THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
2008
2007
2006
2005
2004
2003
2002
 
  
 
c

THÁNG 2 NĂM 2007
Chúng ta đã sanh ra và sẽ chết đi. Chúng ta đã sanh vài thập niên trứơc, và sẽ chết trong một tương lai nào đó. Vì sao các thiền sư nói vạn pháp bất sanh, bất diệt? Chúng ta đều sống trong thế giới này, có những lúc khóc buồn, có những lúc cười vui, cảm nhận hơi thở vào và ra vô tận, và thấy trẻ em sinh ra đời và người già chết đi. Làm sao chúng ta có thể nói tất cả các pháp không sanh và không diệt? Đó là Niết Bàn, một trạng thái Đức Phật mô tả là bất sinh, bất lão, vô tác và bất tử. Đức Phật từng so sánh tánh vô thường của cuộc đời như ngọn đèn lập lòe, và nói rằng sống một ngày mà chứng ngộ cảnh giới bất tử thì tốt hơn là sống một trăm năm vô minh...Xem Tiếp Teachings from Ancient Vietnamese Zen Masters, Translated and Commented by Nguyen Giac
Trong truyền thống Phật Giáo Đại Thừa nói chung và Phật Giáo Việt Nam nói riêng, Đàn tràng Chẩn tế là pháp thức để siêu độ vong linh của những người đã chết mà vì oan nghiệp chưa siêu thoát hay chưa tái sinh được.  Những người bị oan nghiệp đó có rất nhiều nguyên do, rất nhiều thành phần, mà đại để đã được tổng hợp trong mười loại gọi là Thập loại Chúng sinh (như Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh của Nguyễn Du đã đề cập) hay Thập loại Cô hồn.  Theo bộ Du Già Tập Yếu Diệm Khẩu Thí Thực Nghi do ngài Tam Tạng Bất Không Kim Cang (Amoghavajra) dịch từ Phạn sang Hán vào đời Đường, thì Thập loại cô hồn [1] gồm...Xem Tiếp .Đàn Tràng Chẩn Tế: Siêu Độ Người Chết và Cảm Hoá Người Sống, Huỳnh Kim Quang
Đức Đạt Lai Lạt Ma 14, tên thật là Tenzin Gyatso, là một nhà lãnh đạo thế quyền và giáo quyền của nhân dân Tây Tạng. Ngài chào đời tại làng Taktser, vùng Đông Bắc  Tây Tạng vào ngày 6 tháng 7 năm 1935 (Ất Hợi) trong một gia đình nông dân. Ngài được thừa nhận là Dalai Lama vào năm 2 tuổi theo truyền thống Tây Tạng như là hóa thân của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13. Ngài được tấn phong tước vị Dalai Lama vào ngày 22 tháng 2 năm 1940 tại Lhasa, thủ đô của Tây Tạng, chính thức là người lãnh đạo chính trị và tôn giáo cho 6 triệu người Tây Tạng. Tuy nhiên ngài đã thừa kế tước vị Dalai Lama trong một giai đoạn bấp bênh nhất của toàn bộ lịch sử với danh hiệu cao quý này, vì Trung Cộng đã xâm chiếm Tây Tạng và ngài đã đến tỵ nạn ở tiểu bang Dharamsala, miền Bắc nước Ấn Ðộ từ năm 1959.Xem Tiếp Phỏng Vấn Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, John Avedon phỏng vấn - Thích Nguyên Tạng dịch

Hành Hương Tây Tạng, Nga Mi Sơn, Cửu Hoa Sơn và Phổ Đà Sơn Trung Quốc để cầu nguyện hồi hướng công trình xây dựng 2 ngôi đạo tràng Khánh Anh & Thiện Minh (Pháp Quốc) và Bảo Tháp Liên Hoa chùa Khuông Việt (Na Uy) 

Nhiều người Tây Tạng thuộc thế hệ trẻ muốn vị lãnh đạo của họ có nhiều tính chiến đấu hơn. Họ ủng hộ đường lối bạo động, vì họ nhận xét rằng có hơn ba ngàn tù nhân chính trị chỉ ở riêng miền trung Tây Tạng và chính quyền Trung Quốc đã đưa ít nhất là ba trăm ngàn binh sĩ đến để chiếm đóng “nóc nhà của thế giới”. Nhưng Đức Đạt Lai Lạt Ma vẫn chủ trương đường lối ôn hòa. Ngài trình bày: “khi tâm trí bị sự sân hận ngự trị thì nó có thể trở nên điên loạn. Người ta sẽ không thể quyết định đúng và không thể trông thấy sự thật. Nhưng nếu bình tĩnh và an định người ta sẽ trông thấy sự vật đúng như thật. Tôi nghĩ rằng các nhà chính trị cần phải có loại kiên nhẫn này. Chẳng hạn, so với các nhà lãnh đạo trước đây của Liên Xô thì ông Gorbachev là người bình tĩnh hơn nhiều và do đó hoạt động của ông hữu hiệu hơn”..Xem Tiếp Phật Sống Tây Tạng, Pico Iyer (ghi chép) - Thích Nguyên Tạng (dịch)

Buổi trưa ở chùa Lá thật yên ả với cây xanh và một cảm giác thật dịu mát.  Chúng tôi bắt gặp những chú điệu chạy nhảy, nô đùa với nhau thật hồn nhiên.  Các chú là một trong những 30 trẻ mồ côi được chùa nuôi dưỡng và chăm sóc.  Các chú ở độ tuổi từ 6 cho đến 17, tất cả đều được để chỏm tóc (chú điệu) tuy các chú có nhiều hoàn cảnh khác nhau, đau buồn vì cha mẹ bỏ nhau, mồ côi, lang thang, cơ nhỡ… nhưng đều được cưu mang và tận tình chăm sóc.  Đã từ lâu các chú cùng nhau chung sống và xem như an hem, tất cả đều rất nề nếp. Từ mái ấm ấy, các chú cảm nhận được tình thương gia đình, hoàn thiện nhân cách và hoà nhập chốn thiền môn.  Từ mái ấm ấy, các chú chia sẻ tình thương, trách nhiệm, giúp nhau học tập và có trách nhiệm với nhau hơn...Xem Tiếp Chùa Lá: Ngôi Nhà Chung của Trẻ Mồ Côi, Minh Phát
Chẳng biết từ bao giờ, người Việt Nam có thói quen đi lễ chùa vào sáng mồng Một Tết. Trong thời khắc giao thời, nhà nhà thắp đèn, thắp nhang trên mâm cỗ giao thừa, kính cẩn đọc bài khấn thần linh thổ địa, ông bà tổ tiên về sum vầy cùng con cháu. Và khi nén nhang trên mâm cỗ đã tàn, mọi người ngồi quây quần quanh mâm cơm, cùng nhau nâng chén rượu chúc mừng năm mới, chúc mừng sức khỏe ông bà, bố mẹ. Những bao đựng lì xì màu đỏ tươi, những lời chúc mừng như gửi gắm, chờ mong một năm mới với bao ước vọng. Sau lễ cúng gia tiên, con cháu theo ông bà ra lễ chùa, xin “lộc” may mắn, tươi tốt cho cả năm. .Xem Tiếp Đi lễ đầu xuân Đinh Hợi và chùm ảnh các chùa ngày Tết
Tuổi thơ ở làng, tôi đã đợi những mùa Tết về với tâm trạng vừa hiện thực vừa mơ mộng như thế đó. Tết Việt Nam là một thời điểm giao hòa giữa ước mơ và hiện thực. Ước mơ không bao giờ cạn và hiện thực không bao giờ đầy nên người Việt Nam "Về Tết" bằng điệu sống khát khao của con dơi cũ về đong đưa dưới mái nhà cổ xưa, chứ  không đón Tết hay ngắm Tết mông lung từ thế giới bên ngoài. Về Tết là về với hơi ấm của mái nhà thừa tự; về với mẹ dù mẹ còn đó hay mất rồi nhưng vẫn mường tượng dang tay đứng đợi. Về Tết là về với thế giới sơ xưa, xa mà gần với nỗi lòng cô Tấm, nụ cười chú Cuội, bản lĩnh Thằng Bờm, hào khí Thạch Sanh... đã "dzú" chín vàng hươm cất trong ngăn thần thoại và nỗi xúc động ôm chầm những người thân bằng xương bằng thịt. Tết về trên quê hương. Quê hương về giữa lòng người. Nhưng lòng người về đâu trong mùa Tết? Những câu hỏi có vẻ kỳ lạ xàng quanh như kiểu thiền sư ra công án. Nhưng quả thật, khi nói có một "công án về Tết" cho người Việt Nam là một cách nói chân tình mà không sợ mang tiếng lạm dụng danh từ. Vì sao chữ "Tết" lại không thể là thoại đầu cho một công án về Tết?..Xem Tiếp Về Tết (Trần Kiêm Đoàn)
Tôi  thả từng bước chân nhẹ nhàng trên nền cát mịn giữa lối mòn huỳnh mai vào một buổi sáng cuối Đông. Nắng mới lên. Những tia nắng vàng xuyên qua kẽ lá, rơi xuống mặt đất rực lên óng ả. Những giọt sương mai còn đọng lại đầu cành cây, ngọn cỏ, đón nắng long lanh.  Gió đông nhẹ thổi, mơn trớn làn da mát rượi. Hít một hơi thở thật sâu, không khí trong lành tràn ngập lồng ngực, mát lạnh. Vườn mai ươm đầy nụ, e ấp. Đài hoa xanh mượt mà. Những chiếc lá non mỏng manh xanh mơn mởn. Xuân đã về! Dừng lại bên một gốc mai đầy nụ, rón rén ngắt đi những chiếc lá già còn sót lại, hương trầm nhẹ đưa trong gió, lòng tôi chợt nao nao.. Xem Tiếp Cành Mai Vô tướng, Hạo Nhiên

