|
|
2008
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2007
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2006
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2005
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2004
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2003
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2002
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
c
NEW POSTING THÁNG
6-2005
 |
 |
Một
khoá tu thiền Minh Sát Tuệ năm 2005 sẽ được tổ chức tại
Trung
Tâm Thiền Panditarama Forest ở Hse Main Gon, một trung tâm
thiền rộng 100 mẫu rừng, 45 miles hướng Bắc Thủ Đô Yangon
(Rangoon), Myanmar (Burma) từ ngày 1 tháng 12 năm 2005 đến ngày
31 tháng Giêng năm 2006.
Khoá
tu được hướng dẫn bởi Thiền sư Sayadaw U Pandita, đệ tử
của cố đại lão Thiền sư Mahasi Sayadaw. Đây là cơ
hội hiếm có được thực tập thiền với một thiền sư
trong số những vị thầy dạy thiền nổi tiếng ở Myanmar
(Miến Điện).
Mọi
chi tiết ghi danh liên lạc:
Saddhamma
Foundation
5459
Shafter Avenue
Oakland,
CA 94618
Fax/Phone:
(510) 420-1039
Email:
Fax/Phone: (510) 420-1039
Email:
retreat@saddhamma.org
Quý
độc giả có thể vào xem chi tiết tại website: http://www.saddhamma.org/retreat.html
Trong
suốt bốn mươi chín năm hoằng pháp, Đức Phật đã để
lại rất nhiều kinh điển, nhưng nội dung tất cả đều không
ngoài ba điều:
-
một là không làm các điều ác,
-
hai là siêng làm các việc lành
-
ba là tự ngưng dứt dòng vọng tưởng liên tục của ý thức.
(chư
ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ý), trong
đó về hai điều đầu tiên -- không làm các điều ác và
siêng làm các việc lành --, hai điều này thâu gồm hầu hết
giới luật của nhà Phật.
Trên
ý nghĩa cơ bản, giới được đặt trên nền tảng từ bi
thương xót đến tất cả muôn loài chúng sinh, không làm những
gì có hại cho mình, cho chúng sinh, hoặc hại cả hai, và về
ba phương diện thân, khẩu, ý thì phải tích cực làm mọi
việc để đem lại hạnh phúc, an lạc cho mình và cho chúng
sinh.
Sự
sống vô cùng quý giá, nên Đức Thế Tôn luôn luôn tôn trọng
sự sống, bất cứ sự sống nào, từ sự sống của côn trùng
cho đến sự sống của cỏ cây. Kinh sách dạy rằng Ngài
không đổ các đồ ăn dư thừa của mình trên bãi cỏ xanh
hay trong nước có các loài côn trùng nhỏ. Do vậy, đức
Phật khuyên chúng ta không nên sát sanh vì rằng mọi chúng
sanh hữu tình đều sợ chết và xem sự sống là điều quý
báu nhất trên đời. Ngài tuyên thuyết giới thứ nhất như
sau: “Người Phật tử không được hoặc tự mình giết,
hoặc bảo người giết, dùng phương tiện giết, khen tặng
sự giết, thấy giết mà tùy hỷ, nhẫn đến dùng bùa chú
để giết, vân vân, phàm tất cả các loài hữu tình có mạng
sống, đều không được cố ý giết chúng.” Xem
Tiếp Giới
Không Sát Sinh
Qua
kinh nghiệm cá nhân cũng như qua các trao đổi với các bạn
