THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả
 
Mật TôngTây Tạng
 

 
.
NGHỆ THUẬT 
ĐỂ SỐNG TRỌN VẸN Ý NGHĨA CUỘC ĐỜI
Akong Tulku Rinpoche
Kagyu Samye Ling 1987, L’art de dresser le tigre intérieur Akong Rinpoche, 1991 Sand, Paris
Việt dịch: Nguyễn An Cư - Nhà xuất bản Thiện Tri Thức, 2001

PHẦN MỘT
NHỮNG NGUYÊN TẮC NUÔI DẠY TÂM THỨC

VÀO ĐỀ

Sau hai mươi năm ở Tây phương để dạy thiền định, hay chỉ có những lời khuyên cho những người đến hỏi, tôi đi đến kết luận rằng điều nhiều người chờ đợi từ tôi không luôn luôn hoàn toàn là cái họ cần. Họ đến gặp tôi, nói rằng họ muốn nghiên cứu đạo Phật hay thiền định. Nhưng khi hỏi những chuyện đó, hay dần dần biết rõ họ hơn, tôi hiểu họ cảm thấy một sự không thỏa mãn nào đó đối với cuộc đời của họ và thế giới và họ thường không biết phải làm sao đối diện với những khó khăn của đời thường.

Thật vậy, họ tìm kiếm một phương tiện để vượt qua chúng, hay đôi khi một “bằng chứng không phạm tội” để phớt lờ chúng đi. Hơn là cơn mơ mộng, thứ tâm linh mơ hồ, triết học, tôn giáo và những lễ nghi, họ cần phải hiểu : hiểu tại sao cuộc đời họ không thỏa mãn cho họ, hiểu tại sao đôi khi họ thấy quá khó khăn để sống với chính mình và với những người khác, trong một thế giới đang bại trận tháo chạy. Và để thật sự hiểu điều đó, trước tiên họ phải học để tự biết mình, bởi vì chính từ bản thân mình mà người ta nhận biết thế giới.

Để tự biết mình, phải đi đến cội rễ của bản thể mình, nghĩa là tinh thần mình, tâm thức mình, bởi vì đó là nguồn gốc của tất cả những kinh nghiệm của chúng ta. Chính qua tâm thức mà người ta nhận biết, người ta suy nghĩ, và người ta cảm nghiệm, điều đó muốn nói rằng chính tâm thức đã tạo ra bản chuyển dịch riêng của chúng ta về thực tại. Nhưng chính đó là cái mà hiện giờ phần đông chúng ta không biết, hay thích không biết thì hơn ; quả là thoải mái, dễ dàng khi nghĩ rằng mọi cái khó chịu đến với chúng ta là do lỗi của những người khác, của xã hội hay của nhà cầm quyền, hơn là tự hỏi phải chăng cái hình ảnh người ta tự tạo về những sự vật quả có liên hệ với cái nhìn mà người ta chiếu rọi trên chúng. Một vấn đề mà chúng ta sẽ có dịp khám phá chi tiết bởi vì đó là một chủ đề chính của sự chuẩn bị “nuôi dạy con cọp”. Con cọp là một ẩn dụ về tình trạng hoang dã và không hợp lý của tâm thức chừng nào nó không nhận biết bản tánh chân thật của nó là gì. Vậy thì phải dạy cho thuần tính cái năng lực hoang dã và bất kham này để hiểu cái gì xảy ra trong chính mình, và trong những tương quan với những người khác và thế giới bao quanh chúng ta. Chính khi nuôi dạy con cọp, nghĩa là khi học làm chủ tâm thức mình để nhận ra sự toàn thiện vốn có của nó, mà người ta sẽ có thể sống an vui với chính mình và với thế giới.

Vậy thì cần yếu phải biết tâm thức, vừa như nó xuất hiện trong chức năng bình thường của nó, mà cũng như nó hiện hữu trong bản tính thật sự của nó. Cái hiểu biết này nằm ở ngay tâm của đạo Phật và đạo Phật đã đề nghị vô số phương tiện và kỹ thuật để nắm được cái hiểu biết đó. Có đủ loại phương pháp thích hợp với những nhu cầu của mỗi người, theo những ước muốn cá nhân, mức độ trưởng thành, những vấn đề và những bổn phận riêng của họ. Nhưng tôi muốn nhấn mạnh một điểm quan trọng : những dụng cụ này góp phần vào gia sản của loài người, cùng một danh nghĩa như sự sáng chế ra bánh xe hay sự khám phá những định luật hấp dẫn, chúng không chuyên biệt là “Phật giáo” hay dành riêng cho những người “Phật giáo”. Thật vậy, Phật nghĩa là “thức tỉnh” – thức tỉnh khỏi giấc ngủ của vô minh về bản tánh thật sự của tâm thức. Và trong ý nghĩa đó, một người Phật tử là người thí nghiệm theo cùng con đường ấy để cùng đến sự hiểu biết ấy về chính mình. Nếu người ta chỉ quan niệm “đạo Phật” như một tôn giáo được tổ chức, người ta nhấn mạnh những yếu tố phân chia ; trong khi nói đến một con đường dẫn đến sự thức tỉnh của tâm thức, người ta làm mạnh những yếu tố hợp nhất. Luôn luôn trong ý nghĩa đó mà tôi dùng những danh từ Phật và đạo Phật trong cuốn sách này. Những dụng cụ được thừa hưởng từ đạo Phật chỉ tạo thành một hệ thống hiểu biết cao cấp về tâm thức con người và về những cơ cấu vận hành của nó, bất cứ ai cũng có thể dùng – mà không cần nhãn hiệu “Phật tử” hay nhãn hiệu nào khác – để học tự biết mình, hầu sống tốt hơn với chính mình và với mọi người. Vả lại đó chính là điều tôi luôn luôn đặc biệt nhớ cho riêng tôi : tôi nghĩ rằng tính tâm linh (đạo) không phải ở trong nhà thờ tôn giáo này hay tôn giáo nọ, mà nó là một sự đóng góp sống động đem đến cho xã hội hiện thời, bằng cách cung cấp cho những ai muốn có phương tiện để sống cuộc đời hạnh phúc hơn và bừng nở hơn, bởi vì ít ích kỷ và vật chất hơn, và có phương tiện để giúp đỡ những người khác cũng làm như thế. Chính trong tinh thần đó mà Nghệ thuật nuôi dạy con cọp bên trong đã được tạo thành, để cho những người sử dụng nó cảm thấy hoàn toàn tự do với mọi sự phục tùng một hệ thống hay một tín điều đã được ban cho.

Vậy tôi cũng đi đến chỗ đề nghị cho những ai đến với tôi làm theo những bài thực tập căn cứ trên hiểu biết của tôi về “Phật tử” – theo nghĩa tôi đã định nghĩa ở trên – và về người trị liệu, cũng như trên kinh nghiệm của tôi về việc dạy thiền định, và cũng trên sự đánh giá của tôi về những nhu cầu và những khó khăn đặc biệt của người Tây phương sống trong xã hội hiện thời. Phần đông người ta có đời sống đã khá đầy ắp, phức tạp và căng thẳng ; vậy tôi đã đề nghị với họ những bài thực tập đơn giản và cụ thể, đặt nền trên sự thư giãn, buông xả, thích hợp với cuộc đời hành nghề và gia đình của họ.

Việc này hình thành trên một nền tảng cá nhân, trong nhiều năm, và rồi càng ngày người ta càng rút được lợi lạc từ bước đi này và rồi nhiều người khác cũng muốn tự mình thực hành, tôi đã tìm cách hệ thống hóa một ít những bài thực tập trong một chương trình “trị liệu” mà những bài thực tập được trình bày ở đây trong Nghệ thuật nuôi dạy con cọp bên trong là một phần trong số đó. “Trị liệu” là nói đến “chăm sóc, điều trị, phương cách để chữa lành” ; ở đây phải hiểu nó trong nghĩa đồng thời phòng ngừa và chữa bệnh. Đó là tự chữa lành khỏi sự tha hóa của chính mình, khỏi sự không tự biết chính mình, điều này là gốc rễ của tất cả những vấn đề phiền não khác của chúng ta, như chúng ta có dịp xác định nó suốt trong cuốn sách này. Chữa lành nhưng cũng là phòng ngừa, bằng cách rút được cái sức mạnh và những phương tiện để đối mặt với mọi thứ có thể đến với chúng ta sau đó từ sự hiểu biết về tâm thức.

Những thực tập mà tôi đề nghị ở đây có mục đích dẫn dắt những người thực hành chúng đến một mức độ nào đó của sự thức tỉnh tâm linh bằng cách học điều phục tâm thức họ để loại bỏ những méo mó thức tình luôn luôn ngăn cản tâm thức thấy biết thế giới và những người khác như chúng thật sự là. Một khi tâm thức đã nhận biết bản tánh toàn thiện của nó, cái tri giác của nó về thế giới phản ánh cái nó tri giác về chính nó, bấy giờ tất cả đều được chuyển hóa, mặc dầu xung quanh bên ngoài, tất cả mọi sự không có gì thay đổi. Thông điệp rõ ràng và cốt yếu : chính nơi mình mà sự chuyển hóa xảy ra, hơn là tìm cách làm thay đổi con người và thế giới quanh ta. Nếu người ta thay đổi bên trong mình, bên ngoài sẽ tự động được chuyển hóa, biến chất. Người ta mở con mắt với cái đẹp bên trong của chính mình và của thế giới, để cuối cùng người ta khám phá toàn thể cái đẹp trong sự toàn thiện nội tại của nó.

