt đẹp là thử không giới hạn tình thương và lòng
bi vào một phạm vi những người nào, vì sẽ thiệt hại cho
tất cả những người khác. Dễ dàng để cho mình xúc động
bởi những người nghèo và người đói, nhưng có lẽ người
ta sẽ khó cảm thấy lòng bi đối với những người sung túc
và được nuôi dưỡng no đủ. Vậy mà những người này cũng
có khổ đau riêng phần họ, có lẽ kém rõ ràng hơn, vì khổ
đau ấy thuộc về tâm thức hơn là thân xác, nhưng không hề
kém nặng nề khổ nhọc : những lo âu, những căng thẳng,
sợ hãi mất mát sụp đổ chẳng hạn.
Điều
đó đơn giản muốn nói rằng mỗi người đều có những
vấn đề riêng và những khổ đau riêng của mình, và phải
học cảm thấy cùng phẩm chất lòng bi cho tất cả, giàu hay
nghèo, trắng hay đen – bất cứ ai. Một con đường tiến
bộ như vậy có thể chuyển hóa cuộc đời chúng ta : người
ta sẽ cảm thấy sung sướng hơn và quân bình hơn, và tất
cả những ai bao quanh chúng ta cũng sẽ được thọ hưởng
một cách tự động sự bừng nở trong chúng ta một lòng bi
hiến tặng rộng rãi cho tất cả. Cái gì đến trong một người
trong chúng ta sẽ tự động ảnh hưởng mọi người khác.
Về cá nhân, người ta sẽ thấy tiềm năng và những năng
lực của mình tăng trưởng : người ta sẽ đến chỗ tự
đầy đủ với chính mình hơn và ít cần đi kiếm sự trợ
giúp và an ủi của những người khác. Nhưng chú ý không bị
cái đầu cứng lừa gạt và rơi vào cái bẫy của kiêu ngạo
!
Người
ta có thể bị thử thách nghĩ rằng một sự dấn thân tâm
linh như vậy đưa chúng ta vào một giới thượng lưu – những
người hơi tách biệt một tí, hơi cao hơn cộng đồng người
thường. Vậy chớ bỏ quên cái thấy rằng nếu chúng ta tiến
hành một bước đường như vậy, đó chính là để chúng
ta phụng sự cho những người khác, mà không phải để cho
chúng ta được họ phụng sự : điều này đã được xác
định lúc khởi hành. Không phải vì người ta thử làm nảy
sinh nơi mình lòng bi mà phải tự cho mình là một loại vua
chúa hay hoàng hậu nào đó xứng được nằm dài nghỉ ngơi
và để người khác nuông chiều. Sự kiêu mạn thực là một
chướng ngại tệ nhất mà người ta có thể gặp trên con
đường phát triển bên trong. Tại sao tự tin là mình cao hơn
những người khác, với lý do người ta đã tiến hóa một
chút, và coi thường những người khổ đau hay đang trong mê
lầm, như thể họ mắc bệnh dịch hạch. Sự hạ cố này
trái lại là bằng chứng chúng ta còn rất nhiều khoảng đường
để đi ! Khiêm hạ là một đức hạnh cốt yếu ; hơn nữa,
không thể có lòng bi chân chính nếu không có nó. Nếu người
ta thành thật trong đường đi tâm linh của mình, người ta
phải sẵn sàng chứng tỏ nó bằng những hành động, không
ngần ngại trả bằng giá của con người mình.
Sự
tiến bộ cốt ở phát triển cái tiềm năng nó là của riêng
chúng ta, trong khi vẫn khiêm tốn và nhân từ. Dĩ nhiên, không
có gì hoàn toàn và người ta có thể tự lừa dối mình. Nhưng
đó không phải là một lý do để tự trừng phạt mình và
để cho mình bị che phủ bởi những sai lầm của mình. Cái
cốt yếu là làm hết sức mình, hoàn toàn giản dị, thành
thật, nhờ những khả năng của mình. Sự hối tiếc càng
có một vai trò tích cực bằng cách giúp chúng ta làm mạnh
thêm quyết tâm, thì càng vô ích để mình bị bào mòn bởi
những hối hận không ngừng chúng chỉ có thể ngăn trở sự
phát triển tốt đẹp của chúng ta.
