PHẦN
THỨ BA
X
STEVE
ơi, cái nhà của mình ở đường 109 đã được trả lại
cho người ta rồi phải không? Thương quá đi! Chúng ta đã
trải qua biết bao nhiêu vui buồn trong đó. Và đối với tôi,
tôi không bao giờ có thể quên được bất cứ một chi tiết
nào trong nó. Steve không nói nhưng tôi biết là sau khi tôi đi
rồi Steve đã phải bắt buộc trả lại cái nhà đó để đi
mướn một gian phòng khác, bởi vì một mình Steve làm sao trả
được tiền nhà, tiền điện, tiền nước, và bao nhiêu thứ
lặt vặt nữa liên hệ tới một cái nhà.
Nơi
mà tôi đang ngồi viết cho Steve đây là một ngôi nhà lợp
bằng lá dừa nước, một thứ cây mọc đầy ở rạch, các
bưng, các vũng sình lầy ở miền Nam nước Việt. Vách của
nó được trộn bằng đất bùn trộn lẫn rơm khô. Kín lắm,
và cũng đẹp nữa. Chắc chắn là Steve chưa bao giờ thấy
những cái vách trát bùn như vậy. Trước hết người ta lấy
tre chẻ ra, gọt hai đầu, lắp vào các cây cột gỗ quanh nhà
rồi lấy lạt buộc lại thành những tấm lưới tre chắc
chắn. Sau đó đất bùn được lấy dưới sông lên, trộn
với rơm khô. Bữa ấy tôi có yêu cầu các bác nông dân pha
thêm tí xi măng vào cho chắc. Người ta lấy rơm bùn quấn
vào các nẹp của tấm lưới tre cho các mắt lưới được
bịt kín lại và cuối cùng lấy đất bùn trét lên cho phẳng.
Những cái vách khi khô rồi cũng trắng bệch ra, nom rất đẹp.
Ở đây là đồng quê, gió lộng nhiều, nhất là vào buổi
chiều, nên làm vách như thế này thì kín và ấm lắm. Bây
giờ là buổi sớm mai. Tôi ngồi viết trước một chiếc cửa
sổ ngó ra đồng. Nắng vừa lên phía bên trái là đồng lúa
còn con gái. Trước mặt cách tôi chừng năm trăm thước là
một cái rạch sình lầy xanh um lá dừa nước. Bên phải có
xóm làng với những cái chuồng trâu cao ráo, sát ngay rạch
dừa nước. Đất miền này nhiều phèn lắm, và nhằm mùa
nắng vấn đề nước uống là một vấn đề gay go. Tuy gần
sông, nhưng mà vào mùa nắng thì nước mặn. Ở đây chỉ
cách Saigon chừng mười cây số nhưng đã yên tĩnh và dễ
chịu hơn Saigon nhiều lắm rồi. Tôi về đây từ hồi hôm.
Dạy học ra muộn cho nên tới đầu cầu giáp giới của làng
thì đã thấy trăng tròn nằm trên đọt cây dừa trên sông
rồi. Gió trên cầu mát rượi. Tôi đi thong thả vào làng.
Ở Việt Nam, những làng như thế này là tương đối an có
an ninh lắm. Tôi đã vừa được ngủ một đêm thanh tịnh
ở vùng quê. Tuy thỉnh thoảng tiếng súng trong đêm vẫn nghe
rõ mồn một.
Khu
vực nhà tôi đang nói cho Steve nghe đây là một thí điểm
làm “làng” của chúng tôi được khởi sự vài tuần lễ
sau ngày tôi về tới quê nhà. Chúng tôi gọi nó là “làng
tự nguyện đầu tiên”. Đó là mẫu làng mà chúng ta đã
bàn bạc nhiều với nhau trong lúc rỗi rảnh đó, Steve. Bây
giờ nó đã thành sự thực. Ba tiếng “làng tự nguyện”
gợi cho chúng ta hình ảnh một khu làng mà trong đó dân chúng
tự tổ chức lại nếp sống kinh tế, giáo dục và y tế của
họ theo xn tiêu chuẩn phát triển cộng đồng. Họ chấm dứt
thái độ tiêu cực và trông chờ, phải có những người bạn
có óc tổ chức, có kiến thức căn bản về sinh hoạt xã
hội nông thôn sống ngay trong xóm làng, làm chất men cho tinh
thần tự nguyện phát khởi. Ở khu làng thí nghiệm này, chúng
tôi đã được dân làng chấp nhận như anh em bà con của họ,
cái nhà mà tôi đang ở đây là một cái nhà bốn gian, ba gian
là trường học, một gian là trạm y tế. Tất cả đều do
các nông dân trong làng tạo dựng, với sự có mặt của chúng
tôi. Nói cho đúng, chỉ có hai người con trai là Tâm Quang và
Tâm Thái là ở thường trực trong làng, còn tất cả chúng
tôi chỉ về thỉnh thoảng để học hỏi và thực tập. Chúng
tôi cũng vừa mới mở một địa điểm thực tập khác, không
xa lắm. Đây là ấp Thảo Điền.
Chắc
chắn nếu Steve có ở đây thì Steve sẽ thích lắm. Nhưng mà
Steve chưa thể qua đây được đâu. Hãy học cho xong chương
trình mà em đang theo đuổi đã. Tôi cũng đã suy nghĩ về vấn
đề để cho Steve qua đây theo học tại trường đại học
Saigon để tìm hiểu thêm về văn hóa Việt Nam. Nhưng mà sau
tôi nghĩ: Steve phải học xong chương trình ấy trước khi qua.
Vấn đề không giản dị như chúng ta đã bàn với nhau ở
Nữu Ước. Sự có mặt một người Mỹ như Steve trong nhóm
chúng tôi hiện bây giờ chưa có lợi gì cho công việc. Và
nhận thức của quần chúng về vấn đề cố nhiên là chưa
chín chắn gì cả.
Steve,
tôi về tới phi trường Tân Sơn Nhất vào một buổi trưa
nóng bức. Đáng lẽ tôi tới Saigon chậm hơn thế, vì theo
lộ trình đã định sẵn, máy bay của chúng tôi phải ghé
Vọng Các trước. Nhưng sương mù không cho phép máy bay ghé
xuống Vọng Các và do đó tôi tới Saigon sớm hơn một tiếng
đồng hồ. Khi bánh xe máy bay chạm đất, tôi thấy lòng rung
động. Phương Bối chỉ cách đây chưa đầy hai trăm cây số!
Bốn giờ đồng hồ xe hơi thì tôi có thể trở về. Trở
về với miền rừng núi quen thuộc với chiếc nôi mây êm
đềm đã từng che chở cho chúng tôi trong một thời gian bão
táp, đã từng un đúc và nuôi dưỡng chúng tôi trong bao năm
tháng rộng dài.
Sau
một thời gian gần ba năm trời sống trong một khung cảnh
khác hẳn với xã hội Việt Nam, tôi đa trở về và đã được
thức tỉnh lại một cách đầy đủ bằng những hình bóng
thật quen thuộc, thật giản dị. Dọc theo con đường dài
từ phi trường Tân Sơn Nhất về nhà, tôi chứng kiến lại
một cách hiện thực tình trạng chậm tiến của xứ sở này.
Những dãy nhà còn lụp xụp ngỗn ngang, đầy nhóc những người,
những bác xa phu cong lưng đạp xích lô, mồ hôi nhễ nhại.
Tôi còn nhớ rõ cái lưng áo rách toang của một bác xa phu.
Bác này uể oải đạp một chiếc xích lô cũ kỹ không có
khách. Chắc chắn là bác đã ngồi trên yên quá lâu nên hai
mông của bác đã đau và mỏi. Bác đang ngồi trên một cái
mông để cho mông bên kia được thong thả, và do đó bác chỉ
đạp xe bằng một cái chân trái. Thỉnh thoảng bác mới thay
sang bên kia và đạp xe bằng chân này cho đến khi nào có khách
gọi bác mới phanh lại và ngồi ngay ngắn để đưa khách.
Tôi thấy bọn trẻ con ở trần và chạy chơi chân đất trên
hè phố. Tôi trông thấy những đống rác, những xe nước
mía, những chiếc xe gắn máy vừa chạy vừa rú lên như những
con vật dữ bị thương. Thành phố Saigon đây rồi, thành phố
Saigon lấm tấm mang thêm một cách vụng về những nhà lầu
những căn phố có đường nét và mầu sắc Mỹ. Dân nông
thôn đã đổ xô lên Saigon quá nhiều. Chắc chắn là vùng
quê ít chỗ có được an ninh. Những hình ảnh đó khiến tôi
nao nao. Việt Nam đang ở trong một giai đoạn lịch sử quyết
liệt. Không biết chúng tôi có thể làm được cái gì để
đóng góp vào trong cái hướng đi mới của một dân tộc vừa
thoát khỏi một chế độ độc tài hay không.
Steve,
ngay tối hôm đó, tôi phải nghe nhiều chuyện buồn rồi. Ngồi
ở chùa Trúc Lâm với mấy mươi người bạn trẻ tuổi, tôi
đã lắng tai nghe những câu chuyện không lấy gì làm vui lắm
ấy. Những người quân nhân đã không biết cách nắm lấy
cơ hội và khí thế dâng lên của quần chúng để tạo một
sức mạnh đi tới. Những người tăng sĩ Phật giáo, choáng
ngợp bởi thái độ khâm phục và mến chuộng của quần chúng
đối với đạo Phật đã trở nên tự thị tự mãn đáng
ghét. Thật là một hiểm họa cho đạo Phật. Một cuộc pháp
nạn thứ hai đang khởi đầu mà ít ai biết đến. Người
trí thức, người thanh niên sau khi khám phá ra tiềm lực đạo
Phật trong quần chúng, đã tìm tới với những vị tăng sĩ,
và đã thất vọng… Một số đông đảo những người có
tham vọng, những người theo cơ hội chủ nghĩa, đã đến
tràn ngập tự viện và bao quanh những nhà lãnh đạo Phật
giáo. Sự có mặt của họ xung quanh các thầy đã khiến người
trí thức và những người có lòng đặt những câu hỏi. Rồi
thì Phật giáo, chính Phật giáo trong cơ hội ngàn năm một
thuở của nó, cũng không biết tìm cách để tự phát triển
và đống góp phần mình vào cho sự tạo nên một nẻo thoát
cho tình trạng đã từng bế tắc trong gần hai mươi năm qua.
Tôi
đã ngồi nghe họ rất lâu, Steve. Rồi tôi an ủi họ. Chúng
ta đừng thất vọng. Chúng ta sẽ đóng góp phần của chúng
ta. Sức chúng ta bé nhỏ, nhưng lòng của chúng ta không bé
nhỏ. Hãy tự biến mình thành một chút men để dậy lần
lần khối bột to lớn. Chúng tôi đã thức trọn đêm đó,
chia xẻ vưói nhau những lo âu, những hy vọng. Những ngày
ở lại Paris tôi đã phải đầu tắt mặt tối với các bạn
bên ấy. Tiếp đó là một chuyến đi mệt nhọc và một đêm
thức trọn. Tôi mệt mỏi quá và đã ngủ suốt một buổi
sáng kế tiếp. Đến mười một giờ trưa, tôi mới dậy để
ăn “điểm tâm” do Toàn sửa soạn.
Steve
ơi, chiều ngày hôm ấy tôi đi thăm những gốc cây, những
bụi tre của chùa Trúc lâm và nghe Toàn kể chuyện Sen Hái
Đầu Mùa và những hoạt động của các bạn trẻ trong thời
tôi vắng mặt. Buổi tối ấy lại có một cuộc họp mặt
thứ hai, và trong cuộc họp mặt này chúng tôi đã tìm ra được
một vài nguyên tắc để làm việc. Sáng hôm sau, tôi một
mình tìm về Phương Bối, mang theo một cái xắc nhỏ. Tôi
tìm một chiếc xe Minh Trung ở bến xe đường Pétrus Ký và
thoải mái thoát khỏi Saigon. Những cánh rừng, những vườn
cao su, và những cánh rừng khác nữa. Rồi Định Quán. Rồi
núi, rồi đèo, và cuối cùng rừng B’su Danglu hiện rõ trước
mặt Đại Lão Sơn, Đại Lão Sơn quen thuộc đã tới gần.
Tôi bảo xe ngừng ở cây số 190 và ung dung xách túi leo lên
ngọn đồi bên trái. Qua đồn điền Đại Hà, tôi ghé vào.
Không có ai ở nhà cả. Đồn điền có vẻ hoang vắng. Chắc
gia đình bác Đại Hà đã để lại một vài người làm công
để coi sóc nhà cửa và vườn tược. Những người này có
lẽ là đang ở ngoài vườn. Tôi đưa tay lên miệng hú vài
tiếng nhưng không có ai trả lời cả. Tôi xách túi tiếp tục
leo qua chiếc đồi thứ hai. Lau lách choán cả đường đi.
Con đường quen thuộc ngày xưa nay có vẻ hoang vắng lạ thường.
Rừng có vẻ huyền bí hơn và nguy hiểm hơn. Vượt khỏi khu
rừng xanh tôi bắt đầu trèo đến cái dốc cao nhất. Cầu
Mai đã xuất hiện nơi giữa rừng. Vài thân cây bắt ngang
qua cầu đã gãy đổ, tôi phải bước cẩn thận. Lạ quá,
tôi nhận ngay ra con đường từ cầu Mai lên Thiền Duyệt Thất.
Con đường vẫn đẹp, vẫn quyến rũ, vẫn đầy đủ phong
độ như cách đây ba bốn năm trời. Có dấu tích của sự
phát dọn. Ai đã lên đây trong những ngày như thế này nhỉ.
Tôi vừa đi vừa suy nghĩ. Nhưng kìa, tôi đã đi đến chỗ
rẽ vào lối Thiền Duyệt Thất. Tôi nhìn lên Thiền Duyệt
Thất. Và tôi sửng sốt. Một người đang đứng ở cạnh
Thiền Duyệt Thất, tay cầm một cái xà gạc, nhìn xuống phía
tôi. Steve biết đó là ai không? Trời ơi, chính là Nguyên Hưng,
Nguyên Hưng bằng xương thịt! Vừa lúc đó thì Nguyên Hưng
cũng kịp nhận ra tôi. Chúng tôi gọi tên nhau. Tôi chạy lên,
và Nguyên Hưng cũng bỏ xà gạc, chạy xuống. Chúng tôi gặp
nhau ở giữa sườn đồi, trên con đường dốc lên thất Thiền
Duyệt.
Tôi
hỏi Nguyên Hưng: sao Nguyên Hưng lại ở đây? thì ra cái lúc
tôi mới về Saigon, Nguyên Hưng đang ở Đalat. Nghe tin tôi về,
Nguyên Hưng không xuống Saigon mà lại tìm tới Phương Bối
vì biết rằng thế nào tôi cũng phải tìm lên Phương Bối.
Mà quả thật Nguyên Hưng đã nghĩ đúng. Dù ai nói Đông nói
Tây, tôi vẫn bất chấp những sự nguy hiểm, và đã tìm về
Phương Bối. Chúng tôi đã thực hiện một cuộc gặp lý thú
- tuy là hẹn gặp nhưng kỳ thực thật đã là một sự bất
ngờ đối với tôi. Nguyên Hưng đã nói gì với tôi, Steve
có biết không? Nguyên Hưng bảo rằng từ hôm qua khi về tới
Phương Bối, Nguyên Hưng dã tự tay phát dọn con đường từ
cầu Mai lên Phương Bối, cả xung quanh ngôi nhà Phương Bối
và Thiền Duyệt Thất nữa. Nguyên Hưng bảo nếu không làm
như thế thì Phương Bối sẽ điêu tàn quá và sẽ gây xúc
động cho lúc tôi trở về. Hảo ý của Nguyên Hưng, tôi trông
thấy rõ. Chính trong giờ phút tôi tới Phương Bối, Nguyên
Hưng còn đang phát dọn xung quanh Thiền Duyệt Thất.
Nhà
Thượng đã bị cháy rụi trong một tai nạn gây nên do việc
đốt rừng không cẩn thận của người Thượng. Leo lên đỉnh
đồi Thượng, tôi nhìn đống than và những cái xác cột nám
đen nằm ngổn ngang trước mặt với một niềm cảm thương,
than kia là di tích của chiếc nhà Thượng xinh đẹp ngày xưa,
nơi chúng ta trải qua bao giây phút êm đềm, ấm áp. Hòa Bình,
chúng ta sẽ làm lại nhà Thượng, tôi nói với Nguyên Hưng
như thế, sau một hồi trầm ngâm, bằng một giọng quả quyết.
Nguyên Hưng có lẽ cũng được an ủi bằng câu nói đó, cho
nên gật đầu vui vẻ. Chúng tôi xuống đồi, đi thăm mọi
nơi. Thật ra Phương Bối rất có lòng. Ngày tôi về, khóm
hồng phía trước còn nở cho ba chiếc hoa đỏ chói. Cây mimosa
góc nhà đã lớn và rất xanh tốt. Mấy gốc thông tôi trồng
ngày xưa cũng rất xanh và đã lên cao.
Chúng
tôi đi dần về phía rừng Tham Thiền. Tấm bảng có những
chữ “Đại Lão Sơn Phương Bối Am” ở phía trước vẫn
còn nguyên vẹn. Nét chữ vẫn rõ ràng, xương kính. Nước
sơn tốt quá, đã năm sáu năm rồi chưa tróc. Tôi cúi nhặt
một trái thông, và thấy phảng phất hương của hoa chiều.
Chúng tôi tìm được bụi hoa, bứt một ôm những cành hoa
có bông trắng xóa và đem lên cúng Phật. Bàn Phật của chúng
tôi tang thương quá: lâu ngày không có ai dọn dẹp, bụi đất
và lá khô phủ đầy.
Chúng
tôi bẻ một ít cành cây quét dọn cho sạch sẽ và dâng bó
hoa tươi dưới chân Phật mà nét thủy mạc đã phai mờ. Phương
Bối am đã để trống lâu ngay, và tất cả các cửa đều
mở để cho những kẻ tò mò ghé qua đây khỏi phải mất
công phá cửa, bẻ khóa. Chúng tôi ngồi yên lặng giờ lâu
trên gác tham thiền trong tư thế cầu nguyện. Rồi chúng tôi
trở ra, khép nhẹ cánh cửa. Thời toàn thịnh của Phương
Bối đã qua rồi. Còn đâu với những đêm giao thừa với
những đống lữa vĩ đại trên đỉnh đồi Thượng. Còn đâu
những buổi bình văn sang sảng ở nhà Thượng, những cuộc
đàm thoại đầy hứng thú về những vấn đề tâm linh xã
hội. Chúng tôi trở nên yên lặng hơn sau giờ phút tĩnh tâm
cúng Phật.
Trên
hồ nước, trên vách tường, tôi đọc những câu biểu ngữ
viết bằng than đen. Những câu biểu ngữ chống đối nhau
của hai bên. Nguyên Hưng cho biết rằng một hôm nọ họ bắn
nhau dữ dội tại cầu Mai. Những xác chết gần cầu Mai. Rồi
những cuộc hành quân kế tiếp. Chính sau biến cố đó, bác
Đại Hà đã di cư về tỉnh lỵ. Chỉ còn lại, trong ấp chiến
lược bên kia trũng một số gia đình nghèo phải bám lấy
mảnh đất đã khai thác.
Nhà
Phương Bối xơ xác và hoang lạnh. Các tủ sách của chúng
tôi đã được chở về Đại Hà từ lâu, những bàn ghế
và vật dụng khác đều cũng được chuyển về Đại Hà.
Có nhiều nhóm đã vào đốt củi thức đêm trong các phòng.
Thôi nhé, Steve, thôi đừng ấp ủ cái mộng về Phương Bối
sống với chúng tôi nữa nhé. Đúng là thời thịnh vượng
của Phương Bối đã qua rồi. Phương Bối giờ đây thương
tích đầy mình, bây giờ đầy tủi thân và cô độc. Những
buổi sáng sương mù, những buổi chiều trong vắt, Phương
Bối một mình hoang vắng như một cái tổ chim xác xơ, những
con chim đã bay đi cả rồi. Những con chim tuy có ước mong
trở lại nhưng mưa gió không cho chúng trở lại.
Chúng
tôi ngồi nói chuyện với nhau trên hồ nước cho đến chiều.
Phương Bối thật êm ả, dù trong lòng chúng tôi hơi lo. Nguyên
Hưng rủ tôi trở lại Đại Hà trước khi chiều xuống. Chúng
tôi chia nhau mấy cái bánh bột nếp mà tôi mang theo trong túi
xách vừa đi xuống đồi vừa ăn. Chúng tôi tìm về Bảo Lộc
bằng xe “lam” và ngủ đêm ở đó để sáng sớm trở về
Saigon.
Steve
ơi, mấy tháng sau đó vì nhớ Phương Bối quá cho nên chúng
tôi lại tìm lên núi Đại Lão. Lần này chúng tôi lên đông
có tới mười người. Chúng tôi đều bị một toán linh vây
bắt. Sau mấy giờ đồng hồ, chúng tôi được thả, và từ
đó, chúng tôi không lên thăm Phương Bối được nữa. Ngồi
đây viết cho Steve tôi biết rằng Phương Bối đang âm thầm
và cô quạnh chịu đựng. Những như biết bao nhiêu làng mạc
bao nhiêu núi sông đang âm thầm và cô quạnh chịu đựng.
Cuộc chiến càng ngày càng trở nên ác liệt và không ai không
mông ước cho nó chấm dứt càng sớm càng hay. Chiến tranh
gây thương tích khăp nơi trên đất nước và cũng gây thương
tích trong mỗi chúng tôi. Hình ảnh Phương Bối trong lòng chúng
tôi cũng là hình ảnh của một vết thương. Đúng làmột
vết thương.
Tôi
sẽ ở lại đây cho đến hết ngày, Steve. Hôm nay chủ nhật,
trường học đóng cửa. Ngôi trường của chúng tôi tên là
Chim Sơn Ca. Và trạm y tế gọi là trạm Tình Thương. Lát nữa
tôi sẽ vào trong xóm để tìm hiểu thêm về đất cát ở
đây. Buổi chiều thế nào cũng có một số bạn trẻ về
làm việc mà nghiên cứu. Chúng tôi để khá nhiều công phu
vào việc nghiên cứu và thực hiện cải tiến sinh hoạt của
những khu làng thí nghiệm này. Chúng tôi phải tìm ra cho được
những phương thức hữu hiệu để thực hiện công cuộc cải
tiến sinh hoạt nông thôn. Tương lai đất nước chúng tôi
tùy thuộc vào rất nhiều ở những nỗ lực hiện tại để
cải tiến xã hội nông thôn. Chủ quyền độc lập của xứ
sở chúng tôi như Steve đã biết chỉ có thể đảm bảo khi
nào chúng tôi có thể đứng vững trên hai chân của chúng
tôi. Như vậy có nghĩa là chúng tôi phải tiến tới một nền
kinh tế độc lập vững chãi. Nếu Steve ở đây, Steve sẽ
nhận thấy rằng xứ sở của chúng tôi không nghèo. Xứ sở
chúng tôi có nhiều tài nguyên chưa khai thác được. Đi thăm
miền đồng bằng rồi lên thăm miền cao nguyên. Steve sẽ thấy
điều đó là đúng. Chúng tôi phải cải tiến nông nghiệp,
nhất định phải đặt nhiều rất nhiều cố gắng ở công
cuộc cải tiến nông nghiệp vì nền kỹ nghệ mới phát triển
của chúng tôi đang cần đến sự phát triển nông nghiệp.
Nông dân cần cung cấp nguyên liệu cho các ngành kỹ nghệ
và cũng cần tiêu thụ những sản phẩm của các ngành kỹ
nghệ ấy một cách rộng rãi. Có như thế các ngành kỹ nghệ
mới được nuôi dưỡng và phát triển trong những bước đầu
còn non yếu của mình và quốc gia mới khỏi phải tốn một
số ngoại tệ nhập cảng những hóa phẩm để thêm vốn đầu
tư vào các ngành kỹ nghệ đang cần được phát triển. Như
thế, nông nghiệp cần được hướng dẫn để tự cải tiến
về phương diện kỹ thuật lẫn thị trường. Mà sự cải
tiến nông nghiệp lại có liên hệ mật thiết đến những
vấn đề y tế, giáo dục và tổ chức. Cho nên một cuộc
cải tiến toàn diện cần được thực hiện trên ý thức
cộng tác của toàn dân. Steve cũng biết rằng trong hàng chục
năm qua, người dân đã nghe quá nhiều những hứahẹn cải
tiến xã hội nhưng nếp sống cơ cực vẫn hoàn cơ cực. Thêm
vào đó, chiến tranh làm cho ruộng vườn hư nát, làm cho cơ
nghiệp sụp đổ, làm cho an ninh bị đe dọa. Viện trợ của
Hoa Kỳ đủ sức giữ cho nền kinh tế ấy không sụp đổ,
nhưng viện trợ ấy càng làm cho Việt Nam phải bám víu vào
Hoa Kỳ hơn lên. Chiến tranh đã phá hủy nhiều thứ và không
để cho Việt Nam gượng lại để đứng vững trên hai chân
kinh tế của mình.
Steve
hẳn còn nhớ những lúc chúng ta bàn luận về vấn đề cảm
thông giữa người Á Đông và Tây Phương. Chính tôi lắm khi
cũng cảm thấy khó khăn khi dùng những phương tiện diễn
đạt tư tưởng và tình cảm với Steve. Người Pháp đã ở
với người Việt vần một trăm năm. Đã có trường Ecole
Francaise d’Extrême-Orient đã hiểu tông chỉ, tính tình người
Việt thế mà vẫn không hiểu người Việt mấy tí; thế thì
người Hoa Kỳ trong một thời gian ngắn làm sao hơn được.
Cứ tin vào thông kê, cứ tin vào dự án, cứ tin vào phương
pháp toán học quá. Những thứ đó áp dụng ở cái xứ này
không thành công, hoặc chưa thành công đâu, Steve ơi. Tôi về
làng, làm việc ở làng lâu rồi tôi biết. Phương pháp làm
việc ở đây chắc chắn phải là những phương pháp khác
hẳn với những điều người ta học được ở một đại
học đường ở Tây Phương. Cho nên giấy tờ, thống kê, dự
án đã có thể, trong rất nhiều trường hợp, là những mảnh
giấy giúp người ta hợp thức hóa cách tiêu tiền bất hợp
pháp. Các ông bộ trưởng, các ông giám đốc cho đến những
nhân viên thừa hành của một cái chính quyền chỉ lo kiếm
tiền, đều đã làm như thế, và đã khinh thường đến nỗi
có một vài đỗ vỡ và bại lộ.
Tôi
xấu hổ về một số những người đồng bào tôi khi tôi
kể cho Steve nghe điều đó. Nhưng mà tôi phải kể, bởi vì
tôi phải giải nghĩa cho Steve nghe tại sao phải bắt đầu
trở lại các công việc mà ông Diệm đã hô hào và đã bắt
đầu nhiều năm trước. Người dân quê đã bị đánh lừa
nhiều lần khiến họ không còn tin tưởng ở một lời hứa
hẹn đường mật nào nữa. Họ đã bị lợi dụng. Và họ
đã sợ hãi phần đông những người cán bộ mà họ tiếp
nhận từ trung ương: Những người này thực chỉ vì một
số lương bổng mà trở thành “chiến sĩ - xã hội”. Họ
ăn mặc chững chạc, về nông thôn hoặc các “ấp chiến
lược” và ở lại đó mấy giờ rồi rút lui. Trong khi ở
lại, họ chẳng làm được việc gì đáng kể. Họ chỉ tuyên
truyền qua loa chính quyền, và được đào tạo cấp bách,
non nớt, không hiểu được tâm lý quần chúng, không có tâm
niệm phụng sự, họ nói và làm những điều phật ý nông
dân. Họ hống hách khó chịu. Họ đi nghênh ngang dùng súng
để bắn chim để dọa nạt và cũng để dân chúng sợ giật
nẩy mình. Thế rồi họ rút lui, để lại ấn tượng không
tốt trong lòng thôn dã. Họ rút lui bởi vì họ đâu dám ở
đêm ở những vùng nông thôn. Mấy ông cán bộ phía trong thì
khôn ngoan hơn nhiều. Họ ăn mặc đồ đen giống hệt nông
dân. Họ “tam cùng” với nông dân khi họ về một nhà địa
phương nào đó. Họ có thể ẳm con, quét tước, rửa bát
hay ra đồng gặt lúa với nông dân. Tối đến họ ngủ lại,
và chuyện trò. Những cán bộ nhân vị làm sao ăn đứt được
họ, hả Steve? Đó là một trong nguyên do cho ta thấy rằng
tại sao chính quyền ông Ngô Đình Diệm càng ngày càng bị
thua lực lượng mặt trận giải phóng. Những “cán bộ”
“nhân vị” làm sao ăn đứt được họ, hả Steve.
Chắc
Steve đã nghe nói đến nhiều lần về những ấp chiến lược.
Những ông cố vấn từ Hoa Kỳ sang xem bộ tin tưởng ở chúng
lắm. Nhưng mà những ấp chiến lược chỉ đẹp đẽ và hữu
hiệu trong lý thuyết. Trên thực tế, chúng hư nát hết. Lý
do là người ta đã xây dựng chúng bằng tiền bạc và bằng
bạo lực. Người Mỹ đã tin tưởng quá ở mãnh lực đồng
tiền và chính phủ của ông Diệm, đã tin tưởng quá ở sức
mạnh bạo lực. Thành trì của những ấp chiến lược, không
được xây dựng bằng sự tự nguyện và bằng cộng tác,
đã tan rã như những cánh bèo. Steve nên biết rằng ấp chiến
lược lập ra, trên lý thuyết, là để tập trung dân chúng
lại thành từng vùng có kiểm soát có phòng thủ để ngăn
ngừa sự xâm nhập và tác động của những người bên kia.
Những vùng nào khả nghi thì bị giải tỏa trước. Có những
vùng được giải tỏa một cách đột ngột để dân chúng
không thể đem ra theo bất cứ một thứ tài liệu nào. Một
buổi sáng nào đó, người ta biết gọi tất cả dân chúng,
già trẻ trai gái, ra hết ngoài khu vực “ấp chiến lược”
trong đó họ sẽ có đất cất nhà mới, vật cất nhà mới,
để trồng trọt và luôn cả tiền bạc để sinh sống cho
đến lúc có thể tự túc được. Rồi người ta phóng hỏa
đốt trọn khu ấy. Đốt như thế để mà tiêu hủy tất cả
những thứ nguy hiểm mà ta nghĩ là có thể có rất nhiều
trong khu xóm. Dân đau xót và phẫn uất. Steve phải biết: nhà
nào cũng có những kỹ niệm tuy đơn sơ nhưng rất thân thiết.
Như cái bát hương, cái bài vị, mồ mã của người thân,
hoặc những tờ di chúc hãy kỷ niệm vui buồn khác. Tiền
bạc đâu có thể thay thế cho những thứ ấy? Họ thất thểu
ra đi tới khu đất mới và ở đó, họ được hướng dẫn
bởi những người cán bộ của chính quyền để “làm lại
cuộc đời”. Họ nhận đôi chút tiền bạc và sống nhục
nhã dưới sự hống hách của bạo lực.
Mà
nào họ đã được yên thân trong “ấp chiến lược”. Những
người bên kia, mà bên này gọi là Việt Cộng, đâu có vì
thế mà bị gạt ra ngoài. Họ có mang cái huy hiệu hay cái
đồng phục nào đâu để chúng ta nhận ra họ. Thế là họ
cũng vào ấp, sống lẫn lộn. Và một buổi sáng nào đó,
người ta có thể thấy, trong phòng họp của ấp một trái
mìn, một trái mìn bằng gỗ thôi, một trái mìn giả, có mang
dấu hiệu Việt Cộng. Thế là cái hàng rào kẽm gia xung quanh
ấp trở thành vô nghĩa. Trái mìn kia nói thay cho một lời
dọa nạt: Có chúng tôi đây, các anh liệu hồn. Giả sử trái
mìn thật thì các anh nghĩ sao?
Vậy
là tinh thần phòng thủ của ấp đã lung lay. Một trận giặc
mà không có trận tuyến như thế, làm sao có thể đánh bằng
súng đạn không mà được?
Ấp
chiến lược, như Steve thấy, nhắm tới một mục tiêu quân
sự và chính trị chứ không nhắm tới mục tiêu xã hội.
Chính vì thế mà những tuyên truyền về cách mạng xã hội
đều không được ai nghe theo. Chúng tôi thấy rõ điều đó
và đã quyết định với nhau rằng một phong trào dựng lại
xứ sở cần được đặt trên một căn bản hoàn toàn khác
biệt. chúng tôi muốn mở một mặt trận chống lại nghèo
đói, ngu dốt, bịnh tật và vô tổ chức.
Chúng
tôi hiện có hai làng thí điểm tại miền Nam, hai làng tại
miền Trung - một tại Khánh Hòa, một tại Thừa Thiên. Chúng
tôi, trong thời gian đầu cũng bị người dân nhìn với những
cặp mắt lạnh lùng. Thái độ họ là thái độ khép kín,
nghi ngờ. Dù anh tuyên truyền gì cũng vô ích. Họ lạnh và
cứng như một tảng thép nguội. Đó là hậu quả của những
công trình “cách mệnh xã hội” đi trước. Chúng tôi hết
sức kiên nhẫn, khiêm cung và cẩn trọng. Sau một thời gian,
thái độ đó thay đổi. Đến lúc mà họ nở một nụ cười
vồn vã, mình thấy ấm áp cả tâm hồn. Họ trở thành cởi
mở, sốt sắng. Họ hưởng ứng và tham dự vào các dự án
một cách chân thành. Được họ chấp nhận, mình thấy như
con đường đi tới thành công được rút ngắn lại một phần
trăm. Mà Steve ạ, chính lúc cộng tác với họ để thực hiện
các dự án cải tiến sinh hoạt, ta mới thấy được khả
năng và tiềm lực của xã hội nông thôn trong công cuộc tạo
dựng một đời sống tiến bộ.
Xã
hội chúng tôi đã bị phân hóa quá, bởi vì chiến tranh đã
tàn phá đức tin, tàn phá hy vọng, tàn phá mọi công trình
kiến thiết lâu dài. Ngày nay quần chúng nghi ngờ mọi thiện
chí, mọi hứa hẹn. Chúng tôi nhận thấy ngoài chất liệu
tôn giáo, không còn có chất liệu nào có thể tạo dựng được
đoàn kết tính và xã hội tính. Cho nên phải xử dụng cho
được tiềm lực tôn giáo để thực hiện những sự chuyên
đổi lớn. Đạo Phật có thể đóng góp nhiều vào việc này.
Nhưng mà chưa thể nương tựa vào những người có trách nhiệm
lãnh đạo các giáo hội đâu. Họ có bảo thủ tư kiến nhiều
quá và khó chuyển hóa quá. Dự án tôi đề nghị với Viện
Hóa Đạo về kế hoạch xã hội hóa đạo Phật đã không
được chú ý. Hiện giờ nó vẫn còn nằm trong hồ sơ của
Viện Hóa Đạo. Chúng tôi phải bắt đầu từ chỗ tự lực
để tranh thủ một sự chấp nhận sau nầy của quần chúng
và của giáo hội nữa. Của quần chúng trước, đó là điều
dĩ nhiên. Ở Âu Châu và ở Hiệp Chủng Quốc, hiện tượng
đó không lạ gì. Chúng tôi đã làm xong một dự án về một
tổ chức đào tạo những “Làng tự nguyện”. Những người
này sẽ được huấn luyện kỹ lưỡng, có đủ kiến thức
về xã hội về tôn giáo và nhất là về phương pháp thực
hiện các dự án chống nghèo đói, bệnh tật, ngu dốt và
vô tổ chức. Họ sẽ hành động không vì lương bổng, quyền
hành mà vì tình thương ý thức và trách nhiệm và ý thức
tự nguyện. Họ sẽ là những người thanh niên cũng như Steve,
cũng như Nguyên Hưng vậy, có đức tin, có chí nguyện biết
khinh thường nếp sống trưởng giả và cầu an, biết tìm
hạnh phúc trong phụng sự. Chỉ với chất liệu tâm lý do
chí nguyện đó, họ mới có thể thành công. Mà những người
trai trẻ như thế, Steve, không hiếm ở đất nước này đâu.
Tôi dám chắc với Steve là có hàng vạn hay hàng chục vạn.
Tôi đã gần gũi họ trong những ngày gần đây, và đã thấy
trong mắt họ sáng lên trong niềm tin mới. Chỉ trong mấy tháng
nữa chúng tôi khai giảng trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội,
và ngôi trường này sẽ là một trường chuyên nghiệp thông
thuộc một viện đại học trẻ trung vừa mới thành lập.
Ban giảng huấn của trường gồm toàn những người trẻ tuổi,
tất cả đều nao nức về công việc sắp thực hiện. Chúng
tôi không có tiền bạc, nhưng chúng tôi đã có kế hoạch
và rất nhiều thiện chí, Steve có nghe không?
Hết
chương 10