PHẦN
THỨ BA
XIV
Trời
nóng quá Steve ơi. Mỗi lần về được đến làng rồi tôi
sung sướng như là được bơi lội trong một giòng sông mát.
Ở đây có nhiều gió. Nhìn đồng lúa và rạch dừa xanh là
có thể thấy thoải mái rồi. Cái nơi chúng tôi cư trú ở
Saigon thật là tệ quá. Nóng không chịu nổi. Chúng tôi ở
tận trên gác nhì. Tràn nhà bằng giấy và nẹp gỗ. Chật
chội lắm. Thế đó mà không nóng bức sao được. Buổi trưa
chúng tôi cứ phải mặc áo ngắn xuống ngồi ở dưới gốc
cây cau cho đỡ bức. Ăn uống không được. Ông Tư hàng xóm
xúi tôi đặt một cái máy lạnh trong phòng. Đặt cái máy
lạnh trong phòng thì tốn một số tiền nào đó, nhưng mà
mình sẽ làm việc bằng hai, thế có lợi không! Ông Tư nói
tới chuyện lợi hại; ông cũng có lý một phần nào đó.
Quả thật trời nóng như thế chẳng viết lách soạn chấm
gì được. Mình cũng thấy bị xiêu xiêu. Nhưng mà nghĩ lại
thì không được. Không thể nào được. Không phải là vì
cái máy quá đắt. Ông Tổng thư ký nói có thể mua một cái
thứ ít tiền được. Nhưng mà ở trong cái xóm nghèo đó mà
mình có máy lạnh đặt trong phòng thì thật là không biết
đồng sự một chút nào. Thiên hạ sẽ nhìn bằng con mắt
gì. Cái xe hơi của trường là một cái xe cũ, cái mã của
nó còn có thể chấp nhận được không ai nói gì. Nhưng mà
một cái máy lạnh, thì thật là… nhìn cao quá. Tôi liền
kiếm giải pháp khác. Phía trước có nhà anh Bảy, có gác.
Ảnh độc thân. Buổi sáng xách mô-tô đi làm, chiều tối
mới về. Ảnh bằng lòng cho tôi sử dụng nhà trong lúc ảnh
đi vắng. Thế là tự nhiên tôi có cả một lâu đài. Lâu
đài này rộng chừng bốn thước dài chừng chín thước. Phía
dưới mát hơn trên gác nhiều. Những lúc cần viết lách,
tôi sang bên ấy, với một chiếc chìa khóa anh Bảy cho. Khi
nào muốn trốn khách để có thì giờ làm việc tôi cũng sang
bên ấy. Steve đừng lấy làm lạ khi nghe tôi nói đến chữ
“trốn khách”. Thường thường bên này mỗi khi đến khách
cứ đến tự nhiên, chứ không gọi điện thoại hay hẹn gặp
trước. Vì thế mình đi trốn chẳng có tội lỗi gì cả,
chỉ trừ giờ mình phải ngồi ở chỗ bàn giấy. Tôi ghét
cái bàn giấy nhất, Steve à.
Chúng
tôi cũng phác giác ra được một cửa hàng bán chè đỗ xanh
và chè bông cau nấu theo kiểu miền Trung. Tôi thì tôi thích
hai thứ chè ấy lắm. Chè là gì ấy hử? Chè là một thứ
xúp ngọt. Biết cắt nghĩa làm sao. Cứ ăn mới biết ngon chứ
Nguyên Hưng nói “xúp ngọt” chắc Steve lắc đầu rồi. Họ
cất chè trong tủ lạnh. Mỗi khi trời nóng mà được ăn một
hai chén (nhỏ xíu thôi) thì cũng ngon như là uống nước dừa.
Steve thèm nước dừa lắm phải không?
Giữa
tôi và Nguyên Hưng có một sự khác nhau rất lớn - nói như
thế nghĩa là còn có nhiều sự khác nhau nhỏ hơn, đó là
Nguyên Hưng thì ghét thức ăn ngọt mà tôi lại ưa. Thành thử
mỗi khi nhờ bé Tám mua về, chỉ có mình tôi ăn, còn Nguyên
Hưng thì ngồi ngó. Có khi bé Tám ăn với tôi. Có khi thì Mẫn
hay Toàn, nếu gặp dịp họ đến chơi. Toàn độ này coi sóc
một nhà in, bữa trưa nào cũng ghé tôi chơi. Và cũng thỉnh
thoảng trả tiền chè bông cau hoặc chè đỗ xanh. Còn Mẫn
thì lo nhà sách với Tuệ. Tất cả đều có phận sự rồi,
Steve.
Chiều
hôm nay tôi ở lại ăn cơm ở đây, trong làng, với Quảng
và Thu hai công tác viên thường trực. Bà Bảy trong xóm mới
đem cho chúng tôi hai trái mướp ngọt và mấy lon nếp “gọi
là ăn lấy thảo”. Quảng và Thu ở đây được các bà chấp
nhận như làcon cháu, hai trái mướp đắng nấu canh chắc ngọt
lắm - ngọt như là tình người dân quê đối với cái gì
họ đã chấp nhận. Thu kể cho chúng tôi nghe câu chuyện nhỏ
sau đây. Tuy đơn sơ mà cảm động. Có một hôm đó, bác Bảy
thấy Thu làm việc tận tình, liền hỏi: “các cậu lương
tiền gì bao nhiêu mà làm việc giỏi quá vậy?” Thì vẫn
là câu hỏi mà chúng tôi thường phải trả lời như sau: “Tụi
cháu làm công quả. Thầy tụi cháu dạy thời buổi này làm
công quả trong làng trong xóm giúp cho cô bác thì cũng có phước
như làm công quả trong chùa. Tụi cháu ăn cơm chùa, có chút
ít tiền đi xe đò, chớ có lương tiền chi đâu bác.” Bà
Bảy hiểu ra ngay. Và bà nhìn Thu với cặp mắt trìu mến.
Con trai bây giờ mà giỏi thế. Mình tưởng bây giờ chúng
nó hư cả rồi. Lo rượu chè, nhảy đầm, đi chơi chỗ này
chỗ khác. Ai ngờ còn có đứa ham làm công quả. Tôi thấy
câu trả lời của Thu thật là hay. Nó có giá trị của một
cuốn sách thần học. Nó giải thích được khuynh hướng “đi
vào đời” của Đạo Phật Việt Nam, Steve có biết hai tiếng
công quả không. đó là hai tiếng bình dân dùng thay cho tiếng
công đức Punya là tiếng Sanskrit đấy. Ở bất cứ ngoi chùa
nào ở Việt Nam, nhất là ở thôn quê, người dân quê thường
tìm những dịp rỗi rảnh đẻ lên chùa làm công quả, nghĩa
là làm giúp công việc cho chùa. Họ tin rằng làm công tác
ở chùa là một điều tốt đẹp có thể đơm bông kết trái
vật chất và tinh thần cho tương lai con cháu họ. Bởi vì
chùa là của chung, và việc chùa là việc lợi ích chung cho
tất cả mọi người, nhất là đứng về phương diện siêu
hình mà nói. Có người làm công quả một vài buổi. Có người
làm ba bốn ngày. Có người ở hàng tháng để làm công quả.
Và có người tình nguyện ở trọn đời. Như các “già”
hoặc mấy “bà vãi” chẳng hạn. Họ ít học. Họ không
tu “huệ” mà là tu “phước”, nói theo danh từ nhà Phật
thường dùng, trong giới bình dân.
Làm
công quả, nhưng mà không làm trong chùa nữa. Làm công quả,
nhưng làm ở trong làng trong xóm. Thu còn nói thêm thế này
nữa chứ: “Bây giờ người ta khổ nhiều quá, Phật cũng
không ngồi mãi trong chùa; Phật cũng đi ra ngoài xóm ngoài
làng rồi”. Tôi cũng ngạc nhiên không biết tại sao Thu nó
nói được nhiều câu hay quá vậy. Phật không ngồi trong chùa
nữa! Thật ra tại giác ngộ ta đặt Phật trong chùa để mà
thờ chứ Phật đâu có muốn ngồi trong đó để hưởng xôi,
chuối và hương hoa quả của thiên hạ. Những ông Phật như
Phật Dược Sư, Phật Quán Âm, làm sao mà ngồi nhà được.
Phật Dược Sư ngồi hoài trong chùa thì ai đi chữa bệnh cho
thiên hạ thân bệnh và tâm bệnh? Phật Quán Âm, tức là Quán
Thế Âm thì chắc là phải đi hoài, bởi vì Quán Thế Âm là
“lắng nghe tiếng kêu đau thương của cuộc đời” mà tìm
tới. Kinh Pháp Hoa đã chẳng định nghĩa như thế sao. Vậy
thì mấy người học trò của mấy ông Phật không không lý
cứ ở lỳ trong chùa khi các bậc thầy mình có mặt trong những
nơi có khổ đau của cuộc đời sao? Như thế không phải là
học trò của mấy ông Phật mà chỉ làm nô lệ của những
pho tượng. Thu nó nói chí lý lắm. Chúng tôi chẳng cần những
nhà thần học lớn như Teillard de Chardin, như Karth Barth, như
Buber; mà chúng tôi vẫn đang thực hiện được cuộc cách
mệnh giáo lý. Những người trẻ tuổi như Thu sẽ dẫn đầu
những trào lưu tư tưởng Phật học đấy, nghe không hả Steve
thân yêu?
Ở
Việt Nam, tôn giáo còn lại như những tập đoàn xã hội vững
mạnh hơn hết, bởi vì không khí chính trị và chiến tranh
đã làm tan rã phần lớn những thực tại xã hội khác. Với
lại loạn lạc lâu quá khiến thiên hạ mất lòng tin ở mọi
chương trình, mọi hứa hẹn. Nhiều chính trị gia thiếu chân
đứng muốn nương vào các thế lực tôn giáo để… làm chính
trị. Nghĩa là để mong nắm được quyền hành. Nhưng có ít
chính trị gia biết được thực chất của tiềm lực tôn
giáo, cho nên chỉ có người muốn lợi dụng mà ít có người
muốn bồi đắp. Ít có người thấy được vai trò mà tôn
giáo có thể thực hiện trong giai đoạn lịch sử này, kể
cả trong giới những người lãnh đạo tôn giáo. chúng tôi
đang trông cậy vào những lớp người trẻ tuổi, có óc tiến
bộ, dù là những người này không có chức vị lãnh đạo,
tôn giáo cũng vậy, đều bảo thủ, có nhiều tư kiến và
nhiều lúc bị xem như là trở lực của sự tiến bộ. Tuy
nhiên, nhờ những phần tử tiến bộ giác ngộ hoạt động
và tranh đấu không ngừng, cũng nhờ những tiếng gọi cảnh
cáo của thế lực đang lên cho nên các vị lãnh đạo đã
có bừng tỉnh lên đôi chút, và đã thúc đẩy cho những con
rùa bò thêm một quãng đường. Tôi muốn nói những hoạt
động của giới trí thức cần gia tăng gấp bội để có
thể thay những con rùa bằng những con ngựa.
Steve
ạ, đừng có nghe báo chí nói rằng Phật giáo và Công giáo
ở Việt Nam chống nhau. Họ nói đùa đấy! Những người mê
ngủ trong Phật giáo với Công giáo à? Họ giống nhau như đúc.
Họ hành động và suy tư giống nhau như đúc. Cho nên họ ở
chung một nhà và theo chung một thứ tôn giáo thì hợp lắm
đấy. Còn những người biết thời biết thế, những người
có tầm con mắt nhìn xa, biết thừa nhận lẽ phải và sự
đối thoại những người đó dù mang danh hiệu tôn giáo khác
nhau mà cũng đứng sát cánh với nhau. Chỉ có sự chống báng
giữa sự bưng bít và sự tiến bộ, giữa sự lười biếng
và ích kỷ và sự dấn thân can đảm, thế thôi.
Lực
lượng của những đức tin lớn ở Việt Nam nếu được động
viên vào công việc cải tiến xã hội sẽ thực hiện được
phép lạ. Và như Steve thấy, những lực lượng đó cần hợp
tác trước hết để chấm dứt cho được cuộc chiến tranh
khốc hại.
Steve
ơi, viết cho Steve tới đây, đột nhiên hình ảnh hàng cây
trụi lá của mùa Đông Priceton hiện về rất rõ trong óc tôi.
Chúng tôi đang trải qua một mùa Đông thật gian khổ, thật
lạnh lẽo và thật đen tối, một mùa Đông dài dặc chưa
biết bao giờ chấm dứt. Những con chim có vững cánh chở
được niềm tin để vượt cánh đồng dài tuyết giá hay không?
Chúng tôi muốn tất cả gia đình nhân loại không bỏ quên
chúng tôi. Chúng tôi là những hàng cây trụi lá đứng chịu
trong sương tuyết đêm ngày, phấn đấu để đợi chờ nắng
ấm của một mùa xuân xa lơ xa lắc.
Steve,
trời đang đổ một trận mưa lớn. Ở Saigon phòng tôi chắc
chắn lại dột. Không phải là vì mái tôn bị thủng mà tại
vì nước mưa tạt ngang luồn qua trần nhà rồi rịn qua kẻ
hở của trần nhà làm bằng bìa cứng có nẹp gỗ. Tôi phải
lấy nhiều thứ để hứng kẻo ướt nền nhà. Nào chậu thau,
nào ly uống nước, nào ống đựng bút… không có tôi ở
nhà, chắc là phòng ướt hết rồi. Giờ này gần hai trăm
khóa sinh trường xã hội chúng tôi đang ở trong các trại
thực tập miền quê.
Steve
ơi, ngày mai sẽ ra sao, điều đó tôi không thể nào nó cho
Steve nghe được. Nhưng mà dù cái gì xảy đến cho tôi, cho
chúng tôi, hay cho Steve, tôi tin cái đó cũng sẽ không thể
làm lay đổ đức tin của chúng ta. Bởi vì đức tin của chúng
ta không phải đã được căn cứ trên một điểm tựa di động
và vô thường. Đức tin của chúng ta không bắt nguồn từ
những nhận thức siêu hình. Đức tin của chúng ta là sức
mạnh của tình yêu, một thứ tình yêu không có điều kiện,
không cần sự đền đáp, không bao giờ bị lay đổ bởi một
sự phụ bạc. Tôi muốn đề cập tới vấn đề mà lâu nay
tôi muốn nói cho Steve nghe nhưng chưa có dịp nói. Một lần
nào đó tôi có nói với Steve là ta phải ươm vấn đề của
ta trong chính bản thể ta, linh hồn ta, xương máu và tủy não
ta. Rồi tự nhiên một ngày nào đó thấy được những liên
hệ giữa nhận thức và hành động. Nhận thức ở đây không
phải là phần kiến thức suy luận. Nhận thức đây là tất
cả cảm thụ và sở nghiệm tâm linh - điều mà ta khó có
thể chia xẻ với kẻ khác bằng phương tiện diễn tả ngôn
ngữ và khái niệm. Cái tình yêu mà tôi nói đây nó sinh trưởng
trên căn bản tâm lý của chúng ta, đã đành rồi, nhưng mà
lạ thay, sự tàn hoại hoặc dần dần hoặc đột ngột của
căn bản tâm lý sinh lý ấy cũng không có ảnh hưởng gì đến
nó. Tôi muốn nói đến tình yêu mầu nhiệm ấy. Trong trường
hợp tình yêu người đời thường nói, sự phụ bạc hoặc
sự phơi bày trắng trợn mặt thật của đối tượng yêu
thương có thể khiến cho tình yêu bốc khói. Nhưng ở đây,
tình yêu không bao giờ bốc khói, không bao giờ suy suyển một
hào ly, bởi vì tình yêu đó dã tới một đối tượng vô
ngã.
Steve
ơi, tôi muốn kể Steve nghe câu chuyện này. Năm kia, khi ghé
Luân Đôn, tôi được đi xem British Museum. Trong những thứ
tôi để ý nhất, có một xác người hóa thạch trong một
ngôi mộ cát, chôn cách đây gần năm ngàn năm nghĩa là 3000
năm trước Thiên Chúa giáng sinh. Kiểu chôn thời ấy khác
xa với kiểu chôn bây giờ. Người ta đặt xác người chết
khum nghiêng nghiêng, hai gối co lên, mặt, hai tay và hai chân
đều quay về phía tay trái. Xác người hóa thạch còn giữ
được nguyên vẹn mọi chi tiết. Tôi thấy những lọn tóc
- đây là xác đàn ông -, tôi thấy mắt cá nơi hai chân, tôi
thấy những ngón tay ngón chân nguyên vẹn. Năm nghìn năm, người
ấy đã nằm như thế và sức nóng của cát trong buổi đầu
dã giúp người hóa đá. Đây không phải là xác ướp đâu.
Steve đừng lẫn lộn. Tôi thích đứng ngắm cảnh tượng này
và trong lòng cảm thấy một thứ rung động khó tả. Một
em bé đi với tôi, chừng tám tuổi, xinh đẹp, ngắm cảnh
tượng ấy một hồi rồi bá lấy áo tôi hỏi một cách lo
lắng: “Will happen to me? Rồi con có bị vậy không, hở ông?”
Tôi rùng mình, nhìn lại nụ hoa nhân loại mơn mởn, yếu đuối
và nhỏ bé không một khí giới tự vệ đó, dù là khí giới
tư tưởng, và vội vàng trả lời: “Không, không, không bao
giờ con lại bị như thế đâu”. Em bé an lòng; tôi vội kéo
em đi sang phòng khác. Tôi đã nói dối một điều mà Xa Nặc
ngày xưa đã không nói dối.
Nhưng
mà ngày mai lại, công việc bề bộn làm tôi quên khuấy đi
mất cái thân người hóa thạch kia. Rồi mấy tuần sau đó,
tại đường Doudeauville Ba Lê, họp mặt với các bạn sinh
viên bên đó, tôi được vặn cho nghe vài bản nhạc Việt
Nam của ban Thăng Long trình diễn. Và trong một giây phút nào
đó, nghe giọng cô Thái Thanh, tôi bỗng thấy hiện ra rõ rệt
tất cả những cordes vocales nơi cổ họng của cô ca sĩ nổi
tiếng mà tôi rất ưa chuộng. Tôi thấy được hết những
hạch tuyến nơi cổ họng, những tế bào, những bộ phận
lớn nhỏ đã phụ họa với nhau để phát ra những âm thanh
trong, ấm, thanh tao và diệu kỳ kia. Tôi chưa gặp Thái Thanh
lần nào cả, Steve ạ. Hãy nghĩ rằng cô trẻ, đẹp và đằm
thắm như giọng hát của cô, và chỉ giữ lại từng đó thôi.
Nếu ta nghiêng mình lệch đi một tý, bình diện với thời
gian thay đổi, thì cô Thái Thanh đã ở bên kia tự bao giờ
rồi, ví dụ năm ngàn năm về trước hoặc năm ngàn năm về
sau. Băng nhựa không phải là những tế bào sinh lý, không
phải là những nước bọt, không phải là những cordes vocales,
không phải là những tình cảm len lỏi lả lướt trong giọng
hát. Nhưng băng nhựa cũng phát ra đúng những âm thanh mà cô
Thái Thanh năm ngàn năm trước đây đã phát ra bằng cổ họng
xinh đẹp của cô. Băng nhựa đã giữ lại, và băng nhựa
giữ lại gì? hay là một lời nhắn nhủ, một tờ thông điệp
có thể gây đau nhức cho con người mà cũng có thể tạo nụ
cười giải thoát trên môi con người? Một trận gió thổi
qua sa mạc, cát bụi tung trời. Tôi nhớ hai câu thơ của Thiền
sư Trần Thái Tông:
“Tam
thời trần liễm thiên biên tĩnh
Nguyệt
lạc trường giang dạ kỷ canh?”
Giây
lát tan bụi, bên trời tạnh
Trăng
lặng dòng sông đêm mấy canh?
Tối
hôm đó tôi bị cảm hàn bởi hồi chiều tôi đã đi ra ngoài
trời lạnh có mưa tuyết. Nguyên Ân đánh gió cho tôi, bằng
dầu cù là Mac Phsu. Thứ dầu này có thể mua dễ dàng tại
Paris. Tôi uống hai viên aspirine và đắp chăn kỹ lưỡng, nhưng
mà tôi không ngủ được. Một phần có lẽ vì cảm, một
phần có lẽ vì aspirine tuy có trị cảm nhưng lại giữ tôi
thức giấc. Cái tật của tôi là uống aspirine ban đêm thì
lại thấy khó ngủ.
Tôi
nằm trăn trở hoài và một lúc nào đó tôi bỗng thình cờ
thấy tôi đang nằm trong một tư thế giống hệt như tư thế
của xác người hóa thạch ở British Museum! Và tôi thấy bàn
tay phải của tôi đang sờ nắn những bắp thịt này đã cứng
như những bắp thịt hóa thạch kia không. Cử chỉ ấy không
được trí óc tôi điều khiển. Nhưng hình như trí óc tôi
khuyến khích bàn tay tôi tiếp tục như vậy. Điều tôi muốn
nói cho Steve nghe là tâm trạng tôi lúc đó bình tĩnh một cách
rất lạ; tôi không hề có một ý niệm xót xa, lo lắng hay
đau buồn nào. Bỗng dưng tôi thấy rằng giá tôi là thân người
hóa thạch của 5000 năm trước đây hay 5000 năm sau đây thì
điều đó cũng không có khác chi với điều tôi đang ngồi
đây hết. Tôi vẫn cười như thường. Ý niệm về quá khứ,
hiện tại và tương lai như bốc khói; Steve ơi, tôi thấy tôi
đứng thấp thoáng ở cửa ngõ của một thứ hiện tại thoát
ly thời gian, thoát ly mọi sự chuyển động.
Tôi
chỗi dậy và ngồi trong tư thế tham thiền suốt một đêm
đó. Mưa như thác đổ trong tâm hồn tôi. Mưa như xối chảy.
Những giọt nước to, những dòng suối nhỏ tuôn ào ạt vừa
gột rửa vừa vỗ về vừa thấm nhuần, vừa nuôi dưỡng.
Không còn gì hết, chỉ có sự vững chãi an tĩnh. Tôi ngồi
như một trái núi đá, và miệng tôi mĩm cười. Nếu có ai
chứng kiến được những gì đã xảy ra cho tôi đêm đó chắc
người ta sẽ nói:”Xong, xong hết tất cả rồi! sáng mai sẽ
có thay đổi lớn”. Nhưng không có sự thay đổi nào hết,
Steve thân yêu ạ. Lúc bảy giờ sáng, tôi lấy giấy bút ghi
lại một vài nét những điều còn rạt rào trong tâm hồn.
Những vần thơ lạ kì đó tôi vẫn còn giữ đây. Và buổi
sáng mai tôi ăn điểm tâm với các bạn, bình thản như không
có chuyện gì xảy ra trong đêm qua hết. Và chúng tôi bàn tính
công việc. Vẫn là những công việc đã dự trù từ những
ngày hôm qua. Những công việc cho tương lai. Steve nghe không
Cho tương lai. Nghĩa là tôi đã được đặt trở lui trên bình
diện không thời gian ước lệ cũ.
Tôi
bàn với các bạn trẻ về từng chi tiết của công việc,
và chính tôi cũng ngạc nhiên không hiểu tại sao tôi lại
có thể làm công việc đó, công việc mà người chứng kiến
hiện tượng đêm qua có thể xem như là không dính líu gì
tới con người đương sự hết. Đối với đêm qua, tất cả
công việc hôm nay phải hoa đốm hư không. Đứng ở hôm qua
nhìn thì nó khác. Đứng hôm nay nhìn thì nó khác. Nó không
phải hoa đốm hư không. Có một điều rất rõ rệt là tuy
tôi đề cập đến mọi chi tiết của công việc một cách
kỹ lưỡng, để hết tâm ý vào chúng, nhưng tâm hồn tôi
lúc đó thật là bình thản, thanh tịnh, không náo nức, không
khiếp sợ, không lo lắng. Tôi thấy tôi có thêm nhiều sức
mạnh và tâm hồn tôi được gạn lọc trong sạch hơn nhiều.
Steve,
một đêm như thế quả có thể thay đổi được cả cuộc
đời chúng ta. Và một đêm như thế lại sẽ mở cửa cho
những đêm khác như thế. Tôi sẵn sàng để trở lại. Tôi
thấy diện mục của tôi nó phảng phất đâu đay. Lần đó
tôi suýt tóm được được nó. I was about to break through.
Vấn
đề liên hệ giữa cái thế giới nội tâm và thế giới hành
động, Steve ơi, có thể vì câu chuyện vừa kể của tôi mà
sáng tỏ ra chút ít đối với Steve nghe hồi nầy đó, nó nằm
ở đâu? Có lẽ những dòng tôi viết thật bất lực. Mà thôi
có lẽ Steve cũng không cần thắc mắc làm gì. Ngày mai, nếu
thế giới yên lành, Steve sẽ về thăm Phương Bối. Phương
Bối ngày xưa tạo dựng cho chúng tôi tình yêu, Phương Bối
có lẽ sẽ cắt nghĩa cho Steve một cách dễ dàng và thông
suốt hơn. Tại vì Phương Bối có bông đá, có hoa rừng, có
cỏ dại. Phương Bối có một cái nhà Thượng đã bị cháy
tiêu tan, chỉ còn một đống than đen với những xác cột
cháy nám đó bây giờ có lẽ đã mọc lên nhiều thứ nấm
dại.
Tuy
vậy nhà Thượng Phương Bối vẫn còn. Cũng như tình hình
yêu vẫn còn, bất chấp vô thường, bất chấp vô ngã, bất
chấp tham vọng si mê và sự độc ác. Ngày mai, nếu chúng
tôi có cháy thành tro bụi thì tro bụi ấy cũng sẽ là tình
yêu. Chúng tôi, lúc đó là tro bụi, sẽ thấm vào lòng đất,
sẽ làm chất bón tươi tốt cho một loài hoa, nở những bông
hoa cho loài người, những bông hoa không biết oán thù là gì.
chúng tôi sẽ luân hồi trở lại bao nhiêu lần, hoặc là hoa,
hoặc là cỏ, hoặc là chim, hoặc là mây, hay trong bất cứ
hình thái nào, hiện tượng nào. Chúng tôi muốn trở lại
hoài, trở lại để mà mang đến cho con người bức thông
điệp tình yêu bất diệt ấy. Cũng như bọn trẻ con đang
nghêu ngao hát ngoài đường: “Yêu mến người mãi mãi, yêu
mến người không thôi, yêu mến người tay nắm tay”. Tạm
biết Steve.
ĐOẠN
KHÉP
Nguyên
Hưng ơi, tập viết tay kèm theo đây là phần thứ ba của nẻo
về của ý đấy. Tôi giao nốt lại cho Nguyên Hưng. Tập này
xem bộ in không được đâu, bởi vì có nhiều điều nói thẳng
quá. Tuy vậy nếu in không được thì Nguyên Hưng cũng trao
bản thảo cho những người thân yêu nhất đọc. Tôi ước
mong rằng nó có thể nói được với các bạn một chút nào
về cái “Ý” của tôi.
Nhưng
mà tôi lạc quan mất rồi, Nguyên Hưng. Ở cái chương cuối
viết cho Steve, tôi có ý định giải bày một vài chút “tâm
sự” liên hệ tới nguyên tắc hành động của chúng ta, nhưng
đọc lại tôi thấy tôi chẳng nói được gì cả. Thật là
tệ. Có lẽ vì trời nóng quá chăng, hay tại vì tôi không
được khỏe. Chiều mai tôi đi phải đi xa rồi, và tôi rất
ước ao nói với Nguyên Hưng điều mà tôi đã từng muốn
nói với Steve mà nói chưa được, hay nói không được.
Đêm
nay, trời sáng tỏ một cách kỳ lạ. Tôi chưa đi mà đã nhớ
nhà rồi. Nhưng mà ở đâu cũng có từng này ngôi sao, ở đâu
cũng có chút trời xanh và mây trắng hả Nguyên Hưng. Tôi đi
rồi tôi lại về thì có sao đâu. Lòng tôi hơi xao xuyến một
chút, nhưng mà vẫn yên tĩnh. Tôi muốn nói chuyện với Nguyên
Hưng trong khung cảnh thanh tịnh này, và ngòi bút của tôi sẽ
trở lại gạch những chữ Nguyên Hưng trên giấy trắng.
