“Điều
thứ sáu là Thức-Xoa-Ma-Na phải tuân thủ các học giới trong
vòng hai năm trước khi thọ giới Tỳ-kheo-ni và phải được
sự đồng thuận của hai bộ Tăng và Ni... Nếu chúng ta
đối chiếu phân tích về tính thời gian của các điều luật
của Thức-xoa-ma-na ni và Tỳ kheo ni, chúng ta thấy nó không
hợp lệ. Bởi vì trong thời đại của đức Phật cũng giống
như điều thứ hai là vấn đề của Thức-xoa-ma-na ni chưa
có. Trong 6 năm đầu chưa có, mấy mươi năm sau mới có.”
Chúng
ta đều biết khi đó Dì Mẫu Ma Ha Ba Xà Ba Đề, Da Du Đà La
và 500 thể nữ thuộc dòng họ Thích Ca sau khi chấp nhận Bát
Kính Pháp đều được trở thành Tỳ kheo Ni, vậy có ai làm
Thức Xoa Ma Na đâu mà đức Phật lại ban hành điều thứ
6 này để làm gì? Hơn nữa cơ chế thiết lập giới là “nhân
phạm chế giới” và hệ thống Luật tạng chưa được hình
thành thì điều thứ 6 này tại sao bỗng dưng đặt ra tại
đây?
Cơ
chế “nhân phạm chế giới” là việc sau này liên quan đến
hình thành hệ thống giới luật. Chúng ta không thể quy kết
là: suốt quá trình thuyết pháp độ sanh đức Phật phải
“nhân phạm chế giới” và không được nói trước về
những điều chưa xảy ra. Tại sao chúng ta tự vẽ ra một
quỹ đạo rồi buộc Phật phải sinh hoạt ở trong quỹ đạo
đó? Ngay từ ban đầu thiết lập Bát Kính Pháp, đức Phật
đã chỉ rõ:
“…cũng
như người kia đắp bờ đê bên cạnh hồ nước rộng lớn
để chặn nước khỏi tràn qua, Như Lai lo ngăn chặn trước,
khi ban hành "Tám Giới Chánh" cho các Tỳ khưu ni, buộc phải
giữ nguyên vẹn trọn đời."[19]
Như
vậy, Bát Kính Pháp này mang tính cách ngăn chặn: “cũng như
người kia đắp bờ đê bên cạnh hồ nước rộng lớn để
chặn nước khỏi tràn qua, Như Lai lo ngăn chặn trước”…
Tại sao chúng ta lại cấm đức Phật cái quyền ngăn chặn
ấy? Đức Phật là bậc có Nhứt thiết trí, Phật nhãn, Tam
minh, Lục thông, Thập lực, Thập bát bất cộng pháp,… thấu
suốt chuyện quá khứ, hiện tại, vị lai thì Phật làm những
gì Ngài xét thấy cần làm chứ?
