3
CƠ HÓA
ĐỘ
Thuyền tôn
có nhiều đặc biệt, trong số đó có một điều mà những
kẻ nếu chưa được “tôn thông thuyết thông” rất không
nên bắt chước, ấy là tùy cơ tiếp vật thì ứng đáp rất
bặt thiệp và tự do, làm cho những người có cơ hóa độ
đều được minh tâm kiến tánh. Đó là điều mà Ngài Huệ
Năng đã nói: “Người kiến tánh thì lập cũng được, phá
cũng được, khứ lai tự tại, không bị ngăn lấp, không bị
dính mắc, “ứng dụng tùy tác, ứng ngữ tùy đáp”,–ứng
theo trường hợp mà hoạt dụng, tùy theo ngữ khí mà đối
đáp.–Hiện ra vô số diệu dụng mà không bao giờ rời tự
tánh”. Phương thức hóa độ như vậy ta sẽ thấy qua mấy
vị được Ngài Huệ Năng ứng tiếp mà kinh Pháp bảo đàn
có ghi.
Trước
hết, đây là chung cho hết thảy mọi người và nhất là dạy
về 4 hạnh căn bản: thọ giới, sám hối, phát nguyện và
quy y. Một hôm tất cả nhân sĩ và thứ dân ở Quảng Châu
và Thiều Châu đều vân tập, Ngài Huệ Năng bèn lên pháp
tọa dạy rằng: Các vị thiện tri thức! Việc chính của chúng
ta là phải từ tự tánh mà khởi dụng, trong tất cả thời
niệm niệm tự tịnh tâm mình, tự tu tự hành để thấy Đức
Phật của tự tâm. Phải tự hóa độ theo tự tánh và phải
tự tu theo giới pháp của tự tánh mới được.
Thọ
giới thì Ngài Huệ Năng truyền 5 phần pháp thân: Giới hương
là tự tâm không có tội lỗi; Định hương là tự tâm bất
loạn; Huệ hương là tự tâm vô ngại, trí tuệ tự quán chiếu
tự tánh, không tạo các điều ác, tuy làm các điều thiện
mà không chấp trước, kính trên thương dưới, cứu giúp những
kẻ bần cùng cô quả; Giải thoát hương là tự tánh vô ngại;
Tri-kiến-hương là tự tánh không trầm không thủ tịch nên
rộng học nghe nhiều, chứng tự tâm, suốt Phật lý, hòa quang
tiếp vật, không bỉ không thử, cho đến ngày thành bồ đề
tự tánh cũng không chuyển dịch.
Thọ
giới xong, Ngài bảo mọi người quỳ xuống, đồng thanh sám
hối như sau: chúng con nguyện niệm niệm không để ngu mê,
ác nghiệp và phiền não xâm nhập tâm trí.
Ngài
Huệ Năng lại dạy: Các vị Thiện tri thức, sám hối rồi
thì phải phát nguyện theo 4 hoằng thệ của Phật, tức là
vô biên chúng sanh của tự tâm thì thề nguyện hóa độ, vô
tận phiền não của tự tâm thì thề nguyện đoạn trừ, vộ
lượng pháp môn của tự tâm thì thề nguyện tu học, vô thượng
Phật đạo của tự tâm thì thề nguyện viên thành.
Còn
quy y là quy y tự tánh Tam bảo. “Quy y tự tánh Tam bảo thì
Phật là tính cách giác, Pháp là tính cách chánh, Tăng là tính
cách tịnh. Tự tâm quy y giác thì ngu mê không sanh, tự tâm
quy y chánh thì niệm niệm chánh kiến, tự tâm quy y tịnh thì
tự tánh ly nhiễm. Các vị thiện tri thức, tự quy y là trong
thì điều phục tâm tánh, ngoài thì kính phụng mọi người”.
Bây
giờ đến các cơ hóa độ riêng biệt.
Một
ni cô tên Vô-tận-tạng thường tụng kinh Niết bàn. Ngài Huệ
Năng nghe liền biết diệu nghĩa của Kinh ấy. Vô-tận-tạng
cầm kinh hỏi chữ, Ngài bảo: Tôi không biết chữ. Vô-tận-tạng
nói: chữ không biết thì làm sao biết nghĩa lý? Ngài nói:
“Chư Phật diệu lý phi quan văn tự”, diệu lý của chư
Phật có liên hệ gì đến văn tự ?
Vô-tận-tạng
hết sức kinh dị.
Pháp
Hải, người Thiều Châu, tham yết Ngài hỏi: tức tâm tức
Phật, xin Ngài chỉ thị cho con nghĩa đó. Ngài bảo: Niệm
trước bất sanh là tâm, ly hết thảy là Phật. Hãy nghe bài
kệ của tôi đây:
Tức tâm
là huệ,
Tức Phật
là định,
Định huệ
đẳng trì,
Ý trung thanh
tịnh,
Ngộ pháp
môn này,
Do người
tập tánh,
Dụng vốn
vô sanh,
Song tu là
chánh,
Pháp
Đạt là người Hồng Châu, 7 tuổi xuất gia, thường tụng
Pháp Hoa, đến làm lễ Ngài đầu không sát đất. Ngài bảo:
Xem cách lạy của ông, biết ông trong lòng có một việc; ông
thường làm gì? Pháp Đạt thưa rằng tụng kinh Pháp Hoa đã
ba ngàn lần. Ngài nói: Ngươi tự phụ việc ấy mà không biết
lỗi của mình, hãy nghe bài kệ của tôi đây:
Làm
lễ để chiết phục kiêu ngạo,
Tại
sao đầu không đến dưới đất?
Chấp
ngã thì tội nghiệp liền sanh,
Quên
công, phước đức mới hơn hết.
Ngài
lại hỏi: Ông tên gì ? Pháp Đạt nói tên mình, Ngài bảo:
Ông tên Pháp Đạt mà như vậy là chưa đạt được pháp gì
hết. Hãy nghe bài kệ tôi đây:
Ông
tên Pháp Đạt.
Mà
chỉ siêng tụng thôi.
Không
biết rằng tụng không là chỉ theo tiếng,
Chứ
minh tâm mới gọi là Bồ Tát.
Lòng
ông có chỗ ỷ thị,
Nhưng
tôi nói để ông hay,
Hễ
tin Phật ly ngôn
Thì
hoa sen phát ra từ trong miệng.
Pháp
Đạt liền sám hối mà bạch rằng: Từ nay về sau con xin khiêm
cung với tất cả mọi người. Con tụng Pháp Hoa mà tâm thường
có chỗ nghi ngờ, xin Ngài tóm tắt nghĩa lý kinh ấy cho con.
Ngài bảo Pháp Đạt tụng lên cho Ngài nghe một biến kẻo
Ngài không biết chữ. Khi Pháp Đạt to tiếng tụng đến phẩm
“thí dụ” thì Ngài bảo thôi và nói: Thì ra Kinh ấy lấy
nhân duyên xuất thế làm tôn chỉ. Nhân duyên ấy là gì ?
Nguyên văn Kinh ấy dạy: Chư Phật Thế Tôn chỉ vì một đại
sự nhân duyên mà xuất hiện thế gian, ấy là khai thị “Phật
tri kiến” cho chúng sanh ngộ nhập. Ông phải cẩn thận, đừng
hiểu lầm ý Kinh mà thấy nói như vậy nghĩ rằng Phật tri
kiến là tri kiến của Phật, chứ mình không có gì. Hiểu
như vậy là phỉ báng Kinh, cũng phỉ báng cả Phật. Phải
hiểu “Phật tri kiến” đó là của tự tâm chứ không phải
chỉ Phật mới có. Vậy nên ngu mê tạo tội là tự mở tri
kiến chúng sanh ra đó, mà chánh tâm quán chiếu tự tánh, bỏ
ác làm lành là tự mở tri kiến chư Phật mà đừng khai tri
kiến chúng sanh, chứ nếu chỉ tự thị sự tụng niệm thì
có khác gì con trâu chỉ tiếc giữ cái đuôi của nó. Pháp
Đạt hỏi: Nếu vậy thì chỉ hiểu nghĩa mà không cần tụng
kinh sao ? Ngài dạy: Kinh có lỗi gì mà tôi bảo ông đừng
tụng. Hãy nghe bài kệ của tôi đây: “... Tụng kinh lâu ngày
mà không rõ, ấy là làm kẻ thù nghịch của nghĩa lý đó..”
Pháp Đạt đại ngộ, bất giác rơi lụy và trình Ngài bài
kệ kết thúc bằng 2 câu:
Thùy
tri hỏa trạnh nội,
Nguyên
thị pháp trung vương.
Dịch nghĩa:
Ai ngờ
trong nhà lửa,
Vốn
là tự tánh Phật.
(Theo bản
dịch trong Kinh Pháp Bảo Đàn–Thích Duy Lực)
Ai ngờ
trong nhà lửa,
Vốn
sẵn đấng Pháp vương.
(TNTH)
Ngài
Huệ Năng khen rằng từ nay về sau ông mới đáng gọi là ông
thầy tụng Kinh. Và từ đó về sau Pháp Đạt cũng không bao
giờ dừng nghỉ sự tụng niệm.
Trí Thông,
người Thọ Châu, đọc mãi kinh Lăng Già mà không thể lãnh
hội được cái nghĩa 3 thân 4 trí, đến đảnh lễ cầu Ngài
Huệ Năng chỉ thị. Ngài dạy: Pháp thân là tánh của ông,
báo thân là trí của ông, hóa thân là dụng của ông, hãy
nghe bài kệ sau đây:
Tự
tánh đủ cả 3 thân,
Phát
minh ra thành 4 trí,
Không
ly kiến văn cảnh giới,
Mà
siêu nhiên đăng Phật địa.
Trí
Thông hỏi thêm nghĩa 4 trí, Ngài dạy đúng cái lý “chỉ
chuyển tên mà không phải chuyển thể tánh” nên kết thúc
bằng bài tụng như sau:
Bốn
trí là kết quả của sự chuyển đổi 8 thức,
Nhưng
chỉ là danh ngôn mà không phải thật tánh,
Nên
nếu nơi sự chuyển đổi không lưu lại một cái gì,
Thì
diệu dụng phát động vô cùng mà thật là vĩnh viễn an trú
trong cảnh thuyền-định của Phật.
Trí
Thông đốn ngộ và trình một bài kệ với 2 câu kết thúc:
Nhờ
Sư thấu diệu chỉ,
Chẳng
còn kẹt danh tướng.
Trí
Thường người Tín Châu, đồng niên xuất gia, quyết chí cầu
kiến tánh cho được, một ngày nọ đến bái yết Ngài Huệ
Năng, Ngài hỏi: Ông ở đâu đến, muốn cầu việc gì ? Trí
Thường bạch: Kẻ học đạo này trước đây đã y chỉ với
Đại Thông Hòa Thượng, được Ngài chỉ thị cho cái nghĩa
kiến tánh rồi, nhưng hồ nghi chưa hết, nên từ xa đến đây
đảnh lễ Ngài, phục vọng từ bi chỉ giáo. Ngài Huệ Năng
hỏi: Ngài Đại Thông đã dạy ông như thế nào ? Trí Thông
thưa: Con hỏi thế nào là bản tánh của con, Ngài hỏi rằng
thấy hư không hay không, con trả lời có, Ngài hỏi hư không
có hình tướng không, con trả lời không, Ngài dạy: Bản tánh
của ông cũng như hư không, không có một vật gì có thể
thấy được, như vậy là chánh kiến, không có một vật gì
có thể biết được, như vậy là chân tri; không có hình tướng
mà chỉ thấy bản nguyên thanhtịnh, giác thể viên minh, tức
gọi là kiến tánh thành Phật. Bạch Ngài, kẻ cầu học đạo
này nghe chỉ thị như vậy mà chưa được thấu đạt, nên
ngưỡng mong Ngài từ bi dạy bảo.Ngài Huệ Năng bảo: Lời
dạy trên chỉ vì còn tri kiến nên ngươi không ngộ được;
hãy nghe bài kệ tôi đây:
Không thấy
một pháp thì còn sự thấy không,
Nên
hệt như mây che mất mặt trời;
Không
biết một pháp thì còn cái biết không,
Như
vậy có khác gì hư không mà nổi sấm chớp ?
Thấy
và biết như vậy khi không mà nổi lên,
Thì
bị huyễn giác mà không biết được phương tiện;
Nếu
ngay nơi một niệm mà ông biết được là trái,
Thì
ánh sáng linh thiêng của ông vĩnh viễn hiện ra.
Trí
Thường nghe xong, hoát nhiên đại ngộ, than rằng “Tự tánh
vốn là cái thể giác chiếu, vậy mà ta đã chạy ra sự chiếu
soi để bị trôi nổi một cách oan uổng”:
Tự
tánh giác nguyên thể,
Tùy
chiếu uổng thiên lưu.
Dịch nghĩa:
Bản
thể tự tánh giác,
Tùy
chiếu vọng lưu chuyển.
(TDL)
Tính
thể vốn là giác
Luống
theo dòng chiếu soi.
(TNTH)
Một hôm
Trí Thường hỏi Ngài về cái nghĩa 3 thừa và tối thượng
thừa mà Phật đã dạy, Ngài bảo: “Hãy quán tự tâm, đừng
vụ ngoại cầu; thừa nghĩa là hành, không phải nói mà tu.
Đừng hỏi tôi, hãy trong tất cả các thời, tự tánh tự
như”. Trí Thường đảnh lễ và hầu hạ suốt đời Ngài.