Sự khoan thai của mái chèo đưa con thuyền lướt nhẹ trên mặt nước, gợi cho ta nhớ về cội nguồn "văn hóa thuyền" của người Việt cổ xa xưa. Con thuyền chở các thiện nam tín nữ đến với cõi Phật, khai mở trí tuệ, hướng lòng người về với thiện tâm. Ngồi ngắm cảnh núi non, cảnh thuyền ra vào tấp nập mới hay, tuy không ai quen ai mà những lời kể hạnh về sự tích Bà Chúa Ba, những tiếng chào nhau "A Di Đà Phật" lại cứ ngân nga trên dòng Suối Yến... Ở Việt Nam, ít ai lại không biết đến Lễ hội Chùa Hương, bởi đây là lễ hội diễn ra ở phạm vi rộng nhất, dài ngày nhất và thu hút nhiều khách thập phương nhất. Đối tượng hành hương chủ yếu là các Phật tử, người dân lao động, người buôn bán, thanh thiếu niên..., và cả du khách nước ngoài. Bài viết này, tiếp cận dưới giác độ văn hóa, đi từ lễ hội đương đại lần về lịch đại để bóc tách các lớp văn hóa Phật giáo đan xen với văn hóa tín ngưỡng dân gian trên nền bức tranh văn hóa Phật giáo Việt Nam. 
Xem Tiếp Ngày xuân trẩy hội chùa Hương (Vũ Hồng Thuật)

Chúng ta nhiều khi đứng ở vào một tình thế khó xử, trước hai thái độ chủ trương bởi đạo Phật: một thái độ tạm gọi là chính thống, có tính chất phổ thông và mô phạm; và một thái độ phóng khoáng, dành cho hạng “thượng căn”, và đặt nặng vào trí tuệ. Nói một cách giản lược, một bên lấy “diệt khổ” làm cứu cánh, theo con đường vạch ra bởi các bộ kinh (Nikāya) của Phật giáo Nguyên thủy; một bên lấy “tuệ giác” làm cứu cánh, theo tinh thần Bát-nhã Ba-la-mật (Prajñā-pāramitā) của Thiền tông. .. Xem Tiếp Vấn đề phân biệt hay không phân biệt thiện-ác?, Trịnh Nguyên Phước

Việc sản phẩm sữa tắm Tesori d'Oriente mang hình Phật Tổ  lưu hành trên thị trường VN đang bị nhiều Phật tử phản đối mạnh mẽ thật ra đã có một tiền lệ trên thế giới. Đó là vụ Phật tử, các tổ chức Phật giáo và cả chính quyền một số nước phản đối sản phẩm bikini có hình Phật của Hãng Victoria's Secret, một hãng thời trang quốc tế lớn, vào năm 2004. Nay Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã có công văn gửi Bộ VHTT và ĐSQ Italia tại Việt Nam đề nghị có biện pháp để Cty BNB thay đổi nhãn mác trên sản phẩm, tránh xúc phạm đến tín ngưỡng của người dân. Và ngày 7.2. 2007, Thanh tra Bộ VHTT đã có ý kiến bằng văn bản gửi Cty BNB khẳng định: Việc nhập khẩu bày bán sản phẩm dầu tắm trên là không phù hợp với thuần phong mỹ tục và truyền thống của dân tộc; đề nghị Cty BNB có cách thức thay đổi nhãn mác trên sản phẩm để đảm bảo sự tôn trọng hình ảnh tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân... Xem Tiếp Bao bì dầu tắm Terosi in hình ảnh Đức Phật: Có xúc phạm tín ngưỡng không? (cập nhật ý kiến độc giả)

Ở Việt Nam hiện nay có hai tạp chí Phật giáo được chính thức lưu truyền, tạp chí Văn Hoá Phật Giáo của giáo hội được phép lưu hành trên cả nước và tạp chí Giác Ngộ của thành hội TP. HCM được phép lưu hành trong phạm vi thành phố.  Bên cạnh đó là một vài tạp chí nghiên cứu Phật học lưu hành nội bộ, không được chính thức phát hành, như tập san Nghiên cứu Phật Học Thừa Thiên-Huế, Nội San Tu Viện Quảng Hương Gìa Lam...v...v.. Còn ở ngoài nước, tuy chùa chiền và tổ chức giáo hội khá nhiều nhưng vẫn chưa có một tờ báo chung, hầu hết đều là nội san mang tính chất cục bộ, phát hành mỗi năm vài ba số nhằm vào các dịp lễ lớn: Phật Đản, Vu Lan và Xuân.   May thay, một tạp chí văn học Phật giáo ra đời từ thành phố Giữa Đàng như là một nhu cầu cần thiết, như là tên gọi và “như là nơi nối kết và qui tụ những cây bút Phật giáo khắp nơi trên thế giới trong ước vọng chung là hoằng truyền Chánh Pháp, không những để đáp ứng việc hoằng pháp trong hiện tại, mà còn để dọn đường cho các thế hệ con Phật tương lai”.  Đó là tạp chí Phương Trời Cao Rộng.... Xem Tiếp Tạp Chí Văn Học "Phương Trời Cao Rộng"
Bardo Thoštrošl là một trong một loạt các bộ giáo huấn chỉ dẫn sáu cách giải thoát : giải thoát thông qua sự nghe ; giải thoát thông qua đeo, mặc ; giải thoát thông qua sự thấy ; giải thoát thông qua nhớ tưởng ; giải thoát thông qua nếm vị ; giải thoát thông qua xúc chạm. Bộ giáo huấn này do ngài Padmasambhava chỉ giáo và người vợ (tâm linh) của ngài là Yeshe Tsogyal ghi lại cùng với sadhana (nghi thức hành trì) về hai mạn đà la (mandalas) của bốn mươi hai vị deity bình yên (peaceful) và năm mươi tám vị deity xung nộ (wrathful). Ngài Padmasambhava đã chôn cất các bộ giáo huấn này trong vùng đồi Gampo ở miền trung Tây Tạng, nơi này về sau đại sư Gampopa xây một tu viện. Nhiều bộ giáo huấn khác cùng với các vật thiêng liêng cũng được chôn cất như vậy ở nhiều nơi khác nhau trên khắp lãnh thổ Tây Tạng ; người ta gọi các bộ giáo huấn đó và các vật thiêng liêng được chôn cất là terma... Xem Tiếp Tử Thư Tây Tạng của Guru Rinpoche theo Karma Lingpa - Việt dịch: Kiến Không

Thời gian chuẩn bị từ vật chất đến tinh thần và nhân lực con người để thực hiện một chuyến đi rất xa, xa lắm mà tạm gọi là “vùng sâu vùng xa” đã được chu đáo.  Sở dĩ cụm từ vùng sâu vùng xa được đặt trong dấu ngoặc kép là bởi vì vùng sâu vùng xa ấy là vùng tâm con người, chứ không phải vùng xa về không gian vật lý. Ấy thế mà đã có những người phóng tâm và tầm nhìn để vươn đến với những mãnh đất tâm ấy vốn rất cằn cõi từ lâu gần như chai sạn, mãnh đất tâm ấy tưởng chừng như không còn sử dụng được. Chúng tôi muốn nói đến mãnh đất khô khan ấy đó là trại giam K.20 (người ta thừơng gọi là địa ngục trần thế) ở tỉnh Bến Tre. . Xem Tiếp Quay Đầu Là Bờ, Giác Hạnh Phương

Tất cả người trên thế gian đều thừa nhận một năm có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Mùa Xuân khí hậu ấm áp, cây cối đâm chồi nẩy lộc, mọi người đều vui mừng, nên nói mừng xuân, vui xuân hay chơi xuân. Nói tới mùa Xuân là nói tới sự vui tươi, hạnh phúc. Nhưng mùa Xuân theo thời gian dài lắm chỉ tròn ba tháng rồi cũng hết Xuân, tới Hạ, Thu, Đông. Cho nên cái vui con người chỉ hưởng một lúc nào rồi mất, nhường chỗ cho mùa Hạ nóng bức, mùa Thu buồn tẻ, mùa Đông ảm đạm thê lương. Người tu chúng ta không thể chấp nhận vui xuân giới hạn theo thời tiết, cần phải có cái vui mãi mãi không mất, mãi mãi còn nơi chúng ta. Chúng ta phải tu như thế nào để hưởng được một mùa Xuân miên viễn?. Xem Tiếp Mùa xuân miên viễn, HT. Thích Thanh TừTuyển Tập Xuân Đinh Hợi
Tất cả các pháp đều do tâm biến hiện ra. Ta bà hay Phật cảnh đều do tâm mà thành, chúng sinh hay Phật đều từ tâm mà có, … Tâm vốn không, chư Phật và chúng sinh cũng không. Tâm là huyễn, Phật và chúng sinh cũng huyễn. Một là huyễn thì tất cả đều huyễn, một là không thì tất cả đều không. Không mà huyễn, huyễn mà không, ấy là tướng thật của vạn pháp. Ta bà hay Tịnh độ đều chẳng ngoài tâm. Cả hai đều là không, cả hai đều là huyễn, là huyễn mà không, là không mà huyễn. Tất cả đều đồng nhất là giả tướng của huyễn. Tất cả đều vô biệt ở đường thể không. Thế nên Ta bà không thì Tịnh độ cũng không, Ta bà huyễn thì Tịnh độ cũng huyễn; nghĩa là xét thể tánh thì tất cả đều không, nhìn ở giả tướng thì tất cả đều huyễn hữu, và khởi huyễn hữu tâm thì huyễn hữu sinh huyễn hữu Ta bà hay Tịnh độ.. Xem Tiếp Con Đường Tây Phương, Tịnh Sĩ (sách) 
