PHẦN
THỨ NHẤT
IV
Nguyên
Hưng, không phải tôi chỉ nghe tiếng gọi mầu nhiệm kia trong
lúc trăng và rừng nói chuyện hay trong những cơn mưa lớn
đầu mùa. Tôi lại còn nghe tiếng gọi ấy và những buổi
trưa rất là yên lặng nữa. Những buổi trưa ở quê hương
ta, những buổi trưa mà Lưu Trọng Lư nghe thấy cả tiếng
gà não nùng xao xác gáy, những buổi trưa mà Vũ Anh Khanh thấy
cả nắng lổ đổ rụng lên đầu người viễn khách ở xóm
đạo vắng người. Những buổi trưa ấy miền Bắc cũng có,
miền Trung cũng có, mà miền Nam cũng có. Tôi không tin rằng
buổi chiều, dù rằng những buổi chiều nhìn ra cửa biển,
là lúc gợi buồn nhiều nhất. Buổi chiều đối với tôi
dù là ở đâu cũng chỉ là đẹp thôi, chứ không buồn. Chỉ
có một lúc duy nhất trong ngày có thể gọi là buồn: đó
là buổi trưa, vào khoảng một giờ, hay trễ hơn một chút.
Buổi chiều cũng như buổi mai, bao giờ cũng linh động, biến
ảo và tràn đầy sức sống. Buổi chiều đã không mang màu
sắc tàn tạ như người ta thường tưởng, mà trái lại còn
hứa hẹn một sức sống rạt rào vào đêm. Tôi thấy vũ trụ
sống về ban đêm nhiều hơn. Ban đêm, cái gì cũng linh động,
cũng mầu nhiệm, cũng hùng mạnh. Chỉ có loài người mới
ngừng hoạt động trong đêm, chớ vũ trụ, từ trăng sao nước
mây đến trùng dế cây cỏ đều rì rào mầu nhiệm. Nếu
nói đến giờ ngưng đọng, ấy phải là giờ buổi trưa, lúc
quá ngọ một chút. Không có một giọt gió. Trời cao cao quá,
cao đến im lìm, cao cho đến nỗi trở nên vô cùng sâu thẳm.
Cây cối như chết đứng; không nói năng được một lời
nào trong giây phút ấy. Mặt trời như thôi miên trái đất
và điểm huyệt trái đất bằng con mắt lửa hung hãn của
nó khiến trái đất và muôn loài trên trái đất trở thành
bất động không còn cựa quậy được nữa. Tôi dám chắc
rằng đúng vào giờ phút ấy trái đất không thể nào còn
quay được. Phải đợi cho đến khi nào có một đám mây hoặc
một tí gió tới cứu vãn thì trái đất mới thoát khỏi được
tình trạng bị điểm huyệt và mới có thể tiếp tục cuộc
hành trình. Nếu ta thiếp đi vào buổi trưa trong một giấc
ngủ ngắn mà thức dậy đúng vào giờ phút ngưng đọng ấy,
thì lập tức ta nghe tiếng gọi. Tôi nghe tiếng gọi như thế
đã có đến hàng trăm lần rồi Nguyên Hưng, mà lần nào trái
tim tôi cũng hồi hộp như nhau. Mà vì vừa mới thiếp đi cho
đến lúc chợt tỉnh tôi nghe nó không phải với lý trí của
tôi mà với tất cả biển tiềm thức còn đương dâng tràn,
còn chưa kịp rút xuống khỏi lằn mức ý thức. Tôi nghe tiếng
vũ trụ gọi tôi về, và tất cả bản thể tôi rung động
đáp lại tiếng gọi ấy.
Nguyên
Hưng, ơ ûPhương Bối tôi cũng trải qua bốn lần nghe như
vậy. Rừng cây ít khi nào đứng chết lặng như trong những
lúc ấy và trời không bao giờ cao như thế, sâu như thế.
Trong giây phút kia, tôi thấy lòng ngập nhớ nhung và một niềm
thao thức muốn trở về. Trở về theo tiếng gọi mầu nhiệm.
Những lúc ấy tôi có cảm giác như đứng ở một biên giới
có sương mù. Nếu tôi làm tan được sương mù ấy, tôi có
cảm tưởng nó có thể tan biến trong bất cứ một sát na
nào, dễ như không, dễ như nó chưa bao giờ từng hiện hữu,
em ơi.
Nguyên
Hưng, để tôi nhắc lại cho Nguyên Hưng nghe về đem giao thừa
đầu tiên ở Phương Bối. Từ hôm hai mươi sáu Tết, Triều
Quang, Từ Mẫn và Thanh Hiện đã tự động kéo về Phương
Bối, như con trở về nhà cha mẹ vào những ngày giỗ lớn.
Quang ở Dalat về mang theo rất nhiều nhánh bạch mai thật đẹp.
(Trước đó, chị Diệu Âm đã cho Như Hiền đem tặng cho chúng
ta rất nhiều cây bạch mai con để trồng quanh nhà). Chúng
ta bàn với nhau ăn một cái Tết lớn nhất trong đời chúng
ta, và ăn tại Phương Bối. Sau một đêm bàn luận, chúng ta
đồng ý như sau:
1)
Đốt một đống lữa vĩ đại ngay trên đồi Thượng.
2)
Cắm trại ở đồi Thượng.
3)
Nấu một thùng bánh chưng ở trên đồi Thượng.
4)
Cúng giao thừa, đốt pháo ở đồi Thượng.
5)
Hội họp ăn bánh chưng, chúc Tết và bình văn ở đồi Thượng.
Cái
đống lữa vĩ đại ấy, chắc trong chúng ta không ai có thể
quên được. Nguyên Hưng cũng nhớ là để phá rừng trồng
trà chúng ta phải đốn ngã hàng trăm cây rừng thật lớn.
Những cây ấy, sau khi chúng ta đốt rừng, đã bị cháy xém
và khiêng chất thành lại thành đống. Chúng ta đã tốn hết
hơn hai ngày mới chất được đống củi. Vì vậy đống củi
lửa trại to lớn như một cái nhà và đã được chất lên
một cách rất công phu. Trong lòng đống củi vĩ đại, chúng
ta đã đặt rất nhiều cỏ khô, lá khô và các cành củi rất
dễ bén lửa. Đống củi đã cháy suốt đêm giao thừa và
mãi đến sáng ngày mồng hai vẫn còn cho ta than hồng. Nguyên
Hưng nhớ không?
Ban
đầu thì một số trong chúng ta không tán thành ý kiến cắm
trại trên đồi Thượng vì sự sương khuya. Nhưng sau lại,
chúng ta quyết định cứ căng lều trên đồi, bởi vì đống
lửa vĩ đại sẽ làm tan sương và ấm cả khu đồi. Mà thực
vậy, Nguyên Hưng. Không những chúng ta thấy ấm mà nhiều
khi còn thấy nóng bức là khác nữa.
Còn
bánh chưng, Lý là người Bắc và lý tuyên bố có thể gọi
bánh chưng vào hạng đẹp nhất Bắc Hà. Ban đầu ai cũng tưởng
là Lý chỉ “ăn to nói lớn” theo kiểu một nhà văn như
Lý, nhưng sau khi thấy Lý trổ tài, ai cũng phục lắm. Dì Tâm
Huệ mua nếp, đỗ xanh và cung cấp lá rong tươi cho Lý. Hôm
gói bánh tôi cũng làm phụ tá cho Lý trong việc lau lá, xếp
lá, rọc lá. Lý làm một cái khuôn nhỏ và gói những chiếc
bánh chưng nhỏ xíu, vuông vắn, thật đẹp. Bánh chưng được
nấu từ lúc năm giờ rưỡi chiều để kịp chín nữa giờ
trước giờ Giao Thừa. Mẫn và Hiện đã bắc hai bếp gần
dưới chân đồi Thượng, một bếp để luộc bánh chưng,
một bếp khác để nấu nước sôi tiếp cho nồi bánh. Bếp
phải đặt phía dưới, bởi vì gần đỉnh đồi quá thì sẽ
nóng vì đống lửa đỉnh đồi.
Cả
nhà chuẩn bị ăn Tết một cách rộn rịp và chính sự chuẩn
bị rộn rịp để ăn Tết ấy quả đã là Tết một cách
đích thực rồi. Từ lúc ba giờ chiều, Nguyên Hưng và Triều
Quang đã vào rừng đốn về những cây tre lớn và cưa ra từng
ống một, chất đầy bên lều. Khi thùng bánh chưng sôi, tất
cả chúng ta đều tắm rửa, quây quần trong chiếc lều lớn
nhất cắm trên đồi, nghỉ ngơi, nghe chương trình phát thanh
cuối năm của đài Saigon từ chiếc Sony quen thuộc và ăn cơm,
một bữa cơm chiều thật đơn giản. Tha hồ cho chúng ta nói
chuyện bốn phương. Hồi ấy thường trú tại Phương Bối
mới chỉ có Nguyên Hưng, Lý, Tuệ, dì Tâm Huệ và tôi, còn
những người khác là “chim bốn phương bay về đây cả”.
Những con chim ấy bay về Phương Bối và tíu tít kể cho nhau
nghe những mẩu sinh hoạt những câu chuyện những biến cố
đã xảy ra cho chúng từ những phương trời khác nhau. Không
ai là không thấy rõ rằng Phương Bối chính là alma maier của
mình.
Trên
những cây cao còn lại của đồi Thượng và cả trên lan can
của thiền thất nữa, Mẫn và Lý đã treo đèn. Vào lúc mười
giờ rưỡi, Nguyên Hưng ra lệnh đốt lửa. Thế là chỉ trong
nửa giờ sau, đống lửa cháy rực trời trên đồi Thượng.
Tàn lửa lên cao, cao ngất, khiến cho một vài người trong
số chúng ta tỏ ý lo ngại cho sự cháy rừng. Nguyên Hưng nghĩ,
cháy rừng làm sao được khi tàn lửa phải bay lên được
bốn trăm thước mưói tới được cửa rừng? Tuy vậy, đống
lửa vĩ đại soi sáng rực rỡ cả một vùng núi hoang dại.
Bởi vì đồi Thượng là chiếc đồi cao nhất trong vùng. Chúng
ta trông rõ tất cả những vùng núi bao quanh Phương Bối nhờ
ánh lửa rực trời trên đồi Thượng. Có lẽ tất cả thú
vật, dân chúng của núi rừng đang ngạc nhiên, và qua kẻ
lá, đang hướng những cặp mắt nhìn về đồi Thượng. Xa
xa, ta có thể trông thấy ngôi nhà của Đại Hà thấp thoáng
trong đồi núi chập chùng. Mười một giờ rưỡi khuya rồi
và đống lửa đã cháy lên rất cao. Chúng ta trở về thiền
thất cúng giao thừa. Chiếc bánh đầu tiên vớt ra đã được
đem lên cúng Phật. Buổi lễ đơn giản và ấm áp chỉ kéo
dài vào khoảng 20 phút. Giao thừa đến Mẫn, Hưng, Quang, Hiện,
Lý, tất cả đều mang các ống tre liệng dần vào đống lửa
vĩ đại. Đó là pháo lệnh giao thừa của Hưng đấy. Các
ông tre liên tiếp nổ lớn vang động cả núi rừng và có
lẽ làm kinh hoàng cả mọi loài ẩn náu trong rừng. Tôi còn
nhớ là các cậu đã quăng vào đống lửa năm mươi mấy ống
pháo tre như thế, và không có ống tre nào là không nổ lớn.
Bánh
chưng của Lý quả thật là rất ngon - có lẽ cũng ngon nhờ
những điều kiện khác nữa, như là không khí đặc biệt
của Phương Bối, sự hiểu biết của mọi người, vui vẻ
của mọi người và nhất là sự… đói bụng của mọi người.
Nói như thế không có hại gì đến cái “uy tín” gói bánh
của Lý cả. Mỗi người trong chúng ta phải chúc tất cả
mọi người và như thế chúng ta nghe tất cả đến năm mươi
bốn câu chúc tết. Dì Tâm Huệ tỏ vẻ nhiều e thẹn nhất
dù dì lớn tuổi bằng dì của tất cả chúng ta, và dì đã
chúc cho tất cả những câu chúc đơn sơ mà chân thành cảm
động.
Tôi
nhớ suốt ngày mồng một tết các cậu dã chia thành hai ba
toán rủ nhau đi chơi thám hiểm núi rừng. Đến đâu cũng
đốt lửa, chặt tre làm pháo đốt vang cả rừng. Thầy Thanh
Từ chưa có mặt ở Phương Bối trong cái tết thứ nhất ấy.
Nhưng trong cái tết thứ hai, thầy cũng tham dự những trò
nghịch ngợm nhất của mọi người. Ở đây ai cũng dễ dàng
sẵn sàng để mà “đồng sự”. Kiểu chào của thầy Thanh
Từ cũng thay đổi như tất cả mọi người và cả đến những
kiểu sinh hoạt khác như đi núi, trồng cây, cắm trại nữa.
Lần
đầu lên Phương Bối thăm, thầy Thanh Từ đã tỏ sự ưa
thích Phương Bối một cách mặn nồng. Thầy bảo chúng ta
nhường cho thầy một ít vùng núi để làm thiền thất. Tôi
nói: tất cả rừng núi Phương Bối là của thầy. Thế là
sau đó vài ba tháng, nhờ sự giúp đỡ của vài người bạn
thân của thầy, chúng ta đã dựng nên một thiền thất ở
triền Đông Bắc của đồi Thượng. Nhà thiền này được
đặt tên là Thiền Duyệt Thất. Duyệt có nghĩa là sự vui
vẻ hoan lạc về tinh thần. Trong bài cúng dường của Nhị
Thời Khóa tụng, ta thấy có câu thiền duyệt vi thực nghĩa
là thức ăn làm bằng sự hoan lạc của thiền định. Thầy
Thanh Từ nghe đặt tên cho nhà thiền như thế thì chịu lắm
bèn chấp nhận ngay.
Bên
cạnh Thiền Duyệt Thất, chúng ta còn xây thêm một cái hồ
chứa nước nữa và thầy Thanh Từ đã tự tay làm một chiếc
giàn hoa leo thật đẹp phía trước. Hai bên con đường từ
dưới đồi đi lên, thầy đã trồng những cây thông con bứng
về từ Djiring. Thầy lại còn trồng thêm bao nhiêu là thứ
hoa nữa xung quanh thất. Lúc Thiền Duyệt Thất làm xong, thì
chiếc nhà Thượng cũng được khởi công dựng trên chót vót
đỉnh đồi. Hai người có công nhất là Triều Quang và Nguyên
Hưng. Hợp tác với anh Phương ở ngoài xóm và với hai người
Thượng nữa Quang và Hưng đã hoàn thành được chiếc nhà
duyên dáng ấy trong vòng một tháng. Vì đứng chót vót trên
đỉnh đồi nên nhà Thượng phải được tạo dựng vững
chãi. Tôi biết Nguyên Hưng đã tốn rất nhiều công phu vào
ngôi nhà ấy. Tôi đã cùng Nguyên Hưng trang trí bên trong và
bên ngoài nhà Thượng. Sau này chính nhà Thượng trở thành
hình ảnh tượng trưng nhất của Phương Bối. Buổi chiều
chúng ta hay quây quần bên nhà Thượng cho đến tối, và nhiều
đêm chúng ta đem chăn ngủ ngay ở sàn nhà Thượng. Có đêm
rét quá mà trên đồi thì nhiều gió, chúng ta bắt buộc ôm
chăn rời nhà Thượng nửa đêm để về nhà cũ. Tôi không
quên được những đêm chúng ta đứng trên lan can nhà Thượng
ngắm sao ngắm trăng. Những đêm như thế thật là huyền diệu.