Việc hệ thống hóa những bài thực tập được làm dần dần, với sự hợp tác của Edie Irwin, một nhà trị liệu Hoa Kỳ cũng đã hình thành những kỹ thuật khác nhau về xoa bóp mà bà đã thực hành ở Edimbourg. Từ năm 1984, dưới sự chỉ huy của tôi bà đã trông coi những nhóm người muốn thực hành hệ thống này, ở Anh, Ái Nhĩ Lan, Thụy Sĩ, Bỉ, Tây Ban Nha, Ý, Nam Phi và Hoa Kỳ. Hiện giờ bà đã để thời gian của mình cho việc tiến hành chương trình trị liệu này. Chính từ kinh nghiệm thực tiễn này có được trong nhiều năm, đã sinh ra chương trình những thực tập trong nhiều giai đoạn, mà Nghệ thuật nuôi dạy con cọp bên trong là chương trình thứ hai (cái đầu là “Trở về nơi khởi đầu”). Bản thân cuốn sách đáp ứng cho sự mong mỏi của nhiều nhóm và những cá nhân để có thể dùng một thực hành cẩm nang hướng dẫn họ giữa những khóa tham thiền và theo đuổi công việc.

Tôi muốn nói đến “trị liệu” hơn là thiền định, dù cho những kỹ thuật được sử dụng đôi khi là như nhau, bởi vì điều đó cho phép tránh một số quan niệm sai lầm và những ám ảnh. Tôi luôn cố gắng làm cho những người đến tham vấn tôi hiểu rằng tâm linh không phải là một phương tiện để trốn tránh thực tại, mà ngược lại để học giáp mặt với nó, để học không trốn tránh trong chính mình hay ngoài mình ; bằng cách trở nên thăng bằng hơn và ít quy ngã hơn, người ta đóng góp trực tiếp vào sự an vui của những người khác và tôi cầu chúc Nghệ thuật nuôi dạy con cọp bên trong có thể mang lại sự đóng góp khiêm tốn của tôi trong chiều hướng đó.

 Akong Rinpoche
 Samye-Ling, tháng tám 1989


CHƯƠNG I
NGHỆ THUẬT NUÔI DẠY 
CON CỌP BÊN TRONG

Sự điều phục tâm thức tán trợ cho hạnh phúc.
Đức Phật Thích Ca

Tâm thức là chìa khóa của mọi kinh nghiệm của chúng ta, vì chính nó quyết định cái nhìn của chúng ta về thế giới, mặc dầu thường thì người ta không biết điều đó. Không biết cái cơ cấu vận hành này làm cho chúng ta có một tri giác khá lầm lộn về những sự vật, bởi vì tính chủ quan của chúng ta có khuynh hướng làm méo mó đáng kể thực tại, cũng hơi giống với những người bị những rối loạn thị giác hay những người mắc chứng hoang tưởng luôn luôn tin rằng mọi người đều tấn công mình. Hiện thời, nơi phần đông chúng ta, tâm thức giống như một con cọp hoang dã gieo rắc kinh hoàng và tàn phá cho những thôn làng. Chúng ta hoàn toàn bị cái tâm trí điên cuồng này thống trị, nó lôi kéo chúng ta đi mọi hướng, theo những tham muốn và những ghét bỏ của nó, phá nát trên đường đi mọi cái có thể ngăn ngại nó, không ý thức gì về những xung động của riêng nó cũng như thực tại bao quanh nó. Nó dẫn dắt cuộc múa nhảy theo ý nó và chúng ta phải trả đền cho những đổ vỡ, không hiểu điều gì đã xảy ra : chính đó là nơi chúng ta phải tìm kiếm lý do cho những khổ nhọc và những thất vọng của chúng ta.

Để tìm thấy lại sự tự do đã bị giam hãm, phải bắt con cọp hoang dã này và thuần hóa nó : nó phải phục vụ chúng ta mà không phải ngược lại. Điều đó không dễ dàng gì, vì trước tiên phải tìm ra vị trí của nó, và thường thường người ta quá đỗi mù quáng để biết rằng con cọp đang xỏ mũi chúng ta kéo đi. Phải biết mình đã bị bệnh trước khi quyết định tự chăm sóc mình. Vậy mà người ta không biết chút gì về tình trạng rối loạn mà người ta đang lâm vào. Khi những sự việc xấu đi, người ta đặt nguyên nhân của sự việc lên lưng của những người khác hay những hoàn cảnh, nhưng người ta không bao giờ nghĩ đến việc quét tước trước cánh cổng của chính mình – nhìn vào chính mình. Khi người ta muốn thoát khỏi thế lực của cái tâm thức hoang dã này mà những trò ngông cuồng của nó làm cuộc đời nhiễm độc, phải bắt đầu bằng cách xem thẳng mặt nó. Điều đó sẽ khó khăn và nhọc mệt lúc đầu, nhưng chúng ta bắt buộc phải đi qua đó. Phải phóng tới, dầu người ta không cảm thấy có đủ tầm cỡ để chạm trán với nó, bởi vì chính làm như thế mà người ta sẽ tìm thấy sức mạnh để tiếp tục.

Nghệ thuật nuôi dạy con cọp bên trong nhằm giúp đỡ những ai muốn có chủ quyền đối với cái tâm thức nổi loạn này mà những trở chứng của nó gây ra biết bao tai hại trong đời chúng ta. Đó không phải là một cuốn sách dành riêng cho những người Phật giáo và người Đông phương, cho dù tôi là một người như vậy. Những vấn đề và những khó nhọc của cuộc đời là như nhau một cách căn bản cho tất cả, không liên hệ gì đến màu da, dòng giống hay tín ngưỡng của họ, bởi vì sự kiện chỉ hiện hữu thôi đã tự động phơi bày chúng ta cho sự khổ đau. Bản chất con người là phổ quát : từ ái hay ác độc, cũng gây ra những phản ứng không sai chạy trong bất cứ xã hội nào, vì những tình cảm là như nhau, dầu mỗi nền văn hóa diễn tả mỗi khác. Tâm thức thì chẳng phải Tây phương, Đông phương, vàng, đen hay trắng, nó là nhân loại : mỗi chúng ta đều muốn hạnh phúc và tránh khổ đau.

Cuộc đời một người thường theo cái luận lý của tham muốn : tôi muốn, tôi ham thích, tôi không muốn, tôi ghét. Những tham muốn của chúng ta mâu thuẫn hay không thỏa mãn làm sao, và người ta cảm thấy bị lừa dối và bất hạnh ; nhưng ngay dù người ta có thể có cái người ta muốn, hạnh phúc đó cũng quá ngắn ngủi, vì người ta đã muốn một cái khác. Tham muốn là không thể thỏa mãn, không có giới hạn : khi người ta thỏa mãn nó, nó mang lấy một hình thức khác và lao vào một đối tượng khác. Và tuy nhiên, người ta không bao giờ từ chối ý nghĩ phải thỏa mãn nó một ngày nào đó : đứa trẻ chạy theo mống cầu vồng để bắt những màu sắc đẹp đẽ của nó, nhưng càng đến gần, mống cầu càng có vẻ rời xa và thoát khỏi tầm tay.

Tham muốn là động cơ của cuộc sống chúng ta, luôn luôn thay đổi và thường trực được làm mới. Khi người ta còn nhỏ, người ta muốn cái đồ chơi ấy ; rồi khi có nó, phải có một cái khác, rồi một cái khác nữa, để lại chuyển qua một cái khác. Về sau người ta sưu tầm giữ lấy và nuối tiếc những đồ chơi khác : bạn bè, bằng cấp, du lịch, áo quần, xe cộ, âm nhạc, truyền hình, rượu, những bữa ăn ngon, những chế độ ăn uống... Điều đó không cùng.

Tham muốn luôn luôn mâu thuẫn : vừa khi có cái người ta muốn người ta lại không mong có nó. Chẳng hạn khi đói, người ta muốn bất cứ giá nào lấp đầy bao tử trống rỗng, nhưng khi đã ăn – thường là quá nhiều – người ta lại muốn trở lại cái bụng trống. Đấy là vì luôn luôn có một tham muốn mới lập tức đến thay thế tham muốn cũ : một khi thỏa mãn tham muốn được cảm thấy no nê, tức thì nó được thay thế bằng tham muốn được cảm thấy nhẹ nhõm. Tham muốn cũng là một con tắc kè đổi màu rất ranh mãnh : người ta có thể muốn vẫn đẹp đẽ, trẻ trung và hấp dẫn suốt cuộc đời, nhưng người ta cũng có thể để cho ngã bệnh để lôi kéo sự chú ý và những chăm sóc của những người khác vào chính mình ; và nếu người ta đã thành công làm cho mình bệnh, người ta chỉ còn nghĩ đến một cuộc phục hồi kỳ diệu. Và cứ như thế... Hãy chú ý, một tham muốn luôn luôn che dấu một tham muốn khác, như những con búp bê Nga. Vả lại không có cái gì thoát khỏi sự thèm ăn không thể thỏa mãn được này : cho đến cơn khao khát tâm linh cũng có thể là một hình thức vi tế do tham muốn bao bọc, nó thúc đẩy chúng ta sưu tầm – mà không thực hành – những giáo huấn có nhiệm vụ giải tỏa bí mật công việc tìm cầu huyễn mộng này về một hạnh phúc không thể nào tìm thấy...

Không thể tìm thấy, bởi vì thật ra có sự lộn sòng. Ý tưởng người ta có về hạnh phúc y cứ trên một lầm lộn điên đảo : người ta chờ đợi thấy nó ở bên ngoài mình, mà không hề biết rằng nó bắt đầu ở chính trong mình. Người ta có thể tìm cách thỏa mãn cho những tham cầu của mình đến vô tận, nhưng chẳng bao giờ thỏa mãn, vì sự thỏa mãn không đến từ bên ngoài, mà là từ bên trong. Đó là một vấn đề thái độ : tham muốn thì không cùng, và không phải cứ để cho nó dẫn dắt không cùng mà người ta sẽ tìm ra hạnh phúc. Để có được thái độ đúng, cần thiết phải học nhận diện sự có mặt của tham muốn trong mình và chấp nhận nó – sự đè nén không phải là một giải pháp – mà không hiến dâng cho nó cả thể xác lẫn tâm hồn.

