|
|
2008
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2007
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2006
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2005
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2004
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2003
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2002
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
c
NEW POSTING
THÁNG 7-2006
 |
 |
 Gần
đây, có nhiều bài phổ biến trên các tạp chí, trên
mạng, trên mọi phương tiện truyền thông, đề cập đến
hiện trạng suy đồi trong hàng tăng lữ, về giá trị học
thuật ngọai điển, về mảnh bằng của đời nâng cấp địa
vị trong đạo, v.v. Thật ra trạng huống suy đồi thời nào
cũng có, ngay cả lúc Phât còn tại thế; vấn đề là tại
sao chỉ trách cứ hàng tăng lữ mà không ai nhắc đến vai
trò của đoàn thể cư sĩ tại gia trong trạng huống suy đồi
đó.Xem Tiếp
Vai trò cư sĩ trước tiền đồ Phật giáo Việt Nam, TS. Thích
Quán Thông
Dùng
Trí để hiển Trí không gì hơn là dùng kinh để hiển kinh.
Pháp
Hoa là Ðại Bát Nhã, là Ðại Niết Bàn, là Hoa Nghiêm, là
Lăng Nghiêm, là Lăng Già, là Duy Thức, là ý Phật, là lời
Tổ...
Một
kinh là nghìn kinh, nghìn kinh vào một dòng, vốn đã tự đầy
đủ...Xem Tiếp
Muôn Pháp Hội Trổ Một Hoa Vô Tướng, Từ Hoa (thi
hóa pháp hội Diệu Pháp Liên Hoa)
 Mới
bảy giờ sáng mà nắng đã lên oi ả. Thoát ra khỏi bầu không
khí ồn ào, náo nhiệt và bụi bặm của nội thành Hà Nội,
chúng tôi xuôi theo quốc lộ 22 trực chỉ hướng Trường hạ
chùa Võ Lăng, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Đường xá của
một tỉnh giáp Hà Nội cũng đông đúc và chật chội không
kém gì đất thủ đô. Ấy vậy mà vừa bước qua cổng chùa,
chúng tôi đã cảm nhận được bầu không khí trong trẻo,
mát lành, thanh tịnh. Hương cau buổi sớm thơm ngát quyện
với hương lúa dìu dịu được những làn gió nhẹ đưa từ
cánh đồng trước cổng chùa đã xua tan sự mệt nhọc, nóng
bức suốt chặng đường đi..Xem
Tiếp
Trường hạ nơi chốn quê, Trần Trọng Hoàng
 Mặc
dù giáo lý của đạo Phật không đề cập đến mục đích
chính trị xã hội, nhưng quan tâm đến hạnh phúc nhân sinh.
Qua lý tưởng từ bi, bình đẳng, vị tha đạo Phật góp phần
ổn định xã hội và rèn luyện nội tâm trở thành một nhân
cách hoàn mỹ ở mỗi con người. Trong quá trình du nhập,
đạo Phật luôn biến chuyển và thích nghi với từng điều
kiện xã hội ở mỗi dân tộc. Bằng cách đó, đạo Phật
Việt Nam đã có nhiều thiền sư, danh tăng đóng góp rất lớn
vào sự nghiệp giữ nước, dựng nước và củng cố pháp
quyền quốc gia, khiến đất nước một thời hưng thịnh.
Và ảnh hưởng đó đã gắn chặt tư tưởng Phật giáo vào
hệ chính trị xã hội nước ta, để rồi đạo Phật đã
trở thành một tôn giáo của dân tộc đi đôi với vận mệnh
lịch sử của đất nước qua bao thăng trầm.Xem
Tiếp
Vai trò chính trị của tăng sĩ Phật giáo thời đại Lý Trần,
TS. Thích Đồng Bổn
Trong
phiên họp khoáng đại ngày 15 tháng 12 năm 1999, Hội đồng
Liên Hiệp Quốc (LHQ) đã thông qua dự thảo nghị quyết “Công
nhận quốc tế về ngày Lễ Vesak tại trụ sở Liên Hiệp
Quốc và các văn phòng liên hệ” (văn bản số A/54/L.59) do
đại diện nước Sri Lanka đệ trình. Hội đồng quyết định
hằng năm sẽ có các công tác bố trí thích hợp để tổ
chức ngày Lễ Vesak với sự cố vấn của các đại diện
quốc gia trong Hội đồng. Ngày Vesak – ngày rằm tháng 5 Dương
lịch mỗi năm – là ngày thiêng liêng nhất của mọi Phật
tử để kỷ niệm ngày sinh, ngày thành đạo và ngày nhập
diệt của Đức Phật. Xem
Tiếp Liên
Hiệp Quốc chính thức công nhận Ngày Vesak
Khi
bước đi giữa các phố chợ quê nhà, tôi vẫn luôn luôn cảm
thấy vui vẻ, hạnh phúc và sinh lòng kính ngưỡng, dù quanh
tôi là bụi bặm thổi tung đường xá, là ồn ào inh tai xe
cộ, vì lúc nào tôi cũng nhìn thấy trứơc mắt mình là rất
nhiều các vị Thánh Cư Sĩ, các vị Bồ Tát hiện thân, dù
đó là một bà già mù chữ đang cầm xâu chuỗi niệm Phật,
dù đó là một ông gìa đạp xe xích lô, dù đó là một em
bé lớp tiểu học đang nghịch phá, hay các em sinh viên vào
chùa chỉ nghĩ tới việc cầu xin Phật cho thi đậu cuối năm.
Họ có thể là các vị Tu Đà Hòan đang trở lại cõi này
trong kiếp thứ 4 hay thứ 5, trong 7 kiếp còn sót lại sau khi
đắc quả thánh đầu tiên. Xem
Tiếp
Giữa một cõi Thánh phàm, bên nhau, Tâm Diệu
Phật
pháp như thuốc hay, nhưng tùy theo căn bịnh. Có điều, không
phải như thuốc Tây, được bào chế như thế nào thì đồng
loạt các người bịnh dùng như vậy, chỉ hơi khác nhau về
cân lượng tùy theo thể trọng của mỗi người. Phật pháp
tuy cũng một pháp môn có thể được truyền dạy cho nhiều
người như nhau, nhưng để cho sự thực hành có hiệu quả
hơn, cũng cần phân biệt thành phần xã hội, trình độ nhận
thức, và kinh nghiệm từng trải của mỗi người mà phương
pháp thực hành có thể một vài sai khác.Xem
Tiếp
Bát Quan Trai Giới, TT. Thích Tuệ Sỹ
 Sắc
màu của tu sĩ Phật giáo là hoà thuận, đồng nhất với nhau
trên mọi phương diện từ ý chí đến hành động từ lý
thuyết đến hiện thực. Điều này được chứng minh rất
rõ ở sáu pháp hoà kính (Lục hoà) được đức Phật thiết
chế ngay từ lúc trong giáo hội bắt đầu phát khởi mầm
móng của sự bất đồng nhất giữa chư Tăng. Bằng pháp Lục
hoà, đức Phật đã khuyên chúng đệ tử thực hiện cuộc
sống đoàn kết và công bằng từ vật chất (lợi hòa
đồng quân) đến tinh thần (kiến hòa đồng giải), từ tư
duy, lời nói đến việc làm thể hiện ở ba nghiệp thân khẩu
ý (thân hòa đồng trụ, khẩu hòa vô tránh, ý hòa đồng duyệt).
Cố nhiên, tất cả điều giới học làm cơ sở (giới hòa
đồng tu).Xem Tiếp
Tâm sự về vấn đề “Hòa Hợp”, Đạo Nguyên
Khi
đọc, hoặc nghe thấy chữ “xuống núi” chúng ta thường
tưởng tượng ngay tới hình ảnh những vị đạo sỹ ẩn
tu lâu năm chốn thâm sơn cùng cốc; nay vì muốn cứu đời
mà xuống núi, mang những đạo lý mầu nhiệm đã ngộ được
để chia xẻ với nhân gian. Nhưng 5000 người trong tựa bài
viết này không hẳn thế, mà đây là những người gồm nhiều
thành phần như Thanh-văn, Duyên-giác, nam nữ khất-sỹ, nam
nữ cận-sự, đã đứng dậy, rời Hội Liên Hoa trên núi Thứu
khi Đức Thế Tôn chấp nhận ba lần, lời thỉnh cầu của
Trưởng lão Xá Lợi Phất để sẽ tuyên giảng một pháp lớn.
Xem
Tiếp
Năm Ngàn Người Xuống Núi, Diệu Trân
Đối
với Việt Nam ta, Mật tông đã thịnh hành từ đời Đinh,
Lê, nhưng rồi sau đó chìm sâu vào dòng tiến hóa của Đạo
pháp, cho đến ngày nay gần như thất truyền. Giờ đây, mỗi
khi nói đến Mật Tông thì đối với phần đông Phật tử
gần như xa lạ và chẳng hiểu gì về môn phái này. Thậm
chí có những người tự nhận là tu Mật, nhưng đã không
hiểu rõ lý Mật và cũng chẳng có chút kiến thức nào, dù
là rất nhỏ về Mật Tông nữa. Cũng vì vậy mà một số
lớn Phật tử đã coi Mật Tông như một ngành chuyên về bùa
phép, cầu phước, giáng họa, sai phái quỷ thần, trừ khử
tà ma, dị đoan mê tín. Nếu hiểu một cách phiến hiện như
vậy thì thật là oan cho Mật Tông quá! Xem
Tiếp
Mật Tông Vấn Đáp, Mật Nghiêm
Sự
hiện hữu hay hủy diệt của một thực tại giả hợp, chúng
luôn luôn tùy thuộc vào nhân và duyên có được, từ nơi
định luật vô thường khởi-diệt của nhân sinh và vũ trụ,
đã nói lên tính dung thông vô ngại của nguyên lý Duyên khởi
tính không các pháp đối với cuộc sống.Xem
Tiếp
Từ Nghiệp Cảm Duyên Khởi Đến Pháp Giới Duyên Khởi, TT.
Thích Đức Thắng
Đây
là ba phạm trù nghĩa lý đặc trưng để bảo chứng nhận
diện ra những lời dạy của đức Đạo sư một cách chính
xác mà không nhầm lẫn với những lời dạy bỡi các giáo
chủ của các ngoại đạo khác qua: “Các hành là vô thường,
các pháp vô ngã và, Niết-bàn tịch tĩnh” cho nên được
gọi là ba pháp ấn. Ba phạm trù nội dung nghĩa lý này chúng
luôn luôn phù hợp với chân lý cuộc sống qua mọi hiện tượng
nhân sinh cùng vũ trụ. Trong ba tạng kinh điển dù là Đại
thừa hay Tiểu thừa ba phạm trù tư tưởng nghĩa lý “ Vô
thường, vô ngã, Niết-bàn” này đều có hết, với mục
đích là dùng để ấn định bảo chứng cho những lời dạy
của đức Đạo sư, chứ không phải là những lời nói của
Ma. Nếu kinh điển nào mà không mang nghĩa lý của một trong
ba phạm trù này thì những kinh điển đó không phải do đức
Đạo sư nói ra. Xem Tiếp
Ba Pháp Ấn, TT. Thích Đức Thắng
Tiến
Vào Cung Thành Toàn Trí, Rigdzin Jikmé Lingpa – Thanh Liên Việt
dịch
 Lẽ
thật là không ai muốn đau khổ và mọi người đều tìm kiếm
hạnh phúc. Trong thế giới của chúng ta, con người cố gắng
làm mọi cách để phòng ngừa và làm giảm đau khổ, đồng
thời hưởng thụ hạnh phúc. Tuy nhiên, tất cả cố gắng
của con người đều chỉ hướng về phúc lợi của thân và
về mặt vật chất. Hạnh phúc, thật ra, bị điều kiện hoá
bởi thái độ của tâm thức, và chỉ có vài người thật
sự nghĩ đến việc phát triển khía cạnh tâm thức, và lại
rất ít người lại chịu thực tập thiền định một cách
miên mật.Xem Tiếp
Thiền định sáng suốt thực tiễn, Venerable Mahāsi Sayādaw
- Dịch Việt : Mỹ Thanh
Những
Lời Dạy Hữu Ích Cho Tâm, H.H. Dudjom Rinpoche – Thanh Liên Việt
dịch
Hành
giả tu hành muốn mau đạt đến kết quả như mình mong muốn
thì, điều kiện tiên quyết trước hết là chúng ta cần phải
chọn lựa pháp môn nào cho thích hợp với căn cơ của mình,
trong muôn nghìn pháp môn mà đức Đạo sư đã để lại. Kế
đến là chúng ta phải hạ thủ quyết tâm thực hành pháp
môn mà mình đã chọn và, điều kiện cần thiết và quan trong
nhất trong khi tu tập là siêng năng tinh tấn, nếu thiếu đi
tinh tấn siêng năng thì dù cho phương pháp tu có tốt và dễ
dàng đi chăng nữa cũng trở thành vô ích, do đó vấn đề
siêng năng tinh tấn rất cần thiết cho hành giả trên bước
đường tu tập.Xem Tiếp
Từ Tứ Chánh Cần Đến Hiện Quán, TT.Thích Đức Thắng
Bài
kinh Kalama, trong Tăng Chi bộ, chương Ba Pháp, thường được
nhiều người xem như là một "Hiến chương Phật giáo về
Tự do Trạch vấn". Mặc dù bài kinh bác bỏ các tư duy giáo
điều và lòng tin mù quáng, vấn đề ở đây là bài kinh có
thật sự mang những ý nghĩa mà người ta thường gán ghép
vào đó hay không? Dựa vào một đoạn duy nhất của bài kinh,
thường được trích dẫn sai lạc ra ngoài mạch văn, người
ta thường nghĩ rằng Đức Phật là một nhà chủ nghĩa thực
nghiệm, bác bỏ mọi giáo thuyết và lòng tin, và Pháp của
Ngài chỉ là công cụ của một người tư duy tự do để đạt
chân lý, và mời gọi mỗi người chấp nhận hay bác bỏ bất
cứ điều gì theo sở thích của họ.Xem
Tiếp
Về Bài Kinh Kalama, Tỳ Khưu Bodhi - Bình Anson lược dịch
 Sáng
ngày thứ bảy 15/7/2006, tại Hội trường Học viện Phật
giáo Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh, Hội thảo “Phật giáo
trong thời đại mới – Cơ hội và Thách thức” do Viện
Nghiên cứu Phật học Việt Nam thuộc Giáo hội Phật giáo
Việt Nam tổ chức đã chính thức khai mạc. Phật
tử Việt Nam xin gửi tới quý vị những hình ảnh mới
nhất do Phóng viên Xuân Loan gửi về từ Thành phố Hồ Chí
Minh.Xem Tiếp
Lễ Khai Mạc Hội Thảo Phật Giáo tại Việt Nam
Từ
ngày 15 đến 17/7/2006, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam
thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức Hội thảo "Phật
giáo trong thời đại mới - Cơ hội và Thách thức". Mời quý
vị theo dõi lịch trình của Hội thảo này.”.Xem
Tiếp
Chương Trình Hội Thảo Phật Giáo tại Việt Nam
 Cầu
siêu là gì? Tại sao chúng ta phải cầu siêu? Thế nào là cầu
siêu? Có người cho rằng cầu siêu là một cách mê tín của
nhân gian chứ chẳng phải xuất phát từ trong Phật Pháp. Kỳ
thật, tôi cho rằng người này có hai lý do mới nói rằng
cầu siêu chẳng phải xuất phát trong Phật Pháp..Xem
Tiếp Kinh
Vô Lượng Thọ Giảng Thích, Tỳ Kheo Thích Hằng Quang
 Mục
đích giáo lý của Ðạo Phật chỉ nhằm trưng bày hai vấn
đề: khổ và phương pháp diệt khổ. Con đường đưa tới
sự diệt khổ để đạt được giác ngộ và giải thoát,
hành giả phải đi qua cửa ngõ “Tam vô lậu học”, đó là
văn huệ, tư huệ và tu huệ, nếu hành giả nào áp dụng triệt
để sẽ có kết quả mỹ mãn trong lộ trình trở về cội
nguồn tâm linh của mình. Văn huệ là nghe giảng, đọc sách,
thảo luận với thiện hữu tri thức để hiểu cho thấu đáo
và rộng rãi lời Phật dạy. Tư huệ là suy nghĩ cân nhắc
đắn đo về những giáo lý mình đã nghe, đi sâu vào giáo
lý bằng tâm ý của mình chứ không chỉ bằng lỗ tai và cái
miệng. Có tư duy thiền định mới thấm được những lợi
ích sâu xa của giáo pháp ngoài các lợi ích nhỏ nhoi như cứu
bệnh, mua may bán đắt, đạt được địa vị cao...Xem
Tiếp Pháp
Ngữ Của Hoà Thượng Tịnh Không, Việt dịch: Thích Nguyên
Tạng
 Phật
tử
chúng ta, bất kỳ là từ vùng đất nào của địa cầu này,
có lẽ đều hướng mắt nhìn về khung trời Hy Mã tuyết trắng,
vì ngay dưới chân rặng núi ấy, những dấu tích của một
thời hoàng kim, dưới chân rặng núi ấy là quê hương của
Đấng Cha Lành, mà giáo pháp của Ngài đã từ gần 26 thế
kỷ nay đã dìu dắt chúng ta cùng nhau hướng thượng. Chắc
ai trong chúng ta cũng đều ao ước, sẽ có một ngày chúng
ta về lại quê cha, dò dẫm lại từng bước chân xưa của
Ngài. Về lại Vườn Lâm Tỳ Ni để nghe lòng mình lâng lâng
niềm xúc cảm về luật vô thường mà chính cha mình đã dạy
năm xưa. Về đó để thấy cảnh hoang tàn đổ nát của một
Ca Tỳ La Vệ trù phú phồn thịnh năm xưa. Về để thấy một
Bồ Đề Đạo Tràng với tấp nập người đến kẻ đi chỉ
với một mục đích duy nhất là thấy lại nơi Đức Thế
Tôn đã thành đạo năm xưa...Xem Tiếp Thiên
Trúc Tiểu Du Ký, Thiên Phúc
 Thưở
Đức Phật còn tại thế, Ngài có đặt ra một giới luật
cho hàng Tăng ni là mỗi năm phải An cư Kiết hạ vào mùa mưa
[1]. Vì mùa mưa ở Ấn Độ, các loại côn trùng sinh sôi nảy
nở rất nhiều, mà chúng Tăng đi khất thực sẽ dẫm đạp
lên chúng, giết hại nhiều chúng sanh nhỏ nhoi, làm tổn thương
đến lòng từ bi tế vật của hàng Phật tử, nên chư Tăng
ni không được phép du hành ra ngoài, mà phải ở yên một
chỗ trong thời gian ba tháng để nỗ lực tu tập thiền định,
trau dồi giới định tuệ, cùng nhau sống trong hoà hợp thanh
tịnh. Tuy nhiên, nếu có chuyện khẩn cấp và cần thiết,
chỉ được phép rời trú xứ trong thời hạn không quá bảy
ngày [2], rồi phải trở lại tiếp tục an cư. Đó là nguồn
gốc của việc “An cư Kiết hạ”...Xem
Tiếp An
Cư Kiết Hạ, Suối Nguồn Từ Bi và Trí Tuệ, Tâm Diệu
Người
Việt Nam nào thích xem tuồng, ghiền cô đào thương Kim Cương,
hoặc mê đọc sách của nhóm Tự Lực Văn Đoàn thì đều
biết đến hai câu chuyện nổi tiếng là Lan và Điệp và Hồn
Bướm Mơ Tiên. Ngẫu nhiên, trong cả hai truyện, người nữ
đi tu đều tên Lan...Xem Tiếp Từ
Lan Và Điệp Đến Hồn Bướm Mơ Tiên, Diệu Trân
 KHÔNG
ĐUỔI THEO THAM MUỐN là thực hành Pháp; theo đuổi tham muốn
là không thực hành Pháp. Sự việc chỉ đơn giản như thế.
Toàn bộ ý nghĩa thiết yếu của Mở rộng Cánh Cửa Thánh
Pháp, những giáo huấn này xuất phát từ kim khẩu của các
geshe Kadampa - những điều các ngài đã thực hành và chứng
nghiệm – là cắt đứt tám pháp thế gian, thoát khỏi tham
muốn bám luyến vào cuộc đời này. Dù bạn có thực hành
Pháp hay không, tư tưởng xấu xa của tám pháp thế gian chính
là nguồn mạch của mọi chướng ngại và vấn đề. Mọi
điều khơng mong muốn xuất phát từ tư tưởng về tám pháp
thế gian này...Xem Tiếp
Cắt Đứt Ham Muốn, Lama Thubten Zopa Rinpoche - Việt ngữ: Thanh
Liên
 Hình
ảnh những bến đò, những sân ga, gợi cho chúng ta sự linh
động của đến, đi, chia tay và hội ngộ, khởi hành và điểm
tới, tùy theo định hướng của từng đối tượng. Suốt
chặng đường đời, đã bao lần lữ khách đứng bên sông,
đợi bóng một con đò, lòng bâng khuâng tưởng về nơi sẽ
tới, người sẽ gặp ? Hay còi tầu giục giã sân ga có làm
nôn nao bao người đi, kẻ ở ? Nhân gian đã từng ngược xuôi
muôn vạn chuyến Đi, Về, nhưng con đò kia, chuyến tầu nọ,
hình như chỉ là “Nhạn quá trường không. Ảnh trầm hàn
thủy. Nhạn vô di tích chi ý. Thủy vô lưu ảnh chi tâm”,
chẳng lưu lại gì, như chim bay ngang trời, bóng chìm đáy nước.
Chim không ghi lại hình ảnh của ý thì nước nào mà ghi được
bóng dáng của tâm ?..Xem Tiếp Chuyến
Đó Canh Ba, Chở Hoa Vô Niệm, Diệu Trân
 Nhìn
về những ngôi thiền viện, những ngôi chùa mà Hòa thượng
Thiền sư Thích Thanh Từ xây dựng đều là những công trình
mang tính thời đại, như Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt, chùa
Lân ở Yên Tử, Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên ở Tam Đảo
và những thiền viện ở Long Thành, Vũng Tàu. Giờ đây, Thiền
viện Trúc Lâm Bạch Mã cũng sẽ là một đại danh lam ở giữa
thắng cảnh hồ Truồi xanh mát. Sự nghiệp xây dựng chùa
chiền của thiền sư để lại cho đời thật là vĩ đại,
song công việc khơi lại dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử được
tuôn trào qua nhiều miền quê hương lại càng vĩ đại hơn
bội phần...Xem Tiếp Thiền
viện Trúc Lâm Bạch Mã, Thừa Thiên Huế
 TRUYỆN
TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT được ghi chép trong Kinh Bổn Sanh (Jàtaka).
Đây là tập thứ 10 trong Tiểu Bộ Kinh. “Tiền thân” là
những đời sống trước, những kiếp quá khứ. Mỗi truyện
thường gồm: phần truyện hiện tại, phần truyện quá khứ,
phần kết hợp và một bài kệ. Phần “TRUYỆN HIỆN
TẠI” kể một câu truyện được xem là đang xảy ra trong
thời Đức Phật còn tại thế. Nhân dịp này Đức Phật nhắc
lại một câu truyện trong quá khứ có liên quan. Phần
“TRUYỆN QUÁ KHỨ” kể một câu truyện từ thời xa xưa
có liên hệ đến những nhân vật trong câu truyện hiện tại.
Trong truyện quá khứ luôn luôn có sự hiện diện của một
vị Bồ Tát, vị này là tiền thân của Đức Phật... Xem
Tiếp Truyện
Thơ Tiền Thân Đức Phật Tập 3, Tâm Minh (Sách)
 Tôi
có duyên lành gặp được ngài một lần khi ngài đến thăm
Hòa thượng chùa Đông Hưng, bổn sư của tôi, cũng là y chỉ
sư của Hòa thượng Quảng Thạc, một để tử xuất gia của
ngài khi còn ở đất Bắc. Cung cách khiêm cung, ngài cùng Hòa
thượng tôi đàm đạo về quá trình tu tập cũng như Phật
học, hai ngài đã rất tâm đắc về chí nguyện giải thoát
và cùng nhau kết luận một câu nói để đời : “Mục
đích tu hành không phải để làm chính trị”. Cũng
câu nói này, khi chia tay chư tăng miền Nam, ngài đã phát biểu
với hàng pháp lữ Tăng ni đưa tiễn..Xem
Tiếp Hoà
Thượng Thích Trí Hải Với Hoài Bão Nhân Gian Phật Giáo, TT.
Thích Đồng Bổn
 Ngày
27/6/2006, hội thảo khoa học “Sa môn Thích Trí Hải và phong
trào chấn hưng Phật giáo Việt nam” đã được long trọng
tổ chức tại Viện Khoa học Xã hội, số 27 phố Trần Xuân
Soạn, Hà Nội nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Sa
Môn Thích Trí Hải. Hội thảo do Phân viện nghiên cứu Phật
học Việt Nam tại Hà Nội và Viện nghiên cứu Tôn Giáo đồng
tổ chức. Chủ tọa Hội thảo có Hoà Thượng Thích Thanh
Sam - Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo Hội
Phật giáo Việt Nam, Thượng Toạ Thích Gia Quang, Uỷ viên thư
ký Hội Đồng Trị sự, Phó Viện trưởng Phân viện Nghiên
cứ Phật học Việt Nam tại Hà Nội, Đại Đức Tiến sĩ
Phật học Thích Đức Thiện, GS. sử học Hà Văn Tấn, GSTS.
Đỗ Quang Hưng, Viện trưởng Viện nghiên cứu Tôn giáo, TS.
Nguyễn Quốc Tuấn, Trưởng phòng Phật giáo - Viện nghiên
cứu Tôn giáo.. Xem Tiếp Hội
thảo Sa môn Thích Trí Hải và phong trào chấn hưng Phật Giáo
ở Việt Nam do Phóng viên Xuân Loan (http://phattuvn.org) thực
hiện từ Hà Nội
Kể
từ khi Liên Hiệp Quốc chính thức thừa nhận ngày lễ Tam
hợp,
mừng đức Phật đản sinh, thành đạo và nhập niết-bàn
là ngày lễ quốc tế, tại trụ sở của Liên Hiệp Quốc
(LHQ) vào 15-12-1999, đây là lần thứ ba Thái Lan đăng cai tổ
chức Hội thảo Phật giáo quốc tế nhân đại lễ Phật đản
của LHQ, từ ngày 7-10/5/2006. Vào ngày 29-30/8/2005, sau khi tham
khảo với nhiều lãnh đạo và học giả Phật giáo thế giới,
trong phiên hợp trù bị tại Bangkok, Ban tổ chức quốc tế
của Hội thảo Phật giáo quốc tế và đại lễ Phật đản
của LHQ được thành lập gồm 38 thành viên, với nhiều thành
phần, đến từ nhiều quốc gia khác nhau, trong đó có TT. Thích
Quảng Ba và chúng tôi (Thích Nhật Từ) là người Việt NamĐại
Lễ Phật Đản Liên Hiệp Quốc lần thứ 3 2006 tại Bangkok

|