Sao và trăng gần chúng ta quá. Nhất là sao Mai. Lớn gần bằng
một mặt trăng. Không biết ở những nơi như Trúc Lâm, Toàn
có thấy sao Mai lớn như thế không. Có những đêm tôi kéo
Lý ra khỏi những đống bản thảo dày cộm của Lý để chỉ
cho Lý thấy trăng sao thấy sao. Tôi thì cũng ham viết lắm,
nhưng vào những đêm nhiều sao như thế này, tôi không thể
nào viết được.
Nguyên
Hưng, tôi nghe Phương Bối đã trở nên bất an quá, cho nên
thầy Thanh Từ cũng đã rời Thiền Duyệt Thất mà về Phú
Lâm rồi. Thật là buồn. Hôm tôi từ giả Phương Bối, tôi
tưởng thầy Thanh Từ có thể ở lại Phương Bối bình yên.
Nhưng mà không. Lâu nay Nguyên Hưng có tiếp xúc với thầy
Thanh Từ bằng thư không? Hôm qua, tôi có viết cho thầy Thanh
Từ một lá thư. Lá thư còn để đây, chưa có dịp gởi nhà
giây thép. Tôi đã viết lá thư ấy trong một tâm trạng bình
yên và yêu thương. Nhưng chỉ những người thuộc về “thánh
địa” Phương Bối như thầy Thanh Từ, như Hưng, như Lý mới
hiểu được tại sao tôi có thể viết như thế mà thôi. Thôi
để tôi chép cho Nguyên Hưng đọc một đoạn trong lá thư
đó. Đoạn này nằm ở giữa lá thư.
“Tôi
đã tìm ra chân lý rồi. Trời ơi có phải là nghe câu ấy
thầy đang ôm bụng cười tôi phải không? Tôi nói thật đó
mà. Khi tôi thấy nó, tôi giật mình. Nó không phải là ai xa
lạ cả. Nó là, thầy ơi, nó là kẻ mà tôi đã gặp từ lâu,
đã biết rõ mặt mũi từ lâu. Nó không có chi mới lạ đối
với tôi cả. Thế mà tại sao lâu nay, có tới ngàn vạn kiếp
rồi, tôi không nhận diện được nó. Lần này thấy nó, tôi
ngạc nhiên đến nỗi không biết làm gì hơn là phá lên cười.
Cũng giống như bây giờ thầy đang ôm bụng cười tôi vậy.
Tôi
hỏi: “Tôi tưởng tên của cậu mày hay như thế thì mặt
mũi cậu phải đẹp lắm kia chứ?”.
Nó
hỏi lại: “Vậy thầy thấy tôi xấu hay sao?”.
Tôi
giật mình nó lại, thì quả thực nó không xấu.
Nó
lại hỏi: “Hởi người đã tìm thấy tôi, người sẽ làm
gì chiều hôm nay?”
Tôi
nghiêm trọng trả lời: “Ta sẽ đi ăn cơm khi ta thấy đói
bụng, và sẽ ngủ khi ta thấy buồn ngủ.”
Thầy
ơi, hôm từ giã phi trường Tân Sơn Nhất, tôi có mang theo
một cái hột gà. Tôi như một con gà ấp trứng, và luôn luôn
có một cái hột gà để ấp, đêm và ngày. Tôi mang theo qua
bên này một cái hột gà đã ấp từ sáu bảy hôm nay, và
những kẻ đưa tôi ra phi trường không có ai hay biết. Họ
chỉ biết tôi mang theo một cái áo lạnh và một cây viết
Pilot. Nhân viên quan thuế không biết, mà tôi cũng không biết
phải khai báo ra làm sao. Tôi nín thinh. Nhưng mà tôi tin ngồi
ở Thiền Duyệt Thất, thầy có thể biết. Tôi nhớ cũng đã
từng nói cho thầy nghe và hứa với thầy là khi nào hột gà
nở ra con gà thì tôi tin cho thầy hay. Thầy có nhớ điều
đó không? Hôm nay tôi có thể tin cho thầy biết là thêm một
năm ấp ủ, và do khí hậu thuận lợi, con gà đã mổ được
vỏ quả trứng và chui ra ánh sáng. Ra khỏi vỏ nó lớn rất
mau chóng, không khác gì cậu bé Phù Đổng năm xưa.
Đêm
mồng bảy tháng năm vừa qua, tôi được chứng kiến một
cuộc đàm thoại giữa Đức Phật và Ma Vương Ba Tuần, Đức
Thế Tôn tiếp Ma Vương Ba Tuần tại núi Linh Thứu với tư
cách một thượng khách của Ngài. Thầy nghe không, một thượng
khách của Ngài. Tôi thích thú lắm. Tôi định sẽ ghi tất
cả nội dung của cuộc đàm thoại đó làm thành một cuốn
kinh:
“Đức
Phật: Xin mời Ngài ngồi.
Ba
Tuần: Xin cám ơn Ngài. Gớm cái ông thị giả của Ngài khó
tính quá. Khi tôi xưng danh hiệu, ông ta nhất định không cho
tôi vào. Ông nói: Nhà ngươi còn đến đây làm gì? Ngươi
không nhớ năm xưa dưới gốc cây Bồ Đề, ngươi đã bị
đức Thế Tôn đánh bại hay sao? Ngài sẽ không tiếp nhà ngươi
đâu. Nhà ngươi là kẻ thù của Đức Phật”. Tôi phải nói
khích một câu ông ấy mới cho vào.
Đức
Phật (cười): Ngài nói khích như thế nào?
Ba
Tuần: Tôi nói: “Phật thì làm gì có kẻ thù. Phật mà còn
phân biệt kẻ oán người thân thì đâu có phải là Phật”.
Chừng ông ta đã được nghe đâu cái câu ấy của Ngài một
vài lần rồi cho nên khi nghe tôi nói khích ông ta động lòng
tự ái, cho tôi vào ngay.
Đức
Phật: Cái kiểu của ngài thì muôn đời như vậy. Và cứ
phải mưu mô mà đi đường cong như vậy thì mới thắng được
thiên hạ. Nhưng mà thực ra có dám làm như thế mới được
gọi là Ma Vương.
Ba
Tuần: Đúng lắm thưa Ngài. Làm Ma Vương bực lắm. Mặc áo
thì luôn luôn phải mặc áo giấy. Vẻ mặt thì khi nào cũng
phải hoặc nham hiểm, hoặc độc ác hoặc u mê. Thở thì phải
thở toàn khói nghi ngờ đen nghịt. Để có hình thức phù
hợp. Để cho danh chánh ngôn thuân là Ma Vương mà. Đi đâu
thiên hạ cũng tránh, cũng ghét, cũng sợ. Làm Ma Vương quả
thực bực lắm.
Đức
Phật: Vậy ngài tưởng làm Phật sung sướng lắm hay sao? Thiên
hạ dán vào lưng tôi nhiều nhãn hiệu mà tôi không hề tự
xưng bao giờ. Thiên hạ đem tôi ra bán buôn. Và cứ tưởng
tượng ngồi trên xe hoa để thiên hạ rước đi từng bước
gật gù qua các phố bán than, bán thực phẩm, bán nước mắm
v.v… thì tôi tưởng Ngài sẽ chẳng bao giờ ước muốn làm
Phật, Thế Tôn của nhân loại.
Nghe
đức Thế Tôn nói xong, Ba Tuần cười ha hả…”
Nguyên
Hưng ơi, tôi chỉ chép Nguyên Hưng đọc từng đó mà thôi
nghe.
Không
phải tôi sợ rằng Nguyên Hưng nhìn tôi bằng cặp mắt thương
hại hay trách móc đâu. Tôi đã nói với Nguyên Hưng rằng
tôi viết lá thư đó trong tâm niệm an lành và thương yêu
rồi mà. Mai sau nếu chúng ta được trở về Phương Bối thì
bản thảo cuốn kinh kia sẽ được để trên bàn giữa của
chiếc nhà Thượng. Và sẽ chỉ có những người có căn cơ
đại thừa của đại thừa mới được đọc cuốn kinh đại
thừa của đại thừa ấy có phải không?…
Hết
chương 4