Nếu tham muốn là không cùng, đó chính bởi vì mạch nguồn của nó cũng thế : tham muốn phát xuất từ tâm thức mà bản thân tâm thức thì thoát khỏi mọi giới hạn, mọi định nghĩa theo không gian hay thời gian. Tham muốn chỉ là một hiện tượng phụ, một biểu lộ của tâm thức ; nếu người ta muốn thoát khỏi sự chuyên chế của nó, phải đi ngược lại đến nguồn cội, bởi vì không phải chăm sóc cho những triệu chứng một căn bệnh mà người ta có thể chữa lành nguyên nhân gây bệnh. Chúng ta hãy biết nhận diện chính xác con cọp gieo rắc kinh hoàng trong cuộc sống chúng ta : không phải là bản thân tham muốn, mà chính là tâm thức làm phát sanh tham muốn một cách liên tục. Không có cái gì có thể dùng để đè nén một cách hệ thống tất cả những tham muốn ; có lẽ người ta sai lầm khi tin rằng giải thoát được khỏi chúng, cho đến một ngày nào tất cả những tham muốn bị dồn nén này nhảy lên trên bề mặt với sự hung dữ còn mạnh hơn. Vô ích khi cắt những cỏ dại trong vườn, chúng sẽ tiếp tục mọc chừng nào người ta chưa nhổ sạch gốc. Thế nên chỉ có một cách để ra khỏi tình trạng không thỏa mãn thường trực mà tham muốn ném chúng ta vào : chế ngự con cọp tâm thức này chừng nào nó còn không biết bản tánh thật sự của nó.

Sẽ sai lầm khi nói rằng chúng ta không có sự điều phục tâm thức nào, vì chúng ta đều có một hiểu biết về một quá trình tập sự dài lâu. Thật vậy có một thế giới kinh nghiệm giữa em bé khóc oa oa theo bản năng thuần túy và người lớn chúng ta : người ta đã thâu hóa mọi cái cần thiết cho sự sống của con người, rồi cuộc sống trong xã hội. Lớn lên, người ta học tự biết chính mình ít nhiều và xử sự với chung quanh tốt hơn. Trong một nghĩa nào, người ta đã bắt đầu một ít huấn luyện con cọp, nhưng rất bề mặt, vì người ta chưa thấy tận mặt nó. Bản chất hoang dã của nó vẫn không được chế ngự, tuy nhiên người ta có thể làm cho nó chấp nhận tạm thời, một thỏa hiệp ngấm ngầm và giới hạn, chẳng hạn như không ăn thịt những người trong vườn nhà chúng ta : một loại quy ước chừng mực nó không đặt vấn đề với sự thống trị của con cọp.

Người ta không thể hy vọng thuần dưỡng một con cọp mà không biết khía cạnh hoang dã của bản chất nó ; như thế sẽ nguy hiểm cũng như không hiệu quả. Sự việc như vậy cũng đúng với chúng ta : cần phải tự thấy mình và tự chấp nhận như mình là vậy. Tố cáo, buộc tội toàn thể thế giới là nguyên nhân của những rắc rối khó khăn của chúng ta thì chẳng có nghĩa gì cả : đến một lúc nào người ta phải tự nhìn mình mặt đối mặt và đảm trách chính mình như mình thực sự là, toàn khối, không ma mãnh chọn lựa giữ lấy cái hình ảnh mà người ta thích thấy về chính mình và che dấu mọi thứ còn lại. Người ta không thể ném tất cả những thứ mình không thích vào một bao rác và dấu nó vào một góc : cái bao sẽ đầy ứ đến độ nổ bùng. Sự dồn nén có hệ thống không bao giờ là một giải pháp, mà ngược lại : nó có thể thành một nguyên nhân của tâm bệnh. Phải chơi thẳng thắn với chính mình : người ta đặt tất cả lá bài của mình trên bàn – cái tốt và cái kém tốt, cái tốt nhất và cái rất đáng ghét. Vâng, chắc chắn đó không phải là những con bài lý tưởng, những con bài người ta chọn lựa cho một ván ngon lành ; mà đấy chỉ là những cái người ta thật sự có trong tay, và chính đối với chúng mà ta phải chơi phần mình, dù có ra sao. Dù sao, không có ai khác làm điều đó nơi chỗ ngồi của bạn, và chính bạn phải sống trò chơi đó trong bàn tay.

Người ta bắt đầu trưởng thành khi thôi tạo những ảo tưởng và chạy theo những giấc mộng hão huyền, thôi cho những tham muốn của mình là những thực tại. Người ta có nhận xét đơn giản : “Tôi là thế đó ; điều này không làm tôi khoái, nhưng đó là tất cả những gì tôi có. Tốt hơn tự xoay xở để rút ra phần tốt nhất có thể có từ cái trò chơi khập khiễng này.” Nếu người ta có thể tự chấp nhận mình như người ta là vậy, người ta sẽ có thể chấp nhận mọi cái còn lại – những người khác, thế giới, cuộc đời. Dù sao, không có cái gì là mãi mãi lý tưởng : mỗi thời, mỗi hoàn cảnh đều có những khó khăn của nó : tuổi nhỏ, thiếu niên, trưởng thành và tuổi già. Vậy thì không phải là nổi loạn với hoàn cảnh của chúng ta mà sự việc trở nên tốt hơn : nguồn của hạnh phúc và khổ đau không nằm ở đâu khác ngoài chính mình, người ta đã thấy điều đó. Khi chấp nhận hoàn cảnh như nó là, người ta tác động lên thực tế của những sự việc, thay vì bì bõm trong những ý niệm thành kiến. Phần lớn thì người ta không thể thay đổi gì cả những hoàn cảnh, vì chúng độc lập với ý chí của chúng ta. Cái mà chúng ta có thể thay đổi chính là cách phản ứng của chúng ta.

Nếu người ta không hiểu lầm, chúng ta không đang tán dương cho sự thụ động ! Có một sự quân bình giữa sự không hoạt động có hệ thống và sự hoạt động cưỡng bách : sẽ là ngu si nếu không cải thiện cái có thể làm, nhưng cũng vô ích để hết thời gian chạy theo những điều kiện lý tưởng của cuộc sống mà dù sao cũng chỉ hiện hữu trong đầu óc chúng ta : danh từ “lý tưởng” chẳng phải đến từ danh từ “ý tưởng” sao ? Ý thức rõ ràng hoàn cảnh con người và những giới hạn của nó, người ta chấp nhận chúng. Tiếp theo, người ta đối mặt với cái hàng ngày theo cách tốt nhất người ta có thể mà không chờ đợi thế giới phù hợp với những tham muốn hay những ước mong của chúng ta. Đã biết chỗ của con cọp và ý thức bản chất hoang dã của nó, người ta sắp học cách nuôi dạy nó.

Dù người ta so sánh tâm thức không trưởng thành với một con cọp hay một con ngựa hoang, như Gurdjieff ví von, thì những nguyên tắc nuôi dạy vẫn như nhau : người dạy phải tìm thấy chỗ ở giữa của cái quá độ bắt buộc và quyền uy, và quá tự do, như chúng ta sẽ thấy chi tiết khi nói đến sự phát triển chú tâm. Nhưng cũng phải yêu thương nó, biểu lộ thiện cảm với nó, nếu không nó không để cho chúng ta nuôi dạy. Chắc hẳn người ta biết rằng con cọp chịu trách nhiệm về mọi vấn đề khó khăn của chúng ta, nếu không người ta chẳng cần huấn luyện nó làm gì. Nhưng không phải với sự cau có gắt gỏng và hiềm oán mà chúng ta nuôi dạy nó ; phải tỏ ra thông hiểu, chấp nhận nó như nó là, với những phẩm tính và những khuyết điểm của nó, và tiềm năng người ta cảm thấy nơi nó. Như vậy, chúng ta biết rằng chính tâm thức chúng ta là nguồn của tham muốn, nguyên nhân của sự không thỏa mãn căn để và những khổ đau của chúng ta. Điều đó không có nghĩa là người ta cảm thấy phạm tội và tự trừng phạt mình, mà chỉ là có được đủ sự nắm quyền trên tâm thức để không gây ra những khổ đau cho riêng mình nữa, chứ chưa nói đến những khổ đau của người khác. Phải tỏ ra thông cảm với chính mình. Loại chấp nhận với tình thương này phát xuất từ lòng bi, một trong những động cơ chính yếu của sự tiến bộ tâm linh, như người ta sẽ thấy, và chính trước tiên với chính mình mà người ta áp dụng lòng bi đó : sự nhân từ có trật tự phải bắt đầu từ chính mình... Rồi nhờ kinh nghiệm có được khi thuần hóa con cọp của mình, người ta sẽ hiểu sự cần thiết tất yếu biểu lộ cùng một lòng bi ấy và cùng một sự thông cảm ấy đối với những người khác.

Sự nuôi dạy con cọp bên trong là một công việc dài hơi mà người ta không thể dấn mình sơ sài. Đó không phải là có một kỹ thuật ngoại quốc, như một đồ vật đẹp người ta để trong tủ kính, giữa những chiến lợi phẩm và những bộ sưu tập khác. Trái lại, người ta chấp nhận ngừng sưu tập, chơi đùa và đi quanh co để nhìn thẳng vào mắt con cọp. Để tự nhìn mình. Người ta có thể hoàn toàn có văn hóa và bằng cấp, và có một huyết thống tốt đẹp về nghề nghiệp, nhưng điều đó không khỏi có lúc họ thấy hoàn toàn không có vũ khí và bất lực đối mặt với những vấn đề của cuộc sống cá nhân, bởi vì kiến thức và những danh hiệu cuộc đời không ích lợi gì lắm trong việc thuần hóa con cọp bên trong. Đó là cả một nghệ thuật, nó đòi hỏi nhiều kiên nhẫn và kiên trì để tìm ra chỗ con cọp, nhiều can đảm và khôn khéo để giáp mặt với nó, nhiều sáng suốt để nhìn rõ nó và học cách nhận biết nó. Phải luân phiên chuyển đổi cách êm dịu rồi mạnh mẽ, theo từng lúc, nhưng luôn luôn đầy đủ sự kính trọng và tình thương để tạo thành những mối liên hệ bạn bè với nhau và để cho con cọp chấp nhận người dạy nó và điều người dạy muốn làm với nó. Một ngày kia nó sẽ được thuần hóa đến nỗi người ta sẽ tự hỏi làm thế nào mà người ta đã có thể sợ nó như vậy...


