THAY
LỜI KẾT:
Đến
giờ này mỗi người hãy nên suy nghĩ một lần nữa và tự
chọn cho mình câu trả lời cho ba câu hỏi lớn liên quan đến
việc hiểu và hành trì Bát Kính Pháp sau đây:
1/
Bát Kính Pháp có phải là do chính Phật chế ra không?
2/
Nếu Bát Kính Pháp do Phật chế ra thì Bát Kính Pháp nhằm
cho Ni giới thời đức Phật phụng hành hay cho Ni giới mọi
thời đại phụng hành? Ngày nay nếu Ni giới không hành trì
theo Bát Kính Pháp thì Tỳ kheo Ni có còn đủ tư cách Tỳ kheo
Ni nữa không?
3/
Bát Kính Pháp có phải gây nên sự bất công đối với Ni
giới không? Nếu tiếp tục hành trì Bát Kính Pháp, thì ngày
nay Ni giới nên hành trì Bát Kính Pháp như thế nào?
Chỉ
có Như Lai mới hiểu Như Lai trọn vẹn. Hơn 2500 năm trôi qua
kể từ thời đức Phật đến nay và mọi thứ đổi thay.
Trong chúng ta, không ai mạnh dạn tự cho là mình đã nhổ sạch
vô minh và nắm chân lý trong tay (tôi không biết ai là người
ngộ Đạo rồi?). Tất cả những phần trình bày trên cũng
chỉ phản ánh suy nghĩ của tôi và nhờ đó tôi không “sốc”
về Bát Kính Pháp. Cái chính là: tôi không cảm thấy Như Lai
Thế Tôn bị thương tổn, giáo pháp có sự chống trái và
hành trì lợi lạc, vậy là tốt rồi. Xin đóng góp nơi đây
ý kiến của tôi trong việc tìm câu trả lời cho 3 câu hỏi
nêu trên:
1/
Chưa
có đủ chứng cớ để chứng minh Bát Kính Pháp không phải
do Phật chế ra, Bát Kính Pháp hiện diện trong Tam Tạng Kinh
Điển tại Ấn Độ và các nước Phật giáo hiện diện.
Nếu đặt lại vấn đề về Bát Kính Pháp, chúng ta có quyền
đặt lại vấn đề đối với bất cứ bài Kinh, Luật, Luận
nào được ghi chép lại. Tôi đọc nhiều lần ở nhiều sách
khác nhau cùng ghi dữ kiện thế này: Tôn giả Phú-lâu-na (Purana)
(vị thuyết pháp đệ nhất trong Thập Đại Đệ Tử Phật)
vì đi du hóa phương xa quay về không kịp dự Kỳ Kiết Tập
Kinh Điển lần thứ I. Khi nghe thông báo về nội dung và kết
quả Kỳ Kiết Tập này, Ngài trả lời:“Pháp Luật này được
kiết tập bởi các Trưởng lão Tăng già, tuy nhiên tôi sẽ
nhớ và hành trì những gì mà tôi được nghe từ chính kim
khẩu Thế Tôn” (đọc thêm: “Only five hundred Arahants attended
the Council but there were at that time tens of thousands of Bhikkhus,
some of them also with great followings. We have a picture of one of these
Teacher-monks in a little incident recorded at the end of the account of
this Council. Venerable Púrana came to the Council-elders when they had
finished. He was asked, ,,Friend Púrana, the Dhamma-Vinaya have been rehearsed
by the elders. Do you support that rehearsal?“ His rather cryptic reply
was, ,,Friends, the Dhamma-Vinaya have been well rehearsed by the elders
I, however, shall remember them as I heard them from the Blessed One’s
own lips”.)[22]
Câu
nói của ngài Phú Lâu Na có ý nghĩa là: có sự khác nhau trong
sự nghe, sự hiểu của Ngài về giáo pháp Như Lai so với giáo
háp được kiết tập lại. Vậy là, ngay nơi các vị đại
đệ tử trực tiếp của Phật và ngay khi Phật vừa mới nhập
Niết bàn mà còn không có sự thống nhất ý kiến với nhau
về giáo pháp Như Lai thì huống chi là ngày nay.
Không
riêng gì Bát Kính Pháp, nhiều người còn đặt vấn đề về
giới luật: có phải hệ thống luật Tỳ kheo và Tỳ kheo Ni
là do Phật chế ra đầy đủ như vậy hay là Phật chỉ chế
ra một số giới luật căn bản cho Tỳ kheo và Tỳ kheo Ni thôi,
rồi sau đó trong thời kỳ phân phái, các bộ phái mặc sức
mà “phát triển” (đưa thêm vào) các giới luật này? Lý
do cho sư nghi vấn như Hòa thượng Thích Chơn Thiện đã nêu
trong sách: “Phật Học Khái Luận” như sau:
“Về
giới bổn Tỷ-kheo, Tăng
Chi Bộ Kinh I, tr. 267 (bản dịch của Hòa thượng Minh
Châu, 1980) ghi rõ bản giới bổn của chư Tăng tụng đọc
mỗi nửa tháng một lần chỉ gồm có một trăm năm mươi
học giới mà không liệt kê danh sách các học giới ấy. Có
lẽ không có một trăm chúng học là những pháp được thêm
về sau. Ví dụ, điển hình pháp chúng học từ số sáu mươi
đến tám mươi lăm là đề cập liên hệ đến tháp Phật.
Lúc Phật còn tại thế thì chưa có tháp, vì thế chúng ta
biết rằng các giới ấy được thiết lập về sau.”
Về
Giới bổn Tỷ-kheo-ni, trường hợp các pháp chúng học cũng
tương tự. Dựa theo kinh tạng, có thể xác định rằng ngay
thời Thế Tôn tại thế, đã thiết lập hai bản Giới bổn
Tăng và Ni khác nhau. Trong đề mục Ni giáo giới (Tăng Chi III-A,
tr. 252-253; bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu, 1981),
ghi rõ: “... Ðối với vị giáo giới, hai Giới bổn Pàtimokkha
được khéo trao truyền lại một cách rộng rãi...” Bên cạnh
Giới bổn này, Tỷ kheo-ni còn lãnh thọ thêm “Bát kỉnh pháp”,
trọn đời cung kính, tôn trọng, không được vượt qua.”[23]
Cũng
tương tự, nghi vấn này là khá lớn, như Người Hà-Nội đã
nêu trong bài viết “GÓP VÀI Ý KIẾN VỀ BÀI GIẢNG “BÁT
KỈNH PHÁP” của Tỳ Kheo THÍCH NHẬT TỪ” như sau:
“TieuTang
viết: Tại sao Luật tỳ-kheo đức Phật chế ra 250 giới
ngược lại luật Tỳ-kheo-ni đức Đạo sư lại chế ra 348
giới?… Vì giới luật đức Phật luôn luôn căn cứ vào tướng
phạm của Tỳ-kheo và Tỳ-kheo Ni để chế giới, chứ
Ngài không bao giờ chế giới trước khi đệ tử của mình
phạm?” Vậy thì các nữ đệ tử của Đức Phật đã phạm
348 giới nên đức Phật mới phải chế ra 348 giới cho Tỳ
kheo Ni. Và các nam đệ tử của Phật cũng đã phạm 250 giới
cho nên Đức Phật mới phải chế ra 250 giới cho Tỳ Kheo?
Nhưng thử hỏi trong bộ giới luật thì có bao nhiêu giới
luật được chế ra nguyên do vì phạm giới? Tôi xin hỏi,
Tieu Tang đã đọc kỹ bản giới luật cho Tỳ Kheo và cho Tỳ
Kheo Ni chưa? Tôi tin rằng chưa. Này nhé, Giới luật thứ
51 trong 100 Giới Học ngăn cấm Tỳ kheo Ni không được đứng
mà đại tiện hay tiểu tiện. Phải chăng đức Phật thấy
Tỳ kheo Ni, hay được báo cáo là Tỳ kheo Ni, đã đứng mà
đại tiện hay tiểu tiện nên ra luật cấm này? “Mà có thật
là đức Phật đã chế ra 348 giới luật cho Tỳ Kheo Ni không?”
Theo
bản dịch của Tỳ
kheo Thích Trí Quang thì trong phần 100 Giới Học, từ Giới
thứ 60 (Không được ngủ nghỉ trong tháp Phật, trừ ra để
coi giữ, phải học.) và những giới cấm như sau: 74.- Không
được đại tiện tiểu tiện nơi tháp Phật, phải học. Thứ
75.- Không được hướng về tháp Phật mà đại tiện tiểu
tiện, phải học. Thứ 76.- Không được đại tiện tiểu tiện
bốn phía tháp Phật để hơi thối bay vào, phải học. Thứ
77.- Không được mang ảnh tượng của Phật đến chỗ đại
tiện tiểu tiện, phải học.… đến Giới Thứ 84.- Không
được ngồi duỗi chân trước tháp Phật, phải học, đều
liên quan đến “Tháp Phật” hay “ảnh tượng” của Phật.
Vậy “Tháp Phật” và “ảnh tượng” của Phật là gì,
có trong khi Phật còn tại thế hay là sau khi đức Phật đã
tịch diệt? Vậy mà TieuTang dám phê phán Tỳ kheo Thích
Nhật Từ là “Có lẽ Thầy không học về luật của Tỳ-kheo
và Tỳ-kheo Ni nên không nắm vững được thâm ý của đức
Đạo sư” và “nhận thức sai lầm què quặt thiếu hiểu
biết của Thầy là một điều đáng hổ thẹn cho một con
người mang danh học vị tiến sĩ.”
Ai
sai lầm què quặt thiếu hiểu biết ở đây? Chỉ có bộ giới
luật của Tỳ kheo Ni mà cũng chẳng đọc kỹ, chẳng hiểu
tác giả là những ai mà cũng tỏ vẻ cao ngạo chê bai người
có sở học chân truyền. Tôi tin chắc Tỳ kheo Thích Nhật
Từ không thể không biết đến những mâu thuẫn và giới
cấm bất khả thi trong 348 giới cấm cho Tỳ kheo Ni mà người
ta thường cho là chính đức Phật đã tuyên dạy, khoan nói
đến Bát Kỉnh Pháp. Ai muốn nghĩ sao thì nghĩ chứ thực tình
tôi không thể tin là một người đã đi đến tột đỉnh
giác ngộ như đức Phật lại còn phải quan tâm đến những
việc nhỏ nhặt như đi đại tiện, tiểu tiện, hay xỉa răng
của Tỳ kheo Ni, trong khi còn bao nhiêu điều quan trọng hơn
cho vấn đề tu tập mà Người cần dạy cho các đệ tử.
Nên nhớ, những điều Người dạy cho đệ tử mới chỉ là
nắm lá trong tay so với những hiểu biết như lá trong rừng
của Người. Những đoạn trích dẫn ở trên về “Tháp
Phật” và “ảnh tượng của Phật” chứng tỏ rằng đó
không thể là Phật ngôn. Vậy mang hai con số 250 và 348 ra để
chất vấn Tỳ kheo Thích Nhật Từ thì có vẻ hơi yếu, vì
đã được đặt trên một căn bản sai lầm.
Thế
nhưng có ít nhất là bốn bằng chứng ghi rõ ràng trong kinh
sách cho việc đã có Tháp Phật khi Phật còn đang tại thế.
Bằng chứng thứ nhất về Tháp Phật:
Sau
khi vua Tần bà sa la và Hoàng tử A Xà Thế nghe một câu chuyện
tiền kiếp và thụ giáo một bài học có ý nghĩa thâm thúy
từ đức Phật, vua Tần Bà Sa La trình bày tâm nguyện tha thiết
đến Thế Tôn như sau:
"Bạch
Ðức Thế Tôn, khi Ngài đi rồi, con sẽ không thể nào kính
lễ Ngài, con sẽ không thể nào thường xuyên cúng dường
Ngài, và điều đó làm con buồn lắm. Xin Ngài cho con một
lọn tóc, xin Ngài cho con vài cộng móng tay, con sẽ tôn trí
tất cả trong tháp giữa hoàng cung của con. Thế là con sẽ
giữ được chút gì gọi là một phần thân thể của Ngài,
và mỗi ngày, con sẽ kết hoa tươi, đốt hương quí để trang
hoàng lễ bái trong tháp.
Ðức
Thế Tôn biếu tất cả những gì mà Tần-bà-sa-la cầu xin,
Ngài nói:
“Hãy
tôn trí tóc và móng tay này trong tháp, nhưng trông tâm con,
hãy ghi nhớ những gì thầy dạy.
Vua
Tần-bà-sa-la hoan hỷ trở lại hoàng cung, Ðức Thế Tôn lên
đường sang thành Ca-tỳ-la-vệ.”[24]
Bằng
chứng thứ hai về Tháp Phật: Câu chuyện liên quan ý nguyện
của cung phi XơRiMaTi của vua Tần-bà-sa-la:
“Nhằm
tiết xuân sang, trăm hoa đua nở. Trong rừng, các loài chim thi
nhau ca hát vui mừng. Vua và Hoàng hậu, có cung phi mỹ nữ theo
hầu, xuất hành ngự đến vườn hoa trong Rừng Tre. Cung phi
tâu:
- "Tâu
bệ hạ, ban ngày chúng tôi không thể đến hầu Phật. Vậy
xin bệ hạ cho lập trong cung một ngọn Tháp thờ tóc và móng
tay của đức Thế Tôn. Chúng tôi sẽ được vọng bái thường
thường và cúng dường Phật các thứ bông hoa, hương thơm,
tàn lọng, cờ phướn".
Vua
Tần Bà Ta La bèn đến bạch Phật: "Cúi xin Ngài ban cho chúng
con tóc thừa và móng tay dư để thờ. Chúng con định xây
một ngọn Tháp trong cung để phụng thờ Thế Tôn. Ðức Phật
ban tóc và móng tay cho vua. Rồi đó, vua Tần Bà Ta La và các
bà phi rất cung kính, cho xây một ngọn Tháp thờ tóc và móng
tay của Phật, ở ngay giữa Hoàng cung. Từ đó, các bà phi
thường vào Tháp dùng đèn, hương hoa, cúng dường Ðức Phật.”[25]
Bằng
chứng thứ ba về Tháp Phật:
“…Vừa
lúc ấy có một đoàn xe 500 cổ từ xứ Ukala (nay thuộc địa
phận tỉnh Grandjãm), thuộc miền Nam, chở hàng hóa lên miền
Bắc như Bayã, Rajagaha, Vésali vừa đến địa phận làng Uruvela,
có nhiều xe bị trục-trặc, cái thì súc bánh,... Hai người
lái buôn, chủ của đoàn xe tên Tapussa (Sa-Lệ-Phú-Ba) và Bhallika
(Bấc-Lê-Ca) nhảy xuống rảo bước xem coi có việc chi bất
thường chăng. Hai người chợt thấy đức Phật đương tĩnh
tọa dước cội cây Tãrãyana, hào quang tủa sáng như mặt
trời ban mai, họ định tỉnh tinh thần và nói với nhau: Ðây
là một vị Thánh nhân và giờ nầy có lẽ Ngài cũng sắp
sửa thọ trai, vậy chúng ta nên đem vật thực cúng-dường
cho Ngài. Tapussa và Bhallika trở lại xe lấy món thực phẩm
nấu mật và mía róc, đến gần mọp lạy dưới chân đức
Phật và sau khi đi ba vòng quanh đức Phật, đứng chấp tay
cung kính bạch: Xin đức Thế Tôn xuống phước thọ nhận
vật thực chúng tôi đem đến dâng cúng cho Ngài…
Hai
người rất thỏa-thích, liền xin qui-y với đức Phật và
cầu xin Ngài ban cho một vật kỷ niệm để tôn-thờ…
Ðức
Phật hoan hỷ cho họ qui y theo Ngài và cho họ ít sợi tóc
và rẻo móng tay làm kỷ niệm.
…Hai
người nầy cầm đầu đoàn thương-đội, đi từ Nam lên Bắc,
từ Bắc xuống Nam, và nhiều khi mướn thuyền vượt biển
sang qua các xứ hải-ngoại. Ði đến đâu họ đem vật kỷ
niệm ấy ra chiêm bái và gây ảnh hưởng tốt đẹp cho sự
truyền bá Phật pháp. Sau lại hai người lái buôn đến kinh
doanh lập nghiệp tại Miến Ðiện, xây tháp thờ tóc và móng
tay của đức Phật tại thành Rangoon (Ngưỡng Quãng). Vua Miến
Ðiện cũng như các vị vua xứ kế cận, nhờ sự loan truyền
tin tức của hai ông Tapussa và Bhallika, sang tận Ấn Ðộ ra
mắt đức Phật, thọ giáo qui y, đem lời giáo huấn của đức
Thế Tôn về khuyên dạy dân chúng và bắt đầu tham dự vào
công việc kiến trúc đền thờ xá lợi tóc và móng tay, tiếp
sức với hai vị cư sĩ đầu tiên khuyếch đại Thánh tháp,
đến nay đền thờ ấy trở thành một kỳ quan vô giá tại
trung tâm kinh đô Miến Ðiện gọi là Shwedagon.” [26]
Bằng
chứng thứ tư về Tháp Phật tại Na-kiệt (Nagarahàra):
“Chừng
100 bước về phía Tây của hang Bóng Phật, là nơi Ðức Phật
đã cạo tóc và cắt móng tay. Ngài đã đích thân cùng các
đệ tử xây một cái tháp cao 70-80 bộ để làm mẫu cho những
cái tháp tương lai. Tháp này hiện nay vẫn còn” (c: 2b, 8).[27]
Về
hình tượng Phật thì đã có từ khi Phật còn tại thế, cụ
thể là vào Hạ Thứ Bảy khi Phật thuyêt pháp tại cung Trời
Tavatimsa (Đao Lợi):
Tại
Xá vệ: “Khi Phật lên cung trời ba mươi ba để thuyết pháp
cho mẹ trong ba tháng, vua pasenadi (Ba-tư-nặc) nhớ Phật, sai
thợ khắc hình tượng Ngài bằng gỗ chiên đàn và đặt tượng
ngồi trên tòa của Phật. Về sau, khi Phật trở về, tượng
bèn rời chỗ đi ra đón chào Ngài. Phât dạy: “Ngài cứ ngồi
yên chỗ. Sau khi tôi nhập Niết bàn. Ngài sẽ làm mẫu mực
cho bốn chúng đệ tử tạc tượng trong tương lai”. Khi ấy
tượng trở lại chỗ ngồi. Ðây là pho tưọng Phật đầu
tiên đã được tạc, và người đời sau lấy mẫu từ đó.
Rồi đức Phật dời về một tu viện nhỏ khác ở phía Nam,
cách chỗ của tượng tưởng chừng 20 bộ" (c: 3b, 15 - 17).[28]
Vậy
thì vấn đề rối rắm nảy sinh là tại vì chúng ta không
học hết, nghe, thấy, biết hết, học lụp chụp, từng đoạn
trong tam tạng kinh điển nên thường hay thấy chống trái rồi
thắc mắc đủ mọi điều, lại hăng hái phán xét thế này,
thế nọ thôi, chứ còn bản thân chánh pháp thì khúc đầu,
khúc giữa và khúc cuối nào có chống trái với nhau?
Điều
này khiến chúng ta nhớ về giai thoại văn học giữa hai danh
tài thuộc bậc nhất đời Tống: Tô Đông Pha và Vương
An Thạch. Tô Đông Pha đọc thơ của Vương An Thạch, thấy
có hai câu:
“Minh
nguyệt sơn đầu khiếu
Hoàng
khuyển ngọa hoa tâm.”
Đông
Pha chê là vô lý: trăng sáng sao lại hót ở đầu núi, chó
vàng sao lại nằm trong lòng hoa được? Do nghĩ như vậy nên
Đông Pha lấy bút sửa chữ “khiếu” ra chữ “chiếu”,
sửa chữ “tâm” thành chữ “âm”, thành ra:
“Minh
nguyệt sơn đầu chiếu
Hoàng
khuyển ngọa hoa âm”.
(Trăng
sáng soi đầu núi
Chó
vàng nằm dưới hoa).
Sau
đó, Tô Đông Pha bị đổi tới một nơi ở phía nam. Ở đó,
Đông Pha thấy một loài chim tên là Minh nguyệt, và một loài
sâu tên là Hoàng khuyển. Lúc đó, Đông Pha nhớ lại hai câu
thơ của Vương An Thạch, có nghĩa là:
Con
chim Minh nguyệt hót ở đầu núi
Con
sâu Hoàng khuyển nằm giữa đóa hoa.
Lúc
ấy Đông Pha mới biết kiến thức của mình còn kém họ Vương
nhiều.
Dù
sao thì cuối cùng Tô Đông Pha cũng ngộ ra cái dốt và ngạo
mạn, thất lễ của mình khi trước, không biết có phải là
chúng ta đang giẫm lên vết xe đổ của Tô Đông Pha - chê
bai khi chưa hiểu biết và xem xét tường tận hết – mà lại
bê trễ sám hối hơn Tô Đông Pha không?
Nhân
đây, xin nói thêm về quan điểm đối với giới luật. Có
phải là đức Phật quá chi li, khe khắt chế ra những giới
luật nhỏ nhặt chỉ làm vướng bận thêm chứ không giúp
ích cho việc giải thoát không ? – theo như lời bình của
Cư Sĩ Người Hà-Nội:
“Ai
muốn nghĩ sao thì nghĩ chứ thực tình tôi không thể tin là
một người đã đi đến tột đỉnh giác ngộ như Đức Phật
lại còn phải quan tâm đến những việc nhỏ nhặt như đi
đại tiện, tiểu tiện, hay xỉa răng của Tỳ kheo Ni, trong
khi còn bao nhiêu điều quan trọng hơn cho vấn đề tu tập
mà Người cần dạy cho các đệ tử. Nên nhớ, những
điều Người dạy cho đệ tử mới chỉ là nắm lá trong tay
so với những hiểu biết như lá trong rừng của Người.”
Đúng
là đối với Giới
bổn Ba-la-đề-mộc-xoa (Patimokkha) trong đó có Tỳ kheo giới
và Tỳ kheo Ni giới thì nhân phạm chế giới tức là: “Theo
truyền thống, chư Thế Tôn chỉ thiết lập các giới điều,
khi nào thấy cần thiết, khi nào đầy đủ nhân duyên. Khi
có một hiện tượng vi phạm gây nên một ảnh hưởng không
tốt cho sinh hoạt của Tăng chúng thì Thế Tôn mới kiết giới,
thành lập thêm một giới điều để ngăn ngừa hiện tượng
xấu ấy xảy ra về sau.”[29]
Cư
Sĩ Người Hà-Nội thắc mắc: “Giới luật thứ 51 trong 100
Giới Học ngăn cấm Tỳ kheo Ni không được đứng mà đại
tiện hay tiểu tiện. Phải chăng Đức Phật thấy Tỳ kheo
Ni, hay được báo cáo là Tỳ kheo Ni, đã đứng mà đại tiện
hay tiểu tiện nên ra luật cấm này?”
Về
giới luật quy định đại tiểu tiện thì duyên cớ xảy ra
như sau:
“Luật
tạng ghi rằng một lần các Phật tử và ngoại đạo chê
trách các vị Tỳ-kheo đứng mà tiểu tiện, cho rằng cung cách
đó là thô tháo, thiếu lịch nhã. Khi sự việc này được
trình lên Thế Tôn, Thế Tôn bèn dạy: “Vậy thì từ nay các
Tỷ-kheo, ngồi mà tiểu tiện”. Nhưng ở một quốc độ khác,
khi chư Tỷ-kheo ngồi tiểu tiện thì lại bị chê rằng các
đệ tử của Thế Tôn toàn là nữ giới. Khi sự việc này
trình lên Thế Tôn, Thế Tôn lại dạy: “Nếu vậy, thì đứng
mà tiểu vậy." Thế có nghĩa là tùy theo quốc độ, tùy theo
văn hóa mà thích ứng. Đấy là một trường hợp điển hình
nói lên tính chất linh động và cởi mở của Giới.”[30]
Thực
ra khi dạy "Vậy thì từ nay các Tỷ-kheo, ngồi mà tiểu tiện”,
Thế Tôn đã mở ra rộng hơn:
1)
Tỳ-khưu nên làm như vầy: ta không bịnh, không đứng tiểu
hoặc đại tiện. Trong khi mắc đại tiểu tiện gấp rút không
phạm tội (nathito agilàno uccàram vàpassàvamvàkarana).
2)
Tỳ-khưu nên làm như vầy: ta không bịnh, không đại hoặc
tiểu tiện, khạc nhổ, hỉ mũi trên chỗ xanh nhứt là cây
cỏ tươi, dầu rễ cây còn sống cũng đều gọi là xanh cả
(naharite agilàno uccàram vàpassàvamvàkarana).
3)
Tỳ-khưu nên làm như vầy: ta không bịnh không đại hoặc
tiểu tiện, khạc nhổ, hỉ mũi trong nước (na udake agilàno
uccàram vàpassàvamvàkarana).
Bởi
vì: các Phật tử và ngoại đạo chê trách các vị Tỳ-kheo
đứng mà tiểu tiện, cho rằng cung cách đó là thô tháo, thiếu
lịch nhã cho nên việc chế giới liên quan đến đại tiểu
tiện là hết sức cần thiết để giữ tịnh tín, tôn kính
của Phật tử và quần chúng đối với Tỳ kheo có vậy họ
mới quy ngưỡng, học hỏi mà không còn vướng mắt, khó chịu
trước dáng vẻ thô tháo, thiếu lịch nhã của các Tỳ kheo
ấy nữa.
Những
việc như vậy không nhỏ nhặt tí nào, vì Tỳ kheo và Tỳ
kheo Ni cần gồm đủ cả thân giáo, khẩu giáo, ý giáo và
là biểu tượng của Chân Thiện Mỹ thì Phật tử và quần
chúng tin tưởng tu học theo, ngược lại, nếu không khéo ý
tứ giữ gìn khiến họ không muốn tiếp cận Tăng Ni và khinh
chê hủy báng Tam bảo.
Việc
nhỏ làm chưa xong thì nói gì làm được việc lớn. Điều
quan trọng trong hành đạo là tùy thuận chúng sanh. Quyết định
việc lớn hay nhỏ là xét tác dụng ảnh hưởng của nó đối
với việc tu học của mình và mọi người. Như vậy việc
đai tiểu tiện cho hợp lẽ lại là điều rất quan trọng
vì người khác căn cứ vào đó mà đánh giá đẳng cấp, trình
độ văn hóa, việc tôn trọng người khác, ý tứ trước sau,
bảo vệ môi trường là thước đo của việc chánh niệm tỉnh
giác, rửa sạch thân tâm, lộn xộn, bừa bãi, thô tháo, không
cần biết đến ai, làm ố nhiễm môi trường…không phải
là tánh cách của các bậc phạm hạnh.
Trong
mối liên hệ này, một khi chế giới về tiểu tiện cho Tỳ
kheo Tăng, Phật lại nghĩ đến và tiện thể chế giới Tỳ
kheo Ni ngồi tiểu tiện là phù hợp thôi. Bởi vì quần chúng
nếu mà thấy Tỳ kheo Ni tiểu đứng thì thật là khó coi.
Lại
một câu hỏi tiếp nữa là: Có bao giờ phụ nữ tiểu đứng
đâu mà lo chế giới?
Cũng
có đó, ví dụ có một nhân vật được nhiều người
ca ngợi là tiêu biểu cho phụ nữ Việt Nam – Út Tịch –
đã biểu diễn làm việc đó cho quần chúng xem. Nhưng nếu
chúng ta thử hình dung trong những hoàn cảnh thế này: Có những
vị Ni đi trong rừng đất đá lỏm chỏm, cỏ xước mọc đầy,
tương đối khó ngồi xuống, hoặc trong những cách đồng
mênh mông, cỏ và hoa màu mọc cao, hoặc là những vùng nước
quá đầu gối,… khi Tỳ kheo Ni có cảm giác là xung quanh mình
không có ai thì có thể tiểu đứng lắm chứ? Vấn đề là
rủi như đúng vào lúc ấy, có ai khác trông thấy thì họ
sẽ sanh ý, đánh giá và khiến có ảnh hưởng chung cho giáo
đoàn Phật giáo.
Tóm
lại câu trả lời cho câu hỏi số 1 (Bát Kính Pháp có phải
là do chính Phật chế ra không?) là: Dù bất đồng ý kiến
thế nào đi nữa nhưng một khi Bát Kính Pháp đã được ghi
chép rành rành trong kinh luật mà chưa ai có cách gì chứng
minh thuyết phục là: Bát Kính Pháp chỉ là sự thêm thắt
sau này chứ không phải do Phật thuyết ra thì hiện tại nên
tiếp tục chấp nhận Bát kính Pháp là do Phật thuyết.
Bây
giờ xin chuyển sang phần tìm câu trả lời cho câu hỏi số
2:
2/
Nếu Bát Kính Pháp do Phật chế ra thì Bát Kính Pháp nhằm
cho Ni giới thời đức Phật phụng hành hay cho Ni giới mọi
thời đại phụng hành? Ngày nay nếu Ni giới không hành trì
theo Bát Kính Pháp thì Tỳ kheo Ni có còn đủ tư cách Tỳ kheo
Ni nữa không?
Muốn
biết Bát Kính Pháp được chế ra nhằm cho Ni giới thời đức
Phật phụng hành hay cho Ni giới mọi thời đại phụng hành
chúng ta xét những lời căn dặn của đức Phật và tính chất
của Bát Kính Pháp có liên quan đến bối cảnh xã hội và
tình hình của Tăng và Ni lúc đó không?
Sách
“Đức Phật và Phật Pháp” ghi lại là: trước khi chấp
nhận Dì Mẫu Ma Ha Ba Xà Ba Đề và 500 thể nữ thuộc dòng
họ Thích vào giáo đoàn, Đức Phật bảo Ngài A Nan: “Này
Ananda, nếu bà Maha Pajapati Gotami chấp thuận Tám Giới Chánh
bà sẽ được phép thành lập Giáo Hội Tỳ Khưu Ni.”
Sau
khi ban hành Bát Kính Pháp, đức Phật dạy: “Những giới
luật trên đây phải được tôn trọng trọn đời, phải được
kính nể và không được thay đổi, xê dịch”[31].
Tôi
cũng tìm thấy nội dung lời căn dặn tương tự như trên trong
cách sách sử khác (với tiếng Việt và tiếng Anh). Theo mạch
văn đó thì Bát Kính Pháp dành cho Dì Mẫu Ma Ha Ba Xà Ba Đề,
Da Du Đà La và 500 thể nữ dòng họ Thích và những người
Ni được tiếp nhận vào giáo đoàn sau này trong thời Đức
Phật. Quý vị ấy chỉ cần chấp nhận và giữ Bát Kính Pháp
thì lập tức trở thành Tỳ kheo Ni nhưng sau này, khi hệ thống
giới luật đã được thiết lập chặt chẽ thì muốn làm
Tỳ kheo Ni không chỉ giữ Bát Kính Pháp trọn đời là đủ
nữa mà còn phải thọ và giữ Tỳ kheo Ni giới bổn với số
lượng khá nhiều giới luật. Nhưng có một điều, các văn
bản lưu truyền không có ghi chép lời Đức Phật nói rằng:
Kể từ nay cho đến mãi mãi về sau, hễ là Tỳ kheo Ni trong
giáo Pháp của Phật thì phải giữ Bát Kính Pháp này.
Lúc
sắp nhập diệt, đức Phật đã thông qua ngài A Nan mà nhắn
nhủ hàng đệ tử Phật sau này rằng:
“Nếu
chúng Tăng muốn, sau khi Ta diệt độ có thể hủy bỏ những
học giới nhỏ nhặt không cần thiết”.
Vậy
thì quan điểm của tôi thế này, Bát Kính Pháp hết sức quan
trọng và là điều kiện bắt buộc đối với Ni giới khi
Phật còn tại thế như phần phân tích ở trên khi chúng ta
đặt Ni giới vào trong bối cảnh xã hội, đặc điểm tâm
sinh lý phụ nữ, hoàn cảnh và động cơ xuất gia, thói quen
và việc làm của họ trước khi xuất gia, sự non trẻ và
cần sự giúp đỡ của Tăng đoàn,…
Còn
bây giờ khi thời đại, xã hội, cuộc sống đổi thay, trong
điều kiện sống và sinh hoạt tu học hiện tại của mình,
nếu Ni chúng nào cảm thấy nhu cầu bảo hộ của chư Tăng
và Bát Kính Pháp không có tác dụng trong đời sống Phạm
Hạnh xuất gia nữa thì như vậy Bát Kính Pháp trở thành những
học giới nhỏ nhặt không cần thiết và căn cứ theo lời
nhắn nhủ trên, có thể không hành trì theo. Còn Ni chúng nào
cảm thấy Bát Kính Pháp có tác dụng tích cực thì tiếp tục
hành trì theo. Nhưng hãy cẩn thận, xem xét cho kỹ để cho
những cảm nhận và đánh giá của Ni chúng đó đối với
Bát Kính Pháp không mang tính chất chủ quan, hời hợt và có
sự can dự của dễ duôi, giãi đãi, phóng túng và tiêu cực
của mình? Để việc này bảo đảm tính nhất quán, nghiêm
túc và thuận tiện trong việc điều hành chỉnh thể hòa hợp
Tăng già, Ni giới hãy chứng minh với Giáo Hội Phật Giáo
toàn quốc và Liên Hữu (Tổng Hội) Phật giáo thế giới là
Bát Kính Pháp không còn thích hợp và cần thiết cho Ni giới
thời đại ngày nay nữa - hoặc thậm chí làm trở ngại sự
phát triển và đóng góp của Ni giới cho tống thể Phật giáo
nói chung - trong các kỳ Đại Hội Phật Giáo có sự hiện
diện của Ni đoàn và Tăng đoàn và như thế sau khi hội thảo
nghiêm túc và cân nhắc trên nhiều phương diện khác nhau,
Đại Hội sẽ đưa ra qưyết nghị về việc duy trì hay hủy
bỏ Bát Kính Pháp đối với hàng Ni giới.
Một
khi Tăng già đã có quyết định chung là hủy bỏ Bát Kính
Pháp thì Ni giới không hành trì theo Bát Kính Pháp vẫn có
đủ tư cách Tỳ kheo Ni.
Cuối
cùng, chúng ta hãy cùng bàn về câu hỏi số 3:
3/
Bát Kính Pháp có phải gây nên sự bất công đối với Ni
giới không? Nếu tiếp tục hành trì Bát Kính Pháp, thì ngày
nay chư Tăng Ni nên hành trì Bát Kính Pháp như thế nào?
Thực
ra câu này đã được bàn xuyên suốt bài viết này. Tuy nhiên
để kết luận, xin tóm tắt ghi lại đây những điểm chính
nhất có thể giúp chúng ta có sự gợi ý để nhận định
và đưa vào áp dụng trong sinh hoạt Tăng già.
Bát
Kính Pháp không hề gây ra sư bất công đối với Ni giới,
ngược lại Ni giới rất được ưu tiên quan tâm và bảo hộ,
trợ lực cho việc gìn giữ phạm hạnh thanh tịnh. Lời nhận
định của thầy Nhật Từ: “Nhiều người như vậy thôi,
chúng ta thấy khó được chấp nhận lắm. Ở trong điều này,
nó có một cái điều ngầm ý cho thấy rằng, chư Tăng sẽ
không bao giờ bị sai và những gì họ nói, những gì họ làm,
những gì họ phát biểu là chân lý” là không có cơ sở.
“Trong Bát Kính Pháp không có câu nào ghi rằng: hãy tôn kính
đối xử với Tỳ kheo Tăng như tôn kính Phật vì chư Tăng
là những người đã thành tựu phạm hạnh.” Hiển nhiên
không phải là toàn bộ Tỳ kheo Tăng đều đã chứng thánh
quả và không có gì sai trái. Trên kia tôi đã nêu ra các việc
Lục quần Tỳ kheo, các Tỳ kheo vu oan cho Xá Lợi Phất, các
Tỳ kheo hăng hái tranh cãi và không cần đoài hoài đến sự
phân giải của Đức Phật khiến Ngài phải lặng lẽ đi an
cư một mình tại rừng Parileyyaka trong Hạ Thứ Mười, Tỳ
kheo Đề Bà Đạt Đa và những Tỳ kheo theo Đề Bà Đạt Đa,
hơn nữa sau này các Tỳ kheo liên tục vi phạm thế này thế
khác nên Phật mới chế ra Tỳ kheo giới… Tất cả những
điều trong Bát Kính Pháp là đặt chư Tăng vào tư thế thêm
nhiều trách nhiệm và giúp cho Tỳ kheo Ni thành tựu phạm hạnh
thì sao bảo là bất công cho Tỳ kheo Ni? Không hề có gì bất
công hay quá đáng cả.
