PHẦN
THỨ BA
XII
Cám
ơn Steve đã viết thư dài cho tôi. Miền Trung Việt Nam vừa
bị tai họa bão lụt lớn. Tôi cũng bị bận rộn quá nên
đã ít viết thư được cho Steve. Các ông già bà cả cho biết
là sáu mươi năm nay mới lại có một trận lụt lớn như
vậy. Trận lụt sáu mươi năm về trước cũng xảy ra trong
năm Giáp Thìn. Kỳ về Trung vừa rồi cùng với một số người
trẻ tuổi góp phần vào việc cứu trợ, tôi được thầy
tôi, năm nay đã tám mươi tuổi, kể cho nghe từng chi tiết
về trận bão lụt Giáp Thìn sáu mươi năm về trước ấy.
Trận lụt năm nay thật là kinh khiếp; hàng ngàn người bị
nước cuốn trôi và hàng chục ngàn người thiếu nhà cửa,
thiếu cơm ăn áo mặc, đã và đang thoi thóp chờ sự cứu
trợ của những người đồng bào của họ. Ở miền Nam phong
trào cứu trợ nạn lụt miền Trung được sự hưởng ứng
rất sốt sắng của hầu hết mọi người. Biết bao nhiêu
đoàn thể đã tổ chức quyên góp cứu trợ. Trường chúng
tôi cũng góp được hàng mấy xe quần áo, thuốc men và thực
phẩm. Từng đó chẳng thiếu đủ gì, nhưng chúng tôi đã
tổ chức để tự thân mang những tặng phẩm đó ra tận nơi
xảy ra tai nạn. Công việc này không dễ dàng gì đâu Steve
ơi, bởi vì những nơi này đều nằm vào địa thế chiếc
lược nguy hiểm. Người ta có thể bỏ mạng vì bom đạn hay
vì những cuộc đụng độ có thể xảy ra bất cứ lúc nào
nếu người ta nghe theo tiếng gọi của lương tâm mà tìm tới
những nơi ấy.
Nhưng
mà để tôi trả lời câu Steve hỏi đã nghe. Tôi biết Steve
không ưng ở lại thành phố Nữu Ước nữa bởi vì Steve đã
chán nó. Nhưng nếu Steve cố gắng thêm chừng bốn tháng nữa
thì Steve đã có thể hoàn tất chương trình. Rồi sẽ liệu
sau. Chắc có lẽ cậu lắc đầu chán nản khi nghe tôi khuyên
như thế “đã chán rồi thì một vài ngày cũng khó chịu
thay, huống hồ là bốn tháng trời!”. Chắc Steve đã phản
ứng như vậy. Nhưng mà Steve ơi, nơi nào trên trái đất này
thì cũng đều gần gần như nhau. Nếu mình vẫn mang tâm trạng
như tâm trạng bây giờ, thì đi đâu mình cũng thấy cái y
báo ấy. Có lẽ nếu có tôi bên cạnh, cậu sẽ chấp nhận
Nữu Ước dễ dàng hơn. Steve không biết rằng có thể một
ngày nào đó cái Nữu Ước chán ngấy của cậu có khi lại
làm cho cậu sinh ra nhớ quay nhớ quắt nó cũng không biết
chừng. Cũng như cái xứ sở đau thương nhiều thù hận và
nhiều điều bạc bẽo này. Ngày trước có khi tôi nghĩ phải
bỏ quách nó mà đi để không bao giờ trở lại. Ấy thế
mà rồi khi xa lại đứng ngồi không yên, lại nhớ sinh ra
nhớ quay nhớ quắt nó. Tôi hay có những tưởng tượng buồn
cười lắm Steve. Ngày xưa có bữa đọc báo về chuyện phi
hành không gian, tôi tưởng tượng một mình đang ngồi trên
phi thuyền bay theo một quỹ đạo xoay quanh trái đất. Rồi
vì một hư hỏng máy móc nào đó tôi không đốt được chiếc
hỏa tiễn còn lại thành thử không thể vượt ra khỏi quỹ
đạo được nữa và phải tiếp tục bay quanh trái đất mãi
mãi. Mãi mãi cho đến khi hết lương thực, hết không khí
và tôi chết rũ ra một mình không ai biết ai hay. Liên lạc
vô tuyến với loài người ở dưới trái đất cũng bị cắt
đứt. Và tôi cảm thấy rất cô độc khi nghĩ rằng chính
xương cốt mình cũng không được nghỉ ngơi trong lòng trái
đất. Tôi nhớ trái đất lạ lùng. Loài người ác độc,
loài người gây khổ đau dằn vặt, loài người mà có khi
tôi thấy không thể thương được, loài người ấy bây giờ
tôi thấy thân thiết với họ một cách kỳ lạ. Thôi thì
cho tôi trở lại trái đất đi, với loài người ác độc
ấy đi, cũng được. Nhưng mà làm thế nào để trở lại.