Chí Đạo,
người Quảng Châu, đến thưa Ngài Huệ Năng: Kẻ học đạo
này từ ngày xuất gia đến giờ tụng Kinh Niết Bàn đã 10
năm mà chưa rõ đại ý, nguyện xin Ngài từ vi chỉ dạy cho
con. Ngài hỏi: Ông chưa rõ chỗ nào ? Chí Đạo thưa: “Chư
hành vô thường, thị sanh diệt pháp, sanh diệt diệt dĩ, tịch
diệt vi lạc”, con có chỗ sở nghi về bài tụng ấy. Ngài
hỏi nghi thế nào, Chí Đạo trình bày thì thấy ông quan niệm
tịch diệt là đoạn diệt và lạc là lạc thọ, một cảm
giác trái với khổ thọ và tính chất vốn là hoại khổ và
hành khổ, nên Ngài dạy: “Ông chấp có thân mới có thọ
dụng, và thọ dụng lạc thọ như ông nói, thì đấy là tỏ
ra ông còn luyến tiếc sanh tử và đắm say thế lạc. Nhưng
ông phải xét, Phật vì người mê mờ nhận huyễn thân làm
tự thể, huyễn tượng làm ngoại cảnh, rồi thích sống sợ
chết, niệm niệm giao động, luân hồi một cách oan uổng,
bản tánh là niết bàn thường lạc mà lại thành ra khổ tướng,
vì cái khổ ấy mà suốt ngày đuổi tìm thế lạc, Phật vì
những người mê mờ như vậy mà chỉ thị tánh tịnh là niết
bàn, sát-na không sanh sát-na không diệt, lại càng không có
sự sanh diệt có thể diệt được, ấy đó: tịch diệt hiện
tiền; chính lúc hiện tiền cũng không có cái giới hạn của
sự hiện tiền ấy, mới là thường lạc, cái lạc như vậy
không có sự hưởng thọ, cũng không có người hưởng thọ,
vậy nên nếu nói Niết bàn làm cho các pháp vĩnh viễn không
sanh ấy là phỉ báng Phật pháp. Hãy nghe bài kệ của tôi
đây:
Vô thượng
đại niết bàn
Viên minh
thường tịch chiếu,
Mà người
phàm bảo chết,
Ngoại đạo
cho là mất,
Còn các
vị tiểu thừa
Lại gọi
là vô tác,
Tổng kết
sự chấp trước
Thành sáu
mươi hai thứ,
Nhưng chỉ
là vọng lập
Chứ đâu
phải thật nghĩa;
Duy những
người quá lượng
Thông đạt,
không thủ xả,
Do đó biết
năm uẩn,
Và bản
ngã trong đó,
Cùng cảnh
sắc ở ngoài,
Tất cả
chỉ giả danh,
Bình đẳng,
như huyễn mộng,
Nên không
thấy phàm thánh,
Cũng không
chấp niết bàn,
Siêu việt
trên tất cả,
Diệu dụng
thường vô cùng,
Mà không
chấp dụng ấy,
Phân biệt
khắp tất cả,
Mà không
chấp phân biệt.
Lửa cháy
thấu đáy bể,
Gió bạt
núi va nhau,
Mà vẫn
thường tịch diệt,
Ấy đó:
tướng Niết bàn !
Tôi nói
là nói gượng,
Để ông
bỏ tà kiến,
Chứ đừng
hiểu theo lời,
May ra biết
chút ít !
Chí Đạo
nghe bài kệ ấy xong, tâm trí đại ngộ nên vui mừng đảnh
lễ Ngài mà cáo thối.
Hành Tư thuyền
sư người Cát Châu, nghe đạo tràng Tào Khê đông nhiều nên
đến tham lễ Ngài Huệ Năng và hỏi rằng: Làm như thế nào
mới không rơi vào giai cấp? Ngài hỏi: Ông đã làm gì? Ngài
Hành Tư thưa: Đệ nhất nghĩa đế cũng không làm. Ngài nói:
vậy rơi vào giai cấp gì? Ngài Hành Tư thưa: Đệ nhất nghĩa
đế còn không làm, thì có giai cấp gì! Ngài Huệ Năng đặc
biệt nhận Ngài Hành Tư thật là pháp khí, nên bảo làm Thủ
chúng. Một hôm Ngài lại bảo Ngài Hành Tư: Ông nên đi hóa
độ mọi nơi, làm cho Phật chủng không đoạn tuyệt. Ngài
Hành Tư liền về Cát Châu, ở núi Thanh Nguyên, hoằng hóa
rất thạnh.
Hoài Nhượng
thuyền sư người Kim Châu ban đầu yết kiến An quốc sư.
Ngài này bảo đến tham cứu Tào Khê. Ngài Hoài Nhượng đến,
lễ bái rồi, Ngài Huệ Năng hỏi: Ông ở đâu đến ? Ngài
Hoài Nhượng thưa: Từ Ngài An quốc sư. Ngài Huệ Năng hỏi:
Vật gì? Tại sao ? Ngài Hoài Nhượng trả lời: Nói một vật
tức không trúng. Ngài Huệ Năng hỏi: thế có thể tu chứng
không? Ngài Hoài Nhượng thưa: Tu chứng không phải không, nhưng
ô nhiễm không phải thật. Ngài Huệ Năng tán dương rằng:
“Nội cái điều không ô nhiễm đó đã được chư Phật
hộ niệm. Ông như vậy tôi cũng như vậy”. Ngài Hoài Nhượng
bèn hầu hạ chung quanh Ngài Huệ Năng 15 năm, ngày càng thâm
nhập. Sau Ngài qua núi Nam Nhạc đại hoằng Thuyền tôn.
Huyền Giác
thuyền sư biệt hiệu Vĩnh Gia, người Ôn Châu, học tập kinh
luận từ nhỏ, rất tinh pháp môn chỉ quán của tôn Thiên
Thai, nhân xem Kinh Duy Ma mà phát minh tâm địa. Ngẫu nhiên gặp
môn đồ của Ngài Huệ năng là Huyền Sách, trong câu chuyện
đàm đạo thấy Ngài xuất ngôn ám hợp, nên Huyền sách hỏi:
Nhân giả đắc pháp với ai? Ngài Huyền Giác trả lời: Tôi
học các kinh luận đại thừa đều có thầy cả, sau chính
nơi Kinh Duy Ma tôi ngộ tâm tôn của Phật, nhưng chưa có ai
để chứng minh; xin Nhân Giả chứng cho. Huyền Sách nói: Lời
tôi nhẹ lắm; ở Tào Khê có Tổ Sư thứ sáu là Ngài Huệ
Năng, nếu có thể xin mời Ngài cùng đi với tôi đến đó.
