PHẦN
THỨ NHẤT
III
Thứ
tư tuần tới, tôi sẽ rời Medford để về lại thành phố.
Mùa thu đã sắp đến rồi. Ở bên này, người ta gọi mùa
Thù là Mùa Rơi, bởi vì mùa Thu cũng là mùa lá vàng rơi rụng.
Cũng như người ta gọi mùa Xuân là Mùa Tuôn Dậy. Lộc non,
chồi xanh tuôn dậy như một dòng suối tuôn từ các khe đá.
Chắc là Công Viên Bờ Sông cũng đã bắt đầu đẹp. Princeton
mùa Thu thì nhất định là đẹp lắm rồi. Nguyên Hưng cứ
tưởng tượng một buổi sáng lành lạnh, có nắng, đi trên
những thảm cỏ xanh, rất xanh. Chỉ cần một tí gió thôi
là bao nhiêu lá phong rụng xuống, rơi vào đầu, vào cổ, vào
áo của mình. Mà lá phong rụng không phải chỉ là những lá
mang độc một mầu hỏa hoàng thôi đâu nhé. Có thể nói là
có những chiếc lá thật là đỏ, đỏ thắm như son. Và từ
mầu xanh qua mầu vàng đến mầu đỏ thắm là biết bao nhiêu
mầu sắc! Những trận mưa là như thế thật là ngoạn mục.
Tôi rất ưa những loại cây thay lá. Như cây bàng ở quê hương
ta chẳng hạn. Ở Phương Bối rừng núi mang mầu xanh suốt
năm, kể cả mùa đông rét mướt và mưa gió. Chỉ có một
số ít cây thuộc về loại cây thay lá mà thôi, và các cây
ấy không đủ nhiều để tạo nên một mùa thu, một mùa rơi
rụng, Princeton thật là đẹp, nhưng mà Princeton không có được
những nét độc đáo của Phương Bối. Princeton không có những
buổi sương mù bao trùm núi đồi và gây cho ta cảm tưởng
đang đứng trên mặt biển. Princeton không phản phất hương
của hoa Chiều, không có tiếng chim kêu vượn hú vang rừng,
không có huyền bí hoang dại như Phương Bối. Tôi không thể
nào quên được những đêm trăng rừng Phương Bối. Nguyên
Hưng cũng biết là buổi tối ở trên rừng không giống gì
với buổi tối ở đồng quê hay ở thành thị. Mới từng
tám giờ tối thôi, ta đã có cảm tưởng như là đêm đã
khuya lắm rồi. Màn đêm dày đặc hơn, huyền bí hơn. Xung
quanh Phương Bối quyền uy của rừng núi quả đã khôi phục
được quyền hành của nó. Ta có thể cảm thấy được những
bước chân chậm rãi của chùa sơn lâm và tiếng xào xạc
của khu rừng tranh cao quá đầu người khi chúa sơn lâm đi
ngang. Rừng núi hết sức yên lặng. Nhưng cũng hết sức linh
động. Những đêm có trăng, nhất là trăng khuya, ở Phương
Bối hình như ít ai ngủ được. Có một bữa, ham viết cho
đến một giờ khuya tôi không biết rằng Thanh Tuệ đã thức
giấc và đang đứng lặng yên sau cửa sổ nhìn ra khu rừng
ẩm ướt ánh trăng. Tôi cũng tắt cây đèn bát đi, và lại
đứng gần bên Thanh Tuệ. Cả trăng cả rừng đều huyền
bí đều mầu nhiệm, và cùng tạo nên một khung cảnh mà chúng
ta chưa hề thấy bao giờ trong đời trừ ở Phương Bối. Trăng
cũng tuyệt đối yên lặng. Nhưng mà trăng với rừng quả
là đang nói chuyện với nhau, nói chuyện bằng thứ ngôn ngữ
gì chúng ta không thể nào biết được. Trăng và rừng trong
lúc này không phải là hai mà chỉ là một. Thí dụ ta lấy
trăng đi, thì rừng cũng mất. Hoặc giả nếu ta lấy rừng
đi thì trăng cũng tan biến. Và chính chúng tôi nữa, chúng
tôi là gì lúc ấy? Chúng tôi có thể hiện hữu bên nhau sau
khung cửa sáng ấy không nếu một trong hai thứ trăng và rừng
kia không hiện hữu? Nguyên Hưng cũng đã từng say mê những
đêm trăng như thế. Riêng tôi, tôi thấy trăng từ mười sáu
trở đi mới già dặn mới đủ sức nói chuyện với rừng.
Có những buổi khuya tôi đứng một mình - cũng sau cửa sổ
lớn đó - nhìn ra khu rừng trước mặt. Hồi đó khu rừng
chỉ cách ta độ năm sáu mươi thước. Khu rừng hùng mạnh,
và dưới ảnh hưởng của trăng khuya, tự tạo cho mình một
hấp dẫn lực kỳ lạ. Có một sức gì thu hút phát xuất
từ khu rừng, một cái gì rất hoang dại và cũng rất hùng
biện. Tôi thấy hình như thấp thoáng ở cửa rừng có bóng
một người Thượng thân hình đen cháy, hai mắt long lanh, có
một người Thượng của hàng ngàn năm về trước chứ không
phải như những người thượng bây giờ hay đi ngang qua Phương
Bối để tìm rau Rịa. Tôi thấy thức dậy ở trong tôi con
người cổ sơ. Tôi muốn liệng bỏ hết chữ nghĩa, liệng
bỏ hết văn minh, liệng bỏ hết những áo xống rắc rối
trên mình để trần truồng đi vào trong rừng. Đi vào trong
rừng làm gì, tôi không biết, nhưng là đi vào thật sâu, đi
mãi, đi mãi, dù là trời tối đen, dù là rừng đầy dã thú,
đầy gai góc. Tôi thấy nếu tôi bị dã thú ăn thịt mà cũng
không sao. Không đau đớn, không hãi hùng, không luyến tiếc.
Có thể gọi là êm ái nữa cũng không biết chừng. Tôi đứng
như thế, sau khung cửa, rất lâu, để chống lại với tiếng
gọi của rừng, của trăng.
Rừng
ở Medford hiền quá đi. Tôi nhớ trăng rừng Phương Bối lạ
lùng; mình xa cách Phương Bối đã lâu rồi, Nguyên Hưng nhỉ.
Nhưng mà từ ngày tôi rời xứ sở đến nay, đã mười sáu
tháng qua. Ngày hôm kia tôi làm một bài thơ hai câu như sau:
“gối
khuya rừng mộng trăng mười sáu
mười
sáu trăng rồi, người biết không?”
Tôi
thích hai câu ấy lắm, Nguyên Hưng. Nguyên Hưng cứ nghĩ là
rừng Phương Bối trong một đêm không trăng, gồi đầu lên
đêm khuya để mà nhớ, để mà thấy trong giấc mơ mặt trăng
tròn đầy của ngày mười sáu. Từ ngày xa cách, có phải
là mười sáu mùa trăng đã qua rồi hay không? Tôi ưa những
tiếng “trăng mười sáu” và “mười sáu trăng” nối theo
nhau làm cho hai câu trở thành như một. Như một mà kỳ thực
là hai.
Nguyên
Hưng, vào cái ngày bắt đầu mùa an cư năm xưa ấy, trời
bỗng tạnh mưa. Vào khoảng chín giờ sáng thì Như Thông, Như
Ngọc và thầy Châu Toàn lên. Họ mang theo rất nhiều thứ
quà để tặng Phương Bối. Tôi còn nhớ đến chiếc giỏ
mây thật đẹp mà chúng ta thường dùng để đơm hoa rừng
cúng Phật. Và nào là chén, là đĩa, là đũa, là thức ăn.
Hồi đó đồi Thượng chưa được dọn sạch nên không thể
ăn bữu cơm đầu hạ trên ấy như chúng ta ước muốn. Tuệ
cũng đã vào từ lúc sáng sớm. Nguyên Hưng và tôi vẫn còn
đang phải loay hoay dọn dẹp thiền thất. Toàn đã vào Rừng
Tham Thiền một mình để hai hoa. Một lát sau chị Diệu Âm
và cô Lưu Phương vào, cùng đi hái hoa với Toàn. Chị hái
được rất nhiều bông Chiều, những chùm hoa lớn trắng như
tuyết. Còn Toàn thì sau khi hái được một ít hoa mẫu đơn
đã bị rừng Sim lôi cuốn. Thế là từ lúc đó. Toàn hái
toàn những cành hoa Sim. Tôi nhớ ngày hôm đó ở Phương Bối
có rất nhiều bình hoa nhỏ mà phần lớn là những bình hoa
Sim - nhưng vì Toàn đã trẩy gần hết lá Sim nên các bình
hoa kia trông như những bình hoa đào. Cái giỏ mây đầy cả
hoa Chiều. Hoa Mẫu Đơn, và một vài thứ hoa khác nữa mà
chúng ta không biết được tên họ. Toàn còn chặt cả một
đọt thông lớn để cắm vào chiếc ché Thượng men nâu để
trên thiền thất. Như Khoa và Thanh Giới cũng đã băng rừng
băng núi tìm vào. Các bạn của Phương Bối như thế, cũng
đã khá đông. Sau buổi lễ Phật trang nghiêm và ấm áp, chúng
ta đưa mọi người đi một vòng ở Phương Bối. Tuy nói một
vòng nhưng kỳ thực chỉ là một vòng nhỏ, bởi vì phần
lớn đồi núi ở Phương Bối vẫn là hoang vu, không đặt
chân đến được.
Những
người bạn của Phương Bối đã ở lại đến ba giờ chiều
để đàm đạo về những dự tính cho Phương Bối trong tương
lai. Rồi thì Toàn cùng với Như Ngọc và Như Thông từ giả
chúng ta trước. Họ phải về Saigon và trước khi đi tìm tới
xe, họ phải băng rừng đến Đại Hà, rồi Như Khoa và Thanh
Giới cũng về, Thanh Tuệ cũng về, bởi vì Thanh Tuệ chưa
vào Phương Bối luôn với chúng ta được - lý do là Tuệ còn
cưu mang dỡ dang mấy lớp học ở Blao. Buổi chiều ấy, sau
khi họ ra về hết rồi, Phương Bối thật vắng lặng và thanh
tịnh. Đưa Tuệ và chị Diệu Âm về xong, chúng ta từ rừng
Tham Thiền - nơi có mấy chữ nho viết dọc theo một bảng
gỗ đóng trên một thân cây “Đại Lão Sơn Phương Bối Am”
- thong thả đi vào. Phương Bối là một thực tại rồi đó,
nhưng mà cũng như chiều hôm trước, chúng ta vẫn không chắc
là nó có thực. Nó hiện hữu như một cái ráng trời. Ta có
thể nghĩ rằng nó muốn tan biến đi lúc nào thì nó tan biến.
Có lẽ vì Phương Bối không giống bất cứ một cái gì chúng
ta đã gặp, đã thân thiết. Cũng có lẽ vì Phương Bối đối
với ta còn mới mẽ quá, nhưng đã thân thiết quá. Lại cũng
có lẽ Phương Bối đẹp không cùng. Ta chưa hề nghĩ rằng
số kiếp của ta mà lại có thể liên hệ đến một thực
hữu kỳ diệu như Phương Bối. Vậy cho nên Phương Bối nửa
như là thực nửa như là hư. Ta không nghĩ rằng Phương Bối
thuộc về ta. Tôi không bao giờ nghĩ như vậy. Cho nên tôi
rất đồng ý với Nguyên Hưng khi Nguyên Hưng nói: Chúng ta
thuộc về Phương Bối. Vì câu nói ấy mà sau này Lý thêu
dệt thêm ra. Lý nói Phương Bối là “thánh địa”. Chúng
ta là “dân” của thánh địa, đi đâu cũng thuộc về thánh
địa. Cái tính của Lý thì hay “ăn to nói lớn” như vậy
đó mà, Nguyên Hưng.
