PHẦN
THỨ BA
XI
STEVE,
tôi xúc động quá khi nghe tin Cerbu tiên sinh qua đưòi. Điện
tín của Steve khiến tôi bàng hoàng. Tôi không ngờ chúng ta
lại mất người bạn thân đó một cách dễ dàng đến thế.
Hôm rời Nữu Ước, vì vội vàng quá, tôi chỉ nói được
lời từ giã với Anton qua điện thoại. Anton ân cần dặn
tói nếu công việc xong xuối thì trở qua lại để lo thực
hiện những điều chúng tôi đã bàn tính với nhau nhiều lần.
Tôi đã nói cho Steve nghe về dự định đó, dự định mà
Steve không tán thành cho lắm ấy: đó là việc tôi ở lại
để cộng tác với các bạn mở một phân ban về văn minh
và ngôn ngữ Việt Nam. Tôi cũng ưa việc làm ấy lắm bởi
vì đó cũng là một cách làm việc cho xứ sở tôi. Đã có
những phân ban về Nhật Bản, Trung Hoa và Triều Tiên nhưng
về Việt Nam thì chưa có gì. Mà Việt Nam thì hiện giờ đang
là một đối tượng nghiên cứu, một vấn đề nóng bỏng.
Tôi nhớ lại ánh mắt sáng ngời và thái độ sốt sắng của
Anton khi bàn tính về dự án ấy. Nhưng bây giờ thì hết rồi,
bởi vì Anton đã học ở trường Đông Phương Ngữ ở Ba lê
và đọc được tiếng Việt. Tôi đã yêu cái vẻ trẻ con
dung dị của Anton nhiều quá. Ngồi đây viết cho Steve tôi
còn hình dung được toàn thể con người của Anton một cách
rõ rệt. Anton mất đi, để lại bao công trình dang dở. Tôi
biết Anton còn có bao nhiêu tài liệu, bao nhiêu bản thảo.
Không biết bạn nào sẽ lo liệu về tất cả những thứ đó.
Hoặc để giữ gìn, hoặc để công bố. Những ngày cuối
tháng Décembre, Anton đã khuyên tôi nên ở lại. Anton nói rằng
thời thế ở Saigon chưa dung được tôi đâu. Tôi đã lưỡng
lự rất nhiều, nhưng cuối cùng tiếng gọi của Phương Bối,
của Nguyên Hưng và của các bạn trẻ bên này đã thắng.
Thật ra tôi không lo lắng gì cho bệnh tình của Anton bởi
vì sau ngày giải phẫu Anton vẫn có thể đàm luận cùng tôi
với một sự nhiệt thành ít thấy. Tôi phải ngăn không cho
Anton nói nhiều. Chính Anton mượn tôi cuốn Việt Nam Cổ Văn
Học Sử của Nguyễn Đổng Chi vào dịp ấy. Hôm nói lời
từ giã bằng điện thoại tôi có hứa “vài năm nữa” tôi
qua lại. Thế nhưng người bạn của chúng ta hôm nay đã thành
người thiên cổ rồi. Tôi biết Steve yêu Anton lắm, và các
bạn của Steve cũng vậy. Hôm Anton vào nhà thương để giải
phẫu đã có tới gần mười cô cậu tình nguyện hiến máu
cho giáo sư của mình, có phải thế không?
Mùa
xuân đã sắp đến bên ấy rồi tại sao Anton lại vội vàng
không đợi nụ hoa đầu hé cánh? Có lẽ mùa Đông đã dài
quá. Trong năm qua, biết bao nhiêu biến cố đã xảy ra cho chúng
ta. Tôi nghĩ đến Steve và có thể tưởng tượng được nét
mặt của cậu sáng hôm qua lúc nhận điện thoại của người
nhà Cerbu báo tin Anton mất. Cuộc giãi phẫu như thế; đã không
được thành công. Chắc chắn tất cả mọi người trong phân
khoa đều hàng hoàng vì tin ấy. Và thế nào Mirriam cũng viết
cho tôi.
Tuy
giáo sư Cerbu mất, tôi vẫn tin rằng Steve sẽ iếp tục đi
theo con đường đã vạch. Steve hãy tiếp tục học Phạn Ngữ
và Hán Ngữ đi. Có ngày chúng ta sẽ làm việc chung. Như Steve
đã ước muốn. Tôi không muốn cậu nản chí vì thiếu người
nương tựa. Dù sao thì tôi cũng vẫn còn đây, và tôi hứa
sẽ viết đều cho Steve.
Tôi
muốn hỏi Steve một việc: lâu nay cậu ăn ở đâu, ai nấu
cho mà ăn? Bên này thỉnh thoảng chúng tôi vẫn tự nấu bếp
lấy đấy. Thỉnh thoảng mà thôi; bởi vì chúng tôi bận rộn
quá đi mất. Nguyên Hưng và tôi bây giờ ở chung và ăn chung
với nhau; Nguyên Hưng nấu bếp cũng tài và có Nguyên Hưng
bỗng nhiên tôi sinh ra ỷ lại và làm biếng nữa Steve ạ.
Điều đó tôi biết mà tôi cứ để mặc kệ cho nó xảy ra.
Chừng nào Nguyên Hưng nhăn mặt, chừng ấy hãy hay có phải
không? Nguyên Hưng bây giờ thành người lớn thực sự rồi,
nhưng mà vẫn còn bông đùa như hồi còn bé. Thực ra nếu
không có tiếng cười nói và bông đùa đó trong những giờ
nghỉ ngơi và giải trí có lẽ chúng tôi sẽ thấy thiếu thốn
lắm. Steve không biết điều kiện làm việc ở đây khó khăn
đến mực nào đâu.
Một
vài con chim Phương Bối ngày xưa đã quy tụ về đây và làm
việc với nhau, sinh hoạt với nhau. Chúng tôi hiện có Hưng,
có Phú, có Mẫn. Và tôi nữa là bốn. Lý cũng ở gần chúng
tôi, nhưng mà Lý bận rộn lắm. Lo một tờ nhật báo thì
còn thì giờ đâu để mà làm những việc khác nữa. Cái ông
chủ báo này vẫn mặc đồ bà ba (nó giống như bộ đồ tôi
mặc trong nhà ấy) màu đen hay màu nâu như thời ở Phương
Bối. Thỉnh thoảng Lý tạt vào thăm chúng tôi để hút chưa
cháy xong nửa điếu thuốc thì đã vội vã từ biệt. Tờ
báo của Lý đã bị đóng cửa một tuần lễ rồi đấy, mà
Lý vẫn còn cứng đầu cứng cổ như thường. Trong cái không
khí chính trị này, chắc tờ báo chẳng sống được lâu đâu.
Tuy nhiên hình như tờ báo có độc giả. Thỉnh thoảng Lý
hỏi tôi có “nghèo” lắm không. Tôi nói: nghèo lắm thì
cũng chưa phải là nghèo. Nghèo mấy thì cũng còn có ánh trăng
bên cửa sổ, khi điện thành phố bị cúp. Đó là lời nói
theo cửa thơ “bài cú” của thi sĩ Ba Tiêu. Lý cười ha hả
và móc túi đưa cho tôi năm bảy trăm đồng, nói rằng trả
tiền cái truyện ngắn đăng trên báo của Lý. Tôi không nhớ
là Lý đã đăng truyện gì của tôi, nhưng mà tôi cứ nhận
tiền của Lý như thường.
Để
tôi nói cho Steve nghe về chỗ ở của chúng tôi. Chúng tôi
hiện ở tạm nơi Đại học Vạn Hạnh. Cái đại học có
cái đặc biệt là trong một vùng nghèo bùn lầy nước đọng
của thành phố Saigon hai triệu rưỡi dân, cái thành phố,
mà đã có người gọi là “hòn ngọc Viễn đông” ấy. Đại
học Vạn Hạnh đang còn mới lắm, chưa có cơ sở gì nên
phải mượn tạm một số những ngôi chùa trong đô thành.
Phòng của tôi nằm trên từng gác của cư xá chùa Pháp Hội,
trung tâm của Vạn Hạnh. Thật là một cái trường đại học
kỳ lạ bởi vì nó không có vẻ oai vệ của một trường
đại học tí nào cả. Trời mưa anh phải lội qua mấy vũng
nước mới tới được đại học. Và hai bên đường anh đi
bà con trong xóm nghèo họp chợ, bán đủ các thứ, từ cá
khô, cá tươi, cho đến khoai lang, rau muống. Cái chỗ ông viện
trưởng ở và làm việc chỉ vỏn vẹn có ba căn phòng nhỏ
xíu. Chẳng bì được với “tòa Viện trưởng” ở đại
học Huế. Tuy vậy mà tiện đáo để đấy Steve ạ. Buổi
sáng chúng tôi chỉ việc bước ra đường là có thể mua thức
ăn điểm tâm được rồi, khỏi phải làm bếp lôi thôi. Hoặc
và vài ba đồng bạc xôi đỗ, gói trong lá chuối đem về
sớt lại trong một chiếc đĩa lớn. Thêm hai đôi đũa nữa.
Thế là xong. Hoặc là mấy đồng bạc khoai lang hay khoai từ
mới luộc xong, đang còn nóng hỏi. Còn trà thì người lao
công của Viện sáng nào cũng cho chúng tôi một bình trà khá
lớn. Người lao công giữ các chìa khóa của trường đại
học cho nên hôm nào sáng anh cũng đến thật sớm và tối
nào anh cũng về sau tất cả mọi người.
Ở
dây chúng tôi dậy thật sớm, chứ không phải như ở Nữu
Ước đâu nhé. Bên đó thiên hạ đi ngủ thật khuya và chỉ
thức dậy khi chỉ bắt buộc. Còn ở đây, vì chúng tôi ở
sát bên chùa nên chúng tôi thức dậy với tiếng đại hồng
chung buổi sáng và tiếng tụng kinh của các thầy bên chùa.
Khi trời tờ mờ sáng là tôi mở cửa sổ phòng tôi. Cửa
sổ trong ra phía ngoài đường. Ánh điện đường nơi ngõ
hẻm chùa Pháp Hội vàng vọt và yếu đuối. Chợ chưa đông,
nhưng đã có mấy hàng dọn ra rồi. Đặc biệt, dưới cột
đèn và sát thành chùa, là hàng của bà bán hủ tiếu. Hủ
tiếu, tức là một thức ăn giống như phở mà tôi đã nói
cho Steve nghe một lần. Hủ tiếu giống như phở, nhưng khác
phở ở chỗ nó có thêm giá tươi. Hủ tiếu có đặc tính
miền Nam hơn phở và có lẽ chịu ảnh hưởng Trung Hoa hơn
phở. Gánh hủ tiếu tôi đang nói chuyện với Steve đây chắc
hẳn đã được chuẩn bị từ tối hôm qua. Khuya vào khoảng
ba giờ sáng, bà Tư (tôi tạm gọi bà bán hủ tiếu này là
bà Tư, bởi vì tôi không biết tên bà) đã phải thức dậy
để nấu hoặc để hâm nồi nước dùng trước khi gánh hàng
tới đây. Nước dùng phải thật nóng vì vậy bà phải đặt
nó trong một cái lò than để gánh đi để giữ sức nóng.
Bà chỉ mở nắp nồi mỗi khi múc nước dùng đổ vào bát
mà thôi.
Ngồi
phía trên nhìn xuống, tôi ngắm cách bà Tư làm hủ tiếu cho
khách và kỳ lạ lắm Steve, sáng nào tôi cũng ngồi ngắm bà
như vậy chừng năm bảy phút và lòng tôi thấy êm ả. Khách
của bà khi thì anh bảy phía bên kia đường, ưa ăn hủ tiếu
trước khi đi làm hơn là ăn bánh mì nhúng cà phê sữa; có
khi thì là chị bán bắp không muốn ăn điểm tâm bằng một
vài trái bắp; có khi là mấy em nhỏ ở trong xóm được mẹ
hay chị đưa đến ăn trước khi đi học; có khi thì là bà
nội trợ đi chợ trước khi mua thức ăn bỏ vào làn mây đem
về, ghé lại ăn một bát hủ tiếu cho ấm bụng đã. Ở chợ
hẽm Pháp Hội, có nhiều hàng quà chen lẫn trong các hàng bán
thức ăn còn sống. Các bạn hàng bán quà thường mua lẫn
quà của nhau mà ăn. Không ai ăn quà của chính mình bán, bởi
vì không ai thấy quà hàng mình bán là ngon cả, Steve có nghe
ra không?
Khách
tới ngồi trên một chiếc đòn thấp trước cái mâm gỗ rộng
chừng mười thước tây mà bà Tư dựng lại bên bờ tường
mỗi khi bà bán xong gánh hàng. Cái mâm gỗ quá cũ và xấu
xí quá nên có lẽ không ai thèm lấy cắp. Hoặc giả bà Tư
đã gửi gắm cái mâm kia cho chú Liu chủ tiệm thuốc bắc
gần đó, nhờ chú can thiệp khi có kẻ muốn chiếm đoạt
nó cũng nên. Chỉ biết rằng là cái mâm để dựng bờ tường
kia trải qua mưa nắng bốn mùa mà vẫn còn đó. Khách ngồi
xuống trước cái mâm và đưa tiền cho bà Tư. Tùy theo số
tiền mà bát hủ tiếu sẽ to hay nhỏ. Bà Tư bán giá rất
bình dân. Một đồng bạc Việt Nam là đã có thể mua một
chén hủ tiếu rồi, thứ chén con các gia đình thường dùng
để ăn cơm. Có thể mua ba, hoặc năm đồng. Có thể ăn hai
ba bát một lúc nếu thấy ngon miệng. Bà Tư đặt rau sống,
giá và bánh phở vào bát bằng tay rồi dùng “vá” múc nước
dùng đổ vào. Tay trái bà mở nắp nồi. Hơi nóng bốc lên.
Tay phải bà cầm cái “vá” của bà khá lớn. Vá thứ nhất
chỉ thuần có nước dùng mà không có tí thịt nào. Khi múc
vá thứ hai bà lựa tay khéo thế nào mà để trong vá hai miếng
thịt nhỏ, một miếng chìm một miếng nổi. Dù cái chén hủ
tiếu là chén một đồng bà cũng cho được một miếng thịt
nhỏ xíu vào chén. Có khi hai ba miếng thịt trôi vào vá một
lần; bà liền nghiêng vá và giật tay một tí để những miếng
thịt kia rơi bớt lại trong nồi. Tôi nhớ hồi còn ở tu viện,
có khi nấu canh cho gần một trăm tu sĩ ở trong chùa, tôi cũng
phải tính toán khi múc canh để có thể múc thế nào cho phải.
Tôi phải múc cho được năm mươi bát canh từ trong cái nồi
canh bằng đồng to tướng kia, múc thế nào cho đủ năm mươi
bát mà bát nào cũng có thể “trông được” nghĩa là có
đủ rau, đủ nấm và đủ nước. Thế nhưng kỳ nào tôi cũng
chật vật, bởi vì mỗi lần lại phải nấu một thứ canh
khác nhau. Có khi là canh mít non; tôi nấu thứ canh này giỏi
nhất. Có khi là canh rau lang nấu nấm. Ở Huế nấm mối được
xem là ngon nhất bởi vì nấm mối ở Huế nấu canh rất ngọt.
Có một lần rau lang ít quá nhưng có nấm mối ngon, tôi liền
nấu một nồi canh lộn chỉ có ít nấm ít rau và hai trái
cà chua nhỏ xíu. Bửa đó, canh chỉ lỏng bỏng toàn nước,
cà chua cũng tan thành nước; trong mỗi bát canh chỉ có vài
cọng ra còn nấm thì biến đâu hết. Không phải là tôi ăn
vụng nấm đâu nghe; đó là tại vì nấm cũng ít cho nên năm
bảy bát canh mới có một bát may mắn có được một tai nấm.
Thế nhưng bữa đó mọi người đều khen là canh ngọt. Chắc
là nhờ nấm mối rồi.
Khi
múc nước dùng đổ vào bát xong. Bà Tư liền dốc bình nước
mắm vài ba lần trên bát hủ tiếu. Rồi đặt bình nước
mắm xuống, bà lấy hai ngón tay nhón vài cánh rau thơm bày
lên trên mặt hủ tiếu rồi đặt bát hủ tiếu xuống mâm,
trước mắt người khách. Bà rút một đôi đũa đưa vào chiếc
khăn máng từ đầu gióng, lau sơ qua, rồi trao tận tay cho khách
hàng. Những bát đũa khăch ăn xong, bà đem rửa trong một cái
chậu nước mang theo, lau khô và úp vào chiếc rổ kế bên
để dành cho khách hàng sẽ tới. Nắng lên, chiếu vào hẻm
nhỏ. Khi tôi rảnh việc buổi sáng, tới nhìn ra chợ thì bà
Tư đã dọn hàng về rồi. Gánh hủ tiếu ngày nào cũng bán
hết sớm. Chỉ có một lần tôi được thắy bà dọn hàng
về. Đó là vào khoảng tám giờ rưỡi sáng. Bà Tư quét mọi
thứ sạch sẽ, trả cái mâm và mấy cái đòn nhỏ vào bức
thành, rồi gánh không đi về. Nhiều hàng khác còn ở lại
cho đến mười giờ hay mười một giờ mới giải tán.
Tôi
giả định bà Tư có một vài đứa con đi học. Bà phải nuôi
chúng, phải sắm giấy bút cùng là trả tiền trường cho chúng.
Đó là không kể những vấn đề riêng và đặc biệt thuộc
mỗi gia đình. Gánh hủ tiếu buổi sáng không biết có đủ
tiền lời để mà lo từng đó chuyện? Buổi chiều không biết
bà Tư có làm lụng gì thêm không. Chớ tôi biết rằng bà
còn phải lo cho gánh hàng buổi sáng mai ngay từ tối hôm đó.
Cái ngõ hẻm Pháp Hội một ngày kia sẽ thiếu thốn buồn
tẻ nếu không có bà Tư với gánh hủ tiếu của bà. Mà chắc
chắn những chị hàng rau, hàng cá, hàng thịt cũng đều quan
trọng như bà Tư hủ tiếu, không khác. Độ sau này có chị
hàng vải và anh chàng bán nồi niêu soong chảo bằng nhôm tới
bầy ngay hàng trước cửa đại học Vạn Hạnh mà bán. Nhất
là anh hàng nồi. Ảnh bày hàng trên một khoảng đất rộng
có đến tám thước vuông. Hàng của anh phản chiếu ánh mặt
trời sáng choang. Có khi ảnh bày thêm một hàng dài các thứ
dao lớn nhỏ cần dùng cho việc nội trợ. Nhìn mà ngán. Cái
xe hơi nhỏ của Vạn Hạnh có khi mắc kẹt không vào cái cổng
được và bác tài phải mở cửa năn nỉ anh hàng nồi thu
bớt phạm vi bày hàng lại. Nói cho đúùng các bạn hàng rất
tỏ vẻ hiểu biết. Mỗi khi có xe hơi của trường vào, họ
tự động thu vén để cho cái xe có đủ chỗ mà lưu thông.
Trước
đây nửa năm tôi cũng có chút trách nhiệm với Vạn Hạnh.
Ông Tổng Thư ký nói với tôi: “Cái chợ hẽm này làm mất
“uy tín” của đại học Vạn Hạnh quá. Hay là thầy để
tôi thu xếp. Tôi chỉ gọi một cú điện thoại thôi là chúng
ta dẹp được chợ. Bởi vì chợ họp bất hợp pháp. Rồi
ta sẽ xin Công chánh năm bảy xe đất đá để lấp các hố
nước là cho lối đi vào trường có vẻ nghiêm chỉnh thêm
ra”. Ông ta nói với tôi vài lần như vậy, nhưng lần nào
tôi cũng mỉm cười từ chối. Rồi tôi khuyên ông đừng nên
làm cái chuyện thất đức và thất nhân tâm đó. Cái Viện
Đại học của ông làm lợi cho văn hóa dân tộc đâu thì
chưa thấy mà nếu làm như thế thì đã có thể gây thất
nghiệp cho gần một trăm người tiểu thương và chuốc lấy
sự oán ghét của cả xóm lao động. Tôi nghĩ tới bà Tư hủ
tiếu và tôi biết là chẳng bao giờ ông Tổng Thư ký có thể
thuyết phục được tôi về sự cần thiết của cái “thể
diện” của trường. Tôi muốn kể cho Steve nghe cái hôm chúng
tôi vừa tiếp tân các giới trí thức văn hóa Saigon và trong
các ngoại giao đoàn. Trường lúc ấy cũng đang còn thiếu
thốn nhiều quá cho nên ông Tổng Thư ký phải đi vay mượn
nhiều ghế dựa bọc vải tại những tiệm mộc quen biết.
Chúng tôi điều đình với bạn hàng trước đó một hôm.
Là sáng mai xin đừng họp chợ ngay trước cửa Pháp Hội.
Sáng hôm tiếp tân trời mưa và các ông khách quý phải rón
rén từng bước từ ngoài đường đi vào ngang qua hẻm tránh
các vũng bùn. Trong lời chào mừng, tôi có xin lỗi quan khách
về những vũng nước bùn đó. Ai cũng cười hoan hỉ. Ông
Tổng Thư ký, sau đó, thì thầm với tôi: “thì ra thầy muốn
lấp những vũng bùn đó mà không cần những xe ủi đất và
đá của bộ Công chánh:. Tôi nói: “tôi chỉ lấp ‘tạm’
mà thôi, bác phải lấp chúng thật sự chứ lại”. Ông ta
cười.
Cái
đường hẻm Pháp Hội vậy mà vui như Tết đó Steve. Nhất
là vào ban đêm có trăng. Phía trước vài căn nhà hai bên đường
hẻm, có những cây cao chừng bốn năm thước, có bữa đi
vào hẻm tôi thấy mặt trăng thấp thoáng sau lá cây. Đây
đó có một hàng bán quà cho trẻ con dưới ánh đèn đường.
Và một xe nước giải khát. Ở trong nhà thì nóng, thành ra
hầu hết mọi gia đình đều ra ngoài hẻm để sinh hoạt.
Có nhà quét đường sạch rồi trải chiếu ra, cha mẹ con cái
ngồi chơi chuyện trò với nhau. Có nhà thì nhắc ghế bàn
ra kê ngay trước cửa. Có nhà đem cả công ăn việc làm ra
đường. Ở xóm nghèo Pháp Hội có nhiều nhà làm bong bóng
cao su để bán cho trẻ con chơi. Họ mang một nồi lửa than
ra đường, trải chiếu rách và ngồi làm việc. Những chiếc
bóng cao su đủ mầu mới mua sỉ của hãng cần phải làm lại
mới bán được. Họ hơ cao su trên than hồng cho mềm kéo dài
chiếc bong bóng ra rồi thổi vào cho da bong bóng phồng lên,
mỏng đi. Như thế bong bóng mới đem bán cho trẻ con chơi được.
Người lớn ngồi nói chuyện còn trẻ con thì chạy chơi nô
đùa. Thật là vui như ngày hội, cái ngõ hẻm Pháp Hội này.
Phía sau cái không khí hòa bình ấy là sự sống càng lúc càng
khó khăn đắt đỏ, những vấn đề dằn vặt con người và
nhất là ảnh hưởng của tai họa chiến tranh mà ít gia đình
nào tránh khỏi.
Ở
những xóm nghèo như thế này dân cư rất đông đảo. Trẻ
con đầy đường đầy ngõ. Chúng nó phần đông đều xanh
xao. Nhưng không biết tại sao trẻ con độ nầy trông đẹp
ra, kể cả những đứa thuộc về gia đình nghèo nhất. Tuy
không có cái đẹp hồng hào mũm mĩm của trẻ con đủ ăn
đủ mặc nhưng mà chúng vẫn đẹp trong cái xanh xao của chúng.
Có lẽ trẻ con bao giờ cũng đẹp. Hoặc giả vì tôi chỉ
mới để ý đến chúng trong thời gian gần đây cho nên tôi
mới thấy chúng đẹp như thế, Steve nhỉ.
Hết
chương 11