Việc
đầu tiên cần làm khi mở mắt ra vào buổi sáng là nhớ lại
sự dấn thân của mình : “Tôi muốn rằng tất cả mọi sự
tôi sắp làm, nói hay nghĩ hôm nay phải ích lợi cho những
người khác.” Lòng bi phải trở thành sợi dây truyền dẫn
và điều khiển cuộc đời chúng ta, vì nếu người ta mất
nó, người ta sẽ tự đóng lại con đường của sự tiến
bộ đích thực – tâm linh và cá nhân. Lòng bi không phải
là sự thương hại hay hạ cố, đấy không phải là một tình
cảm nước mắt giả vờ hay nước hoa hồng như một số người
tưởng tượng. Đó là tình thương yêu trong tất cả uy quyền
của nó, thoát ngoài mọi trói buộc của những biệt đãi
và những loại trừ mà bản ngã đặt lên nó. Đó là một
sức mạnh vĩ đại có thể làm sập núi, chẳng hạn như câu
chuyện một người đàn bà Mỹ đã một mình nâng lên một
chiếc xe hơi đang đè đứa con mình chứng tỏ. Khi người
ta được phát động bởi lòng bi, người ta mang trong mình
một kho tàng năng lượng không hề cạn kiệt. Đó là cái
đối trị tuyệt đối đối với sự mệt mỏi và nản lòng
: khác với những sức mạnh vật lý và sinh khí dễ dàng cạn
kiệt, lòng bi là một nguồn năng lượng thường trực được
làm mới lại bởi sự mong muốn giúp đỡ những người khác
– “bổn phận trách nhiệm cháy bỏng” này luôn luôn được
hừng hừng bởi vô cùng những nhu cầu và khổ đau. Một khi
một ngọn lửa như vậy làm bạn sống động, sự năng động
của lòng bi nâng đỡ bạn không ngưng nghỉ và không vơi cạn,
ngày này sang ngày khác suốt cuộc đời bạn. Quả là hơi
khó tưởng tượng, trừ khi người ta có dịp gặp một một
ví dụ sống về chuyện đó – và nó luôn luôn có. Ngọn
lửa người ta thấy trong mắt mẹ Teresa hay tu viện trưởng
Pierre chẳng hạn, vừa là một dấu hiệu vừa là một khích
lệ : mỗi chúng ta đều có cái tiềm năng này của tình thương
và có thể làm những điều kỳ diệu nhờ nó.
Người
ta có thể so sánh động cơ chân chính với một cành cây ghép.
Hiếm khi một sự ghép cành thành ngay cú đầu tiên : phải
làm nhiều lần để việc đó thành công. Sự làm thử ban
đầu có lẽ có những bước giả vờ : làm sao đòi hỏi giúp
đỡ những người khác khi phần nhiều những tương quan của
chúng ta được gợi thành từ bám luyến hay ghét bỏ ? Tuy
nhiên, dù sự dấn thân của chúng ta vẫn còn chỉ trên ngôn
từ, ít ra nó cũng có lợi lạc là không làm hại một ai.
Nhưng chúng ta chớ quên rằng động cơ này được ghép cành
trên cái tiềm năng lòng bi nó luôn luôn ở nơi chúng ta, để
cho động cơ đó được biểu lộ qua một khả năng thật
sự thương yêu những người khác. Và động cơ chúng ta càng
mạnh, năng lực của lòng bi càng dẫn nước tưới cho cuộc
đời chúng ta. Cho đến khi trở thành hoàn toàn tự nhiên và
luôn luôn sẵn sàng vận động – một bản chất thứ hai.