PHẦN
THỨ BA
XIII
Thiền
không phải là suy tư về những vấn đề triết học, Steve
ạ, nhất là lối suy tư với hy vọng tìm ra giải đáp. Thiền
là gieo những vấn đề lớn nhất của cuộc đời vào chính
mảnh đất của bản thể mình, của tâm hồn mình, của máu
huyết và xương tủy mình. Thiền là nuôi nấng bằng trọn
con người mình - nếu quả thực mình có một vấn đề khẩn
thiết. Rồi thiền cũng có khi là một cuộc đấu tranh thập
tử nhất sinh trong một khoảnh khắc nào đó để được sống
hay để được trở lại trong giòng lưu chuyển sâu thẳm.
Có những giây phút gian nan hiểm nghèo quyết định cả một
đời mình nhưng chẳng có ai hay ai biết. Mình hoàn toàn cô
độc. Lại có những buổi công phu phải quán tự tâm, khi
thì những thắng lợi xẩy ra liên tiếp, khi thì hiểm nguy
đe dọa, khi thì thất bại nằm chết cứng một mình. Nhưng
mà Steve đừng nghĩ thiền là những thứ tôi vừa kể đó.
Những thứ tôi vừa kể đó thể chỉ để dành riêng cho tôi
thôi. Để tôi nói chuyện này cho Steve nghe. Hãy tưởng tượng
chúng ta là những đứa bé con đi chơi và gặp một ông già
đang ngồi câu… trên một bãi cỏ xanh. Ông ta câu rắn. “Bãi
cỏ xanh mướt như thế này đáng lẽ có thể trồng bao nhiêu
thứ hoa đẹp. Nhưng mà có những con rắn nằm phía dưới.
Lão phải câu tất cả chúng nó lên, và đập chết hết, trước
khi chúng ta có thể vun bón khu vườn”. Rồi ông già kể cho
chúng ta nghe kinh nghiệm câu rắn của ông ta. Có những con
rắn con, nằm trong những cái hang con. Khi nhử chúng lên được
trên mặt đất thì chúng nằm quay ra chết, khỏi cần đánh
đập gì hết. Lại có những con rắn lớn. Câu chúng lên,
phải cẩn thận. Nếu không đủ sức đập chúng chết, chúng
sẽ cắn mình trước, và mình ngã quỵ. Vì vậy phải biết
mình biết ta. Phải biết lúc nào mình đủ sức, lúc nào mình
không đủ sức. Lại có những con rắn cần được câu lên
một lúc hai con, để chúng nó tự tiêu diệt nhau, khỏi phải
nhọc sức mình đánh đập. Chúng ta thích thú nghe ông già
kể chuyện và ngồi chứng kiến, tuy chúng ta có hơi sợ sệt.
Có nhiều lúc thiền định nó giống như vậy đó Steve. Dưới
đáy tiềm thức anh, từ vô lượng vô biên kiếp, đó là nói
theo kiểu nhà Phật - có những con rắn, hoặc những con ma,
hoặc những con gì đó mà ta không thể gọi tên. Có người
gọi là triền là sử là tập. Chúng nằm ở đó và chúng
chi phối. Vậy muốn được tự do ta phải mời chúng lên chơi
trên mặt phẳng ý thức. Cũng không phải là để đánh đập
chúng như trường hợp ông già câu rắn kia đâu. Chúng tôi
cần nhận diện chúng, đối thoại với chúng, và nói với
chúng rằng chúng ta không sợ chúng, bởi chúng ta là bạn chúng.
Thế mà rồi chúng sẽ trở nên dễ thương hết chỗ nói đó
Steve. Còn nếu không thì chúng vẫn tồn tại như là những
mối đe dọa thường nhật của mình. Điều cần yếu là mình
không nên sợ đối diện chúng. Và chỉ cần cẩn thận, biết
lúc nào là lúc mình có thể mời chúng đến chơi. Thế thôi.
Nghĩa là mình phải sẵn sàng. Thiền là sẵn sàng. Cũng gần
như hướng đạo sinh vậy. Phải sẵn sàng. Nhưng mà muốn
sẵn sàng thì phải có công phu sắp sẵn. Ví dụ bây giờ
có người nói với Steve: tôi cho anh biết độ hai ngày nữa
thì anh chết. Nếu Steve tin người đó chắc là Steve sẽ cuống
lên. Bởi vì Steve không sẵn sàng. Không phải là không sẵn
sàng để chết mà là không sẵn sàng để mà có phản ứng
thông minh nhất đối với cái ý tưởng kia. Cũng như bây giờ
người ta cho biết cái cô Hạnh Trí Tử mỹ miều kia không
chịu yêu Steve nữa và đã đi theo một người con trai khác,
thì Steve cũng thấy rõ là mình chưa sẵn sàng để mà đối
phó với một ý tưởng như vậy. Và không sẵn sàng cho nên
Steve sẽ không biết đặt chân đặt tay vào đâu cho phải
khi xúc sự. Và Steve chuốc lấy nhiều khổ đau.
Lý
do quan trọng nhất khiến cho Steve không sẵn sàng là sự sợ
hãi những ý tưởng đó, sự ghét bỏ những ý trong đó. Steve
không thích nghĩ đến cái chết của mình cũng không khí thích
nghĩ đến cái phụ bạc có thể có của Hạnh Trí Tử. Xin
lỗi Steve nhé, tôi lấy ví dụ chơi vậy mà thôi. Vì không
thích, cho nên Steve cứ dìm chúng xuống dưới cát để có
cảm tưởng là chúng không thể có. Nếu bây giờ Steve mời
chúng nó ra trình diện và cười với chúng, thế là mọi việc
xong xuôi. Nhưng mà cũng không dễ lắm đâu, hỡi người bạn
trẻ tuổi của tôi.
Mới
hôm đầu tháng đây đi qua Giác Minh tôi ngạc nhiên thấy Lý
ngồi trong phòng khách, hai tay bị còng lại. Thứ còng có khóa
rất chắc. Xung quanh Lý các bạn bè ngồi đông toàn là những
nhà văn, nhà báo. Báo của Lý bị đóng cửa từ mấy tháng
nay rồi, nhưng mà Lý vẫn tiếp tục cuộc vận động dư luận,
không chịu thua. Chúng lùng bắt Lý. Đã có lần Lý cải trang
đi tạm trú ở miền Gia Định. Khi Lý trở về xin tạm trú
ở Giác Minh, không ai cho phép Lý đi ra khỏi chùa. Thế mà
hôm đó tự dưng Lý ra khỏi chùa. Lập tức hai người lạ
mặt đến xốc tay Lý kéo đi. Lý la lớn lên. Người bên đường
đổ xô lại. Hai người lạ mặt vội vàng áp Lý tới cột
trụ xe buýt và khóa còng hai tay Lý vào rồi lẫn mất. Những
người bên đường xúm lại đưa bổng Lý lên cao luồn tay
ra khỏi cột. Và với hai tay bị còng như thế, Lý trở về
Giác Minh, yêu cầu gọi các bạn lại. Có người đang đi gọi
thợ sắt để chặt chiếc còng. Cổ tay Lý đỏ bầm. Thấy
tôi, Lý cười. Cổ tôi khan lại, không nói ra tiếng. Như thế
này thì còn trời đất gì nữa. Giữa ban ngày ban mặt, lúc
một giờ trưa, ngay trong khu đông đảo nhất của thành phố.
Steve
ơi, chúng tôi đang tiếp tục đi tới đây. Những sẽ gì xảy
ra cho chúng tôi ở đàng kia, chúng tôi chưa biết. Nhưng chúng
tôi đặt niềm tin ở khả năng con người, dù con người có
tỏ ra ác độc đến mấy đi nữa. Kẻ thù của chúng ta không
phải là con người; kẻ thù của chúng ta là vô minh, là cựu
thù.
Thôi,
để tôi đưa Steve vào làng thăm để quên đi trong giây lát
tất cả những vấn đề gay go đó. Steve xem, đây cũng là
một làng nước mặn, thành ra vấn đề nước uống là một
vấn đề lớn lao của làng. Người ta phải “đổi” một
đôi nước tới ba đồng bạc, khi xe nước ngọt chèo tới
và dân làng đem thùng và quang gióng ra để “đổi”. Người
ta dù chữ “đổi” để khỏi dùng chữ “mua”, bởi vì
nếu có người “mua nước” thì phải có người “bán nước”
điều mà không ai muốn xảy ra cả. Steve xem, người dân quê
yêu nước biết chừng nào! Steve đi qua con đê này và rẽ
về phía bên trái. Cái hồ nước xây bằng đá này có thể
chứa sáu thước nước, do dân làng góp và xây nên với sự
trợ lực của chúng tôi. Một cái đơn do dân làng ký đã
được bộ Công Chánh chấp nhận. Thế là lâu nay cứ mỗi
tuần ba lần xe Công Chánh về ghé đổ nước ngọt vào hồ
nước. Dân làng chỉ có việc ra gánh.
Tuy
vậy vấn đề nước chỉ khó khăn trong mùa nắng thôi Steve.
Về mùa mưa, nước sông trở thành nước ngọt và nước mưa
hứng được có thể dùng dư dả. Đám đất lớn phía tay
trái kia đã được dân làng khai phá trồng trọt; hoa mầu
được chia đều cho nhau dù đó không phải là đất của người
trong làng. Đất đó là đất chính quyền bỏ hoang từ bao
nhiêu năm. Có những thứ cây cối có thể chịu được nước
mặn, nhưng mà có những thứ cây phải chờ đợi đến mùa
mưa mới có thể trồng trọt được. Bé Lê ở trong làng bảo
là có những cây bầu, cây bí nếu ta tới từ nước sông
(mặn) pha với nước mưa (ngọt) cho chúng thì chúng cũng quen
dần với nước mặn và cuối cùng có thể chấp nhận được
nước mặn. Cũng hay nhỉ. Steve có muốn về đây để tôi
tưới cho một ít nước mặn, xem thử cậu có chấp nhận
được không nào?
Dân
làng đã bắt đầu trồng nấm rơm để bán theo phương pháp
chỉ dẫn. Nhưng mà rơm năm nay đắt rồi; số ruộng được
canh tác giảm xuống thật nhiều trong toàn quốc. Phải để
dành rơm cho trâu bò ăn, nhất là trâu, cho tới mùa gặt mới.
Có nhiều gia đình đã thực hiện chương trình nuôi gà, và
họ đã thành công. Ban đầu, khi chúng tôi đề nghị nuôi
gà, nhiều nhà lắc đầu. Gà của họ nuôi chết hoài. Họ
nói: đất nước mặn, gà đi kiếm ăn cứ bị bệnh chết.
Chúng tôi biết không thể thuyết phục họ bằng lời, nên
tự xuất vốn nuôi một trăm con gà bằng lồng úm. Chúng tôi
mượn nhà bé Lợi để thực hiện công tác trình diễn chứng
minh. Bé Lợi chưa bao giờ thấy một cái lồng nuôi gà có
hệ thống lò sưởi, nên tò mò lắm. Chúng tôi sưởi lồng
bằng đèn bão. Gà con thì chúng tôi mua giống New Hamsphire.
Thực phẩm của gà chúng tôi mua nhiều bao lớn đã được
trộn sẵn. Những con gà con lớn lên mau như thổi. Chúng tôi
theo đúng phương pháp chăm sóc, vệ sinh cho gà, nhỏ thuốc
lỗ mũi cho gà, vân vân… Sau đó ba tuần, chúng tôi bắt đầu
đem dụng cụ về làng đóng những chuồng gà tơ và gà giò.
Bởi vì không mấy lúc nữa, gà con trở thành gà tơ. Nhà của
bé Lợi luôn luôn có khách ra vào. Bác Ba, thím Tư, bà Bảy
ai đến thăm cũng ngạc nhiên khi thấy gà lớn như thổi mà
không chết con nào. Một đồn mười. Thế rồi chúng tôi được
hỏi ý kiến. Năm ba gia đình quyết định nuôi gà để kiếm
tiền lợi tức.
Mọi
công tác ở các làng thí nghiệm đều được thực hành theo
kiểu đó nghe Steve. Ban đầu thì phải nghiên cứu về tình
trạng chung của làng về các mặt y tế, giáo dục, kinh tế,
xã hội. Rồi tùy theo tình trạng mà bắt đầu công cuộc
cải tiến. Phải đánh thức ước muốn của dân làng dậy
bằng những công tác trình diễn chứng minh. Và tự nhiên dân
làng hưởng ứng. Tuy vậy cũng công tác đầu phải làm ở
nhiều làng vốn không phải là những công tác y tế và giáo
dục. Trong thành phần giảng viên của trường Xã Hội, có
một vị tăng sĩ mà chúng tôi gọi là thầy Tám: vị này chứng
tỏ một khả năng thu phục nhân tâm rất lớn. Chúng tôi đôi
khi cũng gọi đùa thầy là “bách khoa tự điển” bởi vì
ông biết thật nhiều chuyện. Có lẽ chuyện gì ông cũng biết.
Từ tiếng Pháp tiếng Anh, tiếng Miên cho đến thuốc Tây,
thuốc Bắc, thuốc Ngoại Khoa; từ việc trồng cam trồng bưởi
cho đến việc gieo hạt bí hạt bầu, từ dạy học cho đến
coi sóc công trường kiến trúc. Chính ông sẽ coi sóc họa
đồ và điều khiển việc xây cất trường Xã Hội của chúng
tôi. Trong một làng thí điểm kia, mỗi lần thầy Tám về,
ông chỉ mang theo một cái gói nhỏ trong đó có đựng cau,
trầu, một ve dầu gió bạch tượng, vài trái chanh, một ít
bông gòn và vài cái kim. Thế mà được việc bằng mấy các
cô cậu khác. Ban đầu thì thầy tìm tới nhà một người
bị bịnh ban, một cậu bé chẳng hạn. Thầy cạo gió, và
nếu cần thì “cắt”. Cắt có nghĩa là chích lễ, một loại
châm cứu giản dị. Thầy dùng lá trầu hoặc một múi chanh.
Ít khi thầy dùng tới thuốc uống hay thuốc chích. Mà lạ
quá, người bịnh nào được thầy “hành nghề’ cũng mát
ra, và qua được cơn nóng. Tài thật. Thế rồi thầy mở khăn
gói ra, ngồi trên bức ngựa, lấy trầu nhai bỏm bẻm, mời
mọi người trong gia đình. Rồi thầy nói chuyện mưa gió,
mùa màng, thời tiết. Chuyện gì thầy nói cũng hay, thế mới
lạ chứ. Dân làng mê thầy. Và hàng xóm ai bị bệnh đều
mời thầy tới. Hầu hết cả xóm đều là người chịu ơn
thầy, một cái ơn nhỏ nhưng mà thật bền chặt. Và thầy
đề nghị cái gì, dân làng cũng sốt sắng hưởng ứng, Steve
ạ. Ở mỗi làng Việt Nam đều có một ngôi chùa và một
ông thầy chùa. Nếu thuyết phục được ông thầy theo phong
trào cải tiến nông thôn thì chắc là không bao lâu phong trào
phải thành công. Khỏi phải tâm lý chiến, ấp chiến lược
gì lôi thôi. Có phải không. hiện giờ chúng tôi rất cần
chuyên viên, và chúng tôi phải lo đào tạo. Lấy kinh nghiệm
của thầy Tám, công tác đưa vào chương trình học tập của
trường môn thực hiện ngoại khoa. Người công tác viên xã
hội sau này cần phải nói chuyện hay như thầy Tám, đến
với dân làng dễ dàng tự nhiên như thầy Tám. Điều đó
quan trọng hơn những kiến thức có tính cách bác học mà
thiếu giá trị thực dụng. Khinh thường kho tàng kinh nghiệm
của dân quê tức là mua chuốc lấy thất bại. Phải xem kỹ
thuật mới như một cái gì đi đến bổ túc, chứ không phải
để bài bác, những kinh nghiệm và phương pháp truyền thống.
Chúng tôi có ý muốn kết nạp những thanh niên nam nữ gốc
ở hương thôn hơn là ở thành thị, bởi vì họ có khả năng
hiểu biết và đến với người dân nông thôn dễ dàng hơn.
Ngôi
trường mà Steve thấy đây không phải là không có một lịch
sử kỳ thú đâu nhé. Ban đầu, một cộng tác viên về làng,
và làm quen với vài em bé trong lúc chơi đùa, câu cá, hát
hò. Rồi anh công tác viên đó hỏi thăm về sự học hành
của các em, và rốt cuộc là các em bằng lòng để hco anh
dạy cho mà học thay vì đi chơi rong suốt ngày. Họ ngồi dưới
gốc cây, kê một tấm gỗ để viết chữ. Thế rồi chỉ
một tuần sau, số học trò tăng lên mười mấy em. Một “bác”
phụ huynh thấy thương, liền gọi tất cả vào nhà ngồi học.
Họ được phép sử dụng bức ngựa bên chái. Thế là họ
tách năm tấm ván ra, lấy gạch kê làm năm chiếc ghế dài.
Còn dư chỗ cho bốn năm em. Mấy tuần sau trẻ em tới đông
thêm. Không khí học tập vui vẻ hăng hái. Phụ huynh mừng
rỡ thấy con mình được học để sau này có “dăm ba chữ”,
khỏi thua kém con người ta. Họ thương thầy giáo lắm. Steve
biết sao không, ở Việt Nam chúng tôi chịu ảnh hưởng Nho
giáo khá sâu đậm. Ngày xưa, ông vua là quan trọng hơn hết,
rồi mới đến ông thầy, rồi mới đến ông cha. Quân, Sư,
Phụ tức là “tam cương”. Chắc chắn là Steve biết dư điều
đó, tôi khỏi cần phải xổ nho ra nữa. Vì vậy địa vị
của ông hương sư rất là quan trọng, bởi vì ông ấy thay
thánh hiền để dạy chữ nghĩa đạo đức cho con cháu. Cho
nên người công tác viên xã hội nếu bắt đầu bằng công
tác giáo dục, sẽ chiếm được chỗ khá tốt trong lòng người
dân làng. Nhất là khi anh có thể dạy cho trẻ em thêm phép
tắc ngoan ngoãn. Anh được các môn đệ bé tí của anh mời
về nhà chơi, và cha mẹ các môn đệ ấy bao giờ cũng đón
tiếp “thầy” của con mình một cách niềm nở. Thế là
anh có dịp tuyên truyền cho chương trình cải tiến sinh hoạt
nông thôn, một cách gián tiếp và kín đáo, cố nhiên, và
tiếng nói của anh sẽ rất dễ lọt vào tai người đã sẵn
có cảm tình với anh.
Khi
học trò đông quá mà chỗ học thiếu thốn, các phụ huynh
họp lại để giải quyết vấn đề trường ốc; có khi họ
tự động làm như thế mà khỏi phải có ý kiến của người
cộng tác viên. Một buổi họp như thế cố nhiên đưa đến
kết quả là sự quyết định dựng một ngôi trường cho làng.
Và người thì cho tre, người thì cho gỗ, người thì cho gạch,
người thì cho công. Vật liệu không hiếm. Ban đầu chỉ cần
là trường bằng tre, tranh và đất thôi. Khi mà dân làng ý
thức được sự cần thiết, thì tự nhiên khả năng của
thôn quê để tự cải tiến trở nên lớn lao. Người dân
không nghèo như họ tưởng hay như chúng ta tưởng, ít nhất
là trong tiềm năng của họ và của xứ sở họ. Đó, cái
ngôi trường bốn gian mà Steve thấy đó là của chính họ
làm ra. Họ không cầu xin của Chính phủ hay của viện trợ
một xu nào. Hiện giờ đã có tới hai giáo viên là người
làng, những giáo viên khác cũng sẽ thay thế bằng dân làng
khi điều ấy trở thành có thể.
Có
năm sáu thanh niên nam nữ trong làng tham dự sốt sắng vào
công việc xây dựng và cải tiến. Có một cậu mười lăm
tuổi tên là Mười - có thể nói nó là một cộng sự viên
đắc lực. Cha của Mười mất rồi. Mẹ nó cũng vậy. Mẹ
của nó bây giờ là mẹ ghẻ. Nó có một đứa em gái chín
tuổi rất kháu khỉnh dễ thương, cùng cha khác mẹ. Nó làm
nghề “cày đáy” nghĩa là chài lưới. Từng đó tuổi mà
gánh vác việc gia đình như một người lớn. Và nó cũng cư
xử như một người lớn. Steve biết không, buổi sáng trước
khi cho thuyền đi, nó cũng uống rượu “cho ấm bụng”. Và
những buổi chiều thuyền về, trong khi em nó lo bán mẻ cá,
nó ngồi “nhâm nhi” be rượu, khề khà như một ông lão.
Tội nghiệp quá. Việc làm thì nặng nhọc. Bà dì ghẻ thì
không ấm áp ngọt ngào. Không có một thứ giải trí lành
mạnh nào. Không có phòng đọc sách, không có đàn hát, không
có truyện kiếm hiệp, không có hội hè, bạn hữu đồng điệu,
không có thể thao, bóng chuyền, bóng bàn… Chỉ có uống rượu
và đánh bạc. Em gái nó, con Mười Một, là học trò trường
Chim Sơn Ca. Có một hôm tới trường hai mắt đỏ hoe. Cô giáo
hỏi vì sao. Nó nói anh nó bỏ nhà đi gần một tuần nay không
chịu về. Hỏi nó thằng Mười đi đâu. Nó nói: nghe người
ta nói anh nó xin vô làm công trong hãng sắt nguội trên Saigon.
Khi tôi nghe câu chuyện, tôi nói. Chết rồi, thằng bé bị
đô thành quyến rũ mất rồi. Để em nó lại đây ai nuôi.
Hay là để cho cái bà dì ghẻ thiếu cảm tình ấy? Nó, nó
thương em nó hơn là mẹ con bé thương.
Hơn
một tháng sau, cô Chín, một trong các hướng dẫn viên thực
tập ở làng, gặp Mười đang đi trên một con đường miệt
Hàng Sanh. Mới đầu Chín không nhận ra nó, bởi vì nó mặc
áo sơ mi rằn ri và quần cao bồi. Nó đi với một thằng bạn
có vẻ mặt rất là Saigon. Có vẻ mặt Mười thì vẫn còn
mang cái nét thơ ngây non non dại dại nhà quê. Con mắt nó
vẫn còn chứa đựng sự ngơ ngác. Chín đã tới và hỏi:
Có phải em là em Mười không. Nó thấy Chín thì mừng và nói:
“Phải. Chị đi đâu vậy”. Và nó nói với thằng bạn.
“Thôi mày đi chơi một mình đi, để tao gặp người quen”.
Chị Chín đưa nó vào một quán cà phê. “Này Mười, bộ
lâu nay em đi làm được nhiều tiền lắm hả”. “Đâu mà
có, chị. Làm ở sắt nguội cũng đủ ăn mà thôi, không hơn
gì ở làng”. “Vậy tại sao em bỏ làng mà đi”. “Tại
buồn lắm chị Chín ơi. Cả đời như vậy hoài không có gì
vui hết. Rồi mai mốt em đi lính, thế là xong”. “Vậy chớ
em để con Mười Một một mình à? Mày không thương em mày
sao, hả Mười?” Nó yên lặng, lúng túng. Chín không khuyên
nó trở về làng ngay, mà chỉ hỏi xem nó làm tại hãng nào
để thỉnh thoảng lại thăm. “Em làm ở sở B.S. gần Đakao
đó chị”. Chín hẹn trưa thứ bảy tới đón nó đưa về
làng thăm em. Nó nhận lời.
Từ
đó ở làng có những buổi văn nghệ do học sinh tổ chức
với sự tham dự và hướng dẫn của các giáo viên, các người
bạn trẻ của làng từ các nơi tới. Có khi học trò trường
Tình Thương bên làng Thảo Điền qua tổ chức, rồi thì học
trò bên này đáp lễ. Muốn tổ chức “văn nghệ” lúc nào
cũng được. Dân làng lớn tuổi mà cũng tham dự thật tình.
Nhiều người biết ca sáu câu vọng cổ. Những buổi chiều
mát, ở gốc cây dừa. Những buổi sáng trăng. Tủ sách của
làng bây giờ có nhiều sách đọc giải trí. Và vô số tiểu
thuyết kiếm hiệp. Lại có cả trọn bộ “Cô gái Đồ Long”.
Buổi tối trong gia đình, tiếng thỏ thẻ của các em bé đọc
tiểu thuyết Tàu tạo nên một không khí ấm cúng. Rồi thì
có bóng bàn, bóng rổ. Các ông “cụ non” trong làng bắt
đầu say mê những thứ giải trí mới, và bỏ dần uống rượu
đánh bạc. Chị Chín dọa các cậu “Tôi sẽ xúi con gái ở
các làng bên không thèm lấy các cậu. Lấy các cậu để rồi
các cậu rượu chè be bét làm khổ gia đình ấy à. Mới mười
ba, mười lăm tuổi mà đã uống rượu”. “Đừng làm ác,
chị Chín à; có cậu trả lời. Mà thiếu gì con gái. Tụi
tui sẽ đi cưới con gái làng thật xa. Nhưng mà nói chơi đó
chị Chín. Buồn thì tụi tui uống chút chơi, chớ có say sưa
gì đâu. Bữa nay có giải trí lành mạnh rồi thì không uống
nữa cũng được”.
Cậu
Mười của chúng ta ngày nay đã trở về làng rồi. Khỏi phải
nói, con em gái nó mừng hết sức Mười cũng đã trở lại
nghề chài lưới. Những thời gian còn lại trong ngày, nó dùng
để hoạt động cho phong trào làng. Nó có vẻ đàn anh lắm.
Bọn trẻ con rất thích. Nó thích tổ chức thiếu nhi nông
thôn, thích chơi bóng chuyền; nó tập đánh đàn măng-đô và
rất say văn nghệ. Giọng nó không tốt lắm, nhưng nó rất
ưa ca hát.
Steve
ơi, tôi là người rất tha thiết đến việc làm làng nhưng
mà tôi thấy tôi thua kém thầy Tám cô Chín và rất nhiều
người khác. Nhìn những thắng lợi liên tiếp của những
người trẻ có lòng kia, lòng tôi thấy phấn khởi và hy vọng
hơn. Thì ra rôi là người được thừa hưởng cái kết quả
trước hết, chớ không hẳn đã là người dân nông thôn.
Anh được yêu mến, được chấp nhận, được tin cậy. Anh
lại sống có hy vọng, có ước mơ. Thế thì anh còn đòi hỏi
gì nữa. Chính anh là người thừa hưởng công trình của anh
trước hết, bất cứ thứ công trình nào mà anh có thể gọi
là công trình. Điều đơn giản đó, gieo ngô được ngô, gieo
đậu
được đậu, thế mà cũng phải lao đao lắm mới chứng thực
được nó.
Steve
ơi, cái không khí Phương Bối phãng phất ở đâu đây, trong
khi chính Phương Bối thì bị cô lập hóa trên miền núi rừng
Bsu-Danglu lặng lẽ. Có lẽ vì có những con chim cũ của Phương
Bối hay lui tới, nhất là ở những làng quê như làng này.
Mà có lẽ là tại Phương Bối ngự trị nơi lòng của mỗi
người. Phương Bối là tình yêu. Là hy vọng. Một ngày nào
đó chúng tôi mong sẽ được đoàn viên trong chiếc nôi bông
đá, hoa rừng và cỏ dại ấy. Những khu làng tương đối
yên tĩnh như khu làng này ngày mai có còn được yên tĩnh nữa
không? Sự dựng xây phải được thực hiện từng chút từng
chút với tất cả công phu. Những sự phá đổ thì không cần
đi từng bước một. Một vài phút, một vài giờ đồng hồ,
thôi thế là tất cả tiêu tan. Chiến tranh không tôn trọng
một giá trị nào, kể cả những giá trị truyền thống và
nhân dân. Và nhất là nó tiêu diệt hy vọng…
Hết
chương 13