BẢN NGÃ
LÀ GỐC CỦA KHỔ ĐAU & BẤT CÔNG
Hoà
thượng Thích Thanh Từ
Trên
cõi đời này, tất cả chúng ta dù lớn hay nhỏ, ai cũng như
ai đều thấy mình (bản ngã) là quan trọng; cho mình là trung
tâm của vũ trụ, nên xem thường mọi người và muốn mọi
người quí trọng mình, hướng về mình. Đó là cái bệnh
rất lớn làm cho con người đau khổ. Thế nên Phật thuyết
giáo chỉ dạy cho chúng ta là phải buông xả kiến chấp về
bản ngã, để thoát khỏi mọi khổ đau. Người chấp ngã
chẳng những không thấu đạt chân lý mà còn đặt để ra
nhiều điều bất công sai lầm khiến cho người vật phải
khổ đau vì mình.
Người
chấp ngã ở trường hợp nào cũng muốn hoàn cảnh theo mình,
qui hướng về mình. Đối với thiên nhiên thì muốn thiên
nhiên vì mình, lệ thuộc mình. Lúc tôi còn ở Chân Không,
một hôm trời mưa tôi hỏi thị giả:
Đố
chú, mưa để làm gì ?
Thị
giả đáp :
- Thưa
Thầy, mưa để cho nhà nông làm ruộng.
Tôi
cười, hỏi:
- Ngoài
biển có ai làm ruộng đâu mà sao trời vẫn mưa ?
Thị
giả không trả lời được.
Đa
số chúng ta đều nghĩ trời mưa là để làm ruộng, trời
nắng là để phơi lúa v.v... Tất cả cái gì cũng để cho
chúng ta hết. Nên khi làm ruộng gặp trời nắng thì than trời,
trách trời không thương mình. Ngược lại khi phơi lúa mà
mưa thì cũng trách trời, có khi nổi giận với Trời nữa.
Do chấp ngã mà nhiều người nói bậy nói càn, bởi thiên
nhiên không chìu theo ý mình, không chìu theo công việc làm
ăn của mình ! Đó là trời mưa để làm ruộng, trời nắng
để phơi lúa. Rồi đến nước biển mặn để lấy muối,
đất màu mỡ để trồng cây lấy trái, gió thổi để cho
người mát... Do nghĩ tất cả mọi thứ đều để cho chúng
ta, nên cái gì như ý thì chúng ta vui, trái lại thì chúng ta
buồn giận. Quí vị gẫm lại xem có phải con người bắt
trời đất chìu theo ý mình không ? Như vậy thì bản ngã chúng
ta bao lớn ?
- To
vô kể ! Trời đất thiên nhiên mà cũng bắt qui hướng về
mình, mình muốn cái gì thì trời đất phải chìu theo cái
nấy. Bởi bản ngã to, nên không thấy được lẽ thật!
Đó
là thiên nhiên đối với bản ngã, bây giờ sự vật đối
với bản ngã. Bởi chấp ngã nên những con vật mà chúng ta
nuôi, chúng ta bắt nó phải làm bổn phận với chúng ta. Ví
dụ như nuôi chó là để giữ nhà, nuôi gà trống là để
gáy sáng báo thức, nuôi trâu để cày ruộng, nuôi ngựa để
kéo xe v.v... Chúng ta nghĩ nuôi chó là để giữ nhà, kỳ thực
khi nuôi nó, chúng ta đâu có giao ước với nó là lớn lên
phải giữ nhà cho chúng ta và nó đã hứa khả. Nó hoàn toàn
không biết gì về chuyện giữ nhà giữ của, đặc tính của
chó thấy người lạ là sủa. Thấy chó sủa người lạ, chúng
ta cho rằng chó giữ nhà cho mình. Nhà mình mình giữ là bổn
phận của mình. Chó nó đâu có biết đồ mình cất chỗ nào
để giữ ? Thế mà khi ăn trộm vô nhà lấy đồ, chó nó ngủ
quên không sủa, thì sáng ra mắng chửi đánh đập con chó.
Tại sao của mình mình không giữ, nhà mình mình không canh,
khi mất đồ thì đánh chó mà không đánh mình ? Con gà cũng
vậy, ở nhà quê có nhiều nhà không có đồng hồ, nhờ tiếng
gà gáy đánh thức để lo công việc làm ăn. Hôm nào gà ngủ
quên không gáy sáng, chủ nhà cũng ngủ quên, không dậy đúng
giờ để gánh hàng ra chợ bán, rồi nổi giận chửi bới
mấy con gà, mà không tự trách mình. Như vậy, có phải chúng
ta đặt mọi sự vật lệ thuộc vào chúng ta một cách quá
đáng không ?
Khi
thấy bản ngã là trên hết, thì chúng ta không nhận định
được lẽ thật, không biết cái nào hợp là hợp lý. Nghĩ
nói làm rất bất công, xằng bậy, cho rằng gà vịt tôm cá
v.v... sanh ra là để cho con người ăn, nuôi sống con người,
nên nói: “Vật dưỡng nhơn”.
Thật
sự thì các con thú có đồng ý đem mạng sống nuôi mạng
người không ? Khi quí vị bắt gà làm thịt nó có giãy giụa
kêu la không ? Rõ ràng con gà sợ hãi, giãy giụa tỏ thái độ
phản đối, vì không muốn mất mạng sống. Nhưng vì không
thể chạy thoát nên đành chịu chết, chớ nó đâu có vui
lòng đem mạng sống đãi cho người ăn ! Rồi đến những
con thú lớn như con heo, con bò... Khi đem nó ra giết, nó giãy
giụa kêu rống, nào có vui vẻ sẵn sàng hiến thân cho người
ăn đâu ! Tóm lại tất cả những sinh vật không phải tự
nó muốn đem thân dâng cho người ăn. Nhưng vì nhu cầu thèm
muốn của con người, nên con người bắt nó làm thức ăn,
chớ không ai đặt để loài vật nuôi loài người mà nói
“vật dưỡng nhơn”.
Nếu
đặt ngược lại câu nói đó lại là “nhơn dưỡng vật”
thì quí vị nghĩ sao ? Chắc chắn là không đồng ý. Bằng
chứng là con muỗi con rệp chích người lấy chút máu để
sống, thì người không cho, hoặc đuổi đi hoặc đập chết.
Để thấy người không chấp nhận quan niệm “nhơn dưỡng
vật”, thì loài vật nào chịu “vật dưỡng nhơn” ? Loài
vật dù mạng sống nhỏ nhoi, nhưng nó vẫn ham sống sợ chết,
song vì sức yếu không chống cự nổi nên đành chịu chết
để loài người ăn thịt vậy. Đó là những vật yếu, nhỏ,
bây giờ đến những vật có thân lớn mạnh hơn loài người,
như con cọp, con sư tử, cá mập... Khi cọp, sư tử thấy người
nó cho là mồi của nó nên nó vồ để ăn thịt. Người chống
cự không lại trốn không thoát, thì bị nó ăn thịt để
nuôi mạng sống nó. Như vậy quí vị có
thừa nhận lý thuyết “nhơn dưỡng vật”
thì vật cũng không chấp nhận thuyết “vật dưỡng nhơn”.
Nếu thú biết nói tiếng người, chắc chắn là nói cãi lại,
hoặc kiện thưa đến toà, chớ không chịu thua đâu ! Loài
người bất công quá ! Loài vật đâu có thừa nhận cho loài
người ăn thịt nó, vậy mà loài người tự đặt để loài
vật phải nuôi loài người, để rồi ăn thịt nó cho ngon
miệng, không chút lòng hối hận thương tiếc !
Trong
cuộc sống này chẳng ai nuôi ai hết, chẳng qua loài mạnh
dùng sức bắt ép các vật nhỏ yếu để mà ăn. Đó là một
lẽ thật không chối cãi. Hiểu như vậy, thì khi bắt một
con vật làm thức ăn, chúng ta phải biết rằng chúng ta đã
dùng sức mạnh cướp đoạt mạng sống của nó, để lợi
dưỡng cho mình, chớ không phải chính nó tự nguyện hy sinh
nuôi mình. Có nghĩ như vậy, chúng ta mới giảm thiểu sự
lạm dụng máu thịt của chúng sanh. Và, khi ăn cũng có chút
lòng xót thương cho thân phận yếu hèn của nó. Để thấy
quan niện “vật dưỡng nhơn” không phải là chân lý mà
do người đặt để ra. Đó là bản ngã con người đối với
thiên nhiên và đối với sinh vật.
Sau
đây là bản ngã của con người đối với con người. Thế
thường, con người hay coi trọng bản ngã của mình, nên khi
có thế lực liền đặt ra nhiều điều luật vô lý, tạo
sự bất công giữa con người với con người. Xưa ở Ấn
Độ, trước thơì Phật ra đời, người Ấn Độ đặt ra
luật Ma nu, luật này chia loài người ra làm bốn hạng: Giòng
Bà-la-môn tức là giới tu sĩ có nhiều quyền lợi
hơn hết. Kế đó là giòng Sát-đế-lợi tức là giới võ
sĩ gồm vua quan. Kế nữa là giòng Vệ-xá tức giới thương
mãi thợ thuyền. Thấp nhất là giòng Thủ-đà-la, gồm những
người nghèo khó hạ tiện làm tôi mọi cho ba hạng người
trên. Người đặt ra luật lệ đó là ai ? Có phải những
người có học khôn lanh, lợi dụng thế lực sẵn có của
mình mà đặt để như thế, nhằm bảo vệ cho giai cấp của
mình sống yên ổn, để thọ hưởng những quyền lợi sung
mãn, bắt những giai cấp bất hạnh khác phải phụng sự tôn
kính mình ? Do đâu mà họ bày ra như vậy ? Có phải là do
cái bản ngã của họ không ? Như vậy, tất cả mọi bất
công trong xã hội đều nhằm mục tiêu thỏa mãn bản ngã
của con người chớ không có lý do gì khác.
Xưa
thời quân chủ phong kiến, các ông vua tự xưng là Thiên tử
- con trời - Họ quan niệm trời sanh ra muôn vật, nên trời
là trên hết, mà con trời thì quyền thế không ai bằng. Bởi
vậy làm vua muốn giết ai thì giết, muốn phong ai làm quan
thì phong, muốn cất chức ai thì cất. Không ai có thể ngăn
cản, không ai có quyền làm trái lại ý muốn của vua, nếu
có ai làm trái ý là phạm tội khi quân, bị án tử hình hoặc
tru di tam tộc. Đó là những bất công do người có thế lực
đặt ra, để khống chế những người không thế lực, chỉ
vì nhằm thỏa mãn bản ngã của họ, để làm các việc mà
không ai dám kêu ca, phản đối. Đó là quan niệm hết sức
sai lầm do si mê chấp ngã mà ra.
Muốn
phá bỏ cái mê chấp ấy, chúng ta
phải làm sao ? Phật dạy con người muốn được an vui hạnh
phúc phải ứng dụng lý nhân duyên vào cuộc sống. Lý nhân
duyên là một lẽ thật. Từ thiên nhiên cho đến sinh vật
trên cõi đời này, đều tùy thuộc vào lý nhân duyên. Người
đời vì không thấy không hiểu nên sanh ra quan niệm chấp
ngã sai lầm tự làm khổ mình và làm khổ người vật xung
quanh. Nếu hiểu thấu lý nhân duyên thì chúng ta không còn
chấp ngã nữa. Chẳng hạn như hiện tượng trời mưa là do
nước bốc thành hơi, hơi nước gặp lạnh tụ lại thành
mưa rơi nước xuống. Bất cứ chỗ nào đủ nhân đủ duyên
như vậy thì có mưa, không lựa là biển hay ruộng hay núi
rừng. Rồi như cái nhà do nhiều duyên tập hợp mà thành,
như gạch, cát, ciment, tole, gỗ, công thợ v.v... tập hợp lại
đúng hệ thống thì thành cái nhà. Phân tán những thành phần
này ra thì cái nhà không có. Rõ ràng cái nhà không thật, nhưng
vì thói quen của con người thất vật gì cũng cho là thật,
rồi chấp nó là của mình của người, sanh ra mọi phiền
não. Chính ngay bản thân con người cũng do nhân duyên mà thành.
Dở dĩ thân này có ra là do tinh cha huyết mẹ hợp lại rồi
thần thức gá vào thành thai mẹ, được nuôi dưỡng bằng
tứ đại qua thức ăn nước uống hơi thở và hơi ấm của
người mẹ. Khi thai nhi ra đời, cũng tiếp tục dưỡng nuôi
bằng tứ đại là sữa, cơm, nước... cho đến khi trưởng
thành. Người thành nhân rồi dần dần đi đến già chết,
sắc thân tan hoại, tứ đại trở về với tứ đại. Vậy
thân này có thật là ta không ? - Do duyên hợp mà có, duyên
tan thì rã rời, không tìm thấy cái ta ở đống
thịt hay ở vũng máu hay ở khúc xương... Nhưng vì chúng ta
mê không thấy được lẽ thật; cho thân này là thật nên
mới chấp ngã. Vì thân này không thật nên khi duyên tụ thì
thành, có ta; khi duyên tan thì hoại, ta mất. Vậy mới biết
: cái ta này là cái ta thuộc về duyên. Nếu thuộc về duyên
thì không thật. Đó là chúng ta dùng trí tuệ quan sát thấy
tất cả pháp đều do duyên. Thân người có là do duyên, vạn
vật có cũng do duyên.
Kinh
A-hàm Phật dạy: “Thấy được lý nhân duyên là thấy chánh
pháp hay thấy đạo”, đó là người có trí tuệ. Vạn vật
trên cõi đời này có ra là do nhân duyên sanh. Vì chúng ta không
thấy không biết nên nhận định sai lầm, đặt nó thế này,
thấy nó thế kia, rồi sống một cách mù quáng tà vạy, sanh
ra bao nhiêu thứ phiền não khổ đau.
Nói
thân người, thân thú, mọi cảnh vật... đều do nhân duyên
sanh, tất cả đều không thật; có người hoang mang thắc mắc:
Thân người không thật thì sống để làm gì ? Cảnh không
thật thì làm ăn chi cho cực nhọc ? Thôi thì ngồi tréo cẳng,
nhịp đùi, thổi sáo, chơi, chờ chết... Người nghĩ như thế
là chưa hiểu lý nhân duyên. Lý nhân duyên chỉ cho chúng ta
thấy rõ lẽ thật. Khi đã thấy rõ lẽ thật thì chúng ta
có nhiều lợi ích lớn. Chúng ta sẽ làm chủ được mình,
chuyển đổi con người của chúng ta từ tầm thường thấp
kém trở nên cao thượng tốt đẹp, chuyển đổi hoàn cảnh
từ xấu thành tốt, chuyển đổi sự vật từ dở thành
hay. Ví dụ như thau nước, chúng ta muốn cho nó đọng lại
thành khối thì tạo duyên lạnh, muốn bốc thành hơi thì tạo
duyên nóng, muốn nước ở thể lỏng thì tạo duyên ấm, nước
nó không cố định, tùy theo duyên mà nó thay đổi. Con người
cũng vậy, đang là người tầm thường muốn trở nên người
cao thượng, thì phải tạo duyên tốt là gần thầy sáng, bạn
lành, thường đọc kinh sách, chăm chỉ tu hành. Ngược lại
nếu muốn bê tha sa đọa, thì cứ la cà trà đình, tửu điếm,
giao du với bạn ác thì sẽ thành người xấu, người hèn.
Như
vậy, thấu suốt được lý nhân duyên thì con người không
còn chấp ngã, không làm những chuyện cuồng dại nữa. Chúng
ta sẽ nỗ lực vươn lên và tự tin nơi mình có khả năng
tạo dựng một cuộc sống cho chính mình, và thực hiện sở
nguyện của mình một cách công bằng hợp lý, đúng theo lý
nhân duyên. Nếu không hiểu lý nhân duyên, thì con người sẽ
cho rằng cuộc đời của ta là do trời đất sắp bày, sanh
ra bởi trời đất, chết đi cũng do đất trời định đoạt.
Mọi sự thăng trầm thịnh suy trong đời người đều nằm
trong tay của đấng tạo hóa, con người không có quyền lực
gì cả.
Lý
nhân duyên rất thực tế và công bằng, nên người Phật tử
phải hiểu cho rành rẻ, rồi đem ứng dụng vào cuộc sống
của mình sẽ được lợi ích lớn. Không riêng người học
Phật mới ứng dụng lý nhân duyên, mà chính các nhà khoa học
sáng chế được những máy móc tinh vi, phát minh ra những điều
mới lạ, đều ứng dụng lý nhân duyên mà thành.
Bản
thân con người, Phật nói có bốn thứ là đất nước gió
lửa hợp lại thành, bốn thứ này là phần căn bản. Khoa
học thì phân chia thân thể con người rất nhiều bộ phận,
phân tích chi ly thì thân con người có trăm ngàn muôn ức tế
bào. Mỗi bộ phận mỗi loại tế bào có một chức năng riêng
của nó mà hình thành nên thân người. Như vậy thân thể
con người là một cố thể tập hợp các duyên, hội đủ
duyên thì thành, không đủ duyên thì tan hoại, nên nó không
có thực thể cũng không phải cố định. Bởi nó không có
thực thể, không cố định, nên Phật nói là vô ngã, không
có cái ta chủ tể, mà chỉ có cái ta duyên hợp. Do duyên hợp
nên hằng chuyển biến.
Chính
vì sanh mạng con người do duyên hợp và hằng chuyển biến,
nên chúng ta có thể đổi thay từ xấu thành tốt được.
Chẳng hạn thân thể đang suy dinh dưỡng bệnh hoạn, thì nên
nghỉ ngơi, ăn uống, thuốc men bồi bổ cho nó mạnh khỏe.
Con người thành tốt hay xấu, khổ hay vui, đều do mình, không
ai bắt mình phải xuống địa ngục cũng không ai kéo mình
lên thiên đường. Con người đóng vai trò chủ động trong
việc này. Vậy, muốn lên thiên đường phải làm sao ? Phật
dạy, người muốn lên thiên đường là phải tu thập thiện.
Nơi thân không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm. Nơi
miệng không nói dối, không nói hai lưỡi, không nói ác khẩu,
không nói thêu dệt. Nơi ý không tham lam, không sân giận, không
si mê tà kiến. Và ngược lại thì xuống địa ngục, ngạ
quỉ, súc sanh. Những đường này chắc không
ai muốn, nhưng dù không muốn, mà đã gây ra mười đều ác,
thì nó vẫn là cái nhân kéo lôi con người đến những đường
ác đó. Quí vị phải hiểu rõ điều này, để đừng gieo
nhân lầm lẫn. Trong kinh A-hàm có đoạn ghi:
Một
hôm có vị Bà-la-môn hỏi Phật :
- Thưa
ngài Cù-đàm, đệ tử của Ngài chết, Ngài có thể cầu nguyện
cho họ lên thiên đường được không ?
Phật
không đáp mà hỏi lại:
- Nếu
đệ tử của các ông chết, các ông có thể cầu cho họ lên
thiên đường được không ?
Bà-la-môn
trả lời:
- Được.
Phật
liền đưa ra một ví dụ:
- Giả
sử có người đem một tảng đá lớn để trên miệng giếng,
rồi thỉnh hai ba chục vị Bà-la-môn đứng xung quanh cầu nguyện
cho vị ấy xô tảng đá xuống giếng, tảng đa nổi không
chìm. Quí vị Bà-la-môn có cầu nguyện được không ?
Người
Bà-la-môn đáp:
Cầu
không được.
Phật
hỏi:
Tại
sao ?
Người
Bà-la-môn đáp:
- Vì
đá nặng, rớt xuống nước là chìm, dầu cho hàng triệu người
cầu nguyện nó cũng không nổi được.
Phật
lại hỏi tiếp:
- Giả
sử có người đem dầu đổ xuống giếng, rồi mời các vị
Bà-la-môn cầu nguyện cho dầu đừng nổi mà chìm dưới đáy
giếng, các vị có cầu được không ?
Người
Bà-la-môn trả lời:
- Không
được.
- Tại
sao ?
- Vì
dầu nhẹ nên nổi ở trên mặt nước, không thể chìm dưới
đáy giếng được.
Phật
nói:
- Cũng
vậy, nếu người tạo thập ác là cái nhân đọa vào đường
ác, làm sao cầu nguyện cho họ lên thiên đường được. Người
tu thập thiện đã tạo cái nhân lên thiên đường, dù cho
người ác ý muốn cầu cho họ xuống địa ngục, họ vẫn
lên thiên đường.
Vậy
mà đa số Phật tử bây giờ tu thì không tu, cứ mãi lo làm
ăn, đua đòi theo tài sắc danh lợi. Đến khi gần chết, sợ
quá, thỉnh các thầy các cô cho đông, để cầu nguyện lên
thiên đường hoặc về Cực lạc. Cầu nguyện có được thành
tựu không ? Chắc là không thành tựu. Điều này Phật đã
nói quá rõ là tạo nhân thì sẽ thọ quả. Thế nên muốn
không đọa địa ngục, thì không gì hơn là trong trong hiện
đời, mười điều ác phải chừa bỏ; chừa mười điều
ác thì bảo đảm không xuống địa ngục, mà còn sanh về
cõi lành nữa.
Đừng
ỷ lại vào người khác hoặc hy vọng ở sự cầu nguyện,
điều này không bảo đảm. Tôi lấy ví dụ để quí vị dễ
thấy. Giả sử như quí vị muốn cho mọi người thương mến
mình, thì quí vị phải ăn ở tử tế với mọi người, sẵn
sàng giúp đỡ khi họ cần, niềm nở vui vẻ khi tiếp họ,
như vậy mới được người thương mến. Muốn cho mọi người
thương mình mà ăn nói cộc cằn, xử sự với người thô
bỉ chẳng có lòng nhân giúp đỡ ai cả... Chắc chắn là không
ai cảm tình. Điều này rất là cụ thể. Như vậy muốn cho
mọi người thương mến, chúng ta phải tạo duyên vui vẻ,
tử tế, giúp đỡ người. Thiếu những duyên ấy thì điều
mình muốn không thể thành tựu. Ngược lại, nếu tạo duyên
cộc cằn, vô lễ, xấu xa với mọi người, dù không muốn
người ghét người vẫn ghét. Vậy mọi người thương mến
mình cũng do mình tạo duyên, hoặc bị người giận ghét cũng
do mình tạo duyên, chớ không do ai khác, không có Phật Trời
nào can dự vào các việc này. Người hiểu lý nhân duyên trong
cuộc sống hằng ngày, trong sự tương giao với đồng loại,
biết cách cư xử hợp đạo lý thì mình được an người
cũng được vui.
Nếu
biết ứng dụng lý nhân duyên là tiến một bước mạnh trên
sự vươn lên của tâm linh con người. Nhưng tiếc thay, con
người chỉ ứng dụng lý nhân duyên trong lãnh vực vật chất,
mà không chú trọng đến lãnh vực tinh thần. Các nhà khoa
học ngày nay làm chủ được những điều mà xưa kia con người
không làm được; đó là phát minh sáng chế ra phi cơ bay trên
không trung, tàu ngầm lặn dưới đáy biển,
xe chạy nhanh trên đường dài... Những phát minh hiện đại
đều do biết được nhân, tạo thêm duyên sẽ cho ra cái quả
như ý muốn. Đó là lý nhân duyên được ứng dụng trong lãnh
vực vật chất. Chính vì con người chú trọng vật chất để
tạo ra vật chất sung mãn rồi sanh lòng tham đắm, giành giựt
cấu xé lẫn nhau, tạo cho nhau những nỗi đau khổ không thể
lường. Chúng ta là người hiểu đạo, nên hướng về tinh
thần, ứng dụng lý nhân duyên vào cuộc sống. Tạo cho mình
một đời sống đạo đức với hướng đi lên, chuyển hóa
từ con người phàm phu thấp hèn tiến dần lên hàng hiền
thánh, tự mình giải thoát và giúp người ra khỏi vòng trầm
luân khổ hải.
Vậy
muốn giải thoát phải làm sao ? Sáu căn không đuổi theo sáu
trần là giải thoát. Sở dĩ người không giải thoát được
là vì mắt còn thích nhìn sắc đẹp, tai còn ưa nghe tiếng
hay, lưỡi còn thích nếm vị ngon, mũi còn ưa ngửi mùi thơm...
Chính các căn tự trói buộc với trần cảnh, đó là các duyên
mà con người tự tạo ra, rồi lại vướng mắc vào. Nay muốn
giải thoát thì chúng ta phải tự gỡ trói, chớ không ai gỡ
thế chúng ta được. Vậy nên, muốn vào thì tự cột, muốn
ra thì tự cởi, giải thoát hay ràng buộc đều do mình, quyền
của mình.
Người
hiểu được lý nhân duyên, nhìn lại bản thân mình thấy
rõ nó là một hợp thể do duyên mà có, đã do duyên hợp thành,
thì cái gì là ngã ? Ngã là chủ tể, là cố định, thân này
là hợp thể của đất nước gió lửa không phải
là một, và nó luôn luôn biến chuyển. Bởi nó biến chuyển
không ngừng nên nó không có chủ tể, tức là vô ngã.
Vô
ngã là không có chủ tể cố định, tuy không có chủ tể
cố định, nhưng có phần tinh thần diễn tiến liên tục không
dừng. Nói như vậy sẽ có một số người hoang mang: Nếu
không có chủ tể, tức là không có tôi, vậy ai tạo tác,
ai làm thiện và mai kia duyên tan thân thể rã rời, thì ai chịu
quả báo, mà Phật nói tạo nhân phải thọ phải ? Chỗ này
Phật giải thích bằng một ví dụ: Ngọn đèn thắp từ đầu
hôm đến khuya, mắt thường chúng ta thấy như có một khối
dầu cung cấp cho ngọn đèn cháy. Kỳ thực, mỗi lúc tim đèn
chỉ rút một hạt dầu, rồi từng hạt từng hạt nối tiếp
nhau, cứ như vậy mà cháy mãi, cháy mãi không dừng. Tâm thức
con người cũng vậy tuy không có chủ tể cố định, nhưng
có thức liên tục trôi chảy không dừng, không mất, nên nghiệp
vừa tạo dẫn đến giai đoạn kế tiếp nhận chịu. Nhận
chịu trong cái liên tục, chớ không phải vô ngã là không
ngơ. Lý vô ngã của đạo Phật chỉ cho chúng ta thấy tâm
thức và thân xác con người là một dòng biến chuyển, biến
chuyển quá nhanh nên chúng ta không nhận kịp, tưởng là một.
Và cũng nhờ sự biến chuyển này mà chúng ta mới tu được.
Nếu cái ngã là một, thường hằng bất biến, thì dù có
tu tạo duyên tốt để chuyển đổi, cũng không thay đổi được.
Hiểu như vậy là biết được ý nghĩa tu của đạo Phật.
Biết người vật luôn luôn biến đổi, nên chúng ta sống
tùy duyên theo duyên. Tạo duyên tốt thì thăng tiến,
tạo duyên xấu thì trầm luân; đủ duyên thì thân này có,
duyên thiếu thì thân này rã tan... Như vậy là quả theo nhân
theo duyên mà có, chớ không phải bỗng dưng mà thành. Chỗ
này quí Phật tử nên lưu ý kẻo hiểu lầm, cho rằng sau khi
chết linh hồn được sanh về cõi trời hoặc bị đọa xuống
địa ngục... Để rồi khi thân nhân gần chết, nhờ quí thầy
quí cô tụng kinh cầu nguyện cho linh hồn người thân mình
được đi lên. Đức Phật có thừa nhận linh hồn không ?
Đây là vấn đề rất tế nhị chúng ta cần phải lưu ý.
Nếu cho rằng con người có linh hồn, thì khi người chết
linh hồn người trở lại làm người, thú chết linh hồn thú
trở lại làm thú. Như vậy tu vô ích, vì dù có tu cũng không
thăng tiến, bởi linh hồn không thay đổi. Hiểu như vậy là
sai lầm.
Đạo
Phật không thừa nhận linh hồn, mà cho rằng con người có
thức chuyển biến, thức ấy là cái biết phân biệt. Cái
biết phân biệt này là một dòng chuyển biến không dừng.
Khi nhỏ thì hiểu biết phân biệt theo trẻ con. Khi lớn thì
hiểu biết phân biệt theo người lớn. Nếu có duyên được
học hành nhiều thì hiểu biết sâu rộng... Tâm thức con người
luôn luôn biến đổi không dừng. Còn linh hồn thì cố định.
Vì linh hồn cố định, nên có học cũng không giỏi, không
học cũng chẳng ngu, tu cũng không tiến.
Mục
đích của đạo Phật là chỉ cho con người thấy đúng lẽ
thật qua lý duyên sinh, để phá trừ mê lầm chấp
ngã, chấp ngã là gốc của đau khổ bất công mà tôi đã
nói ở trước. Phá được chấp ngã rồi thì mọi bất công
không còn, mọi đau khổ cũng hết. Và khi chúng ta biết ứng
dụng lý nhân duyên vào cuộc sống, nó sẽ giúp cho chúng ta
một sức sống tích cực, để chuyển hướng cuộc đời mình
từ phàm phu mê chấp trở thành thánh thiện sáng suốt, và
chuyển hướng mọi sự vật chung quanh từ dở thành hay. Đó
là công phu tu hành, là sức mạnh của người học Phật. Nếu
chúng ta không biết được lẽ này, cứ ỷ lại vào Phật,
ỷ lại vào Tăng Ni, tự mình không chịu lo tu hành, để khi
hữu sự đi cầu nguyện van xin Phật Trời ban cho phước lành,
việc làm đó vô ích không đi tới đâu cả. Rốt cuộc chẳng
những uổng công mà còn bị chìm trong mê tối. vậy nên mong
rằng quí vị cố gắng thực hiện theo lý nhân duyên mà tôi
vừa nêu, để phá trừ mê lầm chấp ngã và tạo cho mình
và cho người một cuộc sống an vui hạnh phúc.
Đọc
Thêm:
Bơ
Và Những Viên Ðá Cuội
xk