Dù anh muốn để xương cốt anh trên mặt đất thân yêu thì
cũng không được nữa rồi mà. Anh có thể có ý định mở
cửa phi thuyền và… nhảy xuống mặt đất. Nhưng thực tế
thì anh không nhảy được. Bởi vì không có trọng lượng.
Trái đất không muốn anh nữa. Trái đất không còn “hút”
anh xuống nữa. Anh xa trái đất và loài người quá rồi.
Steve
ơi, chỗ tôi ngồi viết cho Steve đây vẫn là làng quê thuộc
tỉnh Gia Định. Khung cảnh đáng lý thì yên tịnh hoàn toàn
nhưng tiếng máy bay phản lực của không quân làm tôi nhức
óc. Sao mà máy bay bay hoài như thế không biết. Tiếng máy
bay như đè nặng trên hai lá phổi của tôi. Hồi nãy tôi ngồi
chơi với mấy em bé trong làng ở dưới chân đống rơm. Câu
chuyện đang vui thì máy bay ào tới, tiếng máy bay át cả tiếng
nói của chúng tôi. Mấy đứa nhỏ nhìn lên trời, theo dõi
hai chiếc máy bay phản lực. Tôi thấy chúng không có vẻ thích
thú như trong trường hợp thông thường của trẻ con nhà quê
khi nhìn thấy máy bay. Chúng không vỗ tay reo cười. Trong mắt
chúng, tôi thấy vẻ lo âu ghét bỏ. Tiếng tăm về tai nạn
bom đạn giết chóc từ những miền quê khác đã bay tới làng.
Ở
những nơi như thế này đây, trông thấy những vấn đề cụ
thể của người dân quê, tham dự vào trong những vui buồn
hàng ngày của họ, tôi thấy tâm hồn mình bình dị và có
nhiều yêu thương. Tôi biết cái nếp sống khép kín của cái
xã hội nhiều tiền bạc và tiện nghi cũng không thích hợp
với Steve. Đối với nhiều người, phần lớn thì giờ trong
cuộc đời họ đã và đang được tiêu phí trong sự theo đuổi
những tiện nghi vật chất. Tôi không tuyên truyền thuyết
bác ái đâu. Steve đừng e ngại. Tôi thấy trong cái xã hội
sinh hoạt đầy tiện nghi, những vấn đề của con người
lại còn to lớn và dằn vặt hơn trong cái xã hội mà tôi
đang sống đây nhiều. Nỗi niềm cô đơn, trống trải và
buồn chán, ý niệm về sự vô ích vô nghĩa của cuộc sống
nó làm cho con người đau khổ bội phần. Cách đây mấy năm,
tôi được xem đâu dó một khúc phim tài liệu ngắn thuộc
loại xã hội nơi một chương trình vô tuyến truyền hình.
Phim do ai thực hiện tôi cũng quên khuấy đi mất. Nhan đề
cuốn phim là “người đàn bà cô đơn”. Tôi chỉ nhớ mang
máng thôi, vì lâu quá rồi. Người đàn bà cô đơn đây là
một người đàn bà có chồng, và chồng bà lại có địa
vị trong xã hội. Họ lại có nhà cửa, xe hơi và tiền bạc.
