THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
2008
2007
2006
2005
2004
2003
2002
c
NEW POSTING THÁNG 2-2005
Có ba dịp lễ lớn trong truyền thống Phật giáo Nguyên thủy: Magha Puja là ngày lễ Rằm tháng Giêng, kỷ niệm ngày Đức Phật thuyết kệ Ovada-patimokkha (Giải thoát giáo), là căn bản cho các giới luật sau này; Vesakha Puja là ngày lễ Rằm tháng Tư, tức là ngày lễ Tam Hợp Đản Sinh - Thành Đạo - Đại Niết Bàn; và Asalha Puja là ngày lễ Rằm tháng Sáu, kỷ niệm ngày Đức Phật giảng kinh Chuyển Pháp Luân, và sau đó, chư Tăng Nam tông bắt đầu mùa An cư Kiết hạ.Xem Tiếp Trăng Tròn Tháng Giêng, Bình Anson

Khác với môn Logic học phương Tây, Nhân minh học (Logic học) Phật giáo bao gồm hai mục lớn là Nhận thức luận và Tam đoạn luận (syllogium), trong đó mục Nhận thức luận là chủ yếu, mục Tam đoạn luận là thứ yếu. Bởi lẽ, Tam đoạn luận chỉ là nhận thức đúng đắn, được diễn đạt một cách logic, có sức thuyết phục mà thôiXem Tiếp .Nhận Thức Luận Theo Nhân Minh Học Phật Giáo, Minh Chi

Chúng ta đang tìm kiếm tự do giải thoát. Chúng ta đang đi tìm sự giải thoát nào đây? Một cách nào đó, chúng ta cần chiến thắng cái tôi: chấp ngã, tham lam, sân hận, bám víu, giận hờn, nóng nảy, dồn nén, u mê, ái dục...Tôi hy vọng rằng tôi đã nêu ra đầy đủ những vấn đề. Những vấn đề này chúng ta cần phải chinh phục, cần phải nhổ đi tận gốc rễ. Đó là lý do tại sao, trước nhất tôi muốn cống hiến qúy vị một câu mật chú, câu mật chú của Thích Ca Mâu Ni Phật: MUNI MUNI MAHAMUNIYE SOHA. “ Hãy chiến thắng, hãy chiến thắng tham vọng và bám víu, hãy chiến thắng tất cả những ý niệm nhị nguyên.” Câu mật chú này rất ứng nghiệm và hữu ích.Xem Tiếp Ánh Sáng Đạo Pháp, Lama Yeshe - Vô Huệ Nguyên dịch

Chúng ta có thể nhận diện được thầy của chúng ta bằng chính tâm thức riêng của chúng ta, đừng theo người nào một cách mù quáng. Hãy thử ông thầy tương lai của chúng ta càng nhiều càng tốt. “ Vị này có phải là thầy thật của tôi hay không?” Hãy kiểm soát, hãy suy nghĩ thật sâu đậm trước khi chúng ta theo lời khuyên bảo của ông thầy. Người Tây tạng chúng tôi có một lời chỉ dẫn là đừng nhận một ông thầy như một con chó say mê miếng thịt. Nếu chúng ta cho con chó đói một miếng thịt nó sẽ ngoạm ngay chẳng chần chừ gì cả. Điều căn bản là chúng ta hãy thử thách, hãy khám nghiệm vị lãnh đạo tinh thần, vị thầy tâm linh, vị cố vấn tinh thần, hay bất cứ tên gì mà chúng ta đặt cho họ, chúng ta phải vô cùng, vô cùng thận trọng trước khi nghe lời họ dạy bảo. Hãy nhớ những điều tôi trình bày trước đây về những quan niệm sai lầm và những triết thuyết ô nhiễm, chúng  còn nguy hiểm hơn cần sa ma túy rất nhiều. Nếu chúng ta tuân theo những quan niệm sai lầm của ông thầy tinh thần giả thì hậu quả chẳng những rất tai hại cho kiếp này mà còn cho bao nhiêu kiếp sau nữa. Thay vì giúp chúng ta, nó sẽ tác hại chúng ta. Xin quý vị hãy vô cùng khôn ngoan trong vấn đề chọn vị thầy tâm linh.Xem Tiếp Hãy Mở Tâm Bao La Như Đại Dương, Lama Yeshe - Vô Huệ Nguyên dịch

Khi chúng ta tìm hiểu Phật giáo là chúng ta tìm hiểu chính mình, tìm hiểu tâm bản nhiên của chính chúng ta. Thay vì để ý đến những vấn đề siêu việt, siêu nhân, Phật giáo thường chú trọng đến những vấn đề thực tế như làm thế nào để thăng tiến đời sống thường ngày, làm thế nào để tâm hồn thêm tốt đẹp và làm sao giữ cho đời sống của chúng ta luôn thanh thản, khỏe mạnh. Thực ra chúng tôi chẳng coi Phật giáo là một tôn giáo đúng nghĩa của một tôn giáo. Theo quan điểm của các Lạt ma thì Phật giáo thiên về triết lý sống, khoa học và tâm lý học hơnXem Tiếp .Muốn Giải Thoát Hãy Tự Chữa Bệnh Tâm, Lama Yeshe - Vô Huệ Nguyên dịch

Khi sinh ra, khi còn là một đứa trẻ nhỏ, chúng ta đã chẳng có một vấn đề chính trị nào, phải không quý vị?  Hãy suy nghĩ  cho kỹ đi. Trong tâm khảm của một đứa trẻ chẳng có một tí chính trị nào. Khi còn là một đứa trẻ nhỏ, chúng ta chẳng có một chút gì là rắc rối kinh tế, chẳng có một chút gì là khó khăn xã hội, bởi vì chúng ta chưa sẵn sàng, bởi vì chúng ta chưa trưởng thành để có những xung khắc của cái tôi, để thông minh hóa những sự kiện. Và khi chúng ta còn là trẻ thơ chúng ta không có những sự xung đột tôn giáo hay kỳ thị chủng tộc trong tâm của chúng ta.Xem Tiếp Sống, Chết và Sau Khi Chết, Lama Yeshe - Vô Huệ Nguyên dịch

Trong đôi mắt nhuốm màu trần gian của tôi, thầy Tuệ Tâm là một nhà sư khác thường. Thay vì an lạc giữa cõi im lặng của thiền, nhà sư theo hệ phái Phật giáo Nam tông ở chùa Huyền Không lại nợ nần việc đời ba sinh cứu giúp bao nhiêu con bệnh!  Thầy Tuệ Tâm và nhóm tình nguyện gồm các sư nữ và các soeur . Nếu ngày xưa Đức Phật nhìn thấy 84.000 vi trùng trong một bát nước thì hôm nay người đệ tử của Ngài, thầy Tuệ Tâm khổ nhọc với một loài virus đang hoành hành chúng sinh với căn bệnh AIDS! Vì lòng bi mẫn, thầy không quản ngại đường sá xa xôi, lặn lội nắng mưa tìm đến với những kẻ cùng đường. Còn tôi, chỉ vì tò mò mà theo chân thầy một lần về thăm nhà một bệnh nhân HIV/AIDS ở xóm Bãi Dâu. Tôi không ngờ đó là chuyến đi cho tôi thêm một lần nhìn thấy sự lạ thường trong đời sống hành đạo của thầy Tuệ Tâm. Xem Tiếp : Con Chào Thầy, Con Chào Soeur, Bút Ký của Văn Cầm Hải
Cho đến nay, dù đã trải qua mấy mươi thế kỷ được phổ truyền, đạo lý Tánh Không của Bồ Tát Long Thọ vẫn còn diệu lực vượt thoát lên trên tất cả những hạn cuộc của thế giới tri thức và luận lý tương đối của con người. Tại sao? Bởi vì, đạo lý Tánh Không ấy không phải được xây dựng trên nền tảng của tri thức và luận lý thuộc thế giới tỷ lượng hay biến kế chấp của tâm phan duyên. Đạo lý Tánh Không mang trong nó nội dung mầu nhiệm của năng lực chiếu sáng từ trí tuệ thực chứng chân lý hay cội nguồn tối hậu của vạn hữu. Chính khả tính vi diệu của quang lực trí tuệ này mới có công năng đẩy nhận thức và luận lý mà nó sử dụng xóa sạch vết tích trầm trệ cố hữu trong tri thức và luận lý để lao vút vào cõi tịch lặng chân như.Xem Tiếp Phủ Định Thức Và Biện Pháp Trung Quán, Tác Giả: B.K. Matilal -  Dịch Giả: Thích Viên Lý
Một cách căn bản để và hiện thực, Phật pháp là lương dược để trị lành tận gốc bệnh khổ cho chúng sanh.  Nhân của bệnh khổ là vô minh.  Quả của bệnh khổ là khổ não.  Do vậy, muốn trị lành bệnh để dứt sạch khổ não thì phương thức kiến hiệu nhất không gì bằng tận diệt vô minh.  Tận diệt vô minh cần phải có thứ khí giới của lực và dụng siêu việt.  Khí giới ấy chính là thanh kiếm bén chắc của trí tuệ Bát nhã.  Trí tuệ Bát nhã liễu triệt đến tận nguồn cội thể-tướng-dụng của vạn pháp để thể nghiệm rằng các pháp hữu vi đều do duyên giả hợp mà thành, vô thường, giả hữu, không tự tánh, từ đó, siêu việt lên trên tất cả vọng chấp hữu-vô và thong dong tự tại nơi cảnh giới của Thánh trí tự chứng.Xem Tiếp Thập Nhị Môn Luận, Bồ Tát Long Thọ - Việt dịch: TT. Thích Viên Lý
Điều quan trọng như chúng tôi trình bày là làm thế nào ăn chay cho đúng phương pháp mà phần lớn là do sự điều thòa thức ăn sao cho cân bằng giữa cái cung và cầu cho cơ thể, dựa vào tháp đồ thực phẩm chay, nhưng có lẽ chúng ta cũng không nên áp dụng một cách máy móc, vì ăn uống không chỉ là một nhu cầu sống còn, đối với quý vị tu sĩ cần phải có một thân thể khỏe mạnh, ít bệnh tật để tu hành.  Đối với những người thường, ăn uống còn là một sự thưởng thức trong đời sống hàng ngày, cho nên làm thế nào để ăn uống một cách thoải mái, không quá gò bó mà vẫn cung cấp cho mình lượng dinh dưỡng vừa đủ, đó cả là một nghệ thuật và có tính chất cá nhân.  Người ta bảo “có thực mới vực được đạo”, có ăn uống đàng hoàng, nhất là ăn chay phải đúng phương pháp mới khoẻ mạnh.  Tuy nhiên,  ăn nhiều chất bổ béo quá thì, thưa quý vị: “cái miệng nó hại cái thân”. .Xem Tiếp Vấn Đề ăn Chay, Bài Thuyết Trình Kỳ Hai
Niềm tin ấy của người Phật tử Đại Thừa không bị giới hạn bởi không gian, nên đối với bất cứ không gian nào cũng có thể là không gian hành đạo của chính họ; niềm tin ấy không bị giới hạn bởi sinh loại, nên bất cứ chủng loại nào cũng đều là đối tượng để yêu thương, bảo hộ, che chở và giúp họ thăng hoa; và niềm tin ấy không bị giới hạn bởi thời gian, nên sự tu tập và hành đạo của họ trong đời hiện tại, chỉ là sự tiếp diễn của bồ đề tâm đã được phát khởi và gieo trồng trong quá khứ và sẽ làm viên mãn hạnh nguyện, tựu thành quả vị giác ngộ hoàn toàn trong tương lai, do đó bất cứ thời gian nào, cũng đều là thời gian tu tập để đoạn trừ các lậu hoặc, tác thiện và làm lợi ích cho hết thảy muôn loài của người đệ tử Phật. Với niềm tin ấy, người đệ tử đã tự khẳng định lấy chính mình rằng: “Họ đích thực là con của phật, từ miệng phật sinh ra; từ chánh pháp hóa sanh và họ được dự phần vào chánh pháp của Phật”. (Kim nhật nãi tri, chơn thị phật tử, tùng phật khẩu sinh, tùng pháp hóa sinh, đắc phật pháp phần. Phẩm Thí dụ, Kinh Pháp Hoa, Đại Chính Tân Tu 9, tr 10c). Và họ tin tưởng rằng: “Họ đích thị là phật tử, thọ và hành trì theo giới pháp của Phật, rồi họ sẽ đi vào địa vị giác ngộ của chư Phật và sẽ đồng vị với các Ngài”.(Phạm Võng Kinh, Đại Chính Tân Tu 24, tr 1004a). Với niềm tin ấy, ta có thể đi vào niềm tin ở Kinh Kim Cang Bát Nhã..Xem Tiếp Giới Thiệu và Giải Thích Đề Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, Thích Thái Hòa
Trong thời đại của chúng ta hôm nay, thiền không phải chỉ là pháp môn tu tập để kiến tánh thành Phật, vốn được xem như là sắc thái đặc thù của chốn sơn môn, mà đã và đang trở thành những phương thức trị liệu đầy kiến hiệu trong các ngành tâm lý và xã hội. Ở cả Đông và Tây phương, con người càng ngày càng trực nhận ra được khả tính ưu việt và độc đáo của thiền trong việc giải thoát những khổ luỵ, những ưu phiền của đời sống cá nhân và xã hội. Chính trong chiều hướng đó, ngày càng có nhiều người đến với thiền. Cảnh giới thiền, vì vậy, thường xuyên đã có khác vãng lai. Trong số những khách vãng lai ngày này không ít người còn mang cái cảm thức xa lạ, ngại ngùng, lo lắng hoặc thậm chí còn bị lầm lạc. Trong tình cảnh đó, một cuốn chỉ nam thật là cần thiết và hữu ích biết bao! “Bước Vào Thiền Cảnh”, như chính tác giả gọi là một cuốn “Du Lịch Chỉ Nam” đến thế giới thiền. Mặc dù, tác giả đã khiêm tốn và tế nhị tự ví mình là “người ngoại địa” để nêu lên cái giới hạn của cuốn sách, nhưng người đọc sẽ nhận chân ra được sức mạnh tâm linh thực chứng của kẻ nội địa mà chính tác giả đã trang trải trên từng chữ từng lời. hirosachiya đích thực là một hành giả thiền xuất thân từ các thiền viện truyền thống của Nhật Bản. Người chuyển dịch tác phẩm này từ Nhật Ngữ sang Hoa ngữ là Pháp Sư Thích Pháp Chứng, một danh Tăng của Phật Giáo Trung Hoa..Xem Tiếp Bước Vào Thiền Cảnh, Hirosachiya - Việt dịch Thích Viên Lý

Sa di nam, tiếng Phạn là Sramanera, và Sa di ni là Sramanerika. Sa di thường được dịch là tức từ. Tức là chấm dứt, quyết tâm chấm dứt nếp sống hệ lụy và khổ đau. Từ là thương yêu, học hỏi thương yêu mọi người và mọi loài bằng trái tim của một vị bồ tát, không vướng mắc, không phân biệt. Sa di cũng có nghĩa là cần sách, nghĩa là chuyên cần và luôn luôn được nhắc nhở. Sa di cũng có nghĩa là cầu tịch, nghĩa là mong cầu đạt đến quả vị niết bàn, chấm dứt mọi vọng tưởng, vọng động, phiền não và khổ đau.  Bản chất của đời sống một vị Sa di là sự thực tập mười giới và các uy nghi. Mười giới và các uy nghi đều là những biểu hiện cụ thể của sự thực tập chánh niệm, bởi vì chánh niệm là bản chất của tất cả các giới và các uy nghi, và vì vậy giới và uy nghi cũng là chánh niệm.  Nhờ có giới mà ta có Định và có Tuệ. Sự thực tập Giới, Định và Tuệ đưa ta vào con đường Thánh, giúp ta thực hiện an lạc, vững chãi và thảnh thơi. Thực tập mười giới và các uy nghi đưa người Sa di tới sự tiếp nhận giới Lớn và giới Bồ Tát.Xem Tiếp Bước Tới Thảnh Thơi, Giới Luật và Uy Nghi cua Các vị Sa Di, HT. Nhất Hạnh

Theo Phật, hết thảy hiện tượng tuy vô thường biến thiên, nhưng trong cái thiên biến vô thường ấy có một lý pháp nhất quán vĩnh viễn bất diệt. Đó là pháp tắc duyên khởi được định nghĩa: "Cái này có thời cái kia có, cái này sinh thời cái kia sinh, cái này không thời cái kia không, cái này diệt thời cái kia diệt." (Kinh Phật tự thuyết. Tiểu bộ I). Tất cả những hiện tượng thiên sai vạn biệt chẳng qua là kết quả của những tác dụng của lý pháp duyên khởi. Chúng nương vào nhau mà tồn tại, không một vật gì có thể tồn tại độc lập tuyệt đối. Thế giới này là một mạng lưới vĩ đại được dệt thành bởi vô số quan hệ nhân quả dị thời và quan hệ hỗ tương tồn tại.Xem Tiếp Đồng Thời và Dị Thời, Hồng Dương

Đại Lão Sơn vốn là một khu rừng núi phía trên đèo Blao, cách đèo chừng sáu cây số. Từ Saigon lên bằng quốc lộ số 20 đến cây số 180, nhìn sang tay trái về phía những núi đồi cao nhất: đó là rừng Đại Lão. Muốn tới Phương Bối Am, ta phải từ Blao đi về phía đèo bằng quốc lộ. Đến cây số 180, ta phải bỏ quốc lộ băng qua chừng ba cây số đường rừng. Hồi ấy, đất rừng ở đây được xem như là vật sở hữu của những người Thượng. Những khu đất gần hai bên quốc lộ thì hoặc đã được khai thác trồng trọt, hoặc đang còn là đất rừng - nhưng là thứ đất rừng của người Kinh đã mua lại từ người Thượng. Người Thượng thường chịu bán đứt đất rừng cho người Kinh bằng một giá hạ. Vượt ba cây số đường rừng, chị Diệu Âm, tôi và một người bạn tên là anh Điều làm trắc nghiệm viên dừng lại để nhìn ngắm khu rừng núi hùng vĩ và huyền bí trước mặt. Đó là Phương Bối tương lai. Phương là thơm, là quý. Bối là lá bối đa, một thứ palmier lá dài. Ngày xưa chưa có giấy người ta viết kinh trên thứ lá ấy. Phương Bối nói lên được ý hướng quý trọng và phụng sự nền văn học đạo Phật của chúng ta. Phương Bối là lý tưởng của chúng ta có phải vậy không Nguyên Hưng? Xem Tiếp Nẻo Về Của Ý, Nhất Hạnh
TVHS
c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap