Tôi
được một vị Tăng sinh ở Saigon mời góp ý kiến về Bát
Kính Pháp khoảng hai tuần trước, nhưng vì khá bận rộn
với những công việc tại đây (vừa lo thi cử cho việc trường
lớp xong thì lại có duyên sự Phật sự 10 ngày tại Minnesota)
nên đã khất hẹn với vị ấy là: khi nào tranh thủ được
thời gian thì tôi sẽ xem xét vấn đề kỹ hơn để bàn cùng
quý vị. Lúc ấy tôi nghĩ rằng: những vị Tăng sinh này sẽ
tìm được câu trả lời cho những nghi vấn liên quan đến
Bát Kính Pháp nhanh chóng thôi, vì ở Việt Nam hiện có rất
nhiều chư Tôn Đức chuyên nghiên cứu, hiểu sâu sắc và hành
trì Luật tạng miên mật, các vị dễ dàng đến đảnh lễ
thưa hỏi.
Hôm
nay vừa về lại trú xứ Boston mở E-mail ra thì nhận khá nhiều
thư điện tử (mails) bàn luận về bài giảng “Giáo
đoàn Tỳ kheo Ni và Bát Kỉnh Pháp” của Thầy Nhật
Từ. Xem ra vấn đề này đã và đang gây nên xôn xao, bàn thảo,
đang trong thời kỳ suy xét lại và chưa có chiều hướng thống
nhất trong việc hiểu và hành trì Bát Kính Pháp. Trong giới
Tăng Ni trẻ tại Học viện Phật Giáo Saigon, với những ai
tôn kính kinh sách đã được ghi chép và lưu truyền lại một
cách tuyệt đối – xem đó là những gì thiêng liêng nhất
và bất khả xâm phạm - chưa quen với việc đặt ngược lại
vấn đề để xem xét, cũng như quá xem nặng vai trò của giảng
sư trên bục giảng thì thầy Nhật Từ đã cho quý vị ấy
một “cú đấm” khá mạnh cũng giống như Tổ sư Đơn Hà
đã gây cho vị Viện chủ tại một chùa nọ sợ hãi, bàng
hoàng rơi rụng lông mày khi đốt tượng Phật gỗ để sưởi
ấm.
Với
tôi, xưa nay không chú ý đến Bát Kính Pháp cho lắm, có lẽ
vì tôi chưa được Tăng sai làm giáo giới Ni (dù có đôi lúc
tôi có hướng dẫn cho một nhóm nhỏ Ni sinh ôn học giáo lý
Phật giáo) chưa lãnh các trách nhiệm giám luật của Giáo
Hội hoặc trong các trường lớp Phật học. Hôm nay nhận thấy
quý vị quan tâm và thảo luận về vấn đề này rất nhiều
mà vẫn chưa ngã ngũ cho nên tôi ngay sau thời khóa lễ chủ
nhật trưa nay tại Chùa Lục Hòa Boston, dù thể trạng không
hoàn toàn khỏe khoắn, vẫn tự nhắc nhở mình hãy tìm
hiểu và góp lời san sẻ đề tài này trong tinh thần: Ý hòa
đồng duyệt, Giới hòa đồng tu, Kiến hòa đồng giải…
thôi thì kiếp tằm cũng nên liên tục nhả tơ, khi mà: bao
huynh đệ đang băn khoăn, xáo động - lẽ nào mình nằm đánh
giấc ngủ yên?
Trước
hết tôn giáo có cho phép con người được quyền tự do đặt
nghi vấn nơi kinh điển và xét lại những phần thuộc về
kinh điển với thái độ, tinh thần, phương pháp và ánh sáng
khoa học không, hay tất cả những gì ghi chép nơi kinh sách
đều là chân lý mặc khải từ Thần Thánh sáng suốt toàn
năng? Tấm gương của triết gia Socrates (470-399 BC, Athens) là
người tôn trọng sự thực, dám lên tiếng bày tỏ hoài nghi
tính chất thiêng liêng và chân lý của những lời ghi trong
kinh Thánh với uy quyền của thần thánh nên rồi bị kết
tội phỉ báng thần thánh và làm băng hoại lớp trẻ của
Thành phố Athens. Ông thản nhiên chấp nhận ở tù và bản
án tử hình bằng độc dược. Chúng ta cũng nhớ đến Galileo
(1520 – 1642) vì phát minh ra trái đất quay xung quanh mặt trời,
điều này ngược lại niềm tin của Thiên Chúa giáo cho rằng
mặt trời quay xung quanh trái đất:
"Năm
1633, khi Galileo, dựa trên những dữ kiện khoa học không thể
phủ nhận, đoan quyết trong một cuốn sách khảo cứu thiên
văn của ông rằng: không phải là mặt trời quay xung quanh
trái đất mà chính là trái đất quay xung quanh mặt trời,
thì ông bị kéo ra trước tòa án dị giáo của giáo hoàng
Urban VIII, vốn là bạn của Galileo. Khi đó ông đã già, gần
chết. Giáo hoàng phán: “Trước khi chết, người hãy sửa
lại điều trên vì nó ngược lại với thánh kinh. Bất cứ
điều nào ngược với thánh kinh đều đương nhiên sai lầm,
vì thánh kinh là lời của Thượng Đế”.
Galileo
lúc đó dù đã 80 tuổi, sắp chết, nhưng vẫn đáp lại
điềm tĩnh và khôi hài: “Không thành vấn đề, tôi sẽ sửa
lại lời tôi viết, tôi sẽ viết lại trong sách của tôi
đúng như lời Thượng Đế đã viết trong thánh kinh - nghĩa
là mặt trời quay xung quanh trái đất. Nhưng có một điều
tôi cần trình ngài rõ: cả trái đất lẫn mặt trời đều
không đọc sách của tôi. Và sự thực thì, trái đất sẽ
tiếp tục quay xung quanh mặt trời. Nếu ngài nhất định muốn
biết tại sao thì tôi có đầy đủ bằng chứng. Tôi đã dùng
cả đời tôi để nghiên cứu vấn đề này, và những người
có đầu óc khoa học đều tuyệt đối đồng ý với sự khám
phá của tôi. Trước sau gì rồi ngài cũng phải đồng ý vì
không ai có thể chống lại sự thực lâu dài.”[1]
Khác
với các giáo chủ các tôn giáo khác, một cách hết sức phóng
khoáng, cởi mở, dân chủ, đức Phật răn nhắc mọi người
được tự do xem xét, thẩm định mọi điều để tự quyết
định cho mình là có nên tin và hành trì theo hay không?
“Này
các Kalama, chớ có tin vì nghe lời thuật lại, chớ có tin
vì theo truyền thống, chớ có tin vì nghe những lời đồn.
Đừng để bị dẫn dắt bởi uy quyền của kinh điển, bởi
luận lý siêu hình, hay bởi sự xét đoán bề ngoài. Đừng
để bị lôi cuốn bởi những gì có vẻ đáng tin, bởi thích
thú trong những quan niệm võ đoán, hay bởi ý nghĩ 'Đây là
thầy ta”. Nhưng này các Kalama, khi nào các người tự mình
biết rằng các pháp ấy là thiện, là tốt, được người
có trí tán thán, các pháp này nếu được chấp nhận và thực
hiện thì sẽ đem lại hạnh phúc và an lạc.”[2]
Tiếp
thu theo học đường đại học của Mỹ đã quen cho nên tôi
không lấy làm lạ về cách đặt giả thuyết và lập luận
của thầy Nhật Từ để tạo điều kiện cho mọi Tăng Ni
sinh suy nghĩ sâu hơn vấn đề và hoàn toàn tự do phản biện
với thầy Nhật Từ trong tinh thần tôn trọng Phật Pháp và
tôn trọng lẫn nhau, thiết tha với chân lý. Công việc giáo
sư Mỹ tại lớp là công việc hướng dẫn (Instructor) nêu
ra đề tài thảo luận, nêu ý kiến, câu hỏi thảo luận,
chỉ ra tài liệu tham khảo, tạo điều kiện cho mọi học
sinh trong lớp tham gia thảo luận, lý luận, bảo vệ quan điểm
của mình với luận cứ, luận chứng xác đáng và tự mình
rút ra kết luận, viết bài thu hoạch gửi đến giáo Sư. Bài
thu hoạch có điểm cao không phải là bài phù hợp quan điểm
của giáo sư hay là bài ghi nhớ nhiều chi tiết trong phần
hướng dẫn của giáo sư mà là bài có nhiều ý kiến sáng
tạo độc đáo, lập luận logic, chặt chẽ và có giá trị
áp dụng hoặc mở ra hướng nghiên cứu mới.
Muốn
biết lập luận của thầy Nhật Từ có hoàn toàn đứng vững
không thì phần dưới đây tôi xin đóng góp vào phần thảo
luận với tư cách trong vai phản biện - tôi sẽ tìm ra những
chỗ yếu trong phần trình bày của thầy Nhật Từ mà “đánh
vào” và bác bỏ hoặc đưa ra cách nhìn khác hơn hợp tình,
hợp lý hơn. Bây giờ tôi đọc lại từng đoạn trong bài
giảng của thầy Nhật Từ: “Giáo đoàn Tỳ kheo Ni và
Bát Kỉnh Pháp” đã được anhsangbinhminh (thichhuyenkhong)
ghi lại trong http://www.phapthoai.net/
và dừng lại ở những câu chữ mà tôi thấy là vai trò phản
biện của tôi có thể phát huy được. Một điều đáng nói
là các sách sử Phật giáo ghi chép những chi tiết về sự
kiện Dì Mẫu Ma Ha Ba Xà Ba Đề xin xuất gia và Bát Kính Pháp
có khác nhau về văn tự và nội dung. Ở đây tôi không có
điều kiện tham khảo nhiều sách sử và Luật tạng Phật
giáo, tôi chỉ dựa trên những cuốn sách phổ thông căn bản
nhất để dẫn chứng cho những ý kiến của mình.
- “Đề
tài sự thiết lập Ni đoàn Phật giáo và Bát kỉnh pháp khá
hấp dẫn” (Lời thầy Nhật Từ) – đúng thế trong diễn
đàn http://www.phapthoai.net/
và Group Tang Ni Yahoo đang thảo luận sôi nổi.
- “Đặt
vấn đề đó trong một bối cảnh lớn hơn, quan trọng hơn
thì chính tác giả của vấn đề được gán cho đức Phật
thì có thể tạo ra rất nhiều nỗi oan trái ở trong cuộc
đời này” – tác giả của vấn đề là đức Phật mà Tăng
già hòa hợp, tứ chúng đồng tu nếu như việc ghi chép không
có “tam sao thất bổn” và nếu như những ai “kiến, văn,
đắc thọ trì” thấu đạt được “Như Lai chơn thiệt nghĩa”
- “Rất
là khó tìm được tiếng nói đồng tình của Tăng bộ bởi
vì Bát Kỉnh Pháp dường như tạo ra nhiều ưu quyền cho Tăng
chúng dữ lắm. Trong khi đó khi trình bày đề tài này thì
dĩ nhiên là Ni giới sẽ hoan hỉ hơn, vì họ cảm thấy rằng
mình được quan tâm.”
- tôi
không hiểu thế nào là “ưu quyền cho Tăng chúng”? Thực
ra thì Bát Kính Pháp đặt lên vai chư Tăng trách nhiệm nhiều
hơn đó chứ? Nếu bảo rằng có nhiều trách nhiệm hơn, làm
Phật sự nhiều hơn, có lợi tha và độ tha nhiều hơn dù
rằng chư Tăng mệt nhọc cho thân thể tứ đại và phải suy
nghĩ nhiều hơn, tất cả mọi công việc đó giúp cho chư Tăng
có điều kiện phải cố gắng hoàn thiện mình và giúp đỡ
người khác nhiều hơn và mau chóng thành tựu công hạnh hay
đạo nghiệp như vậy là ưu quyền nhiều hơn thì Thầy đã
nói đúng. Ni giới xưa nay lúc nào cũng được quan tâm mà,
đâu phải đợi đến khi trình bày đề tài này thì Ni giới
mới được quan tâm đâu? Ngược lại Ni giới không được
quan tâm như xưa nay thì có, một khi Bát Kính Pháp không còn
được tôn trọng và áp dụng. Đức Phật chế ra Bát Kính
Pháp là nhằm ngăn ngừa và gìn giữ phạm hạnh cũng như là
tạo các điều kiện để chư Ni được sống và tu học yên
ổn trong sự bảo hộ đầy đủ của Tăng già và chư Tăng
phải chịu khó nhọc hơn cho những việc ấy - vậy Bát Kính
Pháp không xuất phát từ sự quan tâm cho Ni thì quan tâm cho
ai đây?
- “Nội
dung thứ nhất, ngài Anan lý luận rằng Di mẫu đã thương
Như Lai Thế Tôn như là con ruột, nuôi nấng chăm sóc vỗ về
và nhờ công ơn trời biển đó mà Như Lai có được ngày
hôm nay, lẽ nào Như Lai dạy chúng con về đạo lý hiếu thảo,
Như Lai lại không cho phép dì của mình trở thành người cao
thượng. Đánh vào tâm điểm của lòng thương tưởng hiếu
kính, làm cho Như Lai Thế Tôn cũng lính quýnh, không biết phải
giải quyết thế nào (8p39s). Ở đây chúng ta nói theo ngôn
ngữ của con người dựa trên tình tiết lịch sử”.
Thầy
Nhật Từ bảo là “Ở đây chúng ta nói theo ngôn ngữ của
con người dựa trên tình tiết lịch sử”, như vậy những
câu nói trên cũng chính từ nơi Thầy nói ra chứ không phải
là trích dẫn lời của ai khác? Dùng từ “lý luận” thì
không đúng với tâm trạng của ngài A Nan lúc đó, Ngài không
có mục đích lý luận với đức Phật; Ngài chỉ nêu ý kiến,
cảm nhận, thắc mắc và thưa hỏi; về tình cảm thì ngài
A Nan muốn Dì Mẫu được chấp nhận vào Tăng đoàn, về lý
trí thì Ngài muốn xác quyết, kiểm chứng lại những điều
Ngài nghĩ và đã học được mà thôi.
“…lẽ
nào Như Lai dạy chúng con về đạo lý hiếu thảo, Như Lai
lại không cho phép dì của mình trở thành người cao thượng”:
Chúng
ta hãy đọc lại phần đối đáp này giữa Phật và Ngài A
Nan trong Tứ Phần Luật:
“Tôn
giả A-nan bạch Phật:
«Ma-ha
Ba-xà-ba-đề đối với Phật có ân lớn. Phật mẫu qua đời,
Người đã nuôi dưỡng đức Thế Tôn khôn lớn.»
Đức
Phật bảo tôn giả A-nan:
«Đúng
vậy! Đúng vậy! Cù-đàm-di đối với Ta có ân lớn. Mẹ ta
qua đời, Cù-đàm-di đã nuôi dưỡng ta, khiến ta khôn lớn.
Ta đối với Ma-ha Ba-xà-ba-đề cũng có ân lớn. Nếu người
nào nhờ kẻ khác để biết được Phật Pháp Tăng, thì ân
này khó trả; chẳng phải dùng áo mặc, cơm ăn, giường nằm,
ngọa cụ, thuốc men, mà có thể trả được. Ta ra đời cũng
lại như vậy; đã khiến cho Ma-ha Ba-xà-ba-đề biết được
Phật Pháp Tăng.»
Đức
Phật bảo Tôn giả A-nan:
«Nếu
có người nào nhờ kẻ khác mà tin Phật Pháp Tăng thì ân
này khó trả, chẳng phải dùng cơm ăn áo mặc, giường nằm
ngọa cụ, thuốc men mà có thể trả được. Ta ra đời khiến
cho Ma-ha Ba-xà-ba-đề tin ưa Phật Pháp Tăng cũng lại như vậy.»
Đức
Phật bảo tôn giả A-nan:
«Nếu
có người nào nhờ kẻ khác được quy y Phật Pháp Tăng, thọ
trì năm giới, biết Khổ, biết Tập, biết Tận, biết Đạo.
Đối với Khổ, Tập, Tận, Đạo không có hồ nghi, đắc quả
Tu-đà-hoàn, đoạn các ác thú, quyết định được vào chánh
đạo, ra vào bảy phen sanh tử liền hết gốc khổ.
«Này
A-nan, ân đối với người như vậy khó có thể trả được.
Chẳng phải dùng cơm ăn, áo mặc, giường nằm ngọa cụ,
thuốc men mà có thể trả được. Ta ra đời khiến cho Ma-ha
Ba-xà-ba-đề thọ ba quy y, cho đến quyết định được vào
chánh đạo cũng như vậy.» [3]
Như
vậy có nghĩa là: không nhất thiết phải tạo điều kiện
cho cha mẹ mình xuất gia mới gọi là báo hiếu, chẳng hạn
như tiền thân của ngài Địa Tạng Bồ Tát và Đại hiếu
Mục Kiền Liên Bồ Tát đâu phải báo hiếu sanh thành dưỡng
dục bằng cách khuyên bảo hay khiến cho cha mẹ xuất gia? Cha
Mẹ của thầy Nhật Từ có xuất gia không? Vậy thầy Nhật
Từ có hiếu không? Đức Phật đã khiến cho Dì Mẫu “Ma-ha
Ba-xà-ba-đề thọ ba quy y, cho đến quyết định được vào
chánh đạo” như vậy là báo hiếu dưỡng dục rồi, cũng
như Đức Phật đã giúp cho Tịnh Phạn vương đắc quả A
Na Hàm trước khi băng hà vậy là đại hiếu rồi. Nếu Dì
Mẫu ở hoàng cung và lo tu tập đúng pháp thì rồi cũng có
rất nhiều khả năng để đắc quả A Na Hàm như Tịnh Phạn
vương.
“làm
cho Như Lai Thế Tôn cũng lính quýnh, không biết phải giải
quyết thế nào”: trên đây chúng ta thấy đức Như Lai Thế
Tôn trả lời ngay và rất hợp lý chứ không có lính quýnh
gì cả. Hơn nữa đức Phật còn nói thêm cho ngài A Nan biết:
- “Này
Ananđa, Dì mẫu có nhiều công ơn đối với Như Lai, điều
này Như Lai vẫn hằng tâm niệm. Nhưng Ananđa cũng đừng quên
rằng Như Lai là vị Pháp vương phải chịu hoàn toàn trách
nhiệm đối với giáo đoàn, giáo sử và càng không thể lẫn
lộn giữa vấn đề tình cảm và lý trí. Do đó, Như Lai phải
tuyệt đối vô tư.”[4]
“-
Sự kiện thứ 3 rất quan trọng, khi Như Lai Thế Tôn chấp
nhận cho Di mẫu và 500 bà hoàng sakia đi tu thì ngài phán cho
một câu rất là lịch sử. Câu này trở thành cơ sở lý luận
của rất nhiều truyền thống không chấp nhận Ni giới. Đó
là dù sao đi nữa Anan ơi, ông phải biết mấy bà mà vô rồi
thì Chánh pháp của ta sẽ giảm thọ đi 500 năm. Chúng ta phải
ghi nhớ cái mấu chốt là giảm thọ 500 năm Chánh pháp. Hay
nói một cách khác là theo câu nhận định này của Như Lai
thì Chánh pháp được Ngài đẳng thức hóa bằng 1000 năm.”
“ông
phải biết mấy bà mà vô rồi thì Chánh pháp của ta sẽ giảm
thọ đi 500 năm”:
Dịch
văn nôm na lời xưng hô của Phật đối với Dì Mẫu và 500
mệnh phụ phu nhân dòng họ Thích là “mấy bà” là hoàn
toàn không nên. Trong ngôn ngữ tiếng Việt một khi chúng ta
dùng từ “mấy bà” thì người nghe cảm nhận được chúng
ta đang gói ghém thái độ và tình cảm gì trong đó rồi.
“Hay
nói một cách khác là theo câu nhận định này của Như Lai
thì Chánh pháp được Ngài đẳng thức hóa bằng 1000 năm”:
tôi đã nói khi kiết tập kinh điển và lưu truyền thì không
tránh được việc “tam sao thất bổn” - chứng minh ư? Đây
xin đọc nơi 3 quyển sách phổ thông: 1/ Tứ
phần luật – Tăng sự, Việt dịch quyển IV, Chương
XVII, TỲ-KHEO-NI (Hiệu chính và chú thích: Tỳ-kheo Thích Nguyên
Chứng), 2/ Đức
Phật và Phật Pháp, (The Buddha and His Teachings), phần:
Đức Phật và Bà Di Mẫu Maha Pajapati Gotami (Hòa thượng Narada,
Phạm Kim Khánh dịch Việt 1998) và 3/ Tình đời, Ý đạo -
Cuộc đời Thánh tăng Ananda – phần: Lệnh bà Mahà Pajàpati
(Hòa thượng Hộ Giác).
“Nếu
người nữ không xuất gia ở trong Phật pháp thì Phật pháp
sẽ được lâu dài năm trăm năm.”[5]
Như
vậy đức Phật không hề đẳng thức hóa chánh pháp bằng
1000 năm. Câu nói này có nghĩa là nếu không có Ni giới trong
Tăng đoàn thì thọ mạng của chánh pháp là A (năm), nếu có
Ni giới thì thọ mạng của chánh pháp là A – 500 (năm).
Ở đây chúng ta không được biết rõ thọ mạng chánh pháp
(A) là bao nhiêu.
“nếu
hàng phụ nữ được phép từ bỏ thế gian và sống đời
không nhà cửa, thì đời sống thiêng liêng sẽ không tồn
tại lâu dài”[6]
Câu
nói này tuyệt nhiên không đề cập thọ mạng của chánh pháp
là bao nhiêu.
“Ananđa
ơi, nếu chánh pháp của Như Lai có thể tồn tại và thạnh
hành 1000 năm, nhưng khi có ni chúng thì thời hạn ấy sẽ giảm
thiểu còn phân nửa”[7].
Câu
nói này chỉ là một câu nói giả sử “nếu”, vậy thì
không hề có việc đức Phật đẳng thức hóa chánh pháp bằng
1000 năm. Theo câu này, ý chính là nếu có Ni giới thì thọ
mạng chánh Pháp giảm đi một nửa, còn số 1000 chỉ là ví
dụ. Vậy nếu không có Ni giới thì Chánh pháp tồn tại 1000000000000
năm chẳng hạn thì khi có Ni giới chánh Pháp chỉ còn tồn
tại 500000000000 năm.
“Cho
nên có Bát kỉnh pháp để vai trò của hai bên được tách
biệt. Một bên được xem như là cao vĩ, còn một bên được
xem là bình thường. Khoảng cách cách biệt đó theo quan niệm
của nhiều người là một yêu cầu căn bản để cho quan hệ
đó không được tiến gần gũi hơn.”
“Một
bên được xem như là cao vĩ, còn một bên được xem là bình
thường”: không phải đức Phật có sự chênh lệch trong
việc đánh giá vai trò của nam và nữ hay Tăng và Ni. Nhưng
phụ nữ trong thời đại đó ở tại Ấn Độ vốn đã được
xem như vậy và thậm chí cho đến bây giờ nhiều tôn giáo
khác còn chưa cho phụ nữ gia nhập vào giáo đoàn, hoặc nếu
có được chấp nhận vào thì cũng có vai trò rất phụ thuộc
và không được tấn phong ngang bằng với nam giới. Tôi nhớ
lại một cuốn sách mà tôi đã đọc được tại thư viện
Đại Học Đề Ly, trong đó tác giả phân tích vai trò của
phụ nữ trong xã hội Ấn Độ khi mà đức Phật tiếp nhận
phụ nữ vào Giáo đoàn: nào là “phụ nữ là hiện thân của
bao tội lỗi xấu xa, ích kỷ, ganh tị, nhỏ nhen, độc ác”,
nào là “phụ nữ hoàn toàn không phù hợp với Đạo hạnh
tôn giáo”, nào là “phụ nữ cản trở bước đường thành
tựu Đạo hạnh: phụ nữ là ngọn đuốc soi đường dẫn
đàn ông xuống Địa Ngục.”
Rất
tiếc là lúc đó tôi không ghi chú cụ thể và lưu trữ lại
để bây giờ có thể trích dẫn rõ ràng ra nơi đây, nhưng
những ai có cơ hội đọc sách về địa vị của Phụ nữ
Ấn Độ thời xưa thì rất dễ dàng tìm được những lối
mô tả tương tự trên. Nhưng trăm đọc, trăm nghe không bằng
một thấy, cả thầy Nhật Từ và tôi đã từng sống ở Ấn
Độ hơn 7 năm thì biết rõ địa vị phụ nữ Ấn Độ trong
gia đình và xã hội - ngay cả ngày hôm nay chứ đừng nói
là thời xa xưa – như thế nào. Hôn nhân phần lớn là được
cha mẹ định đoạt, hứa hôn, không phải đám cưới là hoa
quả của tình yêu và đôi nam nữ tự quyết định (người
con gái của Ông giáo sư Nalanda nơi tôi học đã tự tử để
phản đối quyết định ép hôn của cha mẹ). Sinh đẻ ra con
gái là một nỗi lo canh cánh: lúc bé thì phải lo đóng cửa
gìn giữ con gái kỹ lưỡng trong nhà, đi đâu cũng phải đưa
tiễn con gái mình đi chứ không để nó tự đi một mình,
muốn cho ai thuê nhà thì cũng lựa, không cho con trai vào thuê
nhà mình, khi đám cưới thì bắt buộc phải có một số tiền
khá lớn để làm của hồi môn; người phụ nữ hầu như
ở nhà lo việc bếp núc và sinh sản cho dù cô ta có học xong
chương trình Tiến sĩ cũng vậy thôi. Các hoạt động xã hội
là do đàn ông làm, bạn đừng ngạc nhiên nếu bạn đến
Ấn Độ và khi vào khách sạn bạn chỉ thấy nam tiếp viên,
ra chợ bạn chỉ thấy các ông đứng bán hàng,… hoặc nếu
bạn thuê nhà có khi cả nửa năm bạn không thấy vợ của
ông chủ nhà vì bà ta ở trên lầu và rất ít khi bước xuống
đất. Có khi một ông được lấy nhiều vợ, có khi một cô
dâu phải chịu làm vợ chung cho cả bảy anh em trai vì các
anh em này hòa thuận và muốn san sẻ người vợ của mình
cho các anh em còn lại…
Dù
sao đi nữa, Kinh cũng đã có ghi và một thực tế phải chấp
nhận là: nữ giới có năm lậu (5 chướng ngại): không được
làm Chuyển luân vương, Đế thích, Ma vương, Phạm-thiên
và Phật. Dù rằng Kinh Pháp Hoa có đề cập sự kiện Long
Nữ 8 tuổi thành Phật nhưng trước khi thành Phật, Long Nữ
đã chuyển sang Long Nam. Trong nhiều kinh điển có dạy: nếu
phụ nữ nhàm chán thân phụ nữ thì nên tu tập theo những
pháp môn nhất định hoặc là trong một số cảnh giới trang
nghiêm thù thắng thì nơi đó không có bóng dáng phụ nữ.
Trong
bối cảnh xã hội như vậy, địa vị phụ nữ trên thực
tế và đại đa số thấp kém xa nam giới là thế mà đức
Phật cuối cùng rồi cũng mở cánh cửa để đón nhận
họ vào Giáo đoàn; thật sự là một cuộc cách mạng xã hội,
giải phóng phụ nữ: “Nên ghi nhận rằng đức Phật là vị
Giáo chủ đầu tiên trong lịch sử nhân loại đã thành lập
một Giáo Hội cho nữ giới với đầy đủ giới luật”[8].
Phần sau này tôi sẽ chứng minh: trong hoàn cảnh xã hội lúc
ấy, sự thiết lập nên 8 điều trong Bát Kính Pháp là tất
nhiên thôi – không thể làm khác hơn được.
“Khoảng
cách cách biệt đó theo quan niệm của nhiều người là một
yêu cầu căn bản để cho quan hệ đó không được tiến gần
gũi hơn”:
Quan
hệ đó không được tiến gần hơn là ở chỗ không thể
cư xử với nhau như một người nam với một người nữ bình
thường để dần dần xóa đi mọi khoảng cách được nhưng
thực ra Bát Kính Pháp thiết lập và cho phép sự liên hệ
giữa Tăng và Ni trong chánh pháp: cho phép sự gần gũi trong
sinh hoạt giáo giới, an cư, thọ giới, sám hối,…
“Trước
nhất chúng ta biết là người nữ chỉ thương những người
nào hơn mình cái đầu. Không thương những người ngang bằng
với mình đâu, lại càng hiếm khi nào thương những người
dưới mình”.
Bàn
về tâm lý phát sanh tình cảm nam nữ ở đây thì e là không
đủ thời gian và sẽ đi miên man. Cái đầu là quan trọng
hay trái tim là quan trọng trong tình yêu? Chuyện yêu thương
nam nữ có thể là do duyên nghiệp, có thể vì hoàn cảnh và
điều kiện gần gũi lâu ngày… Đâu phải cô nào cũng cố
gắng đi tìm người thương hơn mình một cái đầu? Có nhiều
cô gái không thương hoàng tử mà lấy người con trai cùng
xóm với mình, cũng như nhiều công chúa không thương vương
tôn công tử mà thương chàng học trò nghèo có hiếu (lúc
ấy cũng chưa biết tài năng anh học trò này sẽ như thế
nào). Nhiều cô gái không thương bác sĩ kỹ sư, thầy giáo,
mà thương một chàng trai bình thường nhưng rất thật và
có kỉ niệm vui buồn, đồng cảm với nhau…
“Đặt
cho quý thầy có một vai trò tôn kính quá lớn, lúc bấy giờ
người nữ sẽ cảm thấy là mình nhỏ hơn, thấp bé hơn,
cơ hội sẽ phát sinh tình cảm sẽ lớn hơn.”
Lập
luận này chưa chắc, đúng hơn là sẽ: “kính nhi viễn chi”
hoặc là: “Bây giờ đất thấp trời cao, Ăn làm sao nói làm
sao bây giờ” (Truyện Kiều).
Các
nhà tâm lý đã phân tích là trong các yếu tố phát sinh tình
cảm nam nữ: gần nhau lâu ngày, dễ dàng trao đổi và hiểu
về nhau sẽ là chất kích thích tố mạnh khiến lâu ngày họ
khó có thể xa nhau.
“Đất
thấp trời cao” như thế sẽ khiến hai bên lúng túng và ngần
ngại hoặc cân nhắc không ai dám “xé rào” và nếu xé rào
thì “khách quan” cũng phát hiện và đề nghị thiết lập
hàng rào mới ngay. Còn nếu ngang ngang, đồng đẳng thì tính
chất giống như tình bạn ấy sẽ bước thêm một bước nữa
đến tình cảm sâu sắc hơn, khá nhanh cả hai bên cũng “không
ngờ” và người ngoài cũng “không ngờ”.
“Thứ
5, các giới trong Bát kỉnh pháp đặc biệt giúp cho Ni giới
tu được hạnh xả bỏ bản ngã thông qua việc cung kính Tăng
một cách tuyệt đối. Điều này quý thầy rất là thích,
tức là vì mình muốn cho giới nữ muốn đi tu có lòng tôn
kính đối với Tăng bảo mà mình là một thành viên, cho nên
rõ ràng đâu ai không muốn đâu. Điều đó được thể hiện
rất là rõ trong gần hết 7, 8 điều trong số 8 điều. Điều
nào cũng vậy mà nhất là điều thứ nhất, Tỳ kheo Ni 100
tuổi hạ cũng phải cung kính Tỳ kheo dù thọ giới mới có
một ngày (17p:41s).”
Mục
đích đi tu đâu phải là để cho người khác tôn kính hay
nhận sự lễ lạy rồi mình thỏa thích. Mỗi người xuất
gia thường tâm niệm:
“Người
xuất gia là cất bước thì muốn vượt tới phương trời
cao rộng, tâm tính và hình dung khác hẳn thế tục, tiếp nối
một cách rạng rỡ dòng giống của Phật, làm cho quân đội
của ma phải rúng động khuất phục, với mục đích báo đáp
bốn ân, cứu vớt ba cõi. Không như vậy thì chỉ là kẻ lạm
xen vào hàng ngũ Tăng sĩ, lời nói và việc làm trống rỗng,
sơ suất, hưởng dụng một cách vô ích cúng phẩm của tín
đồ”.
(Phù
xuất gia giả, phát túc siêu phương, tâm hình dị tục, thiệu
long thánh chủng, chấn nhiếp ma quân, dụng báo tứ ân, bạt
tế tam hữu. Nhược bất như thử, lạm xí tăng luân, ngôn
hạnh hoang sơ, hư triêm tín thí).[9]
Xuất
gia là để ra khỏi ba nhà: nhà thế tục, nhà phiền não, nhà
tam giới, với hạnh nguyện “trên cầu Phật Đạo, dưới
cứu độ chúng sanh”. Tỳ Kheo có ba nghĩa là Khất sĩ: hạnh
xin ăn tu học (trừ ngã chấp), bố ma: làm cho ma binh khiếp
sợ, phá ác: trừ phiền não nghiệp cấu, chánh hạnh, thanh
tịnh. Công việc chính của Tỳ Kheo đâu phải là mong chờ
việc tôn kính đâu mà thích với không thích?
“Như
vậy là về phía Ni, chúng ta thấy họ được cái lợi lạc
là có cơ hội rất quý báu được đặt ra trong một tình
trạng là làm thế nào để giải phóng bản ngã, lòng cống
cao ngã mạn tự hào, tự đắc của mình. Như vậy là phần
tích cực nằm ở phía họ. Vấn đề đặt ngược lại đó
là thông qua lòng tôn kính của họ, chư Tăng được tôn kính
có tăng cường lòng ngã mạn hay không? Cái đó quý thầy tự
trả lời.”
Bởi
vậy, đó là pháp tu tập cho hai bên cho “năng lễ” và “sở
lễ”, mỗi người đều tự kiểm thúc, xem xét tâm và tu
tập của mình hãy xem nó có “động” không, có chấp trước
không? Đó là cơ hội cho hai bên cùng tu tập, cùng quán sát
và cùng nhắc nhở cho nhau về bổn phận của mình trong tăng
già.
“Bà
lý luận như thế này đề cập đến bản chất Bát kỉnh
pháp, nếu như chúng ta bỏ qua đối tượng gia nhập Ni đoàn
lúc đó là một điều thiếu sót rất là lớn. Đối tượng
gia nhập Tăng đoàn lúc đó là ai? Ma ha Ba xà Ba đề tức là
hoàng hậu, kế đến là năm trăm bà hoàng Những người này
được xem là đại diện cấp cao nhất về nữ giới ở trong
sắc tộc Sát đế lợi và Bà la môn. Các vị Sát đế lợi
nào cũng mang trong người họ hai dòng máu, hay nói cách khác
là hai vai trò vị trí xã hội vị trí cầm cân lấy một quốc
gia và vị trí thuộc gia tộc Bà la môn, có thể phát sanh ra
những thái độ kinh thường đối với những vị Tỳ kheo
vốn xuất thân từ giai cấp rất là thấp. Nếu như ngay từ
đầu đức Phật không dạy mấy bà…
Cơ
sở lý luận đó tưởng chừng như là rất vững chãi nhưng
xem ra thì nó không có cơ sở, ở chỗ là đức Phật đã nói
sa môn thích tử giống như trăm sông chỉ khác nhau cấu hình
địa lý, khác nhau về lớn nhỏ hương vị và màu sắc khi
tuôn ra biển cả rồi thì nó chỉ còn một chất liệu duy
nhất là biển, bản chất của nó là vị mặn. Khi trở thành
đệ tử của Như Lai Thế Tôn thì không ai còn tự xưng rằng
tôi là sông Sát đế lợi, tôi là sông Bà la môn, tôi là sông
này sông nọ nữa mà chỉ có sông Phật giáo, sông của giác
ngộ giải thoát, không có con sông thứ hai. Điều quy đó đã
được Tăng chúng chấp nhận ngay từ đầu và do đó không
có lý gì mà bà Ma ha Ba xà ba đề và năm trăm bà hoàng khi
đi tu để cống cao ngã mạn. Điểm thứ hai nữa là khi ta
đọc vào các bản văn của Phật giáo Pali, chưa bao giờ có
một đoạn nào nói rằng bà là người cống cao ngã mạn.
Các bà hoàng kia là những người ngang tàng khinh bỉ người
nam, chưa hề có. Như vậy cơ sở lý luận để làm dẹp bớt
tâm ngã mạn có thích hợp hay không? Cơ sở lý luận đó tưởng
chừng như là rất vững chãi nhưng xem ra thì nó không có cơ
sở”.
Tôi
cảm thấy cơ sở lý luận của Thích Nhật Từ cũng thế thôi.
Đành rằng là đức Phật luôn dạy mọi thành viên trong Tăng
đoàn nên thương yêu, cư xử bình đẳng, thanh tịnh, hòa hợp,
không phân biệt… nhưng giáo đoàn của Ngài không phải tất
cả đều là Thánh Tăng và không phải vừa gia nhập vào giáo
đoàn vậy là đã bỏ hết mọi nếp suy nghĩ trước kia. Nếu
nói thế thì ngài Nan Đà xuất gia rồi còn nhớ vợ làm gì
và khá nhiều Tỳ Kheo trêu chọc ngài Nan Đà là “người
làm thuê” làm gì? Đề Bà Đạt Đa đâu có tranh hơn thua
và tìm cách giết Phật? Số lượng Tỳ kheo theo Đề Bà Đạt
Đa cũng không phải là ít. Còn có nhóm Lục Quần Tỳ Kheo
gây bao nhiêu rối rắm cho Tăng đoàn nữa. Nếu thầy Nhật
Từ đọc 2 đoạn sau:
ÐẠI
ÐỨC SÀRÌPUTTA BỊ KHIỂN TRÁCH VÌ NHÓM HỌC TRÒ
“Theo
Càtuma Sutta, tức kinh số 67 trong Majjhima Nikàya, thì có một
lần đức Phật đã khéo léo khiển trách Trưởng lão Sàrìputta
như sau:
"Lúc
ấy có một số đông Tỳ-khưu mới nhập môn, là những đệ
tử của hai Ðại Ðức Sàrìputta và Mahà Moggallàna. Lần đầu
tiên họ kéo đến để xin ra mắt đức Phật, nhưng khi đến
nơi lại chia ra làm nhiều nhóm nói lời nhảm nhí với những
Tỳ-khưu đang ngụ trong tịnh xá Càtuma.
Nghe
có sự ồn ào, đức Phật liền tập trung Tăng chúng để
hỏi nguyên do. Ngài được biết đó là sự hỗn loạn bởi
những vị Tỳ-khưu mới đến gây ra. Trong kinh không nói rõ
là các vị Tỳ-khưu thăm viếng có mặt lúc Phật hỏi hay
không. Nhưng chắc chắn là họ phải có mặt, vì đức Phật
đã nghiêm khắc thốt ra những lời dạy như sau:
- Này
các Tỳ-khưu! Các ông hãy đi ngay. Như Lai muốn các ông ra
khỏi chỗ này lập tức. Các ông không thể đến gần một
vị Phật bằng đức hạnh như vậy.
Bị
quở phạt, có một số Tỳ-khưu kinh sợ bỏ đi, còn một
số chỉ có mặt trong đám chứ không gây ra sự ồn ào đuợc
phép ở lại.
Sau
đó đức Phật nói với Ðại Ðức Sàrìputta:
- Này
Sàrìputta! Ông nghĩ như thế nào khi Như Lai đuổi nhóm Tỳ-khưu
ấy?
- Bạch
đức Thế Tôn! Ðệ tử nghĩ: "Ðức Thế Tôn muốn giữ mãi
sự trang nghiêm thanh tịnh trong lúc này". Do đó chúng đệ
tử phải tôn trọng và vâng lời, rút lui một cách có trật
tự.
Ðức
Phật dạy:
- Này
Sàrìputta! Dừng lại! Ðừng để cho những ý nghĩ như thế
phát sanh trong ông nữa.
Và
đức Phật quay sang Ðại Ðức Mahà Moggallàna cũng hỏi một
câu tương tự.
Ðại
Ðức Mahà Moggallàna trả lời:
- Bạch
đức Thế Tôn! Khi đức Thế Tôn đuổi những vị Tỳ-khưu
ấy đi, đệ tử nghĩ rằng: "Ðức Thế Tôn vì muốn giữ
lại sự trang nghiêm thanh tịnh để làm gương giải thoát
cho tất cả nhân loại". Do đó đệ tử và đạo huynh Sàrìputta
giờ đây phải trở về chăm lo Tăng chúng.
Ðức
Thế Tôn nói:
- Này
Mahà Moggallàna! Ðúng thế! Ông trả lời đúng đấy! Việc
cần thiết hoặc là chính Như Lai, hoặc là Sàrìputta hoặc
là Mahà Moggallàna phải đích thân khuyên giáo chúng Tăng”.
Và
đoạn ÐẠI ÐỨC SÀRIPUTTA BỊ VU CÁO
“Có
một lần đức Phật ngụ tại Kỳ Viên tịnh xá cùng với
đông đảo chúng Tăng, Ðại Ðức Sàrìputta là nạn nhân của
một sự kết tội sai lầm. Chuyện xảy ra như sau:
Lúc
ấy là thời gian ra hạ, mùa mưa cũng vừa chấm dứt. Chư
Tăng phương xa đến nhập tại Kỳ Viên tịnh xá đang lần
lượt kiếu từ đức Phật và những vị Tôn túc để trở
về.
Vì
Tăng chúng quá đông nên khi tạm biệt nhau, Ðại Ðức Sàrìputta
đã thành thật tuyên bố một câu: "Bần đạo chỉ quen nhớ
những vị nào theo tên ám chỉ giới hạnh hơn là tên của
gia đình đặt cho họ".
Trong
số đó có một vị Tỳ-khưu, không ai biết tên gọi căn cứ
theo giới hạnh của ông là gì hoặc tên của gia đình đặt
cho ông ra sao. Nhưng vì ông hằng mong muốn Ðại Ðức Sàrìputta
gọi ông bằng một cái tên ám chỉ ông là người Ðức Hạnh,
ít nhất cũng trong khi cáo từ nhau.
Tuy
nhiên, giữa đám đông Tăng chúng, Ðại Ðức Trưởng lão
đã không cho ông ta sự phân biệt này. Và vị Tỳ-khưu ấy
đã trở nên bất mãn, ông bèn suy nghĩ: "Ngài không tiếp độ
mình như tiếp độ những vị khác?".
Rồi
ông ta có mặc cảm Ðại Ðức Sàrìputta đối xử bất công.
Lúc ấy, nhân việc đức Trưởng lão đi ngang, chéo y của
Ngài bị gió phất quét nhẹ lên mình ông, khiến ông càng
bực tức hơn nữa. Ông liền đến gần đức Phật phàn nàn:
-
Bạch đức Thế Tôn! Chắc Ðại Ðức Sàrìputta đang hãnh
diện mình là một Ðại đệ tử nên đã đánh con một tát
tay đến nỗi tai con gần như bị hỏng. Sau khi làm như vậy,
Ngài đã không tỏ ra vẻ người hối lỗi với con mà còn
bỏ đi không đếm xỉa gì đến con cả.”[10]
Thì
thầy Nhật Từ sẽ thấy các Tỳ Kheo không hòa hợp với nhau
như nước trong một dòng sông. Hơn thế nữa, mời thầy Nhật
Từ đọc lại đoạn này: Hạ Thứ Mười - tại rừng Parileyyaka.
“Trong
lúc Đức Phật ngự tại Kosambi, một vụ tranh luận xảy ra
giữa hai nhóm tỳ khưu - một nhóm giỏi về Kinh và một nhóm
giỏi về Luật - vì có một vị phạm nhằm một giới nhỏ
có liên quan đến cách thức sử dụng phòng vệ sinh. Những
người ủng hộ cũng chia làm hai phe. Đức Phật bổn thân
đứng ra giàn xếp cũng không xong. Hai bên đều tỏ ra có tánh
gây gỗ, và niềm bất hòa ngấm ngầm tiếp diễn. Đức Phật
suy nghĩ:
"Trong
tình trạng hiện tại, đám đông người này cố tâm muốn
lấn áp nhau, khiến cho những ngày an cư kiết hạ của ta trở
nên bất ổn. Hơn nữa chúng Tăng ở đây không để ý đến
lời dạy của ta. Hay là ta rời khỏi đám đông để ẩn dật
trong rừng sâu".
Liền
đó, không cho chư Tăng biết, Ngài một mình ra đi, đến khu
rừng Parileyyaka, và nhập Hạ dưới gốc một cây sala (long
thọ) tươi đẹp.
Theo
tích chuyện được kể lại, trong thời gian này có một con
voi và một con khỉ theo hầu cận và lo lắng mọi nhu cầu
cho đức Phật.” [11]
Vậy
thầy Nhật Từ có cảm thấy cái mớ lý thuyết suông: “Cơ
sở lý luận đó tưởng chừng như là rất vững chãi nhưng
xem ra thì nó không có cơ sở, ở chỗ là đức Phật đã nói
sa môn thích tử giống như trăm sông chỉ khác nhau cấu hình
địa lý, khác nhau về lớn nhỏ hương vị và màu sắc khi
tuông ra biển cả rồi thì nó chỉ còn một chất liệu duy
nhất là biển, bản chất của nó là vị mặn. Khi trở thành
đệ tử của Như Lai Thế Tôn thì không ai còn tự xưng rằng
tôi là sông Sát đế lợi, tôi là sông Bà la môn, tôi là sông
này sông nọ nữa mà chỉ có sông Phật giáo, sông của giác
ngộ giải thoát, không có con sông thứ hai. Điều quy đó đã
được Tăng chúng chấp nhận ngay từ đầu…” là không phù
hợp với thực tế xưa và nay của Tăng đoàn hay không? Đâu
phải là đợi đến lúc chế ra giới luật là mới có vi phạm
trong giáo đoàn, thật ra là có những biểu hiện không thanh
tịnh hòa hợp của một số thành viên trong giáo đoàn, nhưng
đức Phật chỉ dạy trực tiếp những người đó về các
vấn đề đó, rồi mãi đến sau này khi hội đủ nhân duyên
giới bổn mới hình thành sau mà thôi. (PhapThoại.Net)
15-08-2006