CHƯƠNG II
GIÁ TRỊ CỦA ĐỜI SỐNG :
ĐỜI NGƯỜI QUÝ GIÁ

Cũng hiếm hoi như một ngôi sao giữa ban ngày, 
Cuộc đời làm người quý giá như vậy.
Gampopa
(Trang Hoàng của sự Giải Thoát)

Phẩm chất của cuộc sống là một trong những quan tâm lớn lao của những xã hội hiện đại giàu có nhất, những xã hội nơi đó có những ưu thế được cái bụng đầy để đòi hỏi làm sao làm đầy nó thoải mái hơn. Để biết điều đó chính xác là gì, đó là một chuyện khác, vì mỗi người giải thích nó theo cách riêng. Tuy nhiên người ta rút ra cảm tưởng chung về một ý chí muốn sống tốt hơn, lợi dụng tốt hơn những khả tính mà đời sống ban cho. Trong ý nghĩa đó, quan niệm “phẩm chất đời sống” đã quen thuộc với chúng ta có thể giúp chúng ta tiếp cận với quan niệm “đời người quý giá”, một quan niệm Phật giáo chúng ta chưa quen. Nhưng sự giống nhau không đi xa quá : những giá trị mà người ta theo đuổi khi nói đến phẩm chất đời sống không phải như nhau với những giá trị ẩn dưới ý tưởng một đời làm người là quý báu.

Khi người ta lưu tâm đến phẩm chất đời sống, người ta mặc nhiên nhận ra giá trị của những sự vật nào đó : giản lược một cách thô thiển, người ta thích – và cứ mãi – luôn luôn trẻ, đẹp, thông minh, khỏe mạnh, giàu có, được yêu và sung sướng, trong một môi trường dễ chịu, yên lành. Vậy thì người ta có một ý nghĩ nào đó về cái quý giá, nhưng tiếc thay, người ta lại cho một mớ tạp nhạp là kim cương. Hầu hết những sự vật mà chúng ta cho là đáng giá đều phù du và dễ vỡ kinh khủng, thế mà người ta đầu tư năng lực lớn lao cho sự theo đuổi một cái gì cũng không thể nắm bắt như cầu vồng. Ý tưởng phẩm chất đời sống trở thành một nguồn thất vọng thường xuyên khi người ta biết rằng người ta không thể làm cho nó vững bền. Thế mà người ta để suốt cả cuộc đời mình mong đạt đến đó.

Đấy rõ ràng là một cách nhìn vào hiện hữu, nhưng nó giới hạn đáng kể tiềm năng của chúng ta. Tổng quát nếu mọi nỗ lực của một cuộc đời chỉ dùng để sống tiện nghi càng nhiều càng tốt, người ta cũng không hơn gì một con côn trùng hay một con thú. Đời sống như vậy bị hạ giá, so với những khả tính mà cuộc đời một người đàn ông hay đàn bà mang lại. Một con người có thể rút được phần tốt nhất của sự hiện hữu của nó, về phương diện phát triển cá nhân cũng như sự đóng góp cho sự phát triển của nhân loại. Đó không phải là một phẩm chất giả thiết đem lại giá trị cho đời người, đó là tiềm năng kinh khủng mà đời người mang giữ. Mỗi người chúng ta giàu có những tài năng và phẩm chất và chính khi phát triển tốt nhất những khả tính của chúng mà người ta tìm thấy hạnh phúc và đóng góp tốt nhất vào hạnh phúc của người khác. Chỉ một người thành tựu chính mình, những lợi lạc từ người đó tuôn trào trên tất cả những người khác. Vả lại, người ấy càng không chấp thủ và vị tha trong đường tiến của mình, thì càng có nhiều người hưởng lợi lạc từ những kết quả trong nỗ lực của người đó. Không phải ngẫu nhiên mà cuộc đời và những lời dạy của Phật, của Chúa hay của Tiên Tri Mahomet đã gây cảm hứng, đã hướng dẫn và giúp đỡ bao nhiêu người qua các thời đại. Ngoài lĩnh vực tâm linh, những con người như khoa học như Pasteur hay Edison cũng có một đóng góp rất giá trị cho nhân loại. Nếu mọi người không hẳn được kêu gọi đến một số phận như vậy, thì mỗi người vẫn có thể nỗ lực để phát triển tốt nhất tiềm năng của mình, để tự thực hiện theo bản chất của mình. Tốt đẹp biết bao nhiêu khi đạt được một sự làm chủ tâm thức đủ để không còn là nguyên nhân cho những khổ đau của riêng mình và của những người khác. Và một khi người ta đã học cách thu xếp những vấn đề của mình, người ta có thể thật sự giúp đỡ những người khác thoát khỏi những vấn đề của họ.

Chính khi nuôi dạy con cọp bên trong mà người ta có thể biến đời người thành cái gì thật sự quý báu. Chắc chắn chúng ta tự do không sử dụng tiềm năng này và cứ ngoan cố chạy theo mống cầu vồng ; người ta sẽ giống như một người ăn xin đói rách chìa tay xin trong khi ngồi ngay trên một đống vàng. Ngược lại, người ta kiếm được tất cả khi điều phục tâm thức : người ta sẽ tìm thấy trong đó một phẩm chất bình an bên trong nó sẽ chuyển hóa một cách hạnh phúc cuộc đời và những mối tương quan của người ta với những người khác. Bình thường, nếu có ai nổi giận với ta, ta có khuynh hướng làm cùng một việc như vậy. Nhưng khi người ta dấn thân vào việc điều phục con cọp, người ta không để cho con cọp đó tức thời chụp lấy cổ của người khác nữa, dầu chính y đã tấn công chúng ta. Người ta có sự nhẫn nhục không phản ứng một cách bản năng và biết tình trạng rối rắm của người kia đang tệ hại khi không chế ngự nổi mình. Khi hiểu rõ, người ta thậm chí có thể biểu lộ một sự bi mẫn nào đó đối với kẻ rõ ràng đang còn rất khốn khổ trong những vấn đề khó khăn của y, và như vậy rất bất hạnh so với chúng ta, những người bắt đầu – và rất dịu dàng – thấy mọi việc rõ ra.

Nếu toàn bộ đời người là có giá trị, thì người ta càng biết rút lợi lạc từ đó, nó càng có giá trị hơn. Rất tốt nếu có thể tự đảm đương một mình, không là gánh nặng cho những người khác. Nhưng đời sống có thể mở ra một chiều hướng khác khi người ta quyết định thay vì tự giới hạn trong việc gỡ rối cho chính mình, người ta thử giúp đỡ những người khác thoát khỏi rối rắm của họ. Một cuộc đời như thế quả thực là quý báu vì nó phụng sự cho số lượng đông người, không chỉ cho một cá nhân. Và người ta càng biết dùng đời mình, nó càng phong phú giàu có và có giá trị. Đấy cũng giống như bình điện của một chiếc xe hơi càng được sạc điện khi người ta lái xe nhiều, và sẽ không hữu dụng nếu xe luôn luôn ở trong ga-ra. Người ta chẳng mất gì khi rút được lợi lạc lớn nhất từ cuộc đời mình, trái lại người ta càng ngày càng trích chiết được sức mạnh từ nó.

Có lẽ người ta đặt ra câu hỏi là khi vị tha, người ta có bỏ quên an vui lợi lạc của mình không. Chúng ta hãy rõ ràng điều đó : có một lý tưởng vì người khác không có nghĩa là chểnh mãng sự chăm lo cho chính mình. Không phải vì cớ giúp đỡ những người khác mà phải thôi ăn mặc đúng cách, lơ là hình thức bên ngoài hay sức khỏe mình ; như thế người ta chỉ làm cho những người lân cận báo động và lo âu – một cách giúp đỡ họ thật buồn cười... Không cần phải hy sinh và hành hạ mình để làm những điều tốt đẹp cho những người khác. Một khi người ta có thể tự đảm đương một cách đúng đắn, người ta có thể dùng những sức mạnh, tài năng, và những tài nguyên bản thân để phục vụ cho người khác, để giúp đỡ họ bằng sự tốt đẹp nhất của mình, không ưu đãi cho ai, không loại trừ ai. Chắc chắn người ta không cảm thấy tức khắc một tình cảm về lòng bi trùm khắp vũ trụ, nhưng người ta có thể thử vươn đến đó. Trong giả thiết tệ nhất, điều đó sẽ giúp ta ít nhất là không rơi vào sự trói buộc của thói ích kỷ.

Để làm cho đời mình thành “quý báu”, người ta không cần trở nên một người tử đạo ; chỉ cần biết quan tâm đến cái gì khác với con người nhỏ bé của mình. Người ta có thể lợi lạc từ cuộc đời ; đơn giản, người ta sẽ tránh dấn mình vào những lạc thú có thể đe dọa sự toàn vẹn cơ thể hay đạo đức của mình, hay sự toàn vẹn của những người khác, như ma túy, hút thuốc hay uống nhiều rượu.

Cũng xứng đáng chịu khó suy nghĩ một lát về giá trị của đời người, người ta không luôn luôn thấy rõ giá trị đó bởi vì người ta đánh giá thấp sự hiếm có của nó. Có lẽ hơi lạ lùng khi nói đến sự hiếm có trong khi thế giới có hơn ba tỷ người ! Phải hiểu sự hiếm có đó theo nghĩa tương đối : con số người trên hành tinh này hoàn toàn là thiểu số so với số lượng thú vật và côn trùng ở khắp mọi nơi. Chỉ cần nhớ đến những con nòng nọc lúc nhúc trong một cái ao nhỏ, hay những đám mây muỗi trong bầu trời mùa hạ là hết nghi ngờ về điều này. Con người thuộc về một thiểu số trên hành tinh này, và hơn nữa, một thiểu số được đặc ân : khác với loài có lông, nó không hoàn toàn nằm dưới sự thống trị của một quyết định luận sinh học hay môi trường. Nó được phúc bẩm một khả năng suy nghĩ và một ý chí tự do cho phép chọn lựa : chẳng hạn quan niệm cuộc đời nó khác với một lịch sử đơn giản của sự thỏa mãn những nhu cầu và sản sinh loài giống. Đời người là hiếm hoi ở nhiều mặt : trong liên hệ với những hình thức sống khác trên hành tinh chúng ta, và trong tương quan với mức độ tự do cho cá nhân chọn lựa cách sống mình thích. Đó là cái làm cho đời người có giá trị riêng biệt. Nhưng nó trở nên thật sự “quý báu” khi có một ai đó quyết định thực hiện tiềm năng con người của nó, điều mà trong tương quan với toàn thể nhân loại còn lại, cũng hiếm hoi như thấy một ngôi sao giữa ban ngày. Theo sự phán đoán này, người ta chắc chắn sẽ đánh giá cao sự may mắn của cuộc đời làm người và người ta cảm thấy được động viên hơn để thực hiện tiềm năng của nó.