thiền sinh khác, tôi nghĩ rằng chúng ta cần có một chương
trình hành thiền tại nhà, sắp đặt rõ ràng tuần tự từng
bước.Xem Tiếp Bước
Đầu Hành Thiền, Sarah K. Lim - Bình Anson trích dịch
Trong
thế kỷ XX, phương Tây có hai người tìm hiểu đất nước
Tây Tạng rất sâu sắc, đó là bà Alexandra David Néel và ông
Anagarika Govinda. Cả hai vị này đã từng sống nhiều năm tại
Tây Tạng, từng tu tập thiền định và đi khắp nơi trong
xứ sở huyền bí này hơn bất cứ người nước ngoài nào
khác. Có thể nói họ hiểu Tây Tạng với bất tất cả những
khía cạnh tâm linh, tâm lý, địa lý nhiều hơn cả phần đông
người Tây Tạng. Hai vị này đều đã qua đời nhưng họ
đã để lại cho thế giới vô số sách vở về kinh nghiệm
suy niệm của họ tại Tây Tạng ngày nay vẫn còn được đánh
giá cao nhất và hậu thế có lẽ cũng sẽ khó có ai vượt
qua được tầm nhìn và kinh nghiệm nội tâm của họ. Điều
này thật ra không phải đáng ngạc nhiên, nếu ta biết rằng
hai vị này không phải là khách hành hương bình thường, mà
họ đã thực sự độc cư tu tập trên các vùng núi non hẻo
lánh của Himalaya. Vì lẽ đó mà những gì họ viết ra không
phải chỉ là những nhận xét bằng con mắt thường tình của
một lữ khách, mà là những khám phá và sáng tạo tâm linh
ở xứ sở gió tuyết này.Xem Tiếp Con
Đường Mây Trắng, Anagarika Govinda - Nguyễn Tường Bách biên
dịch
Sau
một thời gian tìm hiểu và học tập giáo pháp, tôi phát tâm
quy y Tam bảo. Chỉ có điều vị thầy hướng đạo, khai mở
tuệ giác cho tôi mà tôi muốn quy y, nương tựa tinh thần lại
ở rất xa. Vì điều kiện sinh sống làm ăn nên không thể
đến quy y trực tiếp với thầy tại chùa được, vậy tôi
có thể "quy y từ xa" hay có cách nào tương đương không? Mới
đây, một số bạn bè cho tôi biết đã quy y chư Sư qua Internet.
Kính hỏi quý Báo, quan điểm của Phật giáo về vấn đề
này thế nào? Xin được chỉ bày và cho chúng tôi những lời
khuyên. Xem
Tiếp 06
Hỏi Đáp: Qui Y Từ Xa
Tại
sao phải vượt lên trên cả Thiện và Ác?
Tại
vì hành động thiện tạo ra thiện nghiệp, hành động ác
tạo ra ác nghiệp, cả hai đều gây nhân tái sinh để hưởng
phước báo tốt hoặc chịu quả báo xấu, cũng như sợi dây
xích dù có bằng vàng thì cũng trói buộc chúng ta mà thôi.
Còn có hành động là vọng tâm còn bay nhẩy, dòng suy nghĩ
còn miên man không dừng, vòng luân hồi còn tùy theo nghiệp
thiện ác mà trôi lăn miên viễn. Chúng ta đã trôi lăn như
thế từ vô lượng kiếp, chưa bao giờ có ai đánh thức, bảo
cho biết là chúng ta có thể tỉnh lại. Nhưng từ sự
Giác Ngộ của đức Phật, Ngài đã cho chúng ta biết rằng
chúng ta không phải chỉ là những con người nhỏ bé với
cả một cuộc đời bươi chải buồn nhiều hơn vui này mà
chúng ta có thể trở lại được Tự Tánh của ta, hiển lộ
được Trí Tuệ Bát Nhã, đạt được cảnh giới an lạc thanh
tịnh miên viễn, chấm dứt mọi khổ não, giác ngộ như Phật.
Lịch sử của đạo Phật đã nêu lên rằng có rất nhiều
các vị tu chứng, bừng tỉnh như đức Phật, hóa giải được
cái vọng tâm suy nghĩ liên miên bất tận như vượn như ngựa,
hoát nhiên hiển lộ được Tự Tánh, bản tâm chân thật,
chấm dứt mọi khổ não..Xem Tiếp .07
Giai thoại Thiền có liên quan đến thi hào Bạch Cư Dị, BBT
Thiết
Lập Tịnh Ðộ - Kinh A Di Ðà Thiền Giải, HT. Nhất Hạnh
Thư
mời tham dự Lễ Khánh Thành Tuệ Tĩnh Đường Hải Đức,
Huế Thừa Thiên Việt Nam
"Vào
thời kỳ đức Cổ Phật Ca Diếp xa xưa, có một cư sĩ thọ
trì Ngũ Giới, giữ gìn rất nghiêm túc. Một hôm, từ tỉnh
xa trở về nhà, đang lúc quá khát, khô cả miệng, nhìn thấy
trên bàn có một chén đầy lóng lánh như nước, ông ta vội
bưng lên uống thẳng một hơi, -- thế là ông phạm giới uống
rượu. Uống xong, ông ta lăn ra ngủ. Lát sau rượu ngấm, men
rượu bốc lên bừng bừng, ông vùng dậy nhìn ra ngoài sân.
Lúc đó có con gà nhà hàng xóm chạy qua, ông bèn chụp bắt
, -- thế là ông phạm thêm giới ăn cắp. Trong tay có
con gà rồi, ông chạy vào nhà bếp cắt cổ vặt lông nó tính
nấu cháo ăn, -- thế là ông phạm thêm giới sát sinh.
Bà hàng xóm mất gà chạy sang tìm. Hơi men đang bốc, ông ôm
ngay bà vào lòng tính chuyện hành lạc, -- thế là ông phạm
thêm giới tà dâm. Chòm xóm xúm lại bắt ông lên công
đường nhờ quan xét xử. Ông bèn chối bay, -- thế là ông
phạm thêm giới vọng ngữ.
Chỉ
vì một chén rượu mà ma men làm hại đến nỗi ông ta phạm
liên tục một hơi đủ 5 giới răn của nhà Phật. Xem
Tiếp Vấn
Đề Uống Bia Rượu và Sử Dụng Các Chất Say
Thiền
Minh Sát (Vipassana) là một phương pháp thiền đơn giản và
ứng dụng để thanh lọc Tâm, hầu giúp chúng ta đối diện
với những căng thẳng và khó khăn trong đời sống hằng ngày
bằng cách giữ cho tâm thanh tịnh và quân bình. Thiền Minh
Sát có nghĩa là “nhìn sự vật đúng với thực tướng hiện
hữu của nó”. Đó là một pháp thiền có hệ thống,
giúp phát triển trí tuệ, soi sáng nội tâm của chính mình
và ai cũng có thể thực hành được.
Phương
pháp hành thiền sẽ được hướng dẫn tỉ mỉ trong khóa
thiền. Phí tổn ăn ở hoàn toàn do sự phát tâm tự nguyện
cúng dường của các thiền sinh vào ngày mãn khóa, và ngân
khoản này sẽ dùng chi phí cho những khóa thiền kế tiếp
hầu giúp các thiền sinh không có điều kiện tài chánh có
thể tu học được.
Đơn
xin ghi danh khóa thiền đang bắt đầu nhận cho đến hết ngày
20/7/2005 và thứ tự ưu tiên được xếp theo ngày nhận đơn.Xem
Tiếp Khoá
Thiền Minh Sát 10 Ngày 20-7-2005 – 31-7-2005
Thư
Kêu Gọi Phát Tâm Xây Dựng Chùa Vĩnh Phước,
Ấp Đại Thôn - Xã Phước Hảo, Huyện Châu Thành, Tỉnh Trà
Vinh
Nhân
kỷ niệm ngày khánh thành Việt Nam Phật Quốc Tự Lumbini,
ngôi chùa quốc tế đầu tiên nơi Đức Phật Thích Ca giáng
trần, ban tổ chức lễ khánh thành gồm đại diện nhiều
nước sẽ tổ chức một đoàn đi bộ cầu nguyện cho hoà
bình thế giới. Đoàn đi bộ sẽ khởi hành từ Namo Buddha
trên vùng Hy Mã Lạp Sơn thuộc Nepal (theo truyền thuyết, tiền
thân Đức Phật Thích Ca đã hy sinh thân mình cho cọp đói
tại nơi này), qua thủ đô Kathmandu, vượt nhiều đồi núi
vùng Hy Mã Lạp Sơn, tới Pokhara (thành phố lớn thứ hai của
Nepal), qua các thị trấn Tansen, Butwal, Bhairawa, điểm cuối
là vườn Lumbini, nơi Đức Thích Ca giáng trần. Tổng cộng
độ dài các chặng đường mà đoàn đi bộ sẽ vượt qua
là 480km. Xem Tiếp Thư
Mời Đi Bộ Cầu Nguyện Hoà Bình, Thích Huyền Diệu Lâm Trung
Quốc
Nhắc
lại lịch sử, là để ôn cố tri tân, là để hồi ức lại
một giai đoạn bi hùng của lịch sử Phật giáo Việt Nam,
đã thăng trầm cùng vận mệnh đất nước.
Đã
42 năm trôi qua, từ ngày Hòa thượng Quảng Đức tự thiêu
thân mình làm ngọn đuốc cúng dường Chánh pháp, trở thành
biểu tượng tinh thần cho ngọn cờ đấu tranh của Phật giáo
đi đến thành công, thoát khỏi ách thống trị của Nhà Ngô
với nạn kỳ thị tôn giáo. Hôm nay diễn ra cuộc hội thảo
về Ngài, sẽ là sự tôn vinh và soi sáng lại quá khứ lịch
sử với bao điều uẩn khúc mà lâu nay chưa có lời lý giải.
Xem
Tiếp Cuộc
Hội thảo Chủ đề : “BỒ TÁT QUẢNG ĐỨC VỊ PHÁP THIÊU
THÂN”.
Bà
vợ Cả vốn được cha mẹ đôi bên hứa hẹn với nhau từ
khi cả hai đứa nhỏ đều chưa ra đời. Sau này cả hai lớn
lên, khi cha mẹ đôi bên tổ chức đám cưới cho đôi trẻ,
cả hai đều chưa biết mặt nhau, cho nên đôi vợ chồng trẻ
sống chung mà không có sự cảm thông, hiểu biết về nhau,
chỉ như hai cái bóng bên nhau qua ngày, người chồng không
thèm biết đến sự có mặt của người vợ lặng lẽ đi
bên cuộc đời mình, như một vật phụ thuộc trong sự âm
u tối tăm của căn nhà cổ.
Rồi
người chồng ra ngoài đời làm ăn buôn bán dần dần khấm
khá, ông ta bèn cưới thêm một bà vợ nữa. Từ khi có bà
Hai, trong nhà luôn luôn vui vẻ với tiếng cười rộn rã, "rủng
rẻng" của bà. Ông trò truyện, đùa giỡn, tối ngày cùng
với bà Hai đầu gối tay ấp, tưởng như mối tình gắn bó
keo sơn không có gì lay chuyển nổi.Xem
Tiếp Câu
Chuyện Ẩn Dụ Về Bốn Bà Vợ
Khi
chúng ta không biết xử dụng đúng cách những pháp môn tu
tập thì chúng ta sẽ bị dị ứng về pháp môn hoặc dị ứng
về nhận thức. Dị ứng đây có nghĩa là không thích
hợp cho căn cơ hay là thời điểm. Nếu chúng ta có quá
nhiều phương pháp học Phật mà không biết điều phối để
dùng cho đúng bệnh của mình hoặc không biết tận dụng phương
pháp nào đó thì chúng ta có thể sẽ coi thường Phật pháp
và không đem lại niềm an tịnh tối thượng cho mình.
Ngược lại, nếu chúng ta chuyên trì một pháp môn thì căn
bệnh của chúng ta sẽ chóng hết hơn.Xem
Tiếp Thiền
Tịnh Song Tu, Tỳ Kheo Thích Minh Hiếu (Pháp Thoại)
Thương
yêu là thông cảm. Tình thương yêu không phán xét hay lên án.
Tình thương yêu lắng nghe và thông hiểu. Tình thương yêu
quan tâm và có thiện cảm. Tình thương yêu chấp nhận và
tha thứ. Tình thương yêu không có ranh giới. Tình thương yêu
không phân biệt, không nói: Tôi theo Nam tông, anh theo Bắc tông
hoặc Mật tông. Tình thương yêu không nói: Tôi theo Phật giáo
còn anh theo Thiên chúa giáo, Hồi giáo, hoặc Ấn độ giáo.
Hoặc tôi là người Hoa, chị là người Mã lai, ông kia là
người Ấn, bà nọ là người Âu. Hoặc tôi là người Đông
phương, còn anh là người Tây phương; hoặc tôi là người
Mã lai, anh là người Nhật, chị là người Mỹ, người Miến,
người Thái, v.v.
Tình
thương yêu vượt qua mọi rào cản. Tình thương yêu thấy
và cảm nhận được chúng ta đều cùng một giống, đó là
nhân loại. Nước mắt chúng ta đều như nhau, chúng đều mặn,
và máu chúng ta đều đỏ. Khi đã có tình thương yêu và từ
tâm, chúng ta có thể thông cảm với người khác. Chúng ta
thấy rằng mình cùng đi trên một con thuyền trong cơn sóng
gió biển cả cuộc đời. Chúng ta là bạn khổ đồng hành
trong biển trầm luân, cái vòng sinh tử luân hồi trong cõi
Ta-bà. Chúng ta là anh chị em lẫn nhau qua nhiều đời, nhiều
kiếp.Xem Tiếp Thương
Yêu Là Thông Cảm, Bình Anson (Sách)
Công
cuộc vận động cho bình đẳng và tự do tôn giáo của Phật
Giáo Việt Nam bắt đầu vào ngày lễ Phật Đản 8 tháng 5
năm 1963 tại Huế và sau đúng 106 ngày tranh đấu cam go đã
thực sự kết thúc vào đêm khuya ngày 20 rạng sáng ngày 21
tháng 8 năm 1963 khi chính quyền Ngô đình Diệm thi hành kế
hoạch Nước Lũ tổng đột kích toàn thể chùa chiền, bắt
giam hầu hết các thành phần lãnh đạo và những người tham
gia phong trào vận động.
Cao
điểm của công cuộc vận động là hành động tự thiêu
của Hòa thượng Thích Quảng Đức vào ngày 20-4 năm Quý Mão
(tức ngày 11-6-1963) ngay trên đường phố Sài Gòn, đã làm
xúc động hàng triệu đồng bào, tăng ni, và Phật tử cả
nước lúc bấy giờ. Hình ảnh của Ngài ngồi ở tư
thế kiết già trong lửa đỏ trên một ngã tư đường phố
tấp nập ở Saigon, đã in một dấu ấn không bao giờ phai
nhòa trong lòng người và trong lịch sử chiến tranh Việt Nam.
Ngày
nay, sau hơn bốn thập niên trôi qua, vẫn còn có một số người
thắc mắc: động lực nào thúc đẩy Ngài đã hành động
như thế và sự việc tự thiêu như vậy có chống trái với
pháp và luật của Phật không, có vi phạm giới luật không
và có đi ngược lại giáo lý Trung Đạo không? Một số
cho rằng hành động tự thiêu là một hình thức của sự
tự sát, đi ngược lại với giáo lý của Phật Giáo Nguyên
Thủy. Trong số những người đồng với quan điểm này
phải kể đến ban biên tập một tạp chí Thiên Chúa Giáo
ở Hoa Kỳ đã tranh luận vào thời đó và nhiều thập niên
sau cũng có hai học giả Phật giáo Tích Lan [01] và Nhật Bản
[02] tán đồng.
Hơn
bốn thập niên, một quãng thời gian khá dài, đủ để chúng
ta có thể nhìn lại hình ảnh tự thiêu của Ngài và giai đoạn
lịch sử của miền Nam Việt Nam vào năm 1963 một cách khách
quan hơn, không bị cảm quan và hoàn cảnh cá nhân chi phối...
Xem
Tiếp Bồ
Tát Quảng Đức Vị Pháp Thiêu Thân Đối Chiếu Qua Kinh Điển
Nam Tông và Bắc Tông, Tâm Diệu (Tham Luận)

|