Ngài Huyền Giác nghe lời, và khi đến thì đi xung quanh Ngài
Huệ Năng 3 vòng rồi chống tích trượng mà đứng. Ngài Huệ
Năng nói: Phàm một vị Sa môn thì phải đủ ba ngàn oai nghi,
tám vạn tế hạnh; Đại Đức từ đâu đến đây mà kiêu
ngạo như vậy? Ngài Huyền Giác nói: Sanh tử đại sự, vô
thường mau chóng. Ngài Huệ Năng nói: Thế sao không thể chứng
“không sanh”, liễu ngộ “không chóng”? Ngài Huyền Giác
thưa rằng: Thể tức không sanh, liễu vốn không chóng! Ngài
Huệ Năng nói: Đúng như vậy, như vậy ! Bấy giờ Ngài Huyền
Giác mới trang nghiêm làm lễ và xin cáo từ. Ngài Huệ Năng
bảo: Sao trở về mau quá vậy? Ngài Huyền Giác thưa: Vốn
tự không động làm gì có sự mau chóng ! Ngài Huệ Năng hỏi:
Ai biết sự không động ấy ? Ngài Huyền Giác thưa: Ấy là
Nhân giả tự sanh phân biệt. Ngài Huệ Năng tán dương rằng:
Ông rất được cái ý “vô sanh”. Ngài Huyền Giác thưa :
Vô sanh mà có ý sao? Ngài Huệ Năng nói: không ý thì ai phân
biệt? Ngài Huyền Giác thưa: Chính sự phân biệt cũng không
phải ý. Ngài Huệ Năng nói: Lành thay, xin hãy lưu lại một
đêm. Nhân đó bấy giờ có cái tiếng “một đêm giác ngộ”.
Sau Ngài Huyền Giác làm bài ca “chứng đạo” thạnh hành
thế gian.
Trí Hoàng
thuyền giả khi y chỉ với Tổ Sư thứ năm tự gọi mình đã
được chánh thọ rồi bỏ đi ở riêng, lập am, ngồi lâu,
20 năm như vậy. Đệ tử Ngài Huệ Năng là Huyền Sách du phương
hóa độ, một hôm đến Hà Sóc, nghe đại danh của Trí Hoàng
bèn đến am mà hỏi rằng: Ông làm gì? Trí Hoàng nói: Nhập
Định. Huyền Sách bảo: Ông nhập định là hữu tâm mà nhập
hay vô tâm mà nhập? Vô tâm thì thảo mộc lẻ ra cũng đáng
được gọi là nhập định, còn hữu tâm thì hết thảy mọi
loài cũng đáng ra được định. Trí Hoàng nói: Khi tôi nhập
định thì không thấy hữu hay vô tâm. Huyền Sách nói : Đã
không thấy hữu tâm hay vô tâm thì tức là thường định,
sao còn có xuất và nhập định? Nếu có xuất có nhập thì
chưa phải là thuyền định cứu cánh. Trí Hoàng hỏi: Thầy
của Nhân giả là ai? Huyền Sách đáp: Ngài Tổ Sư thứ sáu,
ở Tào Khê, Trí Hoàng hỏi: Ngài Tào Khê dạy thuyền định
ra sao? Huyền Sách thưa rằng: Diệu trạm viên tịch, thể dụng
như như, 5 ấm vốn không, 6 trần chẳng thật, không xuất
không nhập, không định không loạn, thể tánh của Thuyền
là không trú ở nên không trú ở nơi sự tĩnh lặng của Thuyền,
thể tánh của Thuyền là không phát sanh nên không phát sanh
ý tưởng về Thuyền; tâm như hư không mà cũng không có cái
giới hạn của hư không. Trí Hoàng đại ngộ, bèn cùng đến
tham bái Ngài Huệ Năng và trở lại Hà Bắc khai hóa tứ chúng.
Thần Hội
đồng tử, người mà Ngài Huệ Năng đã tán dương là như
như bất động, khi 13 tuổi, mới đến yết kiến, Ngài hỏi:
Thiện tri thức từ xa đến đây rất là khó nhọc, vậy mà
đã thấy được cái gốc của mình chưa? Hễ có gốc thì
biết được ông chủ, hãy nói ra nghe coi. Thần Hội thưa:
Vô trú là gốc, thấy là chủ. Ngài nói: Ông sa di này chỉ
được cái nói bỏ cả thứ lớp. Thần Hội hỏi: Ngài tọa
thuyền vậy thấy hay không thấy? Ngài bèn dùng thuyền trượng
đánh Thần Hội 3 cái, hỏi rằng: Con đau hay không? Thần Hội
thưa: Cũng đau, cũng không đau. Ngài nói: Ta cũng thấy cũng
không thấy. Thần Hội hỏi, Ngài bảo: Ta thấy là thường
thấy lỗi lầm của mình, còn không thấy là không tìm tòi
tốt xấu của kẻ khác, nên ta cũng thấy, cũng không thấy.
Còn sự cũng đau, cũng không đau của con thì thế nào? Không
đau thì con khác gì cây đá, mà đau thì con khác gì phàm phu,
lòng tất hờn giận. Con không bit thấy với không thấy là
2 ý niệm đối lập mà có, đau với không đau là do sự sinh
diệt mà ra. Tự tánh của con thì con không thấy, con lại trào
lộng người khác. Thần Hội hối hận, đãnh lễ sám hối.
Ngài Huệ Năng lại dạy: Nếu con mê mờ thì phải học hỏi
thiện tri thức để tìm đường tu chứng; nếu con tỏ ngộ
thì minh kiến tự tánh, như pháp tu hành. Con tự mê mờ không
thấy tự tâm, lại đi hỏi ta thấy với không thấy. Thần
Hội lại lạy 100 lạy, cầu sám hối lầm lỗi, rồi sau đó
hầu hạ sát Ngài, không bao giờ rời ra. Một ngày nọ, Ngài
Huệ Năng bảo đồ chúng: Ta có một vật không đầu không
đuôi, không tên không chữ, không trái không mặt, các người
ai biết chăng? Thần Hội liền bước ra bạch rằng: Ấy là
nguồn gốc của Chư Phật, là giác tánh của con đây! Ngài
Huệ Năng nói: đã không có tên chữ, sao còn còn bảo là nguồn
gốc, giác tánh? Không khéo con sẽ thành tín đồ của nhữn
kẻ tri giải đó. Sau này, Ngài Huệ Năng mất, Thần Hội vào
Lạc Dương đại hoằng đốn giáo của Tào Khê. Tác phẩm
“Hiển tôn ký” của Người thạnh hành cả thế gian.
Có một vị
Sư nào đó, hỏi Ngài Huệ Năng: Ý chỉ của Ngài Hoàng Mai
ai được? Ngài bảo: Ai lãnh hội Phật pháp thì người ấy
được. Vị Sư ấy hỏi: Ngài được không? Ngài trả lời:
Tôi không lãnh hội được Phật pháp!
Phương Biện
người đất Thục, đến yết kiến Ngài Huệ Năng, Ngài hỏi:
Thượng nhân tinh nghề gì? Phương Biện bạch rằng: Tinh nghề
đắp tượng. Ngài chánh sắc bảo rằng: Thượng Nhân thử
đắp một cái xem. Qua mấy ngày, tượng thành, cao 7 tấc và
thật là tinh xảo, Ngài cười rằng: Thượng nhân biết đắp
tượng mà không biết Phật tánh! Nhưng Ngài lại xoa đầu
tượng ấy mà thọ ký vĩnh viễn làm ruộng phước cho nhân
thiên.
Có một
vị Sư đọc bài kệ của Ngài Ngọa Luân như sau: “Ngọa
Luân có nghề hay: cắt đứt trăm tư tưởng, đối cảnh tâm
không sanh, Bồ Đề ngày càng lớn”. Ngài Huệ Năng nghe xong,
bảo: Các người mà làm y như vậy thì thắt chặt thêm cái
giây trói mình đó. Nhân đó, Ngài nói một bài kệ ngược
lại : “Huệ Năng không nghề hay, không đoạn trăm tư tưởng,
đối cảnh tâm sanh luôn, Bồ Đề lớn sao được”.
Trong khi
Ngài Huệ Năng ở chùa Bảo Lâm, Tào Khê, thì Ngài Thần Tú
ở chùa Ngọc Tuyền, Kinh Nam. Bấy giờ cả hai bên đều thạnh
hành, ai cũng gọi là Nam Năng, Bắc Tú, nên tự nhiên chi thành
2 tôn Bắc, Nam và chia ra 2 thuyết tiệm, đốn, làm cho học
giả không biết theo ai. Nên Ngài Huệ Năng bảo đồ chúng:
“ Đạo pháp vốn một tôn chỉ, chỉ vì người ở Bắc ở
Nam mà thôi. Đạo pháp là duy nhất, chỉ vì sự thấy biết
có mau có chậm, chứ làm gì có cái đốn pháp khác với tiệm
pháp. Đạo pháp vốn không đốn tiệm, chỉ có người hoặc
độn căn hoặc lợi căn mà gọi là đốn và tiệm mà thôi”.
Thái độ của Ngài Huệ Năng như vậy, nhưng đồ chúng của
Ngài Thần Tú thỉnh thoảng chê Tam tôn rằng Tổ Sư không
biết chữ thì có sở trường gì. Ngài Thần Tú nghe vậy,
bảo rằng: “Ngài Huệ Năng được vô sư trí, thâm ngộ thượng
thừa, tôi thiệt không bằng. Huống chi Thầy ta là Tổ sư
thứ năm đích thân truyền phú y pháp cho thì đâu phải là
vô cớ. Ta hận không thể đi xa thân cận Ngài Huệ Năng, ngồi
đây mà nhận sự trọng đãi của quốc gia một cách vô ích.
Vậy các người đừng lưu luyến ở đây, hãy qua tham bái
Ngài ở Tào Khê, để giải quyết đời mình”. Bảo đồ
chúng như vậy rồi, một ngày nọ Ngài Thần Tú sai một môn
đồ tên là Chí Thành ra đi, với những lời căn dặn như
sau: Ông thông minh nhiều trí, vậy hãy vì ta đến Tào Khê
nghe pháp, nghe được điều gì thì hết lòng ghi nhớ để
về nói lại cho ta.
Chí Thành
vâng mệnh, đến Tào Khê tùy chúng thính pháp, nhưng lại không
nói rõ mình ở đâu. Ngài Huệ Năng mới bảo đồ chúng rằng:
trong đại hội này có kẻ nghe trộm đạo pháp. Chí Thành
liền ra làm lễ, nói rõ công việc của mình. Ngài bảo: Ông
chắc là một kẻ dò dặc. Chí Thành nói không phải, Ngài
bảo: không phải thế nào được? Chí Thành thưa: Chưa nói
thì còn phải, nói rồi thì phải thế nào được! Lại bạch:
Sanh tử là đại sự, nguyện xin Tổ Sư từ bi chỉ giáo cho
đệ tử. Ngài Huệ Năng hỏi: Ngài Thần Tú nói về giới
định huệ như thế nào? Chí Thành thưa: “Không làm các điều
ác là giới, phụng hành các điều thiện là huệ, tự thanh
tịnh tâm ý là định”, đó là lời dạy của Ngài. Ngài
Huệ Năng bảo: Nếu tôi nói có đạo pháp và có người thừa
truyền đạo pháp thì thế là tôi mê hoặc ông, nên tôi chỉ
“tùy phương cởi mở” mà thôi. Giới định huệ như Ngài
Thần Tú dạy thật là bất khả tư nghị, nhưng lại
có khác với giới định huệ của tôi nói. Chí Thành thưa:
giới định huệ chỉ có một, sao lại có thể có khác được.
Ngài bảo: Giới định huệ của Ngài Thần Tú tiếp độ một
hạng người, giới định huệ của tôi tiếp độ một hạng
người khác. Mà người học đạo thì sự hiểu biết của
họ không đồng nhau, nên có kẻ mau có kẻ chậm. Ông hãy
nghe giới định huệ mà tôi sẽ nói sau đây, xem có giống
với Ngài Thần Tú không. Tôi nói là không rời tự tánh mà
nói, mà thuận tánh khởi dụng mới thật là giới định huệ.
Ông hãy nghe bài kệ của tôi đây:
Tự tánh
không lỗi lầm là giới,
Tự tánh
không si mê là huệ,
Tự tánh
không loạn động là định;
Tự tánh
bất tăng bất giảm như kim cang,
Mặc dầu
thân thể đi hay đến mà lúc nào cũng vẫn là thuyền định.
Chí Thành
nghe bài kệ ấy liền đại ngộ, trình Ngài bài kệ như sau:
Ngũ uẩn
huyễn thân,
Huyễn hà
cứu cánh.
Hồi thú
chơn như,
Pháp hườn
bất tịnh.
Dịch nghĩa:
Ngũ uẩn
thân huyễn hóa,
Huyễn đâu
có cứu cánh.
Trở về
với chơn như,
Chấp pháp
vẫn chẳng tịnh (chẳng thanh tịnh).
(TDL)
Năm uẩn
là thân huyễn
Đâu có
gì cứu cánh
Quay về
với chân như
Thì lại
thành bất tịnh.
(TNTH)
Ngài Huệ
Năng hứa khả bài kệ ấy và dạy rằng: Ngộ tự tánh thì
không lập–tức không cố chấp bồ đề, giải thoát, không
có một pháp gì thật có; rồi chính vì không có một pháp
gì thật có nên có thể kiến lập–tức không bác khước
vạn pháp, trong đó bồ đề cũng có, giải thoát không phải
không. Vậy nên người kiến tánh thì kiến lập cũng được,
bác khước cũng được, hoạt dụng tự tại, không bị ngăn
trở, khộng bị bít lấp, ứng theo trường hợp mà hoạt dụng,
tùy theo ngữ khí mà đối đáp, phổ hiện hiệu dụng mà không
rời tự tánh. Chí Thành thưa: Thế nào là cái nghĩa không
lập? Ngài Huệ Năng trả lời: Tự tánh không phải lỗi lầm,
không phải si mê, không phải loạn động, nên niệm niệm
quán chiếu, phá trừ pháp chấ, tự tại vô ngại, không gian
cũng như thời gian hoạt dụng được cả, như vậy thì có
cái gì đáng lập. Tự tánh tự ngộ ấy là đốn ngộ và
đốn tu, không có tiệm thứ, nên không lập các pháp, mà các
pháp vốn tịch diệt, thì có cái gì gọi là thứ lớp? Chí
Thành nghe dạy, liền đãnh lễ Ngài Huệ Năng, hết lòng hầu
hạ, hôm sớm không mỏi.
Chí Triệt
người Giang Tây, thiếu thời vốn là hiệp sĩ. Từ khi nam
bắc phân hóa, thì tuy các Ngài chủ trì hai bên quên hết bỉ
ngã, nhưng đồ chúng không khỏi thương ghét. Đồ chúng phía
bắc lén bảo Chí Triệt đến Tào Khê hành thích, nhưng Ngài
Huệ Năng dự biết, kiếm mười lạnh vàng để nơi chỗ ngồi,
đêm đến, Chí Triệt đột nhập, Ngài đưa cổ ra cho, nhưng
Chí Triệt chém 3 lần mà không thương tổn gì. Ngài mới bảo
gươm chánh thì không làm điều tà, gươm tà thì không hại
được người chánh, còn quả báo thì ta nợ ngươi bằng vàng
chứ không phải tánh mạng. Chí Triệt nghe nói, kinh sợ té
ngữa ra, giây lâu mới tỉnh, ai cầu sám hối và nguyện xin
xuất gia. Ngài Huệ Năng đưa vàng cho, bảo rằng: Hảy đi
đi đã, nếu không, e đồ chúng làm hại. Ngày khác hãy thay
đổi hình dạng mà đến, tôi sẽ nhiếp hóa cho. Chí Triệt
vâng lời, trốn liền đêm ấy. Sau này, khi xuất gia rồi,
một hôm Chí Triệt nhới lời của Ngài nên đến yết kiến,
Ngài bảo: Tôi nhớ ông lâu na, sao đến chậm vậy? Chí Triệt
thưa rằng: Ơn Ngài xá tội, nay tuy xuất gia khổ hạnh, cũng
thấy khó mà báo đáp ân đức; muốn báo đáp ân đức Ngài,
con nghĩ chỉ duy có việc hoằng pháp độ sanh mà thôi. Con
thường xem kinh Niết Bàn mà không hiểu cái nghĩa thường
và vô thường, cúi xin Ngài từ bi chỉ dạy cho con. Ngài bảo:
Vô thường là Phật tánh, còn thường là các pháp. Chí Triệt
kinh ngạc: Kinh nói Phật tánh là thường, còn các pháp vô
thường, nay Ngài nói trái lại, làm cho con càng thâm nghi hoặc.
Ngài Huệ Năng bảo: Kinh Niết Bàn ngày xưa tôi đã được
ni cô Vô tận tạng tụng cho nghe một biến rồi. Ông không
nhận ra lời tôi nói chăng? Phật tánh nếu thường thì vạn
kiếp cũng không có được lấy một người phát bồ đề
tâm, nên vô thường tôi nói chính là tánh chân thường Phật
dạy đó. Còn các pháp nếu vô thường thì tánh chân thường
có chỗ không phổ biến, nên tôi nói thường chính là tánh
chân vô thường Phật dạy đó. Ông chỉ theo tiếng mà bỏ
nghĩa, nên lầm cho sự đoạn diệt là vô thường và sự cố
định là thường, không lãnh hội được cái lý chân thường
mà Phật dạy để phá cái chấp vô thường của nhị thừa.
Chí Triệt nghe như vậy thì hoát nhiên đại ngộ, nói bài
kệ như sau:
Bởi giữ
cái tâm vô thường,
Nên Phật
dạy tánh chân thường,
Mà không
biết ý phương tiện,
Chỉ lượm
ngói trong ao vàng.
Ngày nay
không phí công lao
Mà Phật
tánh được hiện tiền,
Ấy không
phải là Thầy cho,
Cũng không
phải là ta được.
Ngài Huệ
Năng bảo: Ông đã thấu suốt rồi đó, nên đặt tên là Chí
Triệt (chứ từ trước đến nay vốn tên là Hành Xương).
Chí Triệt liền bái tạ. Ngài Huệ Năng thấy những kẻ ác
tâm phần nhiều có mặt trong đồ chúng, nên thương xót mà
dạy rằng: Người học đạo phải tận trừ hết thảy cái
niệm thiện ác; không có tên riêng biệt mới tên là tự tánh,
không có tánh chia hai mới tên là thật tánh, chính nơi thật
tánh ấy thiết lập ra hết thảy pháp môn thì các người
phải ngay nơi một lời nói mà thấy tự tánh của mình. Nghe
lời ấy ai cũng lạy Ngài, xin thờ Ngài làm thầy.
*
* *
Điều quan
trọng nhất, sau khi lược thuật cơ hóa độ của Ngài Huệ
Năng như trên đây, chúng ta phải hiểu rằng đấy chỉ là
“tùy phương cổi mở”, chỉ là “ứng dụng tùy tác”
và “ứng ngữ tùy đáp”, và chính vì vậy mà ích lợi
được cho tất cả những người đương cơ. Chúng ta không
nên tìm lấy một định lý nào trong đó, nhất là không thể
học lấy đôi điều mình thích, hòng làm sáo ngữ mà khuôn
theo, rồi nói để mà nói, bất cần và cũng không thể nào
biết đến lợi hay hại cho người nghe mình nói. Đến như
Ngài Huệ Năng, lấy cái thân quê mùa đến nỗi ngôn ngữ
cũng không đúng, mà đương cơ hóa độ đến như tất cả
trường hợp mà ta đã biết, thì quả thật là “người quá
lượng” vậy.