Thật vô ích khi điên cuồng lên nếu người ta có cảm tưởng rằng đời họ chẳng đáng gì trong lúc này và những cứu cánh của nó không có gì rõ ràng. Những khó khăn và khổ nhọc trong đó người ta đang vùng vẫy hiện giờ không nên làm cho chúng ta quên cái tiềm năng mà người ta đang mang trong bản thân mình, bởi vì chính từ đó người ta sẽ tìm thấy những phương cách để giải quyết những vấn đề của họ và đem đến sự đóng góp, dù khiêm tốn, vào thế giới người ta đang sống. Phẩm chất thì quan trọng hơn số lượng. Chẳng hạn, sự tốt đẹp mà người ta có thể làm không tùy thuộc duy chỉ vào số tiền được đưa vào : có thể thực hiện những việc lớn lao với rất ít tiền bạc, khi người ta biết dấn thân với tấm lòng và sự thông minh, như công việc kiểu mẫu của mẹ Teresa hay của tu viện trưởng Pierre, trong khi người ta vẫn thấy luôn luôn có hàng triệu đô la được đầu tư vào những công trình đem lại sự sai lầm hơn là điều tốt đẹp. Vậy chớ để cho mình nản lòng khi có cảm tưởng mình chẳng có gì lớn lao để dâng tặng cho thế giới ; điều đó sẽ trở thành một nguyên cớ cho sự ù lì bất động, trong khi một việc nhỏ mà người ta làm với tấm lòng và sự thông minh sẽ đem đến những kết quả tốt.

Một khi người ta hiểu rõ giá trị của cuộc đời mình, người ta không phải chờ đợi những điều kiện giả thiết lý tưởng hội tụ đầy đủ để làm một cái gì đó. Cuộc đời và phẩm chất của nó tùy thuộc vào chúng ta, và chính bây giờ mà điều đó xảy ra, trong cuộc sống hàng ngày : trong tàu điện, trong văn phòng, trong bếp, trong một phòng nhỏ tu viện, ở bệnh viện hay trong tù. Mọi người đều có cái gì để cho ; hãy dừng lại để tìm thấy đó là cái gì và làm thế nào để thực hiện – một trong những cứu cánh của việc nuôi dạy con cọp.


CHƯƠNG III
CHỈ MỘT CÁI THƯỜNG HẰNG :
SỰ VÔ THƯỜNG

Như những vì sao, sương mù và ngọn lửa,
Những ảo ảnh, hạt sương và bong bóng nước, 
Như những giấc mộng, tia chớp và những đám mây,
Những hiện tượng hợp tạo như vậy, và tôi học nhìn thấy chúng như vậy.
Lời cầu nguyện của truyền thống Kagyupa

Tỉnh thức về vô thường, về sự mong manh nội tại của mọi vật, là một giai đoạn cần thiết của sự phát triển của chúng ta. Nếu người ta lơ là với sự thực này, người ta sẽ chỉ làm chậm sự tiến hóa cá nhân của mình, dù cho người ta có biết tiềm năng của trí huệ người ta đang mang trong bản thân. Thế nên trước tiên phải tìm hiểu vô thường này là gì, để học đối mặt với sự hợp tạo không thể tránh được của đời sống và tiếp theo áp dụng một cách có ích sự hiểu biết này vào cuộc sống hàng ngày.

Vô thường là một hiện tượng phổ quát tác động lên mọi mặt của hiện hữu. Người ta có thể chẳng hạn xem xét những hậu quả của nó trong môi trường vật chất của chúng ta – tất cả những cái là đối tượng của tri giác chúng ta. Mỗi năm mỗi mùa liên tục nối tiếp nhau, mỗi mùa có những thay đổi đặc trưng : sự chuyển đổi của nhiệt độ, dài ngắn của ngày đêm, phong cảnh thiên nhiên. Những thay đổi ấy không thể tránh, dù có thích mùa hè, cái lạnh mùa đông cũng tới. Không ích gì mơ mộng cái không thể. Tốt hơn là thử nếm hương vị và vẻ kiều diễm của mỗi mùa. Và chu kỳ cứ thế lại bắt đầu. Vô thường hoạt động khắp nơi, vì tất cả thay đổi không ngừng nghỉ một khoảnh khắc. Đối với người biết nhận ra nó, thậm chí có một vẻ đẹp vĩ đại trong sự biến chuyển thường hằng này.

Sự chuyển biến cũng cảm thấy trong cuộc đời chúng ta. Giàu hôm nay có thể chuyển sang nghèo ngày mai và ngược lại. Người ta mất việc làm, rồi kiếm lại chỗ khác, chủ rồi thợ, thợ rồi chủ. Không có cái gì bất động.

Đời sống bên trong và những tình cảm của chúng ta cũng không thoát khỏi những cơ chế của vô thường. Tính khí chúng ta thay đổi không ngừng từ sáng đến tối ; có những sự việc người ta thích thú nhiều, những cái khác người ta e ngại, những cái khác người ta thản nhiên. Nhưng cách gì đi nữa, trạng thái tâm thức chúng ta bập bềnh xao động với điều xảy ra quanh chúng ta. Chẳng hạn chỉ cần gặp một người bạn xa cách nhiều năm, thế là có niềm vui. Rồi phút tiếp theo, thấy một người mình ghét đi đến, điều đó đủ làm chúng ta đảo ngược hẳn lại. Để biết tâm thức chúng ta hiện giờ giống cái gì, chúng ta hãy tưởng tượng một con khỉ bị nhốt trong một căn nhà trống, nó không ngừng nhảy nhót mọi phía và chạy đến hết cửa sổ này đến cửa sổ nọ để xem cái gì xảy ra ngoài kia. Như con khỉ, những xúc tình của chúng ta không ngừng cử động, không ngừng ném chúng ta từ những đỉnh cao xuống những vực sâu và ngược lại.

Không có gì thường hằng. Người ta sinh ra, lớn lên, đến trường, làm việc, già đi và sớm hay muộn cũng chấm dứt bằng cái chết. Vài ba vòng nhỏ rồi đi mất. Cuộc đời trốn thoát từng khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác mà người ta chẳng làm gì được. Và khi cái chết đến : phải từ bỏ tất cả : gia đình, bè bạn, tài sản, những sự vật người ta giữ. Một số người kinh hoàng, hay tuyệt vọng khi chỉ nghĩ đến nó, và thế nên văn hóa Tây phương cố công giãy dụa để thoát hiểm khỏi câu hỏi căn bản này, lấy cớ rằng nói đến nó là một việc bệnh hoạn. Đó hầu như một điều húy kỵ, đến nỗi cả danh từ cái chết thường được ngụy trang : người ta thích nói “người ấy đã từ bỏ chúng ta” hơn là “nó đã chết”. Một phản ứng tự vệ vừa tức cười vừa vô ích, bởi vì nó tuyệt đối chẳng thay đổi được gì trước vô thường. Tốt hơn là nhìn những sự việc ngay thẳng mặt : tiến trình biến dịch là không tránh khỏi, chúng ta hãy lợi dụng nó để rút ra cái tốt nhất có thể từ những năm còn lại, không làm con đà điểu vùi đầu vào cát và sống như người ta có cả vĩnh cửu trước mặt mình. Ai lại không cảm thấy sự mãnh liệt mà người ta đang sống từng khoảnh khắc vào giờ phút chia tay hay một cuộc ra đi gấp rút : lúc đó người ta ý thức mạnh mẽ thời gian được tính như thế nào, và thường vào lúc đó người ta nói với nhau hay làm những điều mà một cách vô thức hay không, người ta luôn luôn muốn kéo dài. Đó là giờ của sự thật – sự biểu lộ là đúng lúc ; chỉ còn ít thời gian để cuối cùng người ta đến cái chính yếu, đến cái tuyệt đối không thể cho qua trước khi rời xa. Không làm cho tình thế nặng nề hay khó nhọc, tình cảm khẩn cấp này, nó thật ra chỉ là một ý thức tức thời và sắc bén về vô thường, đã cho một cường độ, một sự thật và một sự giàu có bất ngờ vào tình huống. Sự cảm nhận tính vô thường, tính cách độc nhất của khoảnh khắc người ta đang sống, làm mạnh thêm tri giác về cái gì đang trôi qua và chuyển biến những sự vật tầm thường nhất. Đó cũng như luôn luôn là lần đầu tiên, đồng thời là lần cuối cùng. Hãy tưởng tượng rằng bạn biết rằng tất cả những cây cối trên trái đất sẽ chết hết trong một tháng hay vài tuần. Ngay khi nghe tin này, bạn sẽ nhìn những cái cây với một con mắt mới ; thình lình cái bóng màu lục mơ hồ này mà thói quen khiến bạn thu vào một cách tự động hầu như vô thức sẽ tự rõ nét một cách phi thường. Bạn sẽ thấy cây dầu ở góc đường, hay cây ổi trong vườn bạn như bạn chưa từng bao giờ thấy nó : bạn sẽ tri giác sự hòa điệu tổng thể của nó, hình dáng những chiếc lá, cách dệt của vỏ, kiến trúc của thân và những cành, tiếng xào xạc của lá, sự hiện diện nhẹ nhàng, bóng mát, những con chim nhỏ trú ngụ ở đó. Không gây sợ hãi, ý thức về sự phù du, sự mong manh của sự vật và con người làm cho bạn cảm kích hơn và gợi ra sự kính trọng, tình thương, lòng bi mẫn. Biết bao đôi cặp thường cãi nhau không thể khuây nguôi khi cái chết hay sự rời xa của một người khiến họ cảm thấu được chiều sâu của một tình cảm mà họ đã thường lơ là không trau dồi, bởi vì họ đã sống như thể họ có cả vĩnh cửu trước mặt. Khi người ta chết, tất cả mọi người đồng thuận chỉ thấy những phẩm chất của người ấy, dù họ không ngừng bị chỉ trích khi còn sống. Tán dương họ và thương yêu họ khi họ còn đó không tốt hơn là cái tên sau khi chết sao ? Hiểu vô thường có thể giúp chúng ta việc đó. Không chán nản và làm mình bệnh hoạn, trái lại nó gây cảm hứng cho chúng ta sống trọn vẹn hơn và giúp đỡ tất cả những bạn đồng hành mong manh này trên trái đất làm được như vậy.

Thời đại chúng ta khao khát sự rỗi rãnh, thường xem đó là cơ hội tốt nhất để thỏa mãn sự tham muốn. Trong khi người ta tràn ứ sự rỗi rãnh – ít nhiều thỏa mãn – người ta để con người bên trong mình chết đói. Người ta thích thú với tất cả ngoại trừ có một sự làm chủ nào đối với tâm thức của họ, cái sức mạnh man dã này – bao giờ mà sức mạnh đó chưa tự biết chính nó – tuy nhiên chính nó là động cơ của mọi kinh nghiệm của chúng ta. Và nếu người ta có nghĩ đến, người ta hỗn nó đến vô hạn định. Rõ ràng tất cả chúng ta đều cần thư giãn và vui chơi một ít, nhưng điều đó không phải là người ta phải lưu tâm đến mọi cái phóng dật. Ý thức vô thường có thể cho đời sống vị muối ; người ta sẽ muốn lợi dụng tối đa thời gian của mình và dùng nó theo cách tốt nhất, thay vì để nó trôi qua một cách ngu xuẩn, không biết đến giá trị của nó.

Ý nghĩa thật sự của vô thường luôn luôn bị hiểu sai. Một số người thử giải thích nó có hơi hư vô chủ nghĩa : vì mọi sự thế nào cũng qua đi, thì không có gì quan trọng cả. Ích gì mà làm việc và theo một nghề nghiệp ; không tốt hơn là buông bỏ hết cả sao ? Đó là một thí dụ hoàn hảo của việc bẻ quặt một chân lý căn bản để biến nó thành một cớ cho sự biếng, nhác, để tránh phải đương đầu với những thực tế của đời sống. Nếu người ta phải đi giặt và người ta tự nhủ : “Hơi đâu, biết đâu ngày mai tôi chết”, người ta chắc chắn sẽ tiến bộ nhiều trên con đường lười biếng, mà chẳng bao nhiêu trên con đường trí huệ. Ý thức về vô thường không có nghĩa là bỏ công việc làm hay việc học hành của mình ; chỉ đơn giản là nhận thấy những sự kiện, biết rằng tất cả là sự biến dịch mãi mãi.

Nghe nói đến vô thường không phải là một lý do để sợ hãi hay có những phản ứng thái quá ; sự hiểu biết này trái lại phải được dùng để làm cho cuộc đời chúng ta có giá trị. Người ta có thể quan sát rõ ràng tình trạng biến dịch thường hằng của đời sống, mà vẫn tiếp tục thương yêu đời sống và hân thưởng nó.

Vô thường không phải luôn luôn là một tin tức xấu, nó cũng có mặt tốt : nếu hạnh phúc không tồn tại mãi, thì sự bất hạnh cũng không vĩnh cửu. Khi hết hạnh phúc, người ta bất hạnh ; và người ta trở nên hạnh phúc khi hết bất hạnh. Đi từ trạng thái này qua trạng thái kia xảy ra tự nhiên. Không phải hãm lại sự chuyển động và biết nắm lấy những sự vật như chúng đến, chấp nhận chúng như vậy, dù cho những xúc tình chúng khơi dậy nơi chúng ta. Mỗi khoảnh khắc của đời sống là độc nhất vô nhị và không bao giờ trở lại nữa, và người ta có thể làm giàu lớn lao kinh nghiệm sống của mình bằng cách không lẩn trốn bất cứ phần nhỏ nào của kinh nghiệm. Một số thì khó nhọc, số khác dễ chịu, nhưng mỗi cái có kết cấu và màu sắc riêng của nó, và người ta sẽ được nhiều khi không lẩn tránh chúng.

Đã rõ bản chất vô thường của tất cả mọi hiện tượng, trong và ngoài chúng ta, người ta thôi gán cho chúng một hiện hữu vững chắc. Người ta càng làm cho ý tưởng mà người ta tự tạo trên những sự vật vững chắc bao nhiêu, người ta càng khổ đau bấy nhiêu khi chúng thay đổi, vì chúng tất yếu phải thay đổi. Nếu người ta có những ý tưởng chấp cứng, người ta sẽ có khuynh hướng có những tham muốn và ghét bỏ rõ ràng và mạnh mẽ và chọn lựa những kinh nghiệm của mình theo những ý tưởng thành kiến, nắm lấy cái làm mình ưa thích và chối bỏ cái còn lại. Nhất là người ta sẽ từ chối rằng những sự vật biến đổi và người ta cố chống lại điều đó. Hoàn toàn thất bại, rõ ràng thôi. Nhưng khi người ta bị nhốt kín trong một thái độ ngưng đọng như vậy, chính những phiền não sẽ dẫn dắt người ta : cứ không ngừng đi từ cực này sang một cực khác, và người ta tự làm cho mình bất ổn và mất sự quân bình bên trong. Từ đó là sự quan trọng của việc học bớt bám níu – vào những sự vật, những con người và điều người ta làm – bằng cách chấp nhận sự thật của vô thường. Bao giờ nó cũng hiện hữu, dù người ta muốn hay không, thì tốt hơn là bơi theo dòng chảy : người ta sẽ có lợi từ sức mạnh đẩy tới của nước, thay vì vật lộn với nó.

Tất cả chúng ta đều có khuynh hướng nghĩ rằng người ta nên kiếm lợi từ cuộc đời và từ những tham muốn của mình, và rồi người ta sẽ có nhiều thời gian để suy nghĩ sau này. Thời gian trôi đi, tâm thức chúng ta không chế ngự được tiếp tục xỏ mũi dắt chúng ta đi và người ta lại hỏi tại sao người ta khổ. Trong thời đó, mặt trái nợ nần đi theo và không có gì bảo đảm cho chúng ta rằng ngày mai sẽ tốt đẹp khi người ta trì hỗn tất cả cái gì làm cho người ta phiền muộn. Dù sao đó là một tính toán tệ hại : người ta không lập tức lo toan cho tâm thức mình, lấy cớ rằng người ta muốn không bỏ qua thời vận tốt và lợi dụng cuộc đời. Vậy mà chính tình trạng hoang dã của tâm thức chúng ta ngăn cản chúng ta thật sự lợi dụng được đời sống và nó làm chúng ta phí phạm đời sống vì những trò điên cuồng không kiểm soát được của nó và những thiệt hại mà các trò đó gây ra. Chẳng phải là do sự tính toán kiểu khoái lạc chủ nghĩa này, người ta thích học thuần dưỡng con cọp của mình càng nhanh càng tốt sao ? Chúng ta hãy biết nắm lấy ân sủng khi nó đến : điều này không có nghĩa là người ta luôn luôn có cơ hội hay khả năng từ đó.

Một tri giác lành mạnh về vô thường có lẽ là món quà tốt nhất mà người ta có thể làm cho chính mình : trong ngắn hạn để đánh giá tốt hơn những mặt tốt đẹp của hoàn cảnh hiện thời của mình, không quá bám níu, và để xem những mặt xấu với nhiều triết lý hơn, thậm chí những sự việc xấu nhất cũng có một cứu cánh. Về dài hạn, để không chậm trễ với cái không thiết yếu và đi trực tiếp đến cội nguồn của những sự vật bằng cách thuần hóa con cọp bên trong của mình. Như thế người ta thường có được nhiều khi đối mặt với một số sự thật thanh tẩy cho mình...


CHƯƠNG IV
SỐNG ĐỂ CHO CÁI GÌ ?
“ĐỘNG CƠ CHÂN CHÁNH”

Mong rằng tất cả chúng sanh được hạnh phúc và tìm thấy những nguyên nhân của hạnh phúc,
Được miễn khỏi khổ đau và nguyên nhân của khổ đau,
Rằng không ai thiếu hạnh phúc chân thật – mọi khổ đau dứt bặt,
Và họ luôn luôn cảm nghiệm sự bình đẳng vĩ đại không biết luyến ái những người thân, không ghét bỏ những người khác.
Bốn Đức Hạnh Vô Lượng

Bài kệ này dùng làm lời cầu nguyện và tham thiền, xác định thái độ thích hợp khi người ta muốn dấn thân vào con đường hiểu biết bản tánh thật sự của sự vật. Nếu hình thức của nó hơi khó hiểu, nhưng thông điệp của nó hoàn toàn rõ ràng và giản dị. Mỗi chúng ta vốn có trong mình tinh túy của sự toàn thiện – cái tột bực của trí huệ và tình thương này có thể gọi là “Phật tánh”, “tâm giác ngộ”, hay Chúa Trời bên trong theo quan điểm Thiên Chúa giáo – nhưng chúng ta không biết nó. Chính sự không biết này, cái vô minh này – sự không nhìn ra bản tánh thiết yếu của tâm thức và thực tại – làm cho những tư tưởng, những lời nói, và những hành vi của chúng ta rất thường trái nghịch với thật tánh bên trong của chúng ta và tạo thành một loại sương mù càng lúc càng che mờ nó và ngăn cản nó được tri giác. Vậy thì có một sự tiến hành phải làm để đi từ trạng thái tâm thức hiện thời của chúng ta đến trạng thái “giác ngộ” – sự nhận biết thật tánh của mọi sự. Cuộc du hành có thể dài, có lẽ với một số người hơn là với những người khác, nhưng cái chính yếu là thật sự có những phương tiện cho phép thành tựu một cách trọn vẹn cái tiềm năng của một đời người. Lời cầu nguyện trích ra ở đây chỉ cho chúng ta vừa mục đích của cuộc du hành – trạng thái tâm thức người ta tìm cách trau dồi – và hành trình của nó – những phương tiện để dùng.