Kéo chiếc mũ len kín xuống khỏi vành tai, kiểm soát túi đồ nghề gồm một cái cưa nhỏ, kéo cắt cành, cuộn giây gai, bao tay, chai nước suối và gói xôi mè, Thầy mỉm cười, đeo túi vào cái xe đẩy nhỏ, có bánh xe. Nếu may mắn gặp những cành Mai đẹp thì lúc về sẽ là nhiệm vụ của xe đẩy này. Thầy không còn vác Mai trên vai mà đi dễ dàng như những năm còn trẻ nữa.  Sư chú chạy ra, vòng tay cung kính:  -Bạch Thầy, Thầy chắc là không cần con theo hầu ạ?  -Chắc thế, năm nào Thầy chả vào rừng, cưa Mai một mình. Thầy còn biết rõ nơi nào thưa, nơi nào rậm nữa mà. . Xem Tiếp Mai Vàng và Áo Nâu, Diệu TrânTuyển Tập Xuân Đinh Hợi
Trong cuốn Xứ Trầm Hương, nhà thơ Quách Tấn khi viết về chùa chiền ở Khánh Hòa đã có những nhận xét là  Khánh Hòa có lẽ là tỉnh nhiều chùa hơn tất cả các tỉnh Miền Nam Trung Việt và chùa có mặt hầu hết trên khắp xã phường trong tỉnh.  Các tổ khai sơn đều là người Việt, phần nhiều có sự nghiệp để lại cho đời...Riêng tại Nha Trang, cận kề một danh thắng là Hòn Chồng, có Hòn Đỏ là một hòn đảo hoang vu đầy cỏ gai và đá tảng, không có nước và bóng cây. Đây là một hòn đảo chết. Tuy nhiên vào năm 1960 lại có một nhà sư tìm lên khai thác đảo để lập chùa.Trải qua nhiều năm tháng, cặm cụi lao động một mình nhà sư này đã gầy dựng thành một hòn đảo có màu xanh và một ngôi chùa nhỏ nhoi ẩn mình trong cây lá. Đó là chùa Từ Tôn và người xây dựng là nhà sư Thích Viên Mãn.. Xem Tiếp  Người Gánh Nắng, Bút Ký của Quách Giao (sách) 
Theo sự hiểu biết của Chúng tôi thì " Điểm Nhãn" không hề dính líu gì đến Nghi Thức Phật Giáo mà phát xuất từ giới họa sĩ của Trung Quốc thời xưa. Họ quan niệm rằng trong những bức tranh vẽ về người hay thú vật, tài nghệ của người họa sĩ được thể hiện qua việc vẽ con mắt. Họa sĩ chân tài thì vẽ con mắt có " Thần ", làm cho bức tranh linh hoạt, sống động, y như thật. Thế nên trong một họa phẩm, con mắt thường được vẽ cuối cùng và nếu như người họa sĩ này tôn trọng một bậc họa sư nào đó trong vùng thì cố thỉnh mời cho được vị này đến để " Điểm Nhãn " , tức là hoàn thành nét vẽ cuối cùng của bức tranh: con mắt. Xem Tiếp Khai Quang Điểm Nhãn-An Vị Thánh Tượng Phật Bồ Tát, Phổ Quảng
- Thiền sư được biết đến như là người chủ trương pháp môn tu thiền. Thế nhưng trong chuyến về Việt Nam lần này, Thiền sư lại tổ chức nhiều Đại trai đàn chẩn tế - một lễ mang nhiều yếu tố Mật giáo và dân gian. Phải chăng đã có một sự đổi mới trong nhận thức cũng như phương pháp của Thiền sư?
- Thưa Thiền sư, sau khi Việt Nam gia nhập WTO, đang trên hành trình “đi ra biển lớn”, theo quan điểm của Thiền sư, Phật giáo Việt Nam cần có những động thái nào cho sự hội nhập ấy cùng với nhịp sống của dân tộc, xã hội?…Xem Tiếp Phỏng vấn Thiền sư Thích Nhất Hạnh về chuyến hoằng hoá tại quê nhà lần thứ 2
Để nghe hay học Pháp một cách thích hợp, cốt yếu là có động cơ đúng đắn. Nhớ tất cả chúng sanh đã từng là mẹ của bạn trong những đời trước và đã cho bạn lòng tốt lớn lao như thế nào, bạn cần khai triển lòng bi và mong muốn đền ơn họ. Cách duy nhất để có thể thực sự làm điều đó và cởi gỡ sự khổ đau của họ là tự mình phải giác ngộ. Có ước nguyện ban đầu là thành Phật, hay như trong các tantra, thành Vajradhara, để giúp đỡ những người khác gọi là Động cơ Giác Ngộ của Bồ đề tâm. Với sự phát tâm cao nhất này, bạn đọc, học, thực hành những giáo lý này. Có ba lỗi lầm thí dụ cái đồ chứa mà bạn cần tránh. Thứ nhất, chớ có làm như một cái đồ chứa úp ngược, đó là tâm thức si mê, đến độ giáo pháp không thể thấm vào. Chớ giống như một đồ chứa có lỗ thủng dưới đáy, chẳng giữ lại cái gì bạn đã học. Hơn nữa, khác với một đồ chứa dơ bẩn, bạn cần thoát khỏi những thành kiến, định kiến và những mê lầm nặng nề làm nhiễm ô dòng tâm thức khiến bạn không thể nghĩ đến cái gì khác và hiểu sai mọi cái bạn nghe.…Xem Tiếp Đại Ấn Thiền Xoá Tan Bóng Tối của Vô Minh, Karmapa thứ Chín Wangchug Dorje-Việt dịch: Đương Đạo (sách).
Trong sáu thập niên qua, TIME  đã không ngừng ghi chép lại những vinh quang cùng khổ nhọc của Á châu. Trong số đặc biệt kỷ niệm thường niên hôm nay, chúng tôi muốn bày tỏ lòng kính trọng của mình đến những nhân vật nổi bật đã góp phần vào việc hình thành nên thời đại chúng ta. Những thập niên xáo động nhất của một lục địa đông dân nhất trên trái đất này đã sản sinh ra hàng loạt những nhân vật kiệt xuất. Trong sáu mươi năm qua, kể từ khi TIME bắt đầu cho xuất bản ấn bản Á Châu, chúng tôi đã có cái đặc ân là được gặp gỡ đa số những nhân vật ngoại hạng này …Xem Tiếp Những Nhân Vật Kiệt Xuất cùa Á Châu Trong Sáu Thập Niên Qua, Tâm Hà Lê Công Đa
Tôi luôn luôn tự xem mình như một nhà sư Phật Giáo đơn giản. Tôi cảm thấy như thế mới là tôi thật. Tôi cảm thấy rằng Đạt Lai Lạt Ma với cương vị nhà cầm quyền thế gian là một định chế nhân tạo. Khi nào người ta còn chấp nhận Đạt Lai Lạt Ma, họ sẽ chấp nhận tôi. Nhưng, là một vị sư là một điều thuộc về tôi. Không ai có thể thay đổi điều đó. Tận sâu thâm tâm, tôi luôn luôn tự xem mình là một nhà sư, ngay cả trong các giấc mơ của tôi. Thế nên, một cách tự nhiên, tôi tự cảm thấy mình nhiều phần là người của tôn giáo hơn. Ngay cả trong đời thường của tôi, tôi có thể nói rằng tôi để 80% thời gian của mình cho các sinh họat tâm linh và 20% cho Tây Tạng. ... Xem Tiếp Đức Đạt Lai Lạt Ma: Hỏi và Đáp, Cư Sĩ Nguyên Giác dịch

Việt Nam vừa trải qua những trận bão lụt tàn khốc với nhiều thiệt hại lớn. Một số ngôi làng trở thành bình địa. Hàng trăm người chết và mất tích, hàng chục ngàn nhà đã sập, và xã hội hoang mang, bất an… Chúng ta có thể hốt nhiên khởi lên câu hỏi: Phật đã dạy những pháp nào để giúp bảo vệ cho chúng sinh? Hay ở các trường hợp cá biệt hơn, khi quý Tăng Ni Phật Tử gặp người nguy khốn, bất an trong đời, có thể sử dụng pháp Phật nào để giúp phòng hộ và cứu hộ cho các nạn nhân này? ... Xem Tiếp Các Pháp Hộ Quốc An Dân, Cư Sĩ Nguyên Giác

Thập Bát La Hán tượng trưng cho tín ngưỡng đặc thù dân gian. Cuộc đời của các Ngài siêu nhiên kỳ bí nhưng rất mực gần gũi chúng sanh.Tranh tượng Bồ-tát trình bày một thế giới trang nghiêm hương hoa nhã nhạc. Tranh tượng La-hán trình bày những nét sống động của các bậc Thánh hết sức hồn nhiên phụng hiến năng lực của mình.Tập tiểu truyện về 18 vị La-hán được thực hiện nhân dịp thiền viện Thường Chiếu khánh thành La Hán Đường vào tháng Chạp năm Ất Dậu (01-2006), để giúp các huynh đệ hiểu thêm về các vị La-hán, tăng trưởng niềm tin của mình đối với Phật pháp. Đó là ước vọng của chúng tôi.…Xem Tiếp Sự Tích Thập Bát La Hán, Ni Sư Như Đức

Sài-gòn, một buổi sớm thu tàn. Những cơn mưa giông cuối mùa thưa thớt dần. Gió tây bấc trở trời lành lạnh. Trong căn gác gỗ yên ả, tĩnh mịch, nhỏ nhắn chỉ đủ kê vừa cái giừơng xếp và chiếc bàn con, còn cái võng thì móc lên vách, mùi hương trầm thoang thoảng đưa bay như vây bọc mọi thứ, làm cho căn gác đỡ lạnh lẽo hơn. Từ cái bát nhan đặt trên giá gỗ đơn sơ gắn lên vách, phía bên dưới bức hình Tổ-sư Bồ-Đề Đạt-ma, khói hương từng sợi mong manh, biếng lười, quyện nhẹ lên cao, len lỏi, cuốn hút theo các khe hở của mái tôn, tan biến vào hư không.…Xem Tiếp Phía Sau Đôi Mắt, Nhuận Bảo
Sau hai mươi năm ở Tây phương để dạy thiền định, hay chỉ có những lời khuyên cho những người đến hỏi, tôi đi đến kết luận rằng điều nhiều người chờ đợi từ tôi không luôn luôn hoàn toàn là cái họ cần. Họ đến gặp tôi, nói rằng họ muốn nghiên cứu đạo Phật hay thiền định. Nhưng khi hỏi những chuyện đó, hay dần dần biết rõ họ hơn, tôi hiểu họ cảm thấy một sự không thỏa mãn nào đó đối với cuộc đời của họ và thế giới và họ thường không biết phải làm sao đối diện với những khó khăn của đời thường............Xem Tiếp Nghệ Thuật Để Sống Trọn Vẹn Ý Nghĩa Cuộc Đời, Akong Tulku Rinpoche - Việt dịch: Nguyễn A Cư, NXB Thiện Tri Thức (sách).
Truyền Thuyết Vua Asoka, Việt dịch: Nguyệt Thiên (671KB)

Ngài Sàntideva (Tịch Thiên, 691-743) viết luận này tại Học Viện Nalanda, Ấn Độ vào thế kỷ 8. Ngài diễn giảng đường tu hạnh Bồ Tát, hạnh Lục độ và tu mười đại hạnh của Phổ Hiền Bồ Tát. Đọc tụng luận này, hành giả có thêm hùng tâm dũng chí để giúp Đạo, cứu đời....Xem Tiếp Nhập Hạnh Bồ Tát, Việt dịch: Nguyên Hiển-Hiệu đính: Lê Triều Phương (sách).

TVHS
c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap