|
|
2008
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2007
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2006
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2005
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2004
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2003
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
2002
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
c
NEW
POSTING THÁNG 11-2003
Chúng
ta không bao giờ nhìn một cách sâu sắc vào đặc tính của
một cái cây; chúng ta không bao giờ thật sự sờ vào nó,
cảm nhận được sự rắn chắc của nó, lớp vỏ xù xì của
nó và nghe cái âm thanh vốn là một phần của cái cây. Âm
thanh này không phải là tiếng gió thổi qua lùm cây, không
phải là tiếng rì rào của lá vào những buổi sớm mai, nhưng
là tiếng của chính cái cây, tiếng âm thầm của thân và
rễ cây. Bạn phải thật là tinh tế, mẫn cảm, thì mới có
thể nhận ra. Cái âm thanh này không phải là tiếng ồn ào
của thế gian, không phải là tiếng lao xao liên tục trong tâm
trí, không phải là những lời lẽ thô tục của tranh cãi,
đánh lộn, mà là âm thanh như một phần của vũ trụ, của
không gian và thời gian... Giao
Cảm Với Muôn Loài, Krishnamurti - Danny Việt dịch
Nếu
nói trong Phật Giáo có Chính Trị Luận chắc không khỏi có
người cho là kỳ quái. Vì bản ý của Phật Giáo là ở sự
giải thoát nên những vấn đề thế tục như chính trị chẳng
hạn rất dễ bị bỏ qua. Hơn nữa, nhìn qua lịch sử của
vị Thủy Tổ của Phật Giáo thì đức Phật vốn là con của
vị vua, ngài có thể nắm trọng guồng máy chính trị trong
nước, nhưng đã bỏ địa vị đó để xuất gia. Như vậy
theo quan điểm này, có thể nói cái gọi là quốc gia, chính
trị không phải là mối quan tâm của đức Phật. Ðiều này
đại khái đúng. Song, thật ra, nếu giải thích Phật Gáo theo
cách đó thì e rằng không được chính xác. Khác với Nho Giáo,
Phật Giáo không trực tiếp lấy việc trị quốc bình thiên
hạ làm tiêu xí, nhưng lý tưởng của Phật Giáo như trên
đã nói, là mưu cầu cuộc sống thực tế tự do, giải thoát
và hướng thượng. Nếu chính trị cũng là cuộc sinh hoạt
thực tế thì cái gọi là chính trị đạo đức quyết không
phải là vấn đề Phật Giáo bỏ qua. Trong những buổi thuyết
pháp, đức Phật cũng đã thường đề cập vấn đề chính
trị. Mà sự đề cập đó tuy ngụ một lý tưởng cao xa, nhưng
cũng rất phù hợp với thực trạng của đương thời. Không
những chỉ những người thời bây giờ được hưởng lợi
ích thực tế mà đối với chúng ta ngày nay cũng có nhiều
ám thị và chỉ đạo... Đại
Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận, Kimura
Taiken - Việt Dịch: HT. Thích Quảng Độ
Trong
suốt bề dày lịch sử hình thành và phát triển đất nước,
từ hàng nhiều ngàn năm qua, ông cha ta đã biết học hỏi,
thâu góp, lượm lặt những tinh hoa văn-hóa lâu đời của
phương Bắc, rồi chắt lọc, phát huy và xây dựng cho riêng
mình một bản sắc đậm đà dân tộc, thuần tuý Việt-nam,
có tính nhân bản và đạo đức cao. Cũng nhờ thế mà ngày
nay chúng ta được kế thừa một truyền thống văn hóa tốt
đẹp, lấy con người làm gốc chuẩn mực, đồng thời coi
việc sửa thân, trị nhà (tu thân, tề gia) như là nền
tảng giáo dục đạo đức làm người . Người
Cư Sĩ và Việc Giáo Dục Con Cái, Nhuận Bảo
Mỗi
năm người Hoa Kỳ dành ngày thứ Năm của tuần lễ thứ tư
của tháng Mười Một để cử hành lễ Tạ Ơn. Năm nay
Lễ Tạ Ơn rơi vào ngày 27 tháng 11. Ngày lễ Tạ Ơn cũng còn
được gọi là "Ngày Gà Tây" theo truyền thống ăn uống trong
ngày lễ này.
Theo
lịch sử Hoa Kỳ, những người Hoa Kỳ đầu tiên đến khai
phá phần đất mới này phải chịu nhiều gian nan cực nhọc
do khí hậu khắc nghiệt, bệnh hoạn và đất hoang chưa bao
giờ khai phá. Dần dà khắc phục và do sự giúp đỡ
chỉ bảo kinh nghiệm trồng hoa mầu như khoai lang, bắp ngô,
và bí đỏ của thổ dân trong vùng, họ đã thành công mùa
màng và để tỏ lòng biết ơn đất trời và những người
bạn mới, họ đã mời thổ dân trong vùng tham dự bữa ăn
với những món ăn do chính họ cầy cấy, như khoai jam, bắp
ngô, bí đỏ và gà Tây rừng vào một ngày cuối tháng Mười
Một, và từ đó có tục lệ này... Xem
Tiếp: Lễ Tạ ơn
Dianne
Perry, (sau này được biết đến qua pháp danh Tây Tạng của
cô là Tenzin Palmo) là một vị ni cô người Anh đầu tiên,
đã ẩn cư thiền định suốt 12 năm trong một hang động cao
12.300 bộ trên dãy Hy Mã Lạp Sơn, cách ngăn khỏi thế giới
trần tục bởi những rặng núi phủ đầy tuyết trắng quanh
năm.
Tenzin
Palmo đã sống một mình và tu tập trong động tuyết này.
Cô đã chạm trán với những thú rừng hoang dã, đã vượt
qua những cơn lạnh khủng khiếp, những cái đói giết người,
và những trận bão tuyết kinh hồn; cô tự trồng lấy thực
phẩm và ngủ ngồi trong cái hộp gỗ rộng cỡ 3 bộ vuông
(theo truyền thống Tây Tạng, các vị tu sĩ đều tọa thiền
trong một cái hộp gỗ như vậy). Cô không bao giò ngủ nằm.
Mục đích của Tenzin Palmo là chứng đạo trong hình tướng
một người nữ... Trong
Động Tuyết Sơn, Tác Giả: Vickie Mackenzie - Người Dịch:
Thích Nữ Minh Tâm
Tam
Tạng kinh điển của nhà Phật mênh mông như rừng, nhưng tất
cả đều có cùng một mục đích là từng bước, chỉ cho
chúng sinh con đường tháo bỏ gông cùm của vô minh phiền
não tham sân si, vượt qua dòng sinh tử luân hồi, đến được
bờ hoàn toàn giải thoát, hội nhập lại bản thể chân như
giác tánh.
Tùy
theo tâm bệnh của chúng sinh, mỗi bộ kinh lại nhấn mạnh
về một vấn đề, cũng như tùy bệnh cơ thể mà người lương
y lại cho một loại thuốc đặc chế theo loại vi trùng của
bệnh đó. Cho nên, cũng có những bộ kinh đặc biệt để
trị bệnh chúng sinh ở một giai đoạn nào đó.
Ðại
Bát Niết Bàn là tên bộ kinh do Phật Thích Ca thuyết trước
khi Ngài Niết Bàn. Có hai bản Kinh Niết Bàn của Phật Giáo
Nam Tông và Phật Giáo Bắc Tông. Kinh Ðại Bát Niết bàn của
Nam Tông, được tìm thấy trong Kinh Trường Bộ, [Kinh Ðại
Bát Niết Bàn, (Hệ Pali), Việt dịch: Hòa Thượng Thích Minh
Châu, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam ấn hành năm 1991].
Còn Kinh Ðại Bát Niết Bàn của Phật Giáo Bắc Tông bao gồm
hai bản: (1) Phật Thuyết Phương Ðẳng Bát Nê Hoàn Kinh, do
ngài Dharmaaksa (265-316), đời Tây Tấn dịch và (2) Ðại Bát
Nê Hoàn Kinh, do ngài Pháp Hiển và Buddhabadhra đời Ðông Tấn
(317-420) dịch. Bản Việt ngữ của Phật Giáo Bắc Tông do
Hòa Thượng Thích Trí Tịnh dịch từ bản Hán văn, Tịnh Xá
Minh Ðăng Quang, Hoa Kỳ tái Xuất Bản năm 1990, dầy 1500 trang
gồm tất cả hai mươi chín phẩm (chương), được phân ra
làm hai quyển, quyển 1 từ phẩm 1 đến phẩm thứ 21 và quyển
hai từ phẩm 22 đến phẩm 29... Kinh
Đại Bát Niết Bàn HT. Thích Trí Tịnh Việt dịch
Đối
với tư tưởng sử của Phật giáo Ấn Độ, Kimura Taiken đã
chia thành ba bộ môn Nguyên Thủy Phật Giáo Tư Tưởng Luận,
Tiểu Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận và Đại Thừa Phật
Giáo Tư Tưởng Luận, rồi chỉnh lý và bàn luận thêm để
chỉ người ta thấy cái nguồn gốc của tư tưởng Phật giáo
Ấn Độ qua các thời kỳ, tức đâu là manh nha của tư tưởng
Phật giáo Nguyên Thủy, đâu là tiền đạo của tư tưởng
Phật giáo Tiểu Thừa và đâu là tiên phong của tư tưởng
Phật giáo Đại Thừa: đọc ba bộ sách này ta sẽ tìm ra manh
mối. Bởi thế, nếu muốn hiểu rõ tư tưởng sử của Phật
giáo Ấn Độ, chúng ta không thể không đọc ba bộ sách quý
giá này. Từ rất sớm, cuốn Nguyên Thủy Phật Giáo Tư Tưởng
Luận đã được Âu Dương Hãn Tồn phiên dịch vào năm Dân
Quốc XXII và do Thượng Hải Thương Vụ Ấn Thư Quân xuất
bản; cuốn Đại Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận do chúng
tôi, (Thích Diễn Bồi) phiên dịch năm Dân Quốc XXXXIII và
do Hương Cảng Nội Minh Xuất Bản Xã ấn hành. Hai cuốn sách
này tuy được xuất bản cách nhau hơn hai mươi năm nhưng đều
được các giới học giả coi trọng, đủ biết giá trị của
chúng như thế nào rồi. Cái môi giới giữa Nguyên Thủy Phật
Giáo Tư Tưởng Luận là Tiểu Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận,
bởi thế, nếu không phiên dịch cuốn sau này nữa thì khó
mà nhận ra toàn diện tư tưởng Phật giáo. Vì cảm thấy
sự cần thiết như thế nên chúng tôi đã cố gắng phiên
dịch nó để cống hiến những vị hằng lưu tâm đến việc
nghiên cứu Phật pháp... Tiểu
Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận, Kimura Taiken - Việt Dịch:
HT. Thích Quảng Độ
Một
chàng tiều phu hàng ngày lên núi đốn củi, anh ta sống một
cuộc đời chất phác mộc mạc cho nên tâm tư rất bình thản
và không phải lo nghĩ đến những sự việc xa xôi. Hôm nọ
anh gặp một người lạ mặt giữa rừng già, người này chận
anh lại để trò chuyện. Trong câu chuyện, hắn tự xưng là
Yêu Quái có biệt tài về cảm ứng, nghĩa là hắn có thể
đoán được những gì mà người khác đang suy nghĩ, đại
để là hắn có thể đi guốc trong gan ruột của người khác.
Con yêu quái nói với anh tiều phu rằng: Trái
Tim Bình Yên, Lâm Thanh Huyền, Phạm Huê dịch
Tình
dục là gốc của khổ. Bởi vì có tình, có dục là có chấp
trước. Trong kinh “A Hàm” có câu chuyện kể Phật Thích
Ca một lần cùng với học trò đi tản bộ bên bờ sông Hằng.
Phật
hỏi các học trò: “Các người nói xem nước bốn đại dương
nhiều hay là nước mắt chúng ta đổ ra vì trong quá khứ phải
biệt ly với người thân, bên nào nhiều hơn?” .. Tình
Dục Là Gốc Của Khổ, Lâm Thanh Huyền - Minh Chi dịch
Những
người học thiền thường nghe câu: “Đản nguyện không chư
sở hữu, thiết vật thật chư sở vô”: chỉ cốt thấy mọi
hiện tượng đều là không, nhưng nhất thiết đừng làm cho
cái không ấy trở thành thực có. Có nghĩa là đừng “chấp
không”. Bởi vì có rất nhiều thứ “không” tùy nơi chốn,
tùy trình độ tu chứng. Trong kinh Trung bộ, Phật lấy ví dụ
một tỷ kheo sống trong một tịnh thất ở làng, thì không
có những phiền não của làng mạc chợ búa gọi là “thôn
tưởng” nhưng không phải là không có chúng tỷ kheo, gọi
là “nhân tưởng”. Khi vị ấy vào rừng độc cư thiền
tịnh, thì không có nhân tưởng (vì ở một mình) nhưng còn
có những ảo tưởng do đời sống ở rừng gây ra như nghe
tiếng cọp gầm, tiếng phi nhân... gọi là “lâm tưởng”.
Cái gì có, vị tỷ kheo xác nhận là có, cái gì không, vị
ấy xác nhận là không. Như vậy là sự sống tỉnh giác của
người tu tập để gột rửa tham ưu ở đời. Đó là cái
“không” đạt được do từ bỏ dần dần, gọi là “tích
không quán”... Tương
Quan Giữa Thiền và Mật, Ni Sư Thích Nữ Trí Hải
Có
ba chặng đường đến giác ngộ: Nhân thiên (con đường
nhỏ hay chặng một), Thanh văn, Duyên Giác (con đường
trung hay chặng hai), Bồ tát (con đường lớn hay chặng
ba). Ở mỗi chặng, động lực tu tập một khác, có thể tóm
tắt trong hai yếu tố: Sợ hãi và mong cầu. Chặng một, động
lực tu hành là sợ đọa ba ác đạo, mong được phước báo
trời người. Chặng hai, sợ đến cả phước báo cõi trời
người vì bấp bênh, vì vô thường chi phối. Bởi thế nỗi
sợ hãi của Thanh văn là sợ sinh tử luân hồi, và mong cầu
của Thanh văn là mong cầu giải thoát. Chặng ba là Bồ tát
đạo thì thấy cầu giải thoát cho riêng mình chưa đủ, trong
khi bao nhiêu chúng sinh như cha mẹ bà con mình đang ngụp lặn
trong biển khổ. Do vậy Bồ tát khởi tâm đại bi mong cứu
vớt tất cả, và muốn thực hiện điều này thì phải cầu
thành Phật mới đủ trí tuệ và phương tiện để cứu giúp
chúng sinh như Phật Thích Ca đã làm. Vậy mong cầu ở chặng
ba là cầu thành Phật, muốn thế phải phát Bồ đề nguyện
và lập Bồ đề hạnh. Con đường của Bồ tát đạo bị
bế tắt khi mà hành giả thối tâm bồ đề, trở lại mong
cầu tự độ, giải thoát riêng mình vì thấy đường còn
xa thăm thẳm. Nỗi lo sợ của người theo đuổi chặng ba chính
là sợ chính mình thối thất tâm bồ đề ... Ý
Nghĩa Quy Y Quan Ba Chặng đường Tu Tập, Ni Sư Thích Nữ Trí
Hải
Ðiều
nghịch lý trong thơ truyền khẩu gán cho Hồ Xuân Hương là
Xuân Hương thường đi chùa, cuối đời có vào chùa tu một
thời gian, nhưng trong thơ lại "ghét" sư đến mức thậm tệ
gọi sư là "lũ trọc đầu", "phúc đức như ông được mấy
bồ", "hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo?", sư "chái gió cho nên
phải lộn lèo". Thậm chí gán cho Hang Thánh hóa chùa Thầy,
nơi thánh tích của Phật Giáo Việt Nam, nơi Thiền sư Từ
Ðạo Hạnh cởi bỏ nhục thân để đầu thai thành Vua Lý
Thần Tông là cái dương vật: "một đố dương ra biết mấy
ngoàm", "một sư đầu trọc ngồi khua mỏ, hai tiểu lưng tròn
đứng giữa am".. .Hồ
Xuân Hương và Phật Giáo, Phạm Trọng Chánh

|