Tôi
còn nhớ buổi chiều hôm ấy, khi đưa Tuệ và chị Diệu Âm
ra về, chúng ta đã đi thẳng lên đồi Thượng, nhìn ra bốn
phía. Rồi chúng ta đi vào trong những hàng trà. Đất rất
mềm và xốp. Chúng ta men theo bờ rừng và đi mãi xuống gần
thung lũng. Bỗng dưng Nguyên Hưng chỉ cho tôi những dấu chân
cọp rất mới, in rõ ràng trên nền đất xốp sau những trận
mưa hồi hôm. Dấu chân ấy hướng về phía lối cầu Mai.
Trời cũng đã chiều rồi. Thanh vắng quá. Tôi hơi ngài ngại,
liền rủ Nguyên Hưng trở về. Chúng ta băng qua những đồi
chè để trèo lên đỉnh đồi Thượng. Khi vào tới nhà, chúng
ta đi đốt lửa, và trời đã rét. Dì Tâm Huệ ngày hôm ấy
chưa ở lại được với chúng ta, nên đêm ấy chỉ có một
mình tôi với Nguyên Hưng. Chúng ta soạn một bữa cơm chiều
rất giản dị, rồi ngồi ăn bên nhau dưới ánh sáng của
bốn ngọn đèn nến. Đêm ấy, tôi đã nói cho Nguyên Hưng
nghe về những dự liệu văn hóa chúng ta sẽ thực hiện sau
này. Trước khi đi ngủ chúng ta đã có một buổi “công phu”
ngắn và cảm động.
Tôi
đã nhắc Nguyên Hưng nhớ lại những cảnh trăng rừng Phương
Bối. Tôi tưởng cũng phải nhắc Nguyên Hưng nhớ lại thêm
về những buổi sáng mai trên rừng núi Đại Lão. Hồi đó,
chúng ta thường ưa làm việc tay chân vào các buổi sáng. Chỉ
trong vòng ba tháng sau ngày chúng ta về, Phương Bối đã trở
nên quang đãng và đẹp đẽ. Bởi vì sáng nào chúng ta cũng
làm việc tay chân và ngày nào chúng ta cũng có ít ra một người
bạn Thượng làm việc trong phạm vi Phương Bối. Sau này ta
lại có anh Năm, người con trai hiền lành từ xứ Quảng di
cư vào - Năm đã ở lại với chúng ta trong suốt thời gian
hưng thịnh của Phương Bối.
Chỉ
trừ những ngày mưa, còn thì buổi sáng nào ở Phương Bối
cũng đẹp. Buổi sáng Phương Bối thật là linh động. Sáng
nào Phương Bối cũng vang động tiếng chim tiếng vượn. Trời
Phương Bối rét nên chúng ta không dậy sớm. Thường thường
tôi chong đèn ngồi viết đến nửa đêm. Buổi sáng tôi thường
thức dậy giữa tiếng chim tiếng vượn. Chính Tuệ và Nguyên
Hưng biết rằng tôi chưa khôi phục lại được sức khỏe
ngày xưa nên hai người cứ lẳng lặng dậy trước, để yên
cho tôi ngủ. Còn dì Tâm Huệ thì ngủ rất ít. Thường thường
khi tôi dậy thì đã có nước trà để uống cho ấm bụng.
Nồi cháo trắng đỗ xanh lúc ấy đã chín rồi; thường thường
chúng ta hay chạy vào bếp sưởi ấm, uống nước và ăn điểm
tâm ngay trong cái nhà bếp nghèo nàn nhưng ấm cúng đó, Nguyên
Hưng nhớ không.
Nắng
mai tuy rất trong và đẹp nhưng không đủ ấm. Cho nên chúng
ta phải bắt đầu mỗi ngày bằng công việc tay chân. Làm
như thế thì chỉ trong mười phút thì đã thấy ấm người
rồi. Hồi đó tôi cũng biết xử dụng phảng, cuốc và mai
không kém gì Nguyên Hưng vậy. Nguyên khu đồi Thượng, chúng
ta cũng phải để ra hàng tháng mới dọn xong. Bao nhiêu là
gốc cây. Bao nhiêu là giây chằng. Bao nhiêu là gai góc. Chúng
ta đã làm được không biết bao nhiêu là ghế, là bàn, bằng
những nguyên liệu của rừng như mây, như gỗ, ngay trên đồi
Thượng. Lại còn có những chiếc ghế treo nữa. Các thầy
ở Huế hay ở Sàigon mỗi khi lên thì cứ ưa ngồi hàng giờ
trên đồi Thượng và dù lớn cách mấy, vị nào cũng thích
ngồi đu trên những chiếc ghế treo.
Buổi
mai ở Phương Bối đẹp như một tờ giấy trắng tinh, nguyên
vẹn, một tờ giấy trắng tinh có ửng mầu hồng ở góc.
Thực vậy, Nguyên Hưng. Chúng ta thức dậy ở Phương Bối
với ý thức là chúng ta có trước mặt một ngày trọn vẹn
không bị ai xâm phạm. Không phải đi hội họp không phải
chờ xe buýt, không phải ngồi ở phòng đợi, không phải thao
thức vì những cái rendez-vous. Một ngày trọn vẹn có đủ
sáng, trưa, chiều tối, và đẹp như mầu hồng của bình minh.
Một ngày trọn vẹn mà ta muốn xử dụng như thế nào cũng
được. Nguyên Hưng có thể làm cỏ ở đồi trà, hoặc dọn
thêm khu rừng trước mặt, hoặc trồng thêm cây ăn trái, hoặc
viết lách hay nghiên cứu. Chúng ta làm được thật nhiều
việc, nhưng không bao giờ chúng ta chán việc, bởi vì tất
cả những gì ta làm đều do sở thích. Nếu ta không làm cỏ
ở đồi chè chẳng hạn, thì anh Năm cũng chịu khó làm và
thế nào đồi chè cũng sạch cỏ. Nếu ta không dọn thêm được
khu rừng trước mặt hôm nay thì ta có thể làm vào một lúc
khác. Chúng ta, tóm lại, muốn làm gì thì làm. Buổi sáng,
sau khi ăn điểm tâm, thế nào trong chúng ta cũng có một người
đề nghị, là nên đi làm việc sáng hôm nay. Tôi nhớ hồi
đó Phương Bối có Nguyên Hưng, có Tuệ, có Triều Quang, có
Lý, có Năm, có Phú, có dì Tâm Huệ và có Tôi. Nếu Nguyên
Hưng đề nghị “sáng nay dọn thêm ở khu đồi Thượng”
thì ít nhất cũng có ba người hưởng ứng. Hoặc nếu Lý
đề nghị “sáng nay làm một con đường xuống thung lủng”
thì Lý chắc chắn cũng có người hưởng ứng. Thường thường
các đề nghị đều được tất cả mọi người tán thành.
Có khi hai người cùng đề nghị một lần, và chúng ta chia
ra hai nhóm theo sở thích. Lâu lâu chúng ta lại có một cuộc
thám hiểm núi rừng. Ai nấy đều chuẩn bị kỹ lưỡng. Thường
thường những cuộc “thám hiểm” như thế kéo dài cả ngày.
Chúng ta hay dừng lại ăn trưa và nghỉ ngơi bên một dòng
suối. Nhiều hôm Nguyên Hưng và Triều Quang mang về những
cây phong lan tuyệt đẹp. Ai nấy đều mệt nhoài. Đêm đến
chúng ta ngủ rất ngon.
Trong
những buổi đi rừng phục sức của tất cả mọi người
đều rất kỳ dị. Nguyên Hưng có nhớ không? ở Phương Bối
chúng ta không cần vâng theo luật lệ của… người phàm.
Ta có thể đội bất cứ thứ mũ nào, mang bất cứ thứ giầy
ủng nào, dùng bất cứ thứ thắt lưng nào. Có khi nhìn vào
tấm gương tôi thấy tôi giống như một ông ngáo ộp. Râu
thì có khi một tuần chưa cạo một lần. Không phải vì làm
biếng mà vì chúng ta có những việc khác ưa làm hơn! Áo thì
bằng da dày cộm để gai rừng không bấu rách. Ống quần
thì túm lại bỏi vào đôi ủng cao su để khỏi bị vắt xâm
nhập. Vai thì mang một cái xách đựng hoặc cơm trưa, hoặc
chiếc võng đay, hoặc hộp cứu thương. Tay thì cầm một cái
xà gạc hoặc một cây gậy. Những người học tò của tôi
ngày xưa nếu có trông thấy tôi trong hình dáng ngáo ộp ấy
chắc cũng không thể nào không kinh ngạc cho được. Ăn mặc
như thế này để vào lớp giảng thơ Nguyễn Du thì chắc là
không được đâu, phải không Nguyên Hưng? Ở rừng núi chúng
ta đi đứng mạnh bạo hơn. Chào nhau ở cửa rừng đôi khi
chúng ta không chắp tay trước ngực mà chúng ta đưa một cánh
tay thẳng lên trời. Đi lại trên các con đường rừng núi
thì không cần bước từng bước đĩnh đạc bệ vệ nữa;
chúng ta đi rất mau, hoặc là chúng ta chạy. Từ đồi này
chúng ta la hét sang đồi kia. Nguyên Hưng hét to hơn ai hết,
như một cái còi xe lửa. Có một điều mà ta thấy rất rõ
là ai lên Phương Bối cũng ưa la hét thật to. Tôi nhớ có
một lần trèo lên cây thông cao ở Rừng Tham Thiền để đốn
một cành thông xanh, Nguyên Hưng hét vang cả núi rừng. Tôi
lúc đó đang dọn dẹp thiền thất cũng bị tiếng hét của
Nguyên Hưng kích động. Tôi bỏ chiếc chổi lau, chạy ra, nhìn
về phía Rừng Tham Thiền. Và buồn cười chưa, tôi cũng hét
to để hỏi và để trả lời Nguyên Hưng. Rừng núi lớn lao
quá khiến ta có cảm tưởng là bị nhỏ bé lại và vì thế
tiếng hét của ta là để phá tan cái mặc cảm là chúng ta
bé nhỏ. Có phải không Nguyên Hưng? Lại cũng có lẽ là vì
chúng ta muốn trả thù những công thức giao tiếp của cái
xã hội cũ. Trong xã hội đó, nói thì phải nói với giọng
giữ gìn, để ý từng câu từng chữ. Xã hội quy định ta
phải ăn như thế nào, chào như thế nào. Vì vậy khi lên Phương
Bối chúng ta đã có khuynh hướng lật nhào tất cả những
luật lệ đó. Và chúng ta chạy hoặc hét là để phá vỡ
cái mặc cảm chúng ta bị nô lệ, để chứng tỏ chúng ta
có “tự do”. Cũng như ở bên này người ta có cái kiểu
chào nhau “How are you” lạt như nước ốc. Câu chào ấy ai
cũng thấy vô ích, thế mà không chào thì lại thấy thiếu
một cái gì. Có thì là dư, mà không thì lại là thiếu. Buồn
cười nhất là khi một người bệnh tới khám bệnh. Bác sĩ
hỏi: “ông mạnh giỏi không?” một cách vô ý thức. Và
bệnh nhân cũng trả lời “mạnh” một cách vô ý thức.
Trong khi đó, ta biết rằng nếu “mạnh” thì bệnh nhân đâu
có cần tới bác sĩ làm gì.
Nguyên
Hưng, giữa ta và vũ trụ có những liên hệ nào mà mỗi khi
vũ trụ kêu gọi, không thể nào cưỡng lại được? Tôi vừa
mới viết cho Hưng về trăng rừng, một tiếng gọi hết sức
thiết tha ít khi tôi có thể làm ngơ được. Tôi muốn kể
cho Nguyên Hưng nghe về những trận mưa đầu mùa. Từ hồi
còn bé thơ, tôi đã bị những trận mưa đầu mùa quyến rũ
rồi. Hồi đó tôi còn ở đồng quê. Tiếng sấm động. Trời
sa sầm xuống thấp. Những giọt nước to nặng đầu tiên
rơi lộp độp trên mái ngói. Vài ngọn gió thổi tới đập
các cánh cửa sổ ầm ầm. Tôi đã bị kích động ngay sau
những hiện tượng đó. Thật giống như prélude của một
bản hùng ca vĩ đại. Thế rồi sau một tiếng sấm long trời
lỡ đất, mưa trút xuống rào rào như thác đổ. Những lúc
như thế, đố mà tôi ngồi yên cho được. Tôi phải chạy
ra, vén màn, dán mắt vào cửa kính. Những đọt cau xa oằn
oại. Trong lúc trời đất thét gào. Vũ rụ rung chuyển. Những
chiếc lá to bị gió hắt mạnh vào cửa sổ và vách tường.
Nước trút xuống ào ào và chảy ồ ồ ngoài sân, trước
rãnh. Trong màn mưa bạc, có những con chim quật cánh chống
lại với gió với mưa. Trong bản hùng ca đó, tôi cảm nghe
thấy rõ rệt tiếng gọi của hồn vũ trụ. Tôi muốn trở
thành một đọt cau hay một cây nghiêng ngả oằn oại trong
mưa. Tôi muốn trở thành một con chim bay quằn quại giữa
trời để chịu đựng sức mưa sức gió. Tôi muốn chạy ra
giữa mưa mà hét, mà múa mà quay cuồng, mà cười, mà khóc.
Nhưng mà tôi không dám. Bởi vì tôi sợ mẹ tôi mắng. Trong
tiếng ào ạt rạt rào của mưa và gió, tôi ráng lấy tất
cả gân cổ hát một bài. Dù tôi có hét to đến mấy người
ta cũng không nghe được, bởi vì bản nhạc long trời lở
đất đã lấn át hết. Trong khi tôi hát như thế, mắt tôi
vẫn không rời cảnh tượng hùng vĩ của trời mưa, thần
trí tôi như bị hút vào cảnh tượng hùng vĩ của trời mưa,
và tôi cảm thấy tôi được hòa mình vào trong bản hòa tấu
vĩ đại. Tôi thấy dễ chịu. Tôi hát bài hát này rồi bài
khác. Sau đó, trời tạnh, hơi đột ngột. Tôi cũng dừng tiếng
hát. Thần kinh tôi êm dịu lại và tôi nhận ra rằng trên
mi tôi còn đọng một vài giọt nước mắt.
Cho
mãi tới ngày nay, tôi cũng vẫn còn giữ cái thói làm như
vậy, Nguyên Hưng, tuy rằng có đôi khác chút ít. Tiếng gọi
của đất trời vẫn tha thiết và rõ rệt như ngày xưa. Mỗi
khi văng vẳng có tiếng gọi ây là tôi lại giật mình, và
với tất cả với bản thể của tôi, với tất cả mọi nguyên
tử của sinh lý tôi, với mọi đường máu, mọi đường giâythần
kinh của thân thể tôi, tôi lắng nghe một cách kính cẩn và
thiết tha. Nguyên Hưng cứ tưởng tượng một người mất
mẹ đã mười năm, một hôm bất giác nghe tiếng mẹ gọi.
Tâm trạng của tôi là như thế đó, mỗi khi tôi nghe tiếng
gọi của đất trời. Mới vừa hôm qua đay, trong cảnh rừng
mưa, tôi quỳ dưới cửa sổ để nghe bản nhạc hùng của
tời, của đất, của rừng, của gió. Cửa sổ để ngỏ,
nhưng tôi không đứng dậy đống lại. Tôi qùy đó, thành
kính, đầu hơi cúi thấp, trong khi gió tạt mưa vào ướt cả
đầu cả cổ cả áo tôi. Tôi thấy rất được dễ chịu,
rất được yên lành trong cử chỉ ấy. Mãi cho dến khi rùng
mình, thấy lạnh, tôi mới đứng dậy, đóng cửa và đi thay
áo, đốt lò sưởi, trong lúc rừng Medford vẫn cuồng nhiệt
gào thét trong cơn mưa…
Hết
chương 3