Giữa hai vợ chồng, không có vấn đề gì xích mích, lộn
xộn. Người thiếu phụ cũng đã không gặp trở ngại gì
trong vấn đề tình yêu và hôn nhân. Hai vợ chồng ở trong
một ngôi nhà khá sang trọng trong thành phố Mỹ quốc. Họ
chưa có đứa con nào. Vào đầu cuốn phim, ta thấy người
thiếu phụ rên ư ử. Nét mặt biểu lộ sự chán chường
mệt mỏi và xa vắng mênh mông. Trong cơn mê những đợt sóng
từ dưới đáy tiềm thức chỗi dậy. Có một vẻ gì bất
an hiện trên nét mặt đó. Một chút nước bọt nhễu hai bên
mép thiếu phụ. Trong cơn mê, thiếu phụ vừa cựa mình vừa
lắc đầu như đang vùng vẫy để thoát ra một cái gì. Lúc
đó chồng của thiếu phụ chạy đến vỗ vai để thức nàng
dậy. Người thiếu phụ mở choàng mắt, bỡ ngỡ một tí,
rồi vụt đứng lên. Chỉ sau một giây thôi, nét mặt thiếu
phụ trở thành vui vẻ, nhí nhảnh, yêu đời. Tất cả những
nét chán chường, mệt mỏi biến mất. Thiếu phụ trở nên
vui tươi, hoạt bát một cách mầu nhiệm. Nàng nói tíu tít
như một con chim non để làm vui lòng chồng! “Em mới chợp
mắt một tí. Anh đi đầu mới về đấy? Để em pha cà phê
thật ngon cho anh”. Người chồng nhìn vợ một cách hơi lo
lắng rồi hỏi nhỏ: “Em có sao không?”. Nàng trả lời vừa
cười rất tươi “Không, em có sao đâu, em không sao cả”.
Người chồng cho biết ông phải đi Cựu Kim Sơn gấp vì công
chuyện làm ăn “Anh phải đi ngay - Vậy anh đi thay áo đi.
Để làm cà phê xong, em sẽ giúp anh làm va li”. Nàng làm cà
phê, trong khi người chồng loay hoay trong tủ áo. Bỗng nhiên
tiếng hát trong phòng chấm dứt. Chiếc dĩa âm nhạc vừa hết.
Nàng bỏ dỡ cà phê, tới thay đĩa mới. Âm nhạc nổi lên,
lần này dồn dập náo nức. Rồi nàng trở lại với chiếc
bình cà phê. Nhưng người chồng không chịu nổi âm nhạc.
Có lẽ ông đã mệt vì âm nhạc. Ông đến gần máy, tắt
đi. Và trở về tủ áo. Nhưng người thiếu phụ lại không
chịu nổi sự im lặng. Nàng trở vào, cho quay chiếc đĩa hát
trở lại. Rồi lại đến phiên người chồng thấy khó chịu.
Họ thay phiên nhau văn máy và tắt máy như thế nhiều lần,
một cách hầu như là vô ý thức.
Bây
giờ thì ông chồng đã lên máy bay rồi. Người thiếu phụ
ngồi nhà một mình. Nghe nhạc hoài cũng chán lắm. Nàng chọn
nhiều đĩa khác nhau, nhưng cuối cùng tắt máy. Rồi nàng đi
tìm sách. Thế nhưng đọc được vài dòng, nàng gấp sách
lại. Nàng không thể tiếp tục đọc sách nữa. Nàng chạy
tới máy điện thoại. Gọi người này, rồi gọi người khác.
Người này đi vắng, người khác bận. Không có ai để mời
tới ngồi lê đôi mách cả. Nàng chán nản bỏ ống nói xuống
và ngồi thừ ra.
Steve
hãy tưởng tượng làm sao mà nàng có thế sống từ trưa đến
chiều trong cái tâm trạng và điều kiện ấy. Vào lúc sáu
giờ, đứa bé giao báo buổi chiều gõ cửa. Nàng mừng rỡ
đến nỗi ta thấy hy vọng hiện trên nét mặt nàng. Nhưng
không, đó chỉ là em bé đưa báo. Nàng nhận báo rồi đề
nghị thằng bé ở lại một chút nói chuyện chơi. Cố nhiên
là nó từ chối, bởi vì nó còn giao không biết bao nhiêu là
báo nữa. Nó nhìn nàng, thương hại: “Tại sao bà không ra
quán rượu đầu đường ấy. Vui lắm”. Nàng thấy lòng tự
ái bị va chạm. Nàng nói: tôi không cần.
Thằng
bé đi rồi, nàng càng thấy cô đơn trống trải. Nàng nghĩ
tới chồng. Nàng chạy lại điện thoại. “Cô làm ơn cho
tôi nói chuyện với chồng tôi, ở Cựu Kim Sơn. Long distance
call. Person to person”. Phải rồi, person to person, chớ không
phải poste to poter. Như vậy trong trường hợp chồng không
có ở đó thì nàng khỏi phải trả tiền. Person to person! Một
người liên lạc với một người. Một người nhất định
nào đó liên lạc vưói một người nhất định nào đó. Nhưng
mà sự liên lạc giữa người và người nó có làm tan biến
được sự cô đơn của con người hay không, hay là con người
chẳng bao giờ vượt qua được cái “vạn lý trường thành
của hai vũ trụ chứa đầy bí mật” đó? Person to person!.