Những
điều ta học được, ta phải liệng chúng đi thì ta mới có
thể hiểu được chúng. Cũng như kinh Kim Cương nói A mà không
phải là A thì mới là A. nghĩ cũng kỳ quái thật, nhưng mà
càng sống chúng ta càng thấy đúng Nguyên Hưng ạ. Học chúng
nó rồi mà giữ chúng nó trong lòng là một tai họa còn tệ
hơn là không học. Những điều tôi học ở Phật học viện
bây giờ bị lật ngược lại hết và tôi thấy lúc đó tôi
mới hiểu được chúng.
Đây
là tôi với Nguyên Hưng, chớ không phải nói với kẻ khác.
Và những điều tôi nói với em, nếu người khác nghe được,
sẽ hiẻu ra cách mà tôi không muốn họ hiểu. Nhưng mà mặc
họ chứ, có phải không Nguyên Hưng. Kỳ ở Huế về vừa
rồi thấy những đám mây trắng đẹp quá đi. Tôi ngồi trên
một chiếc DC4.
Buổi
chiều, ánh nắng vừa tắt nhưng ánh sáng còn dư dã để cho
ta có thể thấy được sắc dịu hiền và trinh tuyền của
những lọn mây. Cái thảm mây đó nó nằm phía dưới máy
bay chúng tôi. Nó rộng lắm. Từng lọn từng lọn nối tiếp
nhau, che khuất núi rừng phía dưới. Những lọn mây trắng
như tuyết. Trinh tuyền hơn cả tuyết. Tôi muốn vốc chúng
trong hai lòng bàn tay. Và bổng nhiên tôi thấy tôi với mây
là một, tôi cũng trắng tinh và êm dịu như mây.
Điều
đó thường quá mà, phải không Nguyên Hưng. Tại sao chúng
ta ưa những cuộn mây trắng nõn và những tấm thảm tuyết
trình tuyền? Tại vì cái khuynh hướng của bản chất sinh
lý và tâm lý của ta nó thế. Ta ưa những cái gì tinh sạch,
đẹp đẽ và an lành. Tinh sạch, đẹp đẽ và an lành theo
nhận định và lập trường của cơ thể ta, tâm lý ta, chớ
không hẳn là tính sạch đẹp đẽ và an lành như những tính
cách khách quan của thực tại. Ưa một tờ giấy trắng, ưa
một dòng nước trong, ưa một nét nhạc mềm hay ưa một thiếu
nữ xinh đẹp thì cũng vậy, không có khác nhau gì hết trên
căn bản tâm lý của con người. Nguyên Hưng chẳng thường
nghe người ta đem tuyết đem trăng đem hoa để tả người
con gái đẹp sao. Nhất là khi người con gái có vẻ hiền thục
thì người ta lại ví đó là Tiên là Phật bởi vì Tiên Phật
vừa đẹp lại vừa hiền. Và bên dưới những cái thiên hạ
cho là đẹp là sạch là lành thì người ta còn tham lam đặt
thêm nền tảng của sự thường còn. Đó là do nhu yếu của
con người mà ra cả. Con người ưa cái gì thanh sạch, đẹp
đẽ, hiền lành, và ưa những cái ấy thuộc về mình, đồng
nhất với mình, và thường còn với mình. Thế rồi phía bên
kia còn gì? Phía bên kia còn trái ngược với sự trong sạch
tức là sự ô uế, sự trái ngược với sự đẹp đẽ tức
là sự xấu xí, sự trái ngược với sự hiền lành là sự
ác độc và sự trái ngược với sự thường còn tức là
sự tiêu diệt tức là vô thể.
Và
do đó có một sự vật lộn để tìm sang bên này, xua đuổi
bên kia. Cho đến nỗi mà trong kinh Phật có khi người ta phải
đùng bốn đức Thường Lạc Ngã Tịnh (Hữu thể, An lạc,
Tự do, Thơm sạch) để miêu tả Niết bàn rồi sau đó phải
thêm rằng phải hiểu những chữ đó theo hiểu nhất nguyên
siêu tuyệt của nó mà đừng hiểu theo nghĩa tương đối trong
thế giới hiện tượng. Điều đó chứng minh rằng con người
chúng ta đã bị ám ảnh quá nhiều bởi ý tưởng về hạnh
phúc ước lệ trên kia.
Đột
nhiên kinh Bát Nhã tới giáng những đòn sống chết trên nhận
thức đó. Quán Tự Tại Bồ-tát sau khi nhìn thấu suốt thế
giới hiện tượng mỉm cười tuyên bố “Tất cả đều giả
lập (không) hết. Sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nhãn, nhĩ,
tỷ, thiệt, thân, ý, sắc, thanh, hương, vị, xúc, vân vân…
đều là giả lập. Và: “Chân tướng của các giả lập đó
không sinh cũng không diệt, không ô uế cũng không tinh sạch,
không thêm cũng không bớt đi” còn gì nữa mà nghi ngờ hả
Nguyên Hưng. Đó là điều tôi trông thấy trên máy bay, mà
trông thấy từ một khía cạnh khác. Trông thấy như thế nào?
Nguyên Hưng ơi em hãy nhìn và em sẽ thấy, hỏi tôi làm chi.
Tôi chẳng nói được chi cả, bởi vì không có gì mà nói.
Ban
đầu thì tôi mỉm cười nghĩ đến những hình thái của nước:
nước trong, nước suối, nước đá, hơi nước, mây, tuyết,
mưa vân vân… Tất cả đều là H2O. mà chính là H2O cũng giả
lập - cũng không phải là thực thể tự hữu - lấy O mà xét
thì O có thể được chuyển thành những cái ta không gọi
là O. Và chính những cái đó cũng là giả lập. Cũng là chuyển
thành. Nương tựa vào nhau, trùng trùng điệp điệp. Không
thể tách O ra khỏi không O, không thể nói O và không O là
một, Nguyên Hưng à.
Trên
cái căn bản di động đó, ta thường cố nắm lấy một cái
gì không di động. ví dụ tôi đặt cho tôi một câu hỏi:
anh cho hiện tượng nào là đẹp nhất? Tôi nói nước. Đẹp
quá. Nước trong như gương. Tuyết phủ trên đỉnh núi. Mây
từng cuộn trắng hay ngoài bãi biển. Mưa rào rào thấm nhuần
cây cối xanh tươi. Nếu thiếu nước, thế giới này điêu
tàn, khô cằn héo hon, buồn bã biết mấy. Cho nên tôi thấy
Nước đẹp. Thế rồi tôi hỏi: Ví dụ không có lửa, nghĩa
là không có nhiệt lực, không có hơi ấm, không có ánh sáng
mặt trời? Thiếu ánh sáng chẳng hạn thì cái gì đẹp, cái
gì không đẹp. Cái gì trong như gương, cái gì phủ trên núi,
cái gì bay bay ngoài bãi biển, cái gì rào rào thấm nhuần
cỏ cây xanh tươi? Óc tôi lóe thấy sự thực, nhưng mà tôi
đã mê Nước rồi, tôi đành nhắm mắt nói liều: mặc kệ,
tôi có nói là tôi ưa Nước nhất. Thật là vô minh, có phải
không Nguyên Hưng.
Trong
quá trình tuyên dương chuyển biến của các giả lập các
hiện tượng - ta thấy có luân hồi. Chắc Nguyên Hưng đã
liệng bỏ cái cái ý niệm luân hồi trẻ con ngày trước đi
rồi, cái ý niệm đinh ninh rằng phải có gì đó. Như O hay
cái H tôi vừa nói trên thì mới có luân hồi được. Nhưng
trên sự thực chẳng có cái O cái H tự thân nào mà cả thế
giới giả lập vẫn diễn biến mầu nhiệm. Luân hồi đó
chớ gì, nhưng nếu nhìn thấu suốt ta sẽ không thấy có gì
thường hay vô thường, tinh sạch hay ô uế, hiền lành hay
ác độc, đẹp đẽ hay xấu xí. Đừng có nói cho trẻ con
biết điều đó bởi vì chúng sẽ nói: không có hiền ác,
không có tốt xấu và không có luân lý. Trẻ con chưa có mở
mắt ở thời nào cũng vậy.
Nguyên
Hưng ơi, giữa cái tinh sạch và cái ô uế, giữa cái đau khổ
và cái sung sướng, giữa cái hiền lành và cái độc ác, mình
theo cái nào? Nghe hỏi mà buồn cười, phải không Nguyên Hưng?
Theo cái tinh sạch, cái sung sướng, cái hiền lành thì mình
phải đập tan và tiêu diệt cái ô uế, cái đau khổ và cái
độc ác. Mà tiêu diệt chúng được chăng. Nếu “cái này
có là nhờ cái kia có”, thì cái trong sạch cũng do cái ô
uế mà có. Tiêu diệt cái ô uế tức là tiêu diệt luôn cái
trong sạch, vì lẽ “cái này không thì cái kia không”. Kết
luận là nên dung dưỡng cái ô uế, cái độc ác và cái đau
khổ hay sao?”
Nhưng
mà Nguyên Hưng ơi, tất cả những cặp đối nghịch đó chính
đã là do chúng ta tạo nên bằng nhận thức của chúng ta,
bằng lập trường sinh tâm lý của chúng ta. Hoan lạc và đau
khổ trở nên những đại vấn đề. Nếu được như Quán
Tự Tại soi thấu được chân tướng thực tại, thì những
đau khổ tai nạn bốc khói bay mất. “độ nhất thiết khổ
ách”. Cho nên hãy nhìn nụ cười đức Phật. Nụ cười đó
trầm lặng thật, từ bi thật nhưng mà… coi thường chúng
ta quá. Đó là một cách nói mà thôi bởi chính Phật đã nhờ
đức Thường Bất Khinh Bồ-tát nhắn với mỗi người chúng
ta rằng Ngài… không dám khinh chúng ta đâu, bởi vì tất cả
chúng ta đều sẽ thành một vị Phật.
Có
lẽ cái cảm tưởng trẻ con của tôi về nụ cười của Ngài
là do một thứ mặc cảm tự ti lâu ngày tạo nên - chớ không
phải tự tôn. Nguyên Hưng nhớ nhé. Trước nụ cười của
người thấy được Niết bàn và Sinh tử đều là hoa đốm
giữa hư không, ta cảm thấy ta bé nhỏ quá, vụng về quá,
ngu si quá. Ngài thương chúng ta không phải vì chúng ta không
thấy đường cho nên bị đau, thế thôi
Từ
hồi nhỏ, tôi đặt vấn đề bản chất của lòng từ bi,
và tội nghiệp cho tôi, tôi chỉ học được và nếm được
chút ít từ bi sau này không phải nhờ học tập hay nhờ đặt
vấn đề mà nhờ khổ đau. Tôi không tự hào về chút khổ
đau ấy; cũng như có ai tự hào về tiếng hét to sợ hãi của
mình khi mình nhận lầm sợi giây là con rắn. Khổ đau của
tôi cũng chỉ là sợi giây, cũng chỉ là hoa đốm giữa hư
không, đáng lẽ nó phải tan biến như mây khói khi mặt trời
lên! Nhưng mà nó vẫn chưa tan biến thành mây khói cho nên
anh vẫn đau khổ và anh chịu không nổi nên anh tự vùng vẫy.
Vậy Phật có thấy anh đau khổ không. Phật có chịu nổi
khi thấy anh đau khổ không mà ông ngồi cười hoài vậy? Tôi
lý luận rằng tình thương là phải có chấp thủ, tình thương
nào cũng vậy, tình trai gái yêu nhau, tình mẹ thương con, tình
nước non, tình nhân loại, tình chúng sinh, nghĩa là cả từ
bi. Bởi vì thương ai, lo lắng cho ai anh cũng phải thao thức,
mong mỏi, không thể lãng quên. Thế thì trông thấy chúng sinh
đau khổ vô lượng vô biên thế kia, Phật cũng lo lắm chứ
sao mà ngồi cười được hoài. Thật ra thì mình tạc tượng
Ngài ngồi cười. Nhưng mà có phải hầu hết những đêm thức
khuya, những lo lắng và thao thức của người có tình thương
đều phát sinh vì người đó còn là người trần mắt thịt,
đối với thực tướng vũ trụ vẫn còn “mờ mờ nhân ảnh
như người đi đêm” không? một ông bác sĩ biết rõ tình
trạng bệnh nhân thì không ngồi giả định thế này thế
kia để tạo ra một trăm ngàn giả thuyết và lo lắng như
người thân nhân của bệnh nhân. Và nếu biết bệnh sẽ qua,
thì ông có thể cười. Nhưng không phải là nụ cười độc
ác. Đó chỉ là nụ cười của người biết chuyện, không
còn phải lo hão huyền vô ích. Đại bi, maha karuna bản chất
của nó, Nguyên Hưng ơi, làm sao tôi diễn tả cho được?
Nguyên
Hưng, sự thực nằm ở đó, em làm quen với nó đi. Chỉ khi
nào em bắt đầu thấy được giữa bùn đen kia với tuyết
trắng nọ không có cái gì xấu cái gì đẹp, chỉ khi nào
em biết bắt đầu nhìn sự thật với tâm niệm không phân
biệt, nghĩa là biến kế, thì em mới có thể nếm được
thế nào là đại bi.
Dưới
con mắt của đại bi, không có tả không có hữu, không có
thù không có bạn, không có thân không có sơ. Mà đại bi không
phải làvật vô tri. Đại bi là tinh lực màu nhiệm của sáng
chói.
Vì
dưới con mắt của đại bi, không có cá thể riêng biệt của
nhân ngã nên không có một hiện tượng nhân ngã nào động
tới được đại bi.
Em
ơi, nếu con người có độc ác đến nước móc mắt em hay
mổ ruột em và em cũng nên mỉm cười và nhìn con người bằng
cặp mắt xót thương; hoàn cảnh tập quán và sự vô minh đã
khiến con người hành động như thế.
Hãy
nhìn con người đã đành tâm tiêu diệt em và đang tạo nên
cho em những oan ức khổ nhục lớn lao như trăm ngàn quả núi,
hãy nhìn con người ấy với niềm xót thương. Hãy rót tất
cả niềm xót thương từ suối mắt em vào người đó mà đừng
để một gợn oán trách giận hờn xuất hiện trong tâm hồn.
Vì không thấy đường đi nước bước cho nên cái người
làm khổ em mới vụng dại lỗi lầm như vậy.
Giả
sử một buổi sáng nào đó em nghe rằng tôi đã chết tăm
tối và tàn bạo vì sự độc ác của con người, em cũng nên
nghĩ rằng tôi đã nhắm mắt với một tâm niệm an lành không
oán hận, không tủi nhục. Em nên nghĩ rằng giờ phút cuối
tôi cũng không quay lại kẻ thù ghét con người. Không, con
người chẳng bao giờ đáng cho ta thù ghét. Nghĩ như thế chắc
chắn em sẽ mĩm cười được, rồi nhớ tôi, đường em, em
cứ đi. Em có một nơi nương tựa mà không ai có thể phá
đổ và cướp giật đi được. Và không ai có thể làm lay
chuyển niềm tin của em, bởi vì niềm tin ấy không nương
tựa nơi bất cứ một giả lập nào của thế giới hiện
tượng. Niềm tin ấy và tình yêu là một, thứ tình yêu chỉ
có thể phát hiện khi em bắt đầu nhìn thấu qua thế giới
hiện tượng giả lập để có thể thấy được em trong tất
cả và tất cả trong em.
Ngày
xưa, đọc những câu chuyện như câu chuyện đạo sĩ nhẫn
nhục để tên vua cường bạo xẻo tai cắt thịt mà không
sinh lòng oán giận, tôi nghĩ đạo sĩ không phải con người.
Chỉ có thánh mới làm được như vậy. Nhưng Nguyên Hưng ơi
tại lúc đó tôi chưa biết đại bi là gì. Đại bi là sự
mở mắt trông thấy. Và chỉ có sự mở mắt trông thấy tận
cùng mới khiến cho tình thương trở thành vô điều kiện,
nghĩa là biến thành bản chất đại bi. Đạo sĩ nhẫn nhục
kia đâu có sự giận hờn nào mà cần nén xuống? Không, chỉ
có lòng thương xót. Giữa chúng ta và vị đạo sĩ kia, và
vị Bồ-tát kia, không có gì ngăn cách đâu, Nguyên Hưng. Có
thể tình yêu đã dạy cho em rằng em có thể làm được như
Người.
Thôi
em đã lớn rồi tự lo liệu lấy.
Chiều
mai tôi phải đi rồi. Những giòng chữ viết đêm nay, tôi
sẽ không có thì giờ đọc lại. Nguyên Hưng, cho tôi dừng
ngang đây. Ngày mai tôi sẽ còn gặp em trước khi lên đường.
Saigon
11-5-1966
Hết