Vì
tính chất quan trọng trong việc nhìn nhận đánh giá về Bát
Kính Pháp và nghi án là bất công đối với Ni giới, xin nêu
lại một lần nữa nơi đây về nội dung của 8 điều trong
Bát Kính Pháp (với nguyên lời hành văn và phán xét của thầy
Nhật Từ), cũng như xin giới thiệu cách hành trì Bát Kính
Pháp áp dụng với cả Tỳ kheo Tăng và Tỳ kheo Ni (có thể
phần dưới đây có một số ý tưởng sẽ trùng hợp với
phần trình bày trên nhưng thế cũng là tốt để chúng ta ôn
nhắc lại lại những điểm chính với nhau một lần cuối
nữa trong phần kết luận này).
1/
Điều
thứ nhất một vị Tỳ kheo ni một trăm tuổi hạ, phải cung
kính đảnh lễ một vị Tỳ kheo Tăng xuất gia mới một ngày:
Cung kính đảnh lễ Tỳ kheo Tăng thì Tỳ kheo Ni có công đức
và phước đức, dẹp trừ bản ngã, quán sát tánh không và
bình đẳng (năng lễ sở lễ tánh không tịch), Thường Bất
Khinh lạy tất cả mọi người thì Tỳ kheo Ni đảnh lễ Tỳ
kheo Tăng lại trở ngại sao? Bản thân vị Tăng ấy không xứng
đánh cho việc đảnh lễ ư? Làm sao biết được điều đó?
Ngay cả Đề Bà Đạt Đa cũng được xem là người đồng
hành tạo nhiều cơ duyên cho các tiền thân của đức Phật
tu Bồ tát hạnh mau thành tựu. Dù có gì đi nữa nhưng một
khi Tăng đoàn còn chấp nhận và cho phép vị ấy giữ được
chiếc y Tỳ kheo và không tẫn xuất vị ấy ra khỏi Tăng đoàn
thì vị ấy vẫn đang là Tỳ kheo. Đảnh lễ một vị Tăng
là đảnh lễ Phật (Phật tương lại hoặc Phật tánh của
cả hai), đảnh lễ Pháp (thọ trì Bát Kính Pháp) và đảnh
lễ Tăng đoàn (hình ảnh ấy là hiện thân của Tăng đoàn
trước mặt và khi vị ấy thọ đại giới thì có sự chứng
minh của tam sư, thất chứng và đại chúng Tăng). Tỳ kheo
Ni hỏi thêm câu: “Tại sao Tỳ kheo Tăng không đảnh lễ Tỳ
kheo Ni” để làm gì? Bản thân mình đảnh lễ một vị tu
sĩ thì có phước đức và lợi lạc còn các vị Tăng họ
đảnh lễ ai để kiếm phước thì việc ấy họ tự lo cho
họ, tại sao Tỳ kheo Ni lại phải quá lo lắng cho việc tu
tập của Tỳ kheo Tăng và e sợ họ không có biết nương ai
để thực hành việc đảnh lễ? Đảnh lễ, cúng dường và
thực hành bổn phận là có phước chứ phải có tội đâu
mà bảo rằng đức Phật ép buộc Tỳ kheo Ni? Theo tinh thần
Kinh Kim Cang, vị Tỳ kheo Ni: Đảnh lễ mà không thấy mình
đảnh lễ thì mới thực sự là đảnh lễ, còn đối với
Tỳ kheo Tăng thì: Thọ nhận việc đảnh lễ mà không thấy
việc đảnh lễ mới thực sự thọ nhận việc đảnh lễ.
Trong thời đại ngày nay, chúng ta muốn có sự thay đổi ư?
Vị Tỳ kheo Tăng cũng muốn đảnh lễ lại Tỳ kheo Ni để
có phước, không còn vướng chấp về sự tướng và đạt
được sự bình đẳng tuyệt đối hơn ư? Vậy khi nào Tỳ
kheo Tăng đảnh lễ Tỳ kheo Ni mà không thấy mình đảnh lễ
thì mới thực sự là đảnh lễ (dù là đảnh lễ nơi tâm
hoặc đảnh lễ nơi hiện tướng) và Tỳ kheo Ni thọ nhận
việc đảnh lễ của Tỳ kheo Tăng mà không thấy việc đảnh
lễ mới thực sự thọ nhận việc đảnh lễ, nếu có thấy
việc đảnh lễ thì nên thấy là đang đảnh lễ Phật pháp,
đảnh lễ ý chí cao thượng, đảnh lễ Phật tánh nơi chính
mình. Hơn nữa việc đảnh lễ ấy không chỉ có tác dụng
cho 2 vị Tăng Ni ấy mà nhiều vị trong hàng bảy chúng xuất
gia rồi đều sẽ trông thấy. Nếu họ (bảy chúng xuất gia)
đều cảm thấy việc Tỳ kheo Tăng đảnh lễ Ni giới là xuôi
thuận mà trong tâm không thấy có gì trục trặc, tác ý hay
thắc mắc cả, nếu đạt được tất cả những điều kiện
như vậy, thì Tỳ kheo Tăng có thể đảnh lễ (lạy) Tỳ kheo
Ni. Nếu Tỳ kheo Tăng đảnh lễ Tỳ kheo Ni theo như tấm gương
và tinh thần đảnh lễ của Thường Bất Kinh Bồ tát đảnh
lễ tất cả mọi người đảnh lễ Phật tánh Thiện Tài Đồng
Tử đảnh lễ Tỳ kheo Ni, Ưu Bà Di, đồng nữ - đảnh lễ
đạo hạnh, chí nguyện cao quý – và Phật đảnh lễ xương
khô - tất cả chúng sanh là cha mẹ, nếu ai cũng quán sát và
hiểu được như vậy thì có gì là trở ngại nữa?
2/
Điều
thứ hai là ni không được an cư ở nơi không có Tăng :
Tỳ kheo Ni ngày nay cảm thấy không cần thiết trong việc phải
an cư gần Tăng chúng ư? Trong thời đức Phật thì việc Ni
chúng an cư gần Tăng chúng rất là cần thiết cho việc bảo
đảm an ninh và học hỏi, cũng như khi tiến hành các việc
bố tát, sám hối, tự tứ, khi bản chất vật lý về khả
năng tự vệ phụ nữ là yếu đuối, trong rừng núi không
bảo đảm an ninh. Vậy thì tại sao lại trách Phật lại bó
buộc Ni giới với điều này? Còn bây giờ nếu như không
thể tìm đến nơi an cư gần Tăng chúng được, hoặc đang
lo làm trụ trì, Phật sự không thể rời bỏ trú xứ được
trong khi đại chúng Tăng đang ở xa thì thôi chứ sao? Khái
niệm gần và xa chỉ là tương đối khi mà điều kiện giao
thông, liên lạc ngày nay tiến xa hơn thời xưa rất nhiều
và thế giới đang nhích lại như một nhà. Vậy nếu như Ni
chúng an cư ở xa Tăng chúng mà vẫn có phần tu tiến, an lạc
thật sự và những lúc cần thiết thì liên hệ với chư tôn
đức Tăng qua phone, hoặc các phương tiện internet… thì cũng
tốt rồi. Thời đức Phật, Ni chúng thiếu thốn phương tiện
để học hỏi chỉ còn chờ đợi các thời Pháp từ
đức Phật và chư Tăng, còn ngày nay phương tiện học tập
và tham khảo đầy đủ, ngồi một chỗ học cả đời vẫn
không hết, kinh luật luận được lưu trữ trên websites, sách
vở, CDs, VCDs, DVDs, cassettes, báo chí, ti vi, đài…và không
có nhu cầu hướng dẫn chỉ dạy của Tỳ kheo Tăng trong mùa
an cư nữa thì Tỳ kheo Ni quyết định phương hướng an cư
và sinh hoạt vậy. Kinh nghiệm tu tập, sinh hoạt, làm Phật
sự, hoằng pháp… rất là quan trọng và chư Tăng thường
quen sinh hoạt hằng ngày trong những lĩnh vực ấy nên có thể
truyền trao cho Ni giới trong mùa an cư. Nếu các Tỳ kheo Ni
cảm thấy còn nhiều điều có thể học hỏi từ những tôn
đức Tăng thì hãy tự sắp xếp để an cư gần gũi hoặc
thỉnh chư tôn đức đến hướng dẫn, giảng dạy trường
hạ. Vậy an cư gần chư Tăng chủ yếu là xét đến việc
lợi lạc cho Tỳ kheo Ni chứ đức Phật có dạy bảo
là Ni chúng phải phục dịch chư Tăng trong mùa an cư đâu mà
bảo là bất công đối với Ni giới?
3/
Điều
thứ 3 là các Tỳ kheo Ni phải thỉnh giáo giới trong các kỳ
Bố tát.
Điều
này có trong thời Đức Phật phải là một nhu cầu tất nhiên
thôi. Ni chúng vừa vào giáo đoàn, gặp trường hợp Đức
Phật vì bận rộn không đến giáo giới cho Tỳ kheo Ni, thì
ai giáo giới? Ngay cả Tỳ kheo Ni Ma ha Ba Xà Ba Đề đi nữa
thì giáo giới cho Ni chúng làm sao lợi lạc nhiều bằng các
Trưởng lão Đại Đức Tăng? Trong các kỳ nhóm họp sinh hoạt
chung với nhau trong đại chúng Ni nên thỉnh giáo giới Tăng
qua để hướng dẫn sinh hoạt là tốt đẹp quá đi chứ? Nên
nhớ lúc ấy chưa có giới bổn Tỳ kheo Ni và cũng không có
một cuốn sách hay phương tiện audio, video nào để căn cứ
vào đó mà sinh họat. Dù cho sau khi Tỳ kheo Ni Ma Ha Ba Xà Ba
Đề đắc quả A La Hán đi nữa thì cũng không thể nói khả
năng trình bày, diễn thuyết dạy bảo của Tỳ kheo Ni Ma Ha
Ba Xà Ba Đề có tác dụng ngang bằng với Ngài Xá Lợi
Phất, Mục Kiền Liên, Ca Diếp, A Nan, Ưu Ba Ly, Phú Lâu Na…
Hơn nữa các Tỳ kheo Ni trẻ dễ dàng học hỏi các vị Tỳ
kheo Ni trưởng lão trong tiếp cận hàng ngày rồi, vậy thì
những lúc nhóm họp chung (Bố tát) là cơ hội để học thêm
tinh hoa của chư Tăng chứ? Hấp thụ tinh hoa từ hai bộ chúng:
Tỳ kheo Ni chúng và Tỳ kheo Tăng chúng không tốt hơn là chỉ
học hỏi trong nội bộ Ni chúng sao? Vậy thì bất công đối
với Ni giới chỗ nào? Còn việc ai làm giáo giới sư cho đại
chúng Tăng thì đại chúng Tăng tự lo. Nếu như trong một vùng
nào đó, trong một thời đại nào đó, toàn bộ Tỳ kheo Tăng
là không có đủ tư cách để giáo giới trong khi Ni chúng có
nhiều người xuất sắc để làm giáo giới sư, bên Ni chúng
đã có các vị Ni Sư xuất sắc để lo giáo giới và chỉ
dạy, không cần sự dạy dỗ chỉ bảo gì từ bên Tỳ kheo
Tăng nữa trong khi bên Tăng chúng đang thiếu chư tôn đức
có đầy đủ khả năng để hướng dẫn và giảng dạy và
nếu không nhờ chư Ni đến giảng dạy thì thiệt thòi lớn
lắm, lúc đó hãy tính sau. Khi xét việc này nên nhớ là: giáo
giới sư cần phải kiêm đủ cả học và tu, tuệ giác và
phạm hạnh cũng như kinh nghiệm tu học, Phật sự và thuyết
pháp độ sanh.
4/
Điều
thứ tư là Ni phải làm lễ Tự Tứ, tự nói lỗi của mình
trước hai bộ Tăng và Ni về ba vấn đề thấy, nghe và nghi:
Có
phạm lỗi mà biết sám hối là hạng người cao quý. Việc
sám hối được tiến hành trong sự chứng kiến càng đông,
càng nhiều người phạm hạnh càng tốt vì như vậy sẽ nghe
lời nhắc nhở, chỉ giáo, sự khuyến khích tu niệm, ấn tượng
và lực của Đại chúng tác động lâu dài. Chư Tăng phải
chịu khó ngồi nghe, quan tâm, góp ý và nâng đỡ cho mình tiến
bộ chứ có ai cố ý xúc phạm Ni giới làm gì? Như thế là
giúp cho Ni giới thành tựu phạm hạnh, chứ ai gây rối cho
cá nhân của Tỳ kheo Ni hay tập thể Ni chúng đâu? Ni chúng
nên tri ân về thời gian, sức lực, đạo lực mà Tăng chúng
đã dành cho các kỳ tự tứ, sao lại trách là việc này bất
công và phiền phức cho Ni chúng?
Nên
nhớ rằng là khi tự tứ có thể tự mình nói ra lỗi của
mình hoặc là người khác nêu ra lỗi mình theo nơi họ thấy,
nghe hay nghi về mình. Nhiều Tỳ kheo Ni thời đức Phật xuất
gia vì hoàn cảnh buồn phiền trong cuộc sống và tìm chỗ
nương tựa nơi Ni đoàn để có nguồn an ủi tinh thần mà
sống chứ không phải là họ đã giác ngộ và có ý nguyện
xuất gia cao quý từ đầu (nhiều người trong 500 thể nữ
theo Dì Mẫu Ma Ha Ba Xà Ba Đề xuất gia là vì hoàn cảnh nếu
ở lại hoàng cung không biết nương tựa vào ai và trong Trưởng
lão Ni kệ cũng ghi lại nhiều người phụ nữ đi xuất gia
với tâm trạng bất đắc chí). Vậy thì tập nhiễm thế gian
họ còn nhiều, gây lỗi nhiều. Lúc tự tứ họ nêu lỗi lẫn
nhau theo nhiều cách chủ quan mà nhiều trường hợp khiến
cho Trưởng Lão Tỳ kheo Ni cũng không đủ sức hòa giải những
bất đồng ý kiến giữa những Tỳ kheo Ni, hoặc biện biệt
mọi vấn đề cho rõ ràng bởi vì lúc ấy không căn cứ vào
bộ luật ghi đầy đủ rành rành để phân tích đánh giá
về lỗi mà chỉ căn cứ nơi phần giáo (lời dạy của Thế
Tôn) trong khi Ni giới chưa học nhiều. Vậy nên cần có Tăng
chúng hiện diện trong các kỳ Ni chúng tự tứ để quyết
nghi các vấn đề đó và làm cho Ni chúng cảm thấy được
tâm thông, ý thông và mọi vấn đề sáng rõ.
Còn
việc Tăng làm lễ tự tứ, Ni chúng không chứng kiến thì
sao? Vậy càng khỏe cho Ni chúng chứ sao? Sao lại phải lo lắng
cho chư Tăng không thành tựu việc tự tứ? Nếu việc sám
hối, tự tứ mà không thành tựu thì thiệt thòi Tỳ kheo Tăng
ráng chịu, lúc ấy Tỳ kheo Tăng sẽ than thở là đức Phật
đã bất công với họ, không tạo điều kiện cho Ni chúng
đến giúp trong các kỳ tự tứ. Ni chúng nên nghĩ là: phần
mình thì cứ lo cho trọn, Tỳ kheo Tăng giúp mình là tốt
rồi, đến phiên Tỳ kheo Tăng tự tứ, Tỳ kheo Tăng không
cần nhờ đến mình thì thôi, mình làm chuyện khác, sao cứ
trách là Tỳ kheo Tăng không cần nhờ mình để làm gì?
Chừng nào Tăng chúng cảm thấy cần phải thỉnh mời Ni chúng
đến tham dự thì buổi tự tứ đó mới thành tựu thì họ
liên hệ Ni chúng và tìm cách giải quyết sau.
5/
Điều
thứ năm, Ni phạm giới tăng tàn, phải thực hiện hình phạt
ý hỷ nửa tháng trước hai bộ Tăng và Ni.
Cũng
vậy, vị Tỳ kheo Ni phạm trọng tội phải thực hiện hình
phạt ý hỷ nửa tháng trước hai bộ Tăng và Ni, đó là cơ
hội để Tỳ kheo Ni phục hồi lại bản thể thanh tịnh như
trước. Nên nhớ là trong Tăng chúng thời đức Phật có nhiều
vị là thầy đã từng dạy bên Ni chúng. Vậy thì trong những
sự tuột dốc và lỗi lầm lớn của cuộc đời mình, lúc
đang suy sụp như thế mà được sự cảm thông, từ bi, giúp
đỡ của nhiều người phạm hạnh mà mình đặt trọn niềm
tin tưởng trong đó có uy đức tỏa ra để nhiếp hộ của
những bậc Thầy thân kính nữa thì có tác dụng lớn lắm
chứ. Đó là những giây phút tiếp nhận lực bẩy để vượt
ra ngoài hố sâu tội lỗi và làm lại cuộc đời. Như vậy
là đức Phật và Tăng chúng từ bi, ủng hộ Ni chúng chứ
có gì là bất công ở đây? Còn tại sao Phật không chế Tỳ
kheo Tăng phạm trọng tội phải thực hiện hình phạt ý hỷ
nửa tháng trước hai bộ Tăng và Ni là vì chư Tăng rất ít
gặp chư Ni (chỉ có giáo giới sư mới có nhiều lần gặp
gỡ Ni chúng), chư Tăng không thọ ân giáo hóa của chư Ni và
rõ ràng là chư Ni xuất gia với nhiều động cơ khác nhau và
hay phạm tội lỗi như họ đã thấy thì uy lực của đại
chúng Ni không có tác dụng nhiều với Tỳ kheo Tăng – dù
muốn chấp nhân hay không thì điều này vẫn là thực tế
đối với tâm lý của những vị Tăng đã phạm trọng tội.
Còn ngày nay, như trên kia tôi có phân tích, nhiều Tỳ kheo
Tăng khi tu học chưa thuần thục vẫn còn mang bản tánh
nam giới: ngang ngạnh, tự ái nặng - nhất là đối với những
người phạm tội nặng như là tăng tàn - vậy thì cách chữa
trị phải tùy tánh ý và căn bệnh của bệnh nhân. Vấn đề
ở đây không phải là lập một sự công bằng trên hình thức
mà cái chính là chữa trị căn bệnh cho Tỳ kheo ấy như thế
nào? Hơn nữa, nhiều chư Tăng có ý tưởng và việc làm cao
xa, tuy hình thức thì bị buộc phạm tội tăng tàn nhưng trong
bản chất là xuất phát từ Bồ tát hạnh, sự vượt thoát
và không câu chấp… vậy thì Ni chúng chứng kiến trong trường
hợp buộc và xử phạt trọng tội này chỉ thêm rắc rối,
vướng mắc tâm ý và phiền nhiễu cho Ni chúng và bản
thân Tỳ kheo Tăng cáo buộc trọng tội đó mà thôi.
6/
Điều
thứ sáu là Thức-Xoa-Ma-Na phải tuân thủ các học giới trong
vòng hai năm trước khi thọ giới Tỳ-kheo-Ni và phải được
sự đồng thuận của hai bộ Tăng và Ni.
Như
thế thì tốt lắm chứ vì chư Tăng góp phần hun đúc giáo
dục giới tử Ni ấy, quyết định và chứng minh cho giới
tử Ni bước lên một nấc thang cao quý, tam giới tôn xưng
là một dấu ấn sẽ được ghi nhớ suốt hành trình giải
thoát. Ở đây là sự quan tâm quán sát, chỉ dạy và tạo
điều kiện cho giới tử ni trở thành Tỳ kheo Ni, sao lại
gọi là bất công được?
7/
Điều
thứ bảy là Tỳ kheo Ni không được chỉ trích và chửi bới
chư Tăng dù với bất kỳ lý do gì.
Chứ
nếu như Tỳ kheo Ni mà chỉ trích và chửi bới chư Tăng thì
thật là khó coi. Phật cũng không hề cho phép Tỳ kheo Tăng
chỉ trích và chửi bới chư Ni thì sao gọi là bất công. Đức
Phật chỉ ngăn ngừa, răn dạy như thế, ấy vậy mà sau này
nhiều Tỳ kheo Ni vi phạm đó và Ưu Ba Ly, Ngài Ca Diếp, Ngài
Bàn Đặc… đã từng là nạn nhân của họ.
Chư
Tăng giúp xây dựng phạm hạnh chư Ni trong các kỳ bố tát,
Tự tứ, sám hối,… chứ không chỉ trích và chửi bới chư
Ni khi có việc gì đó xảy ra.
Điều
này được ghi trong sách “Đức
Phật và Phật Pháp” như sau:
7-
Bất luận ở trường hợp nào, Tỳ khưu Ni không có quyền
khiển trách hay nặng lời với tỳ khưu.[32]
8/
Điều
thứ tám là chư Ni không được phép quở trách khuyên lơn
chư Tăng, nhưng chư Tăng được quyền quở trách chư Ni.
Điều
thứ tám này được ghi chép trong sách: “Đức
Phật và Phật Pháp” là “Tỳ khưu không được sám
hối vớ Tỳ khưu Ni, nhưng Tỳ khưu Ni có thể sám hối với
những Tỳ khưu.”[33]
Và
được ghi trong sách “Phật
Học Khái Luận” như sau: “Chỉ có sự giáo giới
phê bình giữa các Tỷ-kheo về các Tỷ-kheo-ni, mà không có
sự giáo giới phê bình giữa các Tỷ-kheo-Ni về các Tỷ-kheo
(Tăng Chi III-A, tr. 250).” [34]
Bởi
vì Ni chúng không tham dự các kỳ tự tứ, sám hối, xử phạt
của Tăng chúng thì làm sao quở trách, phê bình hoặc chứng
kiến việc sám hối của Tỳ kheo?
Lời
nhận định “Cho nên, chúng ta không thể buộc chư Ni phải
chấp nhận sự quở trách, mà trong khi đó không được quyền
khuyên lơn lại với chư Tăng, đây là điều rất là vô lý”
là nói quá sự thật. Thầy Nhật Từ dịch từ văn bản
nào ra mà có cái cụm từ “không được quyền khuyên lơn”
vậy?
Bát
Kính Pháp không cấm Tỳ kheo Ni đến bạch trình đức Phật
và tác bạch thưa trình với Tăng đoàn để xử phạt những
Tỳ kheo Tăng nào cố ý gây phiền nhiễu Tỳ kheo Ni, mọi người
đọc kỹ lại xem phải vậy không? Chỉ có điều Ni chúng
không đòi hỏi hiện diện để xem vị Tăng ấy sẽ bị xử
phạt ra sao? Sau khi tác bạch trình bày xong duyên sự và mọi
việc muốn nói, trước sự hiện diện của Tỳ kheo nào đã
gây phiền toái với Tỳ kheo Ni hoặc Ni chúng ấy, thì Tỳ
kheo Ni hoặc Ni chúng có thể về trụ xứ của mình và Tăng
chúng đảm bảo là vị Tăng ấy sẽ không tái phạm nữa nếu
như vị Tăng ấy còn muốn tiếp tục con đường phạm hạnh.
Ni chúng đừng lo, Tăng chúng sẽ xử lý rất nghiêm túc và
triệt để vị Tăng nào gây khó khăn trong cuộc sống và tu
học, sinh hoạt của Ni giới, vậy thì bất công ở chỗ nào?
Ni
giới hoàn toàn có quyền khuyên lơn chư Tăng nhưng không được
quyền quở trách. Nếu có cơ hội, Ni giới có quyền trình
bày, có quyền khuyên lơn, nhưng không nặng lời và buộc Tỳ
kheo Tăng sám hối hay xin lỗi mình trực tiếp. Cách tốt nhất
là Ni giới đến trước vị Trưởng lão quản chúng Tăng hoặc
và trình bày trước Tăng chúng về những điều gì mà Tỳ
kheo đã làm mà Ni giới cảm thấy không phù hợp phạm hạnh
một vị Tăng cũng như kiến nghị đến chư Tăng nguyện vọng
của mình trong chuyện này. Xong việc rồi trở về trú xứ,
còn việc hành xử thế nào thì đại chúng Tăng tự lo chứ
đừng nặng lời khiển trách nọ kia, hoặc đòi hỏi Tỳ kheo
ấy phải sám hối trực tiếp với mình.
Như
thế là quá tốt cho Ni giới. Khi gặp một Tỳ kheo Tăng có
điều gì đó không hoàn hảo, hoặc phiền nhiễu ni chúng,
thì Ni giới mong muốn tích cực 2 điều:
1/
Tỳ kheo Tăng đó không còn tái phạm, gây phiền nhiễu đến
Ni chúng nữa.
2/
Tỳ kheo Tăng sẽ thay đổi tốt hơn.
Ni
chúng chỉ cần đến trình bày với đại chúng Tăng rồi thì
đại chúng Tăng sẽ tự bảo đảm lo tốt hai việc ấy. Điều
này giúp cho Ni giới thanh thản, không nhọc lòng đối xử
và tranh biện với Tỳ kheo, mà quy trách nhiệm cho đại chúng
Tăng cùng quan tâm xử lí vi phạm của Tỳ kheo Tăng. Vậy không
có gì bất công cho Ni giới cả mà giúp cho Ni giới khỏe nhẹ,
sự việc gì bất như ý do Tỳ kheo Tăng gây ra thì giao cho
Tăng chúng xử lý.
TÓM
LẠI: Cách nhìn nhận sự kiện và những nguyên tắc ứng
xử lẫn nhau ở trong đạo Phật và ngoài cuộc sống không
hoàn toàn giống nhau.
Đức
Phật không muốn làm một nhà cách mạng xã hội triệt để
mà là một người hướng dẫn chúng sanh hoàn thiện mình và
mọi người. Câu nói của Chúa Jesus rất được khen ngợi
và nhắc nhở là: “nếu ai tát má bên phải; bạn đưa thêm
má bên trái cho họ tát”. Nhưng nếu đòi hỏi sự công bằng
trong xã hội thì phải nói thế này: “nếu ai tát má bạn
một cái thì bạn hãy tát má họ lại một cái” và chẳng
hạn phim Tàu - kiếm hiệp Trung Quốc xây dựng trên quan điểm
“Ân đền, oán trả” còn Phật giáo thì “Ân đền oán
xả” hoặc là “Lấy ân báo oán”. Nghĩa là đối với sự
công bằng thế gian thì nếu ai giết cha mẹ bạn thì bạn
hãy giết cha mẹ và cả người ấy nữa nhưng mà với Phật
giáo thì bạn không nên làm như vậy. Vậy thì tại sao chúng
ta phải cố gắng để khiến cho mọi cách ứng xử trong Phật
giáo giống với cách ứng xử thế gian?
Đạo
Phật nhắm vào an lạc, thanh tịnh và giải thoát chứ không
phải tạo một hình thức bình đẳng suông mà thông thường
là đưa tới sự hưởng thụ, tôn vinh bản ngã hoặc là
đòi quyền tố tụng lẫn nhau. Căn cứ vào nếp sinh hoạt
của phụ nữ, đặc tính khác nhau về cơ thể vật lý và
yếu tố tâm sinh lý của nam nữ, sự non trẻ của Ni đoàn
và cả bối cảnh xã hội lúc đó nữa, đức Phật chế ra
Bát Kính Pháp. Nếu không có những sự khác nhau giữa phụ
nữ và nam giới thì đức Phật đã cho Dì Mẫu Ma Ha Ba Xà
Ba Đề đi xuất gia ngay khi Dì Mẫu xin lần thứ nhất.
Bát
Kính Pháp chế ra không phải là bất công cho Ni giới mà là
tạo
nhiều điều kiện và ủng hộ Ni giới thành tựu phạm hạnh.
Nhìn về hình thức thì có vẻ bất công hoặc là Tỳ kheo
Ni ở tư thế thấp hơn Tỳ kheo Tăng nhưng cái chính là khiến
cả hai bên đều lợi lạc và đưa đến giác ngộ giải thoát.
Nếu chư Ni ngày nay không cần sự ưu tiên, không cần sự
chăm sóc của Tăng đoàn, muốn chứng tỏ mình đủ bản lãnh
rồi về mọi mặt và hễ chư Tăng ra sao thì chư Ni cũng ngang
bằng như thế, vậy thì hãy cứ tự nhiên thi thố cho thỏa
chí mình. Khi tâm tịnh thì thế giới hiển bày an tịnh. Thực
ra khi chúng ta nhìn vào Bát Kính Pháp mà thấy
có vấn đề
thì là đang nhìn với ảnh hưởng của
tập khí và chấp
ngã nơi mình.
Đời
sống Tăng Ni không phải là đòi hỏi mọi thứ công bằng
theo hình thức mà là an tịnh, hài hòa, ac lạc, giải thóat.
Bát Kính Pháp mở cánh cửa cho Ni giới xuất gia và bảo hộ
cuộc sống tu tập Ni giới trong đạo lộ giải thoát. Mục
tiêu của Ni giới là chứng Thánh quả ra ngoài luân hồi sanh
tử chứ không phải là nằm mãi trong Ni đoàn để đòi hỏi
quyền bình đẳng trong cư xử và sinh hoạt. Một khi đã chứng
ngộ vào thật tánh vạn pháp thì không còn gì trở ngại nữa.
Sống trong thế giới của hình tướng, còn trệ ngại bởi
hình tướng nên đức Phật chế ra giới tướng như thế cũng
là phương tiện để đối trị. “Phàm sở hữu tướng giai
thị hư vọng”, chúng ta có thể quên đi hình tướng miễn
là trong mọi hình thức sinh hoạt nào đó vẫn khiến cho: Tăng
già an ổn hòa hợp, mỗi thành viên Tăng già đều thuận tiện
trong tu tập, gieo tạo niềm tin Tam bảo đối với tất cả
mọi ai thấy nghe, và tất cả đều thấm nhuần thanh tịnh,
an lạc, hướng thượng và giải thoát. Một khi “qua sông
rồi thì bỏ đò”, nhưng hãy cẩn thận đừng bỏ đò khi
mình đang ở giữa dòng sông mà sức mình tự bơi thì chưa
đủ để lội ngược dòng và đến bờ bên kia.
Chú
thích:
[1]-"Priests
and Politicians", Second revised edition, Cologne, West Germany, p.27
[2]-
Tăng
Chi Bộ Tập I, Kinh Các vị ở Kesaputta
[3]-
Tứ
phần luật – Tăng sự, Việt dịch quyển IV, chương
XVII, Tỳ kheo Ni, hiệu chính và chú thích: Tỳ-kheo Thích Nguyên
Chứng.
[4]-
Hòa thượng Hộ Giác, Tình đời, Ý đạo - Cuộc đời Thánh
tăng Ananda – phần: Lệnh bà Mahà Pajàpati.
[5]-
Tứ
phần luật – Tăng sự, Việt dịch quyển IV, chương
XVII, Tỳ kheo Ni, hiệu chính và chú thích: Tỳ-kheo Thích Nguyên
Chứng.
[6]-
Hòa
thượng Narada, Phạm Kim Khánh dịch Việt 1998, Đức Phật và
Phật Pháp, (The Buddha and His Teachings), phần: Đức Phật
và Bà Di Mẫu Maha Pajapati Gotami.
[7]-
Hòa thượng Hộ Giác, sđd
[8]-
Hòa thượng Narada, sđd
[9]-
Quy Sơn
Cảnh Sách Văn, Đại Viên Thiền Sư
[10]-
Cuộc đời Ðức Xá-lợi-phất (Sarìputta) - Nguyễn Ðiều (1966)
[11]-
Hòa thượng Narada, Phạm Kim Khánh dịch Việt 1998, Đức
Phật và Phật Pháp, (The Buddha and His Teachings), phần:
Đức Phật và Bà Di Mẫu Maha Pajapati Gotami – Con Đường Hoằng
Pháp.
[12]-
Hòa thượng Narada, Phạm Kim Khánh dịch Việt 1998, Đức Phật
và Phật Pháp, (The Buddha and His Teachings), phần: Cung Thỉnh
Truyền Bá Giáo Pháp
[13]-
Phẩm 'Như Lai Thọ Lượng' - Thứ Mười Sáu - KINH
DIỆU PHÁP LIÊN HOA
[14]-
Hòa thượng Narada, Phạm Kim Khánh dịch Việt 1998, Đức Phật
và Phật Pháp, (The Buddha and His Teachings), phần: Đức Phật
nhập Đại Niết Bàn.
[15]-
Hòa thượng Narada, Phạm Kim Khánh dịch Việt 1998, Đức Phật
và Phật Pháp, (The Buddha and His Teachings), phần: Đức Phật
và thân quyến.
[16]-
Hòa thượng Narada, Phạm Kim Khánh dịch Việt 1998, Đức Phật
và Phật Pháp, (The Buddha and His Teachings), phần: Đức Ananda
và Giới Phụ Nữ.
[17]-
Hòa thượng Narada, Phạm Kim Khánh dịch Việt 1998, Đức Phật
và Phật Pháp, (The Buddha and His Teachings), phần: Đức Ananda
và Giới Phụ Nữ.
[18]-
Hòa thượng Narada, Phạm Kim Khánh dịch Việt 1998, Đức Phật
và Phật Pháp, (The Buddha and His Teachings), phần: Con Đường
Hoằng Pháp.
[19]-
Hòa thượng Narada, Phạm Kim Khánh dịch Việt 1998, Đức Phật
và Phật Pháp, (The Buddha and His Teachings), phần: Đức Phật
và Bà Di Mẫu Maha Pajapati Gotami
[20]-
Tham khảo Source: http://www.saigon.com/~anson/uni/u-truyenco/tc1-1.htm
[21]-
Source: http://www.thuvienhoasen.org/101ct-01-10.html
[22]-
Có thể tham khảo source http://abhidhamma.org/arahants06.htm
để tìm hiểu thêm về sự kiện này
[23]-
Thích Chơn Thiện, Phật
Học Khái Luận -- Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt
Nam, In Lần Thứ Hai – 1997, Chương Ba - Tăng Bảo, Tiết I:
Ðời sống của chư Tăng
[24]-
Source: http://www.vietsuns.com/phorum/topic.asp?TOPIC_ID=3528&whichpage=3
[25]-
Source: Truyện
cổ Phật giáo
[26]-
Trùng-Quang Nguyễn Văn Hiểu, Trên đường hoằng pháp của
Phật tổ Gotama, Phần I : Sự-tích của Phật-tổ GOTAMA (Cồ-đàm).
[27]-
Thích Minh Châu, Pháp Hiển, Nhà chiêm bái, Thích Nữ Trí Hải
dịch Việt (1997), Phần III: Những tư liệu lịch sử và bán
lịch sử do Pháp Hiển ghi lại.
[29]-
Thích Chơn Thiện, Phật Học Khái Luận -- Viện Nghiên Cứu
Phật Học Việt Nam, In Lần Thứ Hai – 1997, Chương Hai - Pháp
Bảo, Tiết VIII Giới học.
[30]-
Sdd (Ibid).
[31]-
Hòa thượng Narada, Phạm Kim Khánh dịch Việt 1998, Đức Phật
và Phật Pháp, (The Buddha and His Teachings), phần: Đức Phật
và Bà Di Mẫu Maha Pajapati Gotami.
[32]-
Hòa thượng Narada, Phạm Kim Khánh dịch Việt 1998, Đức Phật
và Phật Pháp, (The Buddha and His Teachings), phần: Đức Phật
và Bà Di Mẫu Maha Pajapati Gotami.
[33]-
Sdd (Ibid).
[34]-
Thích Chơn Thiện, Phật Học Khái Luận, Viện Nghiên Cứu Phật
Học Việt Nam, In Lần Thứ Hai – 1997, Chương Ba - Tăng Bảo,
Tiết I: Ðời sống của chư Tăng.
(PhapThoại.Net)
15-08-2006