Hiện
tại thì chưa có Thức Xoa Ma Na nhưng ngay lúc này Ngài đề
cập về Thức Xoa Ma Na bởi vì trên đường giáo hóa Ngài
đã từng gặp nhiều phụ nữ, nhiều góa phụ, cũng như còn
nhiều mệnh phụ thuộc dòng họ Thích nữa và trong hàng Ưu
Bà Di của Ngài còn nhiều phụ nữ có con gái còn trẻ (cỡ
tuổi như Ngài La Hầu La) đồng thời Ngài biết trước những
người Mẹ con Ưu Bà Di này khi hay tin phụ nữ được chấp
nhận vào Ni đoàn thì họ cũng muốn xin xuất gia (với sự
đồng ý của chồng hoặc là chồng đã chết). Chuyện này
thật là dễ biết, chẳng hạn như chúng ta cũng thường nghe
các Ưu Bà Di đã có chồng con sau khi tiếp kiến chư Tăng xong
thường nói: giá mà con được xuất gia tu học như quý Thầy,
bây giờ gia duyên con ràng buộc quá, chắc kiếp này không
được rồi,…nhất là đức Phật lại có tha tâm thông nữa,
lẽ nào một việc như thế lại không xảy ra trong suốt 5
năm giáo hóa của Ngài khi mà uy đức và sức cảm hóa của
Ngài cao hơn chúng ta vô số kể? Những lúc trưóc kia dù biết
tâm niệm khao khát xuất gia của các Ưu Bà Di có con gái trẻ
nhưng Ngài không đề cập đến việc này (lờ đi) vì nhân
duyên chưa đến. Hôm nay nhân dịp mở cửa đón nhận phụ
nữ vào Giáo đoàn và nhân lúc chế Bát Kính Pháp, Ngài nêu
điều này vào luôn với lòng Từ Bi như là một sự gợi ý,
cho phép, mở rộng cửa để đón nhận những mẹ và con, hoặc
người con gái trẻ của các Ưu Bà Di này xuất gia. Với người
bé gái chưa đủ tuổi thì e rằng vì bồng bột mà tự ý
xin xuất gia hoặc là theo mẹ xuất gia chứ chưa có ý chí
rõ rệt, vậy thì cần có 2 năm thử nghiệm và quyết định
và thời gian đó thì gọi là Giới tử ni (Sikkhamànà).
Không
hẳn Thức Xoa Ma Na dành cho các bé gái mà còn dành cho những
ai dù muốn xuất gia nhưng chưa biết chắc chắn là mình có
thích hợp với đời sống xuất gia không thì xin làm giới
tử Ni - ứng cử viên để chuẩn bị chính thức xuất gia
làm Tỳ kheo Ni – thì thời gian cho phép tập sự và thí nghiệm
này là 2 năm trước khi hai bộ chúng Tăng và Ni quyết định
vị này có được trở thành Tỳ kheo Ni không.
Cứ
mở cửa sẵn ra như vậy để khuyến khích cho họ phấn khởi
mà lo sắp xết chuyện gia đình, khi nào sắp xếp xong, họ
sẽ xuất gia. Hoặc nhờ đó mà trong quá trình đi du hóa, Ma
Ha Ba Xà Ba Đề và những vị Tỳ kheo Ni đầu tiên này biết
cách mà trả lời cho những dạng Ưu Bà Di có chồng con này,
hoặc là xét điều kiện mà tiếp nhận cho họ xuất gia. Bây
giờ nhân lúc chế ra Bát Kính Pháp thì chế hết ra luôn một
lần chứ chẳng lẽ đợi vài tuần sau rồi cho gọi các Tỳ
kheo Ni đến chế thêm điều nữa rằng: Trên đường giáo
hóa, nếu như các Tỳ kheo Ni gặp các bé gái, hoặc Mẹ và
bé gái muốn xuất gia thì cứ tiếp nhận, với người Mẹ
có ý chí xuất gia dũng mãnh thì cho làm Tỳ kheo Ni ngay khi
chấp nhận Bát Kính Pháp này, với ai chưa dứt khoát hoặc
bé gái chưa thật sự trưởng thành nhưng muốn xuất gia
thì dẫn về Tịnh Xá làm Thức Xoa Ma Na 2 năm và sau đó được
sự đồng ý hai bộ chúng Tăng và Ni mới được chính thức
xuất gia làm Tỳ kheo Ni.
Tại
sao cơ chế xuất gia thử nghiệm không có đối với Tỳ kheo
Tăng (mà chỉ có một Sa Di La Hầu La vì trẻ tuổi), còn cơ
chế giới tử Ni (Sikkhamànà) lại có đối với nữ giới?
Bởi lẽ chư Tăng đều đã nghe Phật thuyết pháp tỏ ngộ
rồi sanh tâm hoan hỉ muốn xuất gia chắc chắn, cơ duyên thuần
thục trong khi phụ nữ có một số vì tỏ ngộ đạo Pháp
mà xuất gia, có một số đi xuất gia vì hoàn cảnh bức bách
hay buồn khổ (ngay cả 500 thể nữ cũng xuất gia vì theo Dì
Mẫu sau sư kiện vua Tịnh Phạn băng hà và đọc Trưởng lão
Ni kệ, chúng ta thấy có rất nhiều trường hợp vì sầu khổ
khiến nữ giới đi xuất gia) và vì bản chất yếu đuối
nên muốn vào Ni đoàn để tìm một chỗ nương tựa, hoặc
dù người vợ muốn đi xuất gia luôn nhưng hãy thí nghiệm
xem người chồng tuy đồng ý cho mình đi tu mà có chịu đựng
được không, có quá sầu khổ không, trước khi quyết định
làm Tỳ kheo Ni chính thức cả đời.
Cho
nên tôi tin rằng Phật lập ra cơ chế Giới tử ni (Sikkhamànà)
thí nghiệm này ngay từ khi vừa mới lập giáo đoàn để cho
những ai chưa thệ nguyện xuất gia làm Tỳ kheo Ni cả đời
thì cứ sống và thử nghiệm cuộc sống xuất gia 2 năm. Lý
do rõ ràng là: ngay từ đầu đức Phật bày tỏ cho thấy sự
do dự của Ngài trong việc thiết lập Ni đoàn vì cuộc sống
xuất gia khác quá xa nếp sống phụ nữ thời ấy…
Còn
chuyện nguồn gốc lịch sử để thiết lập cơ chế Thức
Xoa Ma Na là do việc sư cô tên là Sanghamita đã trở thành Tỳ-kheo-ni
trong tình trạng không biết mình đang mang thai, bởi vì cô
ta đã từng có một tình duyên lận đận… như thầy Nhật
Từ đã nêu thì chỉ là chuyện các bộ phái trong thời kỳ
phân phái sau này nhấn mạnh điều đó, suy diễn cho rằng
đó là nguyên nhân khiến Thế Tôn lập cơ chế giữ 6 giới
trong 2 năm cho Thức Xoa Ma Na mà thôi. Đồng ý rằng có chuyện
sư cô Sanghamita ấy xuất gia rồi sanh con trong tịnh xá là
có thật, nhưng cơ chế Thức Xoa Ma Na (đi xuất gia thí nghiệm
2 năm) thì đã có kể từ khi thành lập Ni đoàn. Lúc đó có
2 thể thức mở ra: người nào thực thụ xuất gia thì thọ
nhận Bát Kính Pháp và làm Tỳ kheo Ni, còn những ai chưa đủ
tiêu chuẩn (tuổi tác, nhận thức và thệ nguyện) cũng như
hoàn cảnh chưa cho phép thì có thể xuất gia thí nghiệm trong
hai năm theo cơ chế giới tử Ni (Sikkhamànà).
“Như
vậy, chúng ta thấy biết là điều thứ hai, thứ ba, thứ tư
và thứ năm của Bát kỉnh pháp liên hệ đến nội dung của
mấy chục năm sau, tối thiểu là sau năm thứ 20 kể từ khi
Như Lai Thế Tôn thành đạo. Như vậy, bản chất của Bát
kỉnh pháp là đang nằm trong vòng nghi vấn rất là lớn.”
Chúng
ta hãy ôn lại các điều thứ hai, thứ ba, thứ tư và thứ
năm của Bát Kỉnh Pháp đã phân tích ở trên và xem các điều
này có xảy ra ngay vào lúc vừa hình thành Ni đoàn chưa?
Điều
thứ hai là Ni không được an cư ở nơi không có Tăng.
Về
việc an cư thì phần trên đã phân tích đức Phật và giáo
đoàn luôn an cư từ mùa hạ đầu tiên cho đến khi Phật nhập
Niết bàn. Một khi đã có việc an cư thì quy định cách chọn
nơi chốn an cư là điều hiển nhiên thôi.
Điều
thứ 3 là các Tỳ kheo ni phải thỉnh giáo giới trong các kỳ
Bố tát.
Upasatha
đúng như sự phân tích từ nguyên là ngồi lại gần với
nhau để học hỏi lẫn nhau. Cách thức này đã có từ trước
khi Phật thành đạo và các đạo sĩ của đạo khác vẫn thường
làm như vậy. Việc phản quan tự kỷ, thảo luận hoặc là
thắp sáng chánh niệm, soi sáng cho nhau là điều rất quan trọng
trong Phật giáo. Đã sống chung trong một đoàn thể thì việc
quy định ngày giờ để cùng ngồi lại với nhau trong ý nghĩa
Bố tát là điều cần thiết và tất nhiên, có như thế mới
là cơ hội để sinh hoạt đại chúng, còn bằng không thì
sống chung với nhau mà không hề sinh hoạt chung với nhau lần
nào sao? Như trên đã nói, trong các cuộc hội họp chung với
nhau đó, bên Ni chúng thì thỉnh giáo giới sư từ bên Tăng
thì sẽ được nhiều lợi lạc vì: Vị Tăng đó đã được
theo Phật học nhiều năm rồi, thực hành tu tập cũng lâu
và đã chứng Thánh Quả (ít nhất là Tu Đà Hoàn) lại có
kinh nghiệm sinh hoạt tập thể, Tăng đoàn và có nhiều vị
Tăng là Thầy bên Ni giới nữa… Cho nên, những cơ hội cả
Ni đoàn cùng hội họp nhau như thế thì việc mời một vị
giáo giới sư bên Tăng là tất nhiên, vì khi ấy cả Ni chúng
đều được lợi lạc.
Luật
lệ cho việc Bố tát sẽ được thiết lập chặt chẽ có
hệ thống về sau này nhưng mô thức sinh hoạt ban đầu của
Bố tát thì đã có ngay khi Giáo đoàn thành lập.
Điều
thứ tư là Ni phải làm lễ Tự Tứ, tự nói lỗi của mình
trước hai bộ Tăng và Ni về ba vấn đề thấy, nghe và nghi.
Một
khi đã có an cư thì phải có ngày kết thúc an cư khi hết
mùa mưa để rồi sau đó đi du hóa khắp nơi, ngày kết thúc
ấy gọi là Tự tứ. Hiển nhiên khi kết thúc việc gì thì
cũng phải nhìn lại xem kết quả của việc đó như thế nào.
Ni giới đã nhờ chư Tăng đến giáo giới cho nên ngày Tự
tứ cũng nên nói lỗi mình trước hai bộ Tăng Ni để có gì
cần phân tích chỉ dạy thì chư Tăng hoặc là chính những
vị Thầy giáo giới của mình (như ngài A Nan, Ca Diếp, Ưu
Ba Ly) chỉ giáo về lỗi và hướng tu tiến về sau để khắc
phục lỗi đó,…
Điều
thứ năm, Ni phạm giới Tăng tàn, phải thực hiện hình phạt
ý hỷ nửa tháng trước hai bộ Tăng và Ni.
Trong
sách: “Đức Phật và Phật Pháp” có ghi điều này chính
xác hơn:
“Tỳ
khưu ni đã phạm trọng tội phải chịu phạt Manatta (Một
hình thức phạt kỷ luật) trước chư Tăng và chư
Ni.”
Cái
thuật ngữ “Tăng tàn” được đưa vào và thay vị trí của
từ “trọng tội” về sau này. Vậy thì tại sao chúng ta
phải kẹt vào 2 chữ “tăng tàn” để bảo rằng lúc đó
khái niệm này chưa có, hay việc sám hối và trị phạt của
Tỳ
kheo Ni trước hai bộ chúng là không có? Còn việc phạm trọng
tội là có chứ, những việc làm gây khổ đau người khác
và làm rối loạn Tăng già hay thương tổn Đức Phật : khiến
người đời hủy báng Tam bảo,… Chẳng hạn chúng ta nói
tại sao lại dùng “Phật đản sanh”, “Phật thành đạo”
mà không dùng “Bồ tát Tất Đạt Đa đản sanh”, “Bồ
tát Tất Đạt Đa thành đạo” có người lại chấp vào từ
ngữ: đã Phật rồi thì còn đản sanh làm chi nữa, hoặc còn
thành đạo cái gì nữa? Thì cũng tại vì chúng ta “bưng”
từ “Phật” về sau này mà “bỏ” vào các ngữ cảnh trước
đó mà thôi. Chẳng hạn nếu nghe ai đó bảo: “Thầy Nhật
Từ được sanh ra ở miền Tây Nam bộ” có người cãi: làm
gì có chuyện thầy Nhật Từ được sanh ra ở miền Tây, thầy
Nhật Từ được sanh ra ở chùa Giác Ngộ Saigon (hoặc chùa
nào đó Saigon)… tất cả cũng vì chúng ta “bưng” cái chữ
Thầy Nhật Từ mà “bỏ” vào văn cảnh của hơn mười năm
trước trong cuộc đời mà thôi.
Vậy
thì nội dung và tính chất các việc quy định trong các điều
2,3,4,5,6 trong Bát Kính Pháp rất là phù hợp và xảy ra khi
vừa lập Ni đoàn chỉ có điều là ngôn từ được cập nhật
(update) sau khi có bộ luật và các quy định chặt chẽ về
an cư, tự tứ, Bố tát, yết ma, xử phạt,… ra đời. Dù
là sơ đẳng và đơn giản như thế nào đi nữa nhưng nội
dung của các việc được ghi trong Bát Kính Pháp được thực
hiện nghiêm túc ngay khi Ni đoàn vừa thành lập.
“Điều
thứ bảy là Tỳ-kheo-ni không được chỉ trích và chửi bới
chư Tăng dù với bất kỳ lý do gì. Lý luận bảo hộ cho
rằng không thể nào chấp nhận về phương diện đạo đức,
khi một vị Ni với tư cách là một người học trò chửi
bới các vị giáo thọ của mình. Bởi vì nó liên hệ tới
một sự kiện lịch sử là có một vị Tỳ-kheo-ni đã chửi
mắng rất nặng nề Tôn giả Ưu-ba-li, khi Tôn giả này đã
đến giáo giới họ. Họ chẳng những không nghe mà nổi cáu
sân hận quá nên đã trút những lời không đẹp đẽ gì cả.”
Rõ
ràng là “Tỳ-kheo-ni không được chỉ trích và chửi bới
chư Tăng” là phải quá rồi, chửi mắng như thế thì còn
thể thống gì nữa?
“Do
đó, nó phải được áp dụng chung cả hai tình huống Tăng
và Ni, tức là bên nào cũng phải dùng ái ngữ, chứ không
phải chư Ni thì phải ái ngữ, còn chư Tăng thì muốn nói
sao thì nói.”
Cái
này “thì chính tác giả của vấn đề được gán cho đức
Phật thì có thể tạo ra rất nhiều nỗi oan trái ở trong
cuộc đời này” mà tác giả ở đây là thầy Nhật Từ.
Nghĩa là chính thầy Nhật Từ gây oan trái cho đức Phật,
chứ giải oan cho đức Phật gì đâu?
Phật
chỉ dạy: “Tỳ-kheo-ni không được chỉ trích và chửi
bới chư Tăng” rồi dừng lại, bỗng dưng thầy Nhật
Từ ngẫu hứng thêm vào “trong khi Tỳ-kheo-tăng được
quyền chỉ trích và chửi bới chư Tỳ kheo ni”. Rõ
ràng là cái phần đuôi thòng lọng mà thầy Nhật Từ thêm
thắt vào này không tìm thấy ở trong một văn bản nào cả?
Như
trên đã nói Bát Kính Pháp là có tác dụng ngăn ngừa và giữ
Tỳ kheo Ni ở trong Phạm hạnh xứng đáng của một bậc xuất
gia. Rõ ràng sự cẩn thận dạy bảo, ngăn ngừa này: “Tỳ-kheo-ni
không được chỉ trích và chửi bới chư Tăng” không dư
thừa tí nào. Vì có một thực tế dù chúng ta có muốn chấp
nhận hay không nó vẫn xảy ra là: có nhiều phụ nữ ở ngoài
thế gian rất xuất sắc trong việc chỉ trích và chửi bới,
tôi đã từng nghe các bà láng giềng chửi bới người khác
cả ngày không chán vì những chuyện con chó chạy qua con gà
chạy lại gì đó, ở ngoài chợ trời các bà chửi bới nhau
ầm ỉ hoài chứ gì? Có khi các bà lôi 9 đời dòng họ người
khác ra để chửi bới chứ chẳng chơi! Nhiều vị Tỳ kheo
Ni đi xuất gia vì hoàn cảnh bức bách và tâm tánh chưa được
thuần thục, tập nhiễm thế gian vẫn còn nhiều, tâm lí bị
ức chế, căng thẳng như đã nêu phần trên nên có những
lúc có thể phản ứng theo thói quen và tánh cách phàm tục
nếu như họ không được răn bảo nhắc nhở tới hậu quả
của việc làm ấy (có thể mất tính cách Tỳ kheo Ni vì vi
phạm Bát Kính Pháp và bị trục xuất ra khỏi Ni đoàn).
Thế
đó, dù đã được răn nhắc như vậy mà chuyện chửi mắng
vẫn xảy ra: “có một vị Tỳ-kheo-Ni đã chửi mắng rất
nặng nề Tôn giả Ưu-ba-li, khi Tôn giả này đã đến giáo
giới họ. Họ chẳng những không nghe mà nổi cáu sân hận
quá nên đã trút những lời không đẹp đẽ gì cả.” Không
chỉ một mình ngài Ưu Ba Ly bị Ni giới chửi mắng mà ngài
Ca Diếp và Bàn Đặc (sau khi chứng quả A La Hán) cũng đã
từng nghe những lời chỉ trích khá nặng nề.
Phật
đã vì lòng Từ Bi răn dạy tường tận như thế, vậy mà
cũng vi phạm nhiều lần lại còn trách tại sao Phật lại
dạy ra như vậy, “điều này là thế nào, lấy oán báo ân
sao?”
“Chúng
ta thử đặt ra một tình huống, nếu như một vị ni nào đó
bị chư Tăng ứng xử bất công thì sao, im lặng hay lên tiếng
và lên tiếng như thế nào để không dẫn đến sự phá hòa
hợp Tăng và vẫn sân hận như một ngọn lửa thiêu đốt
an vui và hạnh phúc.
Điều
qui này hoàn toàn trái ngược với học thuyết nhẫn nhục:
“ai chửi bới gì chửi bới, mình không được nói”. Cho
nên đức Phật nói, nếu như người ta nói sai mình phải xác
định trong kinh Trường bộ: “Những điều này không có trong
chúng tôi, chúng tôi không hề làm những điều này.” Ngài
nói rất là rõ, chứ Ngài không bao giờ dạy chúng ta im lặng
tiêu cực.”
Chuyện
này thì xưa nay vẫn thường làm rồi: “nếu như một vị
Ni nào đó bị chư Tăng ứng xử bất công” thì đến thưa
trình với Phật hoặc tác bạch thưa trình đại chúng Tăng
về sự kiện đó. Có ai cấm quý vị Ni nói câu: “Những
điều này không có trong chúng tôi, chúng tôi không hề làm
những điều này” với Tỳ kheo Tăng miễn rằng là nói trong
hòa nhã, ái ngữ chứ không phải chửi bới.
Các
Tổ có thể dạy, chẳng hạn như luận Bảo vương tam muội:
“Oan ức không cần biện bạch, vì biện bạch là hèn nhát.”
Đó là Tổ dạy chứ Phật dạy không có. Phật nói:
khi mà mình bị hiểu sai thì mình phải trình bày chân lý,
còn nghe hay không nghe là thuộc về quyền của người.
Chúng
ta nên hiểu đúng về câu: “Oan ức không cần biện
bạch, vì biện bạch là hèn nhát.” như thế nào?
Biện
bạch khác với trình bày. Biện bạch là bao hàm một nỗ lực
và thường là kèm theo biểu đạt cảm xúc (buồn bực không
yên), tìm đủ mọi phương cách và nói dài bất tận cho đến
khi sự việc đen ra đen, trắng ra trắng mới thôi (tức là
tìm mọi cách để làm gãy đổ lời buộc tội của người
khác nhắm vào mình). Còn việc trình bày là thản nhiên, bình
tĩnh xác nhận là điều đó có hay không mà thôi. Chư Tổ
trong hầu hết trường hợp đâu có cấm việc trình bày nhưng
chỉ dạy chúng ta không biện bạch mà thôi - tức là không
quá loay hoay khổ sở tìm cách nọ cách kia để mọi người
xung quanh hiểu mình theo cách tốt đẹp hơn.
Có
nhiều lời buộc tội dù oan ức nhưng bị cáo không đủ lý
do hay bằng chứng để chứng minh rằng là mình bị oan. Điều
này vẫn thường hay xảy ra trong cuộc đời. Trong trường
hợp này thì dù có trình bày hay biện bạch cho mấy đi nữa
cũng chỉ làm tăng thêm sự hiểu lầm nơi mọi người và
nhọc sức mà thôi vì mặc cảm và thành kiến, hay dụng ý
xấu xa đã không khiến cho người cáo tội không bình tâm
xét lại vấn đề. Ví dụ cụ thể là khi người ta đã nghĩ
và đã bảo: Thầy Nhật Từ làm tất cả những điều đó
vì danh lợi cá nhân, hoặc là vì mua lòng ai đó, hoặc là
vì thế lực nào đó sai bảo chứ không phải làm là vì lý
tưởng Bồ tát hay là “Chỉ có con đường duy nhất là ủng
hộ Phật pháp thôi,” vậy thì thầy cứ tự nhiên mà trình
bày: Điều này không có nơi ở nơi tôi. Còn chư Tổ dạy
không biện bạch có nghĩa là dạy thầy đừng nên quá bận
tâm cả ngày đêm buồn khổ và dồn hết tâm trí để giải
oan và thanh minh cho được việc này. Hơn nữa, cho dù thầy
có nỗ lực đến đâu đi nữa thì liệu thầy có thanh minh
được việc này hay không khi lối suy nghĩ của họ là vậy?
Một
tầng nghĩa cao hơn nữa đó là có trường hợp có thể thanh
minh được nhưng sau khi thanh minh xong phần ta yên ổn mà tai
họa lại giáng vào kẻ khác cho nên ta nên im lặng luôn chịu
thiệt thòi và oan ức phần mình và đảm bảo sự an ổn cho
người khác. Ví dụ: có một người cha rất nóng tánh, có
những bộ chén kiểu cỗ xưa hay bình trà rất đẹp và rất
giá trị, một hôm dọn dẹp hay rửa chén người em làm bể
bộ đồ cổ quý đó. Khi người cha về gặp người anh và
hay biết bộ đồ cổ đã bể liền nổi giận đùng đùng
và hét bảo “Có phải mày là đồ vô tích sự đập vỡ
chén và bình của tao đó không?” Người anh cúi đầu im lặng.
Người cha sau đó đánh vào người con trai lớn này dồn dập.
Người anh này không biện bạch vì muốn chịu đòn thay cho
em mình, nếu biện bạch thì tội nghiệp cho em mình yếu đuổi
không chịu nổi roi đòn và cơn giận sấm sét của người
cha.
Ví
dụ tương tự ta có thể tìm thấy trong câu truyện cổ Phật
giáo: “Nắm hạt trai”: một vị Tỳ kheo đi khất thực và
du hóa vào thăm một người nọ. Người ấy mừng rỡ nên
dù lúc đang xỏ những hòn ngọc trai vào dây chuỗi lại bỏ
việc đó đi làm cơm nước cúng dường Tỳ kheo. Khi đó con
ngỗng nhìn thấy hòn ngọc trai tưởng là món ăn ngon bèn đớp
nuốt vào bụng. Khi chủ nhà bưng cơm lên thì hoảng kinh vì
những hạt ngọc trai không còn nữa. Chủ nhà bèn tra hỏi
vị Tỳ kheo nhưng vị Tỳ kheo không nói, vì tiếc của nên
sai gia nhân đánh đập vị Tỳ kheo cho đến khi ngất xỉu
suýt chết đi. Con ngỗng loanh quanh bên vị Tỳ kheo bị người
chủ nhà giận quá đập một gậy chết luôn. Vị Tỳ kheo
sực tỉnh dậy, thương cho con ngỗng, đọc kinh cầu nguyện
rồi mới nói ra sự tình. Trong trường hợp này, nếu vị
Tỳ kheo áp dụng câu nói của Phật dạy: “Điều này không
có ở nơi tôi” là không được rồi, hoặc chỉ ra con ngỗng
đã nuốt ngọc trai là đồng tình với việc sát sanh rồi.[20]
Tương
tự như vậy câu chuyện Thiền sư “thật vậy sao” Hakuin
trong “MỘT
TRĂM LẺ MỘT CÂU CHUYỆN THIỀN”[21] thản nhiên lãnh
đứa con oan nghiệt vu oan cho ông và “Ngài tận tình chăm
sóc đứa bé và thường đi sang hàng xóm để xin sữa và các
thức cần thiết khác để nuôi trẻ sơ sinh” chứ không nói
câu: “Việc này không có nơi tôi” bởi nói câu đó thì
đau khổ vẫn tiếp tục trút lên đầu thiếu nữ - người
mẹ của đứa con oan nghiệt đó. Khi cha mẹ của cô thiếu
nữ luôn cật vấn và tra hỏi về người cha của đứa bé
này mà lúc ban đầu cô thiếu nữ không đủ can đảm để
thú nhận cha của đứa bé oan nghiệt cùng với mối tình vụng
dại là anh hàng cá trẻ tuổi. “Oan ức không cần biện bạch”
chứ không phải là: “việc này không có ở nơi tôi” đã
giúp cho Thiền sư Hakuin hành hạnh Ba La Mật - nhẫn nhục Ba
La Mật, tinh tấn Ba La Mật, Bố Thí Ba La Mật và Tứ Vô Lượng
Tâm - Từ Bi Hỷ Xả.
Bởi
thế nên có câu rằng: “Y kinh giải nghĩa tam thế Phật oan,
ly kinh nhất tự tức đồng ma thuyết” (Y sát theo kinh mà
giải nghĩa là oan ba đời chư Phật, rời xa kinh một chữ
là đồng với lời nói của ma).
“Điều
thứ tám là chư Ni không được phép quở trách khuyên lơn
chư Tăng, nhưng chư Tăng được quyền quở trách chư Ni.
Cái lý luận bảo vệ: đó là tại vì muốn cho chư Ni thể
hiện lòng tôn kính tuyệt đối với Tăng đoàn, vì đó là
điều cần thiết và mang lại lợi ích cho cá nhân và cho chư
Ni. Lý luận đó nghe có mát lỗ tai thôi chấp nhận.”
Điều
thứ tám này là kết quả tất yếu của 7 điều như đã phân
tích trên. Như chúng ta đã nói: có một số việc làm của
Tỳ kheo Tăng khó phân biện được là đúng hay sai, khi ấy
chưa có hệ thống giới luật đầy đủ, chỉ căn cứ vào
sở học và tu nơi lời dạy của đức Phật mà quyết định
là việc làm đúng hay sai. Tỳ kheo Ni mới vào giáo đoàn chưa
học được bao nhiêu ngày thì căn cứ vào đâu để biết
là việc làm đúng hay sai trong khi đó hàng chúng Tăng lại
có những người hành mật hạnh, nghịch hạnh nữa