Nàng
nghe tiếng chồng ở đầu giây kia. Nàng hỏi: “Anh đi về
có bình yên không”. Chồng nàng trả lời “bình yên”. Thế
rồi hết, thảm hại chưa. Nàng không có gì để nói nữa
hết. Điện thoại nối liền hai miền xa cách. Chồng nàng
đứng ở đầu đường dây kia cũng như đứng trước mặt
nàng. Không có gì nói cho nhau nghe nữa hay sao? Mười năm trời
ở bên nhau, người ta đã tìm tất cả những gì thuộc về
của nhau rồi sao? Nàng thấy óc nàng rỗng tuếch. Nàng hỏi
đại một câu: Ở Cựu Kim Sơn trời có mưa không anh”. “Không,
trời ở đây tốt lắm, ấm lắm. Anh vừa tiếp xúc lần đầu
với người ta về vấn đề công việc”. Và hình như người
chồng nhận thấy cái gì là lại ở giọng nói của nàng.
Chồng nàng hỏi “Em có sao không, em? Are you all right?”. Lần
thứ hai trong buổi chiều chàng hỏi. Và lần thứ hai trong
buổi chiều nàng trả lời “Em không sao cả. I am all right”.
Nàng
không chịu đựng được nữa, cho nên nàng mặc áo rồi xuống
đường. Nàng tìm tới quán rượu đầu đường. Đã hơn mười
hai giờ khuya rồi. Quán cũng vắng. Nàng gọi một cốc Whisky,
và ngồi nhìn. Lát sau cũng có một đôi vợ chồng cũng vào
quán rượu. Người vợ đi vào phòng rửa mặt. Người chồng
ngồi gần bên thiếu phụ gọi một ly rượu. Và họ quen với
nhau. Thiếu phụ cô đơn. Còn người đàn ông thì thấy thiếu
phụ có chút nhan sắc. Và biết đâu người đàn ông, tuy đi
với người đàn bà của mình, cũng lại cô đơn. Họ trao
đổi nhau vài câu nói cười thân mật. Nhưng người đàn bà
đã trở về lại chỗ cũ, nhăn mặt tỏ ý không tán đồng
sự thân mật đó. Không khí trở nên nặng nề.
Vào
khoảng nửa đêm, ác mộng xâm chiếm giấc ngủ của người
thiếu phụ. Dưới ánh sáng mờ nhạt của gian phòng ngủ,
ta thấy nét chán chường cô độc ban trưa trên khuôn mặt
nàng. Thiếu phụ vùng vẫy, nàng la hét trong cơn ác mộng.
Một mình trong cơn ác mộng, một mình cô đơn. Nhưng bỗng
có tiếng lách tách ở ổ khóa. Có tiếng cửa mở. Rồi cửa
phòng ngủ cũng hé mở. Chồng nàng từ Cựu Kim Sơn về, lúc
nửa đêm. Trông thấy cảnh tượng đó, chàng vội vàng chạy
lại đánh thức nàng.
Người
thiếu phụ giật mình tỉnh dậy, ngơ ngác, nét mặt còn in
vẻ kinh hoàng. Người chồng cắt nghĩa: “Anh nghe thấy một
cái gì không bình thường trong giọng nói của em hồi chiều,
qua dây điện thoại. Cho nên bàn xong công việc, anh vội vã
lấy máy bay trở về. Em nằm mơ thấy gì mà vùng vẫy la hét
dữ vậy? Em có sao không?” Em có sao không? Are you all right?
Lần thứ ba trong buổi chiều chàng hỏi Are you all right? Người
thiếu phụ kiểm soát lại tình trạng. Nàng không thể trả
lời như hồi chiều được nữa. Không. Rõ ràng nàng không
trả lời như hồi chiều. Nhưng mà có vấn đề gì đâu? Nàng
có đau ồm thiếu thốn gì đâu. Nhà cửa đầy đủ mọi tiện
nghi. Chuyện gì cũng có máy móc đỡ tay chân làm thế cho nàng.
Có chuyện gì thì cũng có điện thoại đó. Bếp có cháy hay
trộm có thể lẻn vào thì có thể gọi cảnh sát. Người
đàn bà không bất lực, không cần sự che chở của người
đàn ông như thời nguyên thỉ, có nhiều rắn rết, hổ báo,
sấm chớp. Người đàn bà không thiếu một thức gì. Nhà
cửa sang trọng, sức khỏe đầy đủ, lợi tức dồi dào,
chồng con có địa vị, có uy tín. Nhưng mà không thể nói
rằng như thế là mọi sự êm đẹp tốt lành. Nàng nhìn chồng,
thú nhận:”Em làm sao ấy, anh ạ. I am not all right”.
Và
họ biết là họ có vấn đề.
Steve
ơi, cái vấn đề đó là một trong những vấn đề lớn của
cái xã hội bây giờ. Sự cô đơn của con người càng lúc
càng lớn. Steve đưa mắt nhìn thử những buổi sinh hoạt gọi
là tôn giáo, xã hội và tôn giáo, xã hội và thân hữu mà
xem thì thấy. Nhà thờ và chùa chiền trở nên chỗ hội họp
để các Ông các Bà giao tế, gặp gỡ và tổ chức những
cuộc vui lấy danh nghĩa là sinh hoạt tôn giáo. Đi nhà thờ
hay đi chùa đã trở thành một thứ trang sức, một thứ giải
trí cho nhiều người. Hội họp để bầu cử những hội phụ
nữ, hội từ thiện, hội cựu học sinh, hội chống võ khí
nguyên tử vân vân… và để đàm luận và tổ chức công
việc này nọ cũng chỉ là để giết thì giờ, là để chạy
trốn sự cô đơn, trống lạnh của những đời sống khép
kín trong cái vỏ tự ngã giả tạo. Họ có đi đâu thì cũng
chỉ quanh quẩn trong cái vỏ ấy. Họ chỉ giao tiếp gặp gỡ
những cái vỏ như là cái vỏ của chính họ. Chính bởi vì
Steve bị lạc vào trong cái thế giới đó cho nên Steve không
thể chịu đựng được. Nhưng mà nếu Steve thiết lập được
sự liên lạc với cái thế giới rộng rãi bên ngoài cái vỏ
kia thì dù cho Steve có ở lại trong cái môi trường đó, Steve
cũng không cảm thấy bị tù túng như là đang cảm thấy bây
giờ. Có lẽ tại vì cậu đã để cho con đường liên lạc
kia bị bế tắc. Hãy nghĩ đến chúng tôi, hãy nghĩ đến cái
thế giới rộng rãi mà trong đó ngày mai Steve sẽ bơi lội
thì cậu sẽ thấy cái hoàn cảnh trong đó hôm nay cậu sống
là một hoàn cảnh cần thiết. Hãy chấp nhận bốn tháng đó
với một nụ cười, và với một thái độ tích cực. Rồi
mọi sự sẽ biến hình trước con mắt của chúng ta. Mặt
trời sẽ sáng hơn và cây cối sẽ xanh hơn. Con người sẽ
dễ thương hơn.
Để
chữa lành cái “bệnh” của người thiếu phụ kia, tôi tượng
không cógì khó khăn đâu Steve. Hãy đem nàng ra khỏi nhà tù
của những điều kiện tiện nghi vật chất. Cho nàng về sống
trong cái xã hội của Châu Mỹ La tinh chẳng hạn. Hay là về
đây, tại cái làng Bình Quới này thì cũng tốt. Rồi nàng
sẽ đi giặt lấy quần áo ở bờ sông. Sẽ phải rùng mình
khi thấy thứ nước uống thiếu trong sạch mà những người
dân làng thường uống. Rồi nàng sẽ ở chung và sẽ chia xẻ
những vấn đề của dân làng. Cái mớ kiến thức mà nàng
có đó sẽ có thể giúp đỡ dân làng cải thiện sự sống
của họ. Nàng sẽ phải cực khổ, lo lắng. Nhưng mà nàng
sẽ có những nụ cười trong veo như nắng sớm. Tôi biết
chắc như vậy mà. Tuy nhiên, Steve đừng nghĩ rằng công việc
giải phóng nàng là một công việc dễ dàng đâu nhé. Dù đau
khổ, người ta vẫn không có can đảm từ bỏ khổ đau. Con
người sợ khổ đau cho nên cứ chịu khổ đau hoài.
Tiếp
xúc với cuộc sống, với những khổ đau, những lo âu của
thế giới bên ngoài, chia xẻ trong cảm thông tất cả những
thứ đó với kẻ khác. Đó là phương thuốc mầu nhiệm nhất
để xua đuổi thế giới u ám của sự cô độc nội tâm.
Anh mà cô đơn là tại vì anh tự giam giữ anh trong một cái
vỏ giả tạo, là tại vì anh tưởng rằng anh là một thực
tại riêng biệt không có liên hệ tới những cái khác. Nhà
Phật nói là tại vì anh cho là “ngã” một cái gì “vô
ngã…”. Mà thôi, đừng có tin nhà Phật. Steve ạ, bởi vì
tôi nghĩ rằng cái tôi của tôi đây tuy nó không là ngã mà
nó cũng không là vô ngã đó Steve.
Cái
thứ văn nghệ phản chiếu tâm trạng cô đơn thao thức cũng
đã xuất hiện trên cái đất này lâu rồi Steve. Trong cái
tình trạng bế tắc của chính trị, trong cái không khí trĩu
nặng đe dọa của bạo lực và tiền bạc, con người rất
dễ lây cái tâm trạng chán chường vô vọng đó. Huis clos
No exit. Ngõ cụt. Không có nẻo ra. Cái gì cũng vô lý, cũng
đáng nhổ nước bọt vào. Cái gì cũng giả dối. Sự vô lý
cũng vô lý, sự giả dối cũng giả dối. Như thế đó, mà
vẫn còn nói năng được. Nó tô một lớp sơn đen hắc ảm
đạm lên cho khung cảnh. Nó trợ lực cho nếp sống liều lĩnh,
không trách nhiệm. Nó mở miệng nhân danh cho tự do. Nếu cái
thứ văn nghệ chỉ biết tuân theo lãnh đạo như một bộ
máy được coi là một thái cực thì cái văn nghệ vô trách
nhiệm này đích thực là một thái cực khác. Bên kia còn có
thể nói vì một cái gì chứ bên này thì không thể nói vì
một cái gì được hết. Tôi không bao giờ cho sự vô trách
nhiệm là tự do cả. Tự do mà vô trách nhiệm thì không phải
là tự do mà là tự hoại. Tự hoại và hủy hoại kẻ khác.
Thứ văn nghệ đó làm cho tình trạng càng lúc càng bi đát,
thứ văn nghệ đó giúp cho con người tự kỷ ám thị để
càng bị dày vò trong cô đơn, chán chường và mệt mỏi. Thứ
văn nghệ đó cào quấu những vết thương cho thêm rách nát.
Chúng ta cần có một đường hướng khai thị và trị liệu.
Khai thị để vạch rõ cho chúng ta biết sự thực về những
vấn đề của chúng ta. Biết để mà có ý thức. Có ý thức
để mà lo, chuyển hoán, cải tạo, chạy chữa; nghĩa là tìm
ra được nguyên do của chứng bệnh và trị liệu. Nói thì
chắc là Steve cười, chớ thực ra theo nguyên tắc này, ta phải
isoler những người bị cái bệnh chán chường ra, hoặc giả
phải isoler những người chưa bị bệnh ra một nơi. Nghĩa
là phải thiết lập những “ấp chiến lược” văn hóa.
Nhưng mà không phải cái kiểu “ấp chiến lược” ngày xưa
của ông Diệm đâu, Steve đừng lo. Tôi nghĩ ở đây những
trường đại học chẳng hạn, nên để tách biệt ra, đừng
cho nằm tại Saigon. Phải có những thành phố dành cho đại
học, như thành phố Princeton hay là Oxford vậy. Trường đại
học cần có phong độ ngày xưa, nghĩa là phong độ một nơi
tu luyện. Phải có hoàn cảnh và không khí của sự tu luyện.
Chớ ở Saigon hay Nữu Ước hay Ba Lê thì khó học hành lắm.
Hồi tôi còn ở Princeton tôi có nghe một anh sinh viên than rằng:
“Thành phố Priceton đã như một tu viện rồi mà đại học
Princeton là còn là một tu viện nữa. Thật là một tu viện
trong một tu viện”. Thế mà không ai chối cãi được cái
khả năng và không khí học tập ở Princeton đâu nhé. Steve
có đồng ý không. Khi mà người ta mạnh khỏe thì mầm mống
bệnh tật khó nhiễm và vật ngã được. Vấn đề không là
đi tìm sự trốn tránh mà chính là đi tìm sự tự cường
tự lực để chiến thắng.
Steve
ơi, cái số tôi thế mà có nhiều may mắn. Bây giờ đây tôi
có thể ngồi viết cho Steve yên ổn thế này cũng là nhờ
các bạn trẻ bên này lo lắng và gánh vác được cho bao nhiêu
trách nhiệm.hòi tôi ở bên đó cũng vậy. Nhớ lại cái hồi
từ tháng sáu đến tháng mười năm 1963 mà xem. Thật là lận
đận, lao đao. Hồi ấy như Steve biết, phong trào chống đối
ông Diệm lên mạnh ở bên này. Một mình tôi ở bên đó phải
lo biết bao nhiêu công việc. Ít có đêm nào ngủ được. Tiếng
chuông điện thoại làm thần kinh tôi căng thẳng. May mắn
có Steve và có một vài người bạn trẻ khác phụ lực cho.
Mặc dù bao nhiêu hăm dọa và khó khăn, chúng ta vẫn đi tới
một cách mạnh bạo. Tôi nhớ cái buổi chiều ở American BUddhist
Academy, đến nét mặt lặng lẽ của Steve khi em đem bình sữa
và thẻ kẹo sô-cô-la tới. Căn phòng là một căn phòng tham
thiền kiểu Nhật có đệm chiếu tatami Steve đã ngồi quỳ
gối và trao bình sữa cho tôi một cách hết sức lặng lẽ
và dễ thương. Thật không khác gì một chú thị giả ở đông
phương. Steve nói: ăn một thẻ sô-cô-la nhỏ thì lấy lại
được năng lực mau chóng lắm. Buổi chiều đó đúng hai giờ,
là mãn hạn thời gian tĩnh tâm và cầu nguyện. Tôi dã đóng
cửa tĩnh tâm, nhập từ bi quán để cầu nguyện cho sự vượt
thắng của tự do trên bạo lực, và thời gian đó kéo dài
từ sáng thứ hai đến chiều thứ sáu. Tôi đã không ăn uống
gì trong thời gian đó, trừ chai nước lã mà Steve đến thay
một ngày hai lần. Hôm tôi họp báo ở Carnegy Hall, Steve cố
gắng chạy tìm một nơi thanh tịnh cho thời gian tĩnh tâm ấy,
và đã không tìm ra được. Tôi điều đình với ông U Thant
cho tôi tĩnh tâm trong Hall ò meditation ở trụ sở Liên Hiệp
Quốc, nhưng ông từ chối. Ông từ chối bởi vì ông không
muốn tỏ rằng là Phật tử ông có ý bênh vực Phật giáo.
Ông nói là sợ làm như thế tức là tạo ra một tiền lệ.
Tôi gọi điện thoại cho Internationnal Church Center cũng ở tại
Liên Hiệp Quốc. Họ trả lời là được, nhưng cái phòng
ấy phải trả ba trăm Mỹ kim một ngày. Ba trăm Mỹ kim! Thế
nghĩa là một ngàn năm trăm Mỹ kim cho một thời hạn từ
thứ hai đến thứ sáu! Bán nhà đi chúng ta cũng không trả
nổi. Tôi bèn gọi American First Zen Institute. Gọi nhiều lần
nhưng không có ai trả lời. Sau cùng tôi gọi Đại đức trù
trì ngôi chùa Riverside Drive và được chấp thuận. Lúc đó
là lúc đại hội đồng Liên Hiệp Quốc bắt đầu họp về
vấn đề Việt Nam. Trước đó, tôi đã làm việc gần gũi
với nhóm các nước Á Phi đã đưa được vấn đề Việt
Nam lên nghị trình của đại hội đồng Liên Hiệp Quốc,
nhất là với ông đại sứ Tích Lan. Và tôi cũng đã nói chuyện
rất nhiều với báo chí và các hãng vô tuyến truyền hình.
Hôm họp báo ở Carnegy Hall do tổ chức Nhân Quyền Quốc Tế
bảo trợ, tôi nói “Dân tộc Việt Nam đã đau khổ nhiều
rồi. Đây là lúc mà gia đình nhân loại phải cầu nguyện,
phải hành động. Ngay sau cuộc họp báo này, tôi sẽ nhập
thất tham thiền và cầu nguyện cho đất nước tôi, và tôi
xin tất cả những thành phần gia đình của nhân loại, những
ai biết thương xót và đau khổ vì Việt Nam, hãy góp sức
cầu nguyện cho đau thương chấm dứt”. Báo chí tối hôm
ấy có đạo đạt lại lời yêu cầu đó. Steve biết không,
lúc ấy tôi đã gần kiệt lực rồi, tại vì trước đó đã
phải lận đận đi Hoa Thịnh Đốn, Chicago và các nơi khác
để vận động ủng họ cho cuộc đấu tranh bên nhà. Một
cuộc diễn hành của Việt kiều đã được tổ chức trước
tòa Bạch ốc. Biểu ngữ được chở từ Nữu Ước xuống.
Cuộc diễu hành thật cảm động. Nhiều anh chị có con năm
bảy tháng cũng ẳm đi biểu tình. Nhiều người Mỹ mua nước
cam tới cho chúng tôi uống. Tất cả các hãng truyền hình
đều có mặt.
Một
điều bất tiện cho tôi nữa là phòng tham thiền nằm ở trên
gác; mỗi khi muốn dùng phòng rửa mặt thì phải bước xuống
và leo lên mấy chục bực thang. Mỗi một cử động tiêu phí
nhiều năng lực. Trong năm ngày, tôi đã phải đi lên đi xuống
có tới mấy mươi bận. Steve đã giữ gìn không cho nhà báo
nào hay hãng truyền hình nào ra vào hết. Và mãi đến chiều
thứ sáu khi đem sữa và thẻ sô-cô-la tới, Steve mới cho biết
là chấm dứt thời hạn tĩnh tâm, tôi phải tiếp hai hãng
vô tuyến truyền hình, bởi vì họ có ý muốn giúp cho vấn
đề thêm sáng tỏ.
Tôi
uống từng ngụm sữa nhỏ và “nhai” những ngụm sữa ấy
trước khi nuốt. Và tôi cũng nhai một miếng sô-cô-la, tuy
lúc đó tôi không tin cái thuyết của Steve mấy. Steve kể cho
tôi nghe những chuyện đã xảy ra trong thời gian tôi nhập
thất. Rồi Steve đưa cho tôi xem mấy cái thư ở nhà gởi sang.
Có mấy cái thiệp chúc sinh nhật. Thì ra sinh nhật của tôi
nhằm ngày hôm kia mà tôi không nhớ, lúc tôi đang còn trong
thời gian nhập thất. Một cái thiệp do chính tay em tôi vẽ.
Đó là một vườn cau vì bão tố đã gãy đổ gần một nửa.
Phía dưới, em tôi đề: mưa quê hương…
Steve
kể chuyện nho nhỏ cho tôi nghe trong khi ở phòng ngoài người
ta bắt giây điện và bóng để sửa soạn cuộc phỏng vấn.
Steve đã nói với tôi: “Thầy đừng nói, chỉ nghe thôi, để
dành sức một lát nữa mà trả lời các cuộc phỏng vấn”.
Cũng may Steve nhỉ, các cuộc phỏng vấn truyền hình thường
chỉ kéo dài mươi mười lăm phút, không như những cuộc phỏng
vấn của nhà báo có khi kéo dài cả tiếng đồng hồ.
Sau
đó, Steve đưa tôi về nhà ở đường 109 bằng xe taxi. Những
ngày sau đó Steve săn sóc tôi và không cho tôi làm gì hết.
Steve nấu ăn thật tệ, nhưng mà trông thấy Steve lui cui dưới
bếp, tôi thương quá. Tôi đã quen nấu cho Steve ăn, như một
bà mẹ săn sóc con.
Thật
là êm đềm, khi ta có dịp nhắc những kỷ niệm quá khứ
cho nhau nghe, có phải không Steve? Nhưng cuộc đời không phải
chỉ là quá khứ. Nó còn là hiện tại và tương lai. Chúng
ta phải nhìn về phía trước mặt. Những ngày lao đao, trốn
tránh lận đận hồi ấy đã qua rồi. Nhưng những vấn đề
của hôm nay đang còn. Và chúng ta đang đối diện với chúng.
Chiều
xuống rồi. Tối nay tôi phải trở về thành phố. Hẹn Steve
thư sau.
Hết
chương 12