Trong thuật ngữ Phật giáo, có một “động cơ đúng” cốt ở mong muốn hạnh phúc và sự tốt đẹp cho tất cả, mong muốn họ tìm thấy bình an và thoát khỏi những nguyên nhân của khổ đau. Đó là một tham vọng cao cả, một nguồn cảm hứng trong những giờ phút tốt đẹp cũng như xấu số. Chắc chắn lời cầu nguyện này nhắm rất cao, nhưng có lợi khi định nghĩa rõ ràng, ngay từ bước khởi hành, những mục tiêu sẽ còn giá trị và phù hợp với mỗi giai đoạn của cuộc du hành.

Bây giờ có nhiều người quan tâm đến thiền định, nhưng thường vì những động cơ tò mò. Phần còn lại của nhân loại có thể đang sống trong lửa và máu hay chết vì đói, như người bên cạnh của họ đang chết vì cô đơn, họ không cảm thấy quan tâm. Tất cả cái mà họ chờ đợi từ thiền định là một phương tiện để vinh danh hơn cho bản ngã của họ : họ muốn trở thành những người có thiên nhãn, xuất hồn đi du hành, có mọi loại thần lực siêu nhiên. Tổng kết : cái ta mập ù ra một cách êm ả trong khi tấm lòng héo úa. Còn về phần trí huệ thì... Sự phát triển cá nhân và tâm linh không cốt tạo ra những kinh nghiệm dị thường, mà ở chỗ học tâm thức mình vận hành như thế nào và ở quan tâm nhiều hơn đến những người khác. Nếu đôi khi người ta có vài kinh nghiệm đến với mình, thì chúng không đáng để người ta lần lựa, chậm trễ với chúng, trong mức độ chúng chỉ là một sự sa ngã của những kỹ thuật điều tâm thức mà không phải là một mục đích tự thân – chưa nói đến chướng ngại trầm trọng mà chúng có thể tạo ra nếu người ta bám luyến quá nhiều vào chúng.

Một ý tưởng sai lầm khác là thấy trong thiền định một phương tiện, hay một sự biện minh để tự cắt đứt với phần còn lại của xã hội. Một thái độ như vậy cho thấy có cái gì khập khiễng trong động cơ : người ta tìm cách sử dụng thiền định để duy trì và củng cố sự căm hờn của họ đối với xã hội.

Nếu hạnh phúc là một trạng thái thường hằng và người ta không bao giờ cảm nghiệm những khó khăn hay khổ đau, có lẽ người ta không cần tiến bộ về tâm linh. Thực ra, những vấn đề và những khó nhọc người ta chạm mặt hết ngày này qua ngày khác là hậu quả của vô minh chúng ta về những cơ cấu vận hành của tâm thức và về bản tánh của nó. Chính vì thế người ta cần một con đường, một hành trình, và trong nhận định này mà chúng ta phải phát động lực dấn thân vào chiều hướng này.

Hiếm khi người ta hành động mà không có động cơ : chính sự phát động của chúng ta thúc đẩy chúng ta hành động. Nếu trời lạnh, người ta đốt lửa để sưởi ấm, rõ ràng người ta không khó nhọc như vậy nếu người ta không lạnh. Trong chiều hướng này, người muốn tìm ra một công việc tốt sẽ không ngần ngại theo đuổi một sự huấn luyện lâu dài và khó khăn để đạt được. Và cũng như thế trong mọi lĩnh vực : trước hết phải cảm thấy có động lực để có ý định hành động và để sẵn sàng nỗ lực. Điều này cũng đúng với với thiền định. Phải được phát động một cách nghiêm túc để phóng mình vào một công việc đòi hỏi nỗ lực khổng lồ về phần mình : phải có một lý do thật sự xứng đáng với khó nhọc. Đó là trường hợp mà chúng ta trù định ở đây : người ta sẽ không tự giới hạn vào một dự định cá nhân, mà thấy những sự việc lớn lao hơn. Vào cuộc chơi, người ta hiến mình trong mục tiêu chính là giúp đỡ những người khác : người ta muốn chế ngự con cọp bên trong, không chỉ để tự sống tốt hơn, mà cũng bởi vì một khi người ta làm chủ tốt hơn tâm thức mình, người ta sẽ có thể thật sự ích lợi cho những người khác – giúp đỡ theo nhu cầu đích thực của họ mà không phải theo những phóng tưởng ích kỷ của chúng ta. Người ta đặt thanh ngang rất cao, nhưng tốt hơn luôn luôn nhắm cao hơn một chút, phải tính đến sự yếu sức của chúng ta. Một khi mục tiêu này được xác định rõ ràng và được chấp nhận, nó sẽ định hướng tất cả cuộc đời chúng ta, hơi giống như một từ trường tổ chức, sắp xếp những yếu tố phân biệt thành một toàn thể cố kết. Một ý tưởng như vậy sẽ thổi sức mạnh của nó vào tất cả những gì người ta sắp suy nghĩ, nói hay làm. Chỉ giữ trong tâm ý định ban đầu cũng đủ để cho những lo toan bận rộn nhỏ nhất hàng ngày của chúng ta góp phần hòa vào mục tiêu của chúng ta. Khi động cơ này rất mạnh, biên giới giữa cái thường tục và cái thiêng liêng tan biến và không còn sự phân tán năng lực nữa : dù người ta làm việc, chăm sóc con cái hay thiền định, từ nay tất cả đều góp phần vào sự thực hiện mục đích của chúng ta.

Người ta có thể cảm thấy những lý tưởng vừa được gợi ra đó là hơi vượt cao : “Ích gì khi thử rút cái gì đó từ tâm thức mình ? Làm sao tôi sẽ có thể hy vọng thay đổi khi tôi có tham và sân chốt cứng trong thân ?” Trái lại, đó là lý do hơn nữa để triệt để tận cùng. Nếu người ta có thể nhìn thấy những sự vật theo cách trong sáng và tích cực, mở mình ra với những người khác và luôn luôn hành động trong ích lợi của họ, người ta sẽ ở trong trạng thái đại bi tự nhiên vốn có và người ta không cần tập sự. Khi một thái độ như vậy chưa là tự phát, phải làm việc trên động cơ của nó, động cơ này là nền tảng cần thiết của nó. Người có thái độ tự lo cho mình trước hết thì không luôn luôn tự nhiên nghĩ đến những người khác. Vậy thì một phản xạ cần phải được giáo dục và nuôi dưỡng, dầu cho ban đầu nó có vẻ hơi giả tạo. Khác đi, ích gì nói đến lòng bi nếu ít ra người ta không có ý muốn giúp đỡ những người khác ? Chính điểm khởi hành cần thiết này mà người ta nói là “động cơ đúng” : có ý định giúp đỡ những người khác, không phải chỉ những người mà ta yêu mến.

Vào lúc này, chắc chắn có một điều làm chúng ta lưu ý : thoát khỏi những khổ đau riêng của chúng ta – một tình cảm rất tự nhiên. Vả lại người ta có thể đến đó không cần thiền định, ít ra với danh nghĩa tạm thời. Nhưng ở đây chúng ta nói tới một tham vọng lớn lao hơn rất nhiều : thay vì chỉ lo cho những tham muốn riêng của chúng ta, sự an vui hạnh phúc cá nhân của chúng ta, không lưu tâm gì đến cái có thể xảy ra cho những người khác, người ta sắp tìm cách khai triển nơi bản thân một tình cảm đích thực của sự nhân từ và bi mẫn đối với tất cả mọi người. Người ta sẽ thử trau dồi nuôi dưỡng thái độ tích cực này bằng mọi phương tiện và trong mọi cơ hội, và vẫn chú ý “không bước nhanh quá trước âm nhạc”. Mỗi sự có lúc của nó : một khi có thể có một thái độ tích cực hơn đối với chính mình, người ta sẽ có thể trải rộng ra đến những người thân cận, rồi dần dần càng lúc càng đến những người khác.

Tất cả tiến bộ tâm thức thật ra bắt đầu bằng một công việc trên chính mình, và quan trọng phải biết công việc đó. Trước tiên phải học tập trở nên tự chủ, tự đảm đương chính mình để không là gánh nặng cho những người khác. Những trách nhiệm và những khó khăn của họ sẽ nhẹ bớt bao nhiêu, và họ sẽ có một không gian nào đó của tự do cho chính họ. Dù sao, không ích gì khi đặt cái cày trước con trâu : người ta có thể làm nhiều cái xấu hơn cái tốt khi tìm cách giúp đỡ một ai trước khi đã hiểu biết một ít người ta tự vận hành mình như thế nào – một người mù dẫn dắt một người mù khác. Đó là cái người ta gọi là lòng bi trói buộc, giới hạn, nó không được nuôi dưỡng bởi trí huệ. Rõ ràng phải biết bơi để có thể cứu người sắp chết đuối, còn không thì tai hại cho cả hai. Cũng thế, người ta chỉ có thể giúp đỡ thật sự những người khác – hơn những việc phục vụ nhỏ nhặt đơn giản hàng ngày – khi người ta đã thuần hóa tâm thức mình và biết quản lý khổ đau cũng như hạnh phúc.

Cũng phải biết tỏ ra một cảm thức lành mạnh nào đó để không rơi vào sự sốt sắng thái quá. Rất tốt khi muốn giúp đỡ những người khác, nhưng như thế không có nghĩa là phải không ngừng quấy rối họ để ép buộc họ nhận sự giúp đỡ bằng tất cả sức mình, dù họ có muốn hay không. Ngược lại, cũng không phải khó nhọc đợi đạt được sự toàn thiện rồi mới có ích. Đó là vấn đề của cảm thức lành mạnh, của lương tri : người ta phải tìm một biện pháp trung đạo, biết đầu tư năng lực của mình với sự tinh tế và thông minh. Người ta không cần phải là một đại thánh để có thể mang giùm những cái bao bị của một bà già đi đứng khó khăn, hay giúp bà bước lên xe buýt hay để biết rằng tốt hơn là không dự phần vào những cãi lộn của những người hàng xóm. Với một chút trông nom cẩn thận, người ta có thể có ích, khi chờ đợi một ngày người ta sẽ biết hành động một cách hoàn toàn trong sạch và tất cả điều người ta làm sẽ tự động tốt đẹp cho những người khác. Trong thời gian đó, người ta có thể ít ra thử làm ở mức độ tốt nhất, nhờ những khả năng hiện thời của họ. Dầu việc đó không rốt ráo, đó là một phương tiện để làm sâu thêm sự hiểu biết những sự vật và những con người và làm vững chắc động cơ của họ – ít ra đó là một thái độ nó sẽ đổ ra lòng bi đích thực về sau.

Lòng nhân ái chỉnh tề bắt đầu từ chính mình, người ta trước tiên học biểu lộ lòng bi đối với chính mình, trước khi có thể áp dụng nó cho những người khác. Có lẽ vài người cho rằng người ta có thể miễn giai đoạn trung gian này nếu người ta đã tự cảm thấy có thể thương yêu và nhân từ với những người khác. Nhưng nếu quả đúng là đôi khi có những liên hệ sâu xa và mãnh liệt giữa vợ chồng, anh em hay giữa bạn bè, thì tình thương đích thực chúng ta nói ở đây nhằm khiến cho chúng ta có thể thương yêu mạnh mẽ bất kỳ ai. Những xã hội hiện đại có một quan niệm kỳ quặc về thương yêu : người ta dễ dàng yêu – bạn bè, tình nhân, hay thậm chí những vật người ta có – nhưng tình thương yêu này có cái gì chật hẹp và giới hạn, bởi vì căn bản là ích kỷ và sở hữu. Hẳn rằng không có gì xấu khi yêu thương bạn bè và gia đình mình, trái lại đó luôn luôn là điều tốt, vì đó là điểm khởi hành để khai triển tình thương thật sự. Nhưng nếu người ta giữ sự đặc biệt của những yêu mến của mình cho những người đó, người ta sẽ chỉ rèn thêm những xiềng xích. Những mối liên hệ của người đó luôn luôn có hai mặt : chúng có thể làm ngạt thở cũng như khích lệ.

Thế nên tốt đẹp là thử không giới hạn tình thương và lòng bi vào một phạm vi những người nào, vì sẽ thiệt hại cho tất cả những người khác. Dễ dàng để cho mình xúc động bởi những người nghèo và người đói, nhưng có lẽ người ta sẽ khó cảm thấy lòng bi đối với những người sung túc và được nuôi dưỡng no đủ. Vậy mà những người này cũng có khổ đau riêng phần họ, có lẽ kém rõ ràng hơn, vì khổ đau ấy thuộc về tâm thức hơn là thân xác, nhưng không hề kém nặng nề khổ nhọc : những lo âu, những căng thẳng, sợ hãi mất mát sụp đổ chẳng hạn.

Điều đó đơn giản muốn nói rằng mỗi người đều có những vấn đề riêng và những khổ đau riêng của mình, và phải học cảm thấy cùng phẩm chất lòng bi cho tất cả, giàu hay nghèo, trắng hay đen – bất cứ ai. Một con đường tiến bộ như vậy có thể chuyển hóa cuộc đời chúng ta : người ta sẽ cảm thấy sung sướng hơn và quân bình hơn, và tất cả những ai bao quanh chúng ta cũng sẽ được thọ hưởng một cách tự động sự bừng nở trong chúng ta một lòng bi hiến tặng rộng rãi cho tất cả. Cái gì đến trong một người trong chúng ta sẽ tự động ảnh hưởng mọi người khác. Về cá nhân, người ta sẽ thấy tiềm năng và những năng lực của mình tăng trưởng : người ta sẽ đến chỗ tự đầy đủ với chính mình hơn và ít cần đi kiếm sự trợ giúp và an ủi của những người khác. Nhưng chú ý không bị cái đầu cứng lừa gạt và rơi vào cái bẫy của kiêu ngạo !

Người ta có thể bị thử thách nghĩ rằng một sự dấn thân tâm linh như vậy đưa chúng ta vào một giới thượng lưu – những người hơi tách biệt một tí, hơi cao hơn cộng đồng người thường. Vậy chớ bỏ quên cái thấy rằng nếu chúng ta tiến hành một bước đường như vậy, đó chính là để chúng ta phụng sự cho những người khác, mà không phải để cho chúng ta được họ phụng sự : điều này đã được xác định lúc khởi hành. Không phải vì người ta thử làm nảy sinh nơi mình lòng bi mà phải tự cho mình là một loại vua chúa hay hoàng hậu nào đó xứng được nằm dài nghỉ ngơi và để người khác nuông chiều. Sự kiêu mạn thực là một chướng ngại tệ nhất mà người ta có thể gặp trên con đường phát triển bên trong. Tại sao tự tin là mình cao hơn những người khác, với lý do người ta đã tiến hóa một chút, và coi thường những người khổ đau hay đang trong mê lầm, như thể họ mắc bệnh dịch hạch. Sự hạ cố này trái lại là bằng chứng chúng ta còn rất nhiều khoảng đường để đi ! Khiêm hạ là một đức hạnh cốt yếu ; hơn nữa, không thể có lòng bi chân chính nếu không có nó. Nếu người ta thành thật trong đường đi tâm linh của mình, người ta phải sẵn sàng chứng tỏ nó bằng những hành động, không ngần ngại trả bằng giá của con người mình.

Sự tiến bộ cốt ở phát triển cái tiềm năng nó là của riêng chúng ta, trong khi vẫn khiêm tốn và nhân từ. Dĩ nhiên, không có gì hoàn toàn và người ta có thể tự lừa dối mình. Nhưng đó không phải là một lý do để tự trừng phạt mình và để cho mình bị che phủ bởi những sai lầm của mình. Cái cốt yếu là làm hết sức mình, hoàn toàn giản dị, thành thật, nhờ những khả năng của mình. Sự hối tiếc càng có một vai trò tích cực bằng cách giúp chúng ta làm mạnh thêm quyết tâm, thì càng vô ích để mình bị bào mòn bởi những hối hận không ngừng chúng chỉ có thể ngăn trở sự phát triển tốt đẹp của chúng ta.

Việc đầu tiên cần làm khi mở mắt ra vào buổi sáng là nhớ lại sự dấn thân của mình : “Tôi muốn rằng tất cả mọi sự tôi sắp làm, nói hay nghĩ hôm nay phải ích lợi cho những người khác.” Lòng bi phải trở thành sợi dây truyền dẫn và điều khiển cuộc đời chúng ta, vì nếu người ta mất nó, người ta sẽ tự đóng lại con đường của sự tiến bộ đích thực – tâm linh và cá nhân. Lòng bi không phải là sự thương hại hay hạ cố, đấy không phải là một tình cảm nước mắt giả vờ hay nước hoa hồng như một số người tưởng tượng. Đó là tình thương yêu trong tất cả uy quyền của nó, thoát ngoài mọi trói buộc của những biệt đãi và những loại trừ mà bản ngã đặt lên nó. Đó là một sức mạnh vĩ đại có thể làm sập núi, chẳng hạn như câu chuyện một người đàn bà Mỹ đã một mình nâng lên một chiếc xe hơi đang đè đứa con mình chứng tỏ. Khi người ta được phát động bởi lòng bi, người ta mang trong mình một kho tàng năng lượng không hề cạn kiệt. Đó là cái đối trị tuyệt đối đối với sự mệt mỏi và nản lòng : khác với những sức mạnh vật lý và sinh khí dễ dàng cạn kiệt, lòng bi là một nguồn năng lượng thường trực được làm mới lại bởi sự mong muốn giúp đỡ những người khác – “bổn phận trách nhiệm cháy bỏng” này luôn luôn được hừng hừng bởi vô cùng những nhu cầu và khổ đau. Một khi một ngọn lửa như vậy làm bạn sống động, sự năng động của lòng bi nâng đỡ bạn không ngưng nghỉ và không vơi cạn, ngày này sang ngày khác suốt cuộc đời bạn. Quả là hơi khó tưởng tượng, trừ khi người ta có dịp gặp một một ví dụ sống về chuyện đó – và nó luôn luôn có. Ngọn lửa người ta thấy trong mắt mẹ Teresa hay tu viện trưởng Pierre chẳng hạn, vừa là một dấu hiệu vừa là một khích lệ : mỗi chúng ta đều có cái tiềm năng này của tình thương và có thể làm những điều kỳ diệu nhờ nó.

Người ta có thể so sánh động cơ chân chính với một cành cây ghép. Hiếm khi một sự ghép cành thành ngay cú đầu tiên : phải làm nhiều lần để việc đó thành công. Sự làm thử ban đầu có lẽ có những bước giả vờ : làm sao đòi hỏi giúp đỡ những người khác khi phần nhiều những tương quan của chúng ta được gợi thành từ bám luyến hay ghét bỏ ? Tuy nhiên, dù sự dấn thân của chúng ta vẫn còn chỉ trên ngôn từ, ít ra nó cũng có lợi lạc là không làm hại một ai. Nhưng chúng ta chớ quên rằng động cơ này được ghép cành trên cái tiềm năng lòng bi nó luôn luôn ở nơi chúng ta, để cho động cơ đó được biểu lộ qua một khả năng thật sự thương yêu những người khác. Và động cơ chúng ta càng mạnh, năng lực của lòng bi càng dẫn nước tưới cho cuộc đời chúng ta. Cho đến khi trở thành hoàn toàn tự nhiên và luôn luôn sẵn sàng vận động – một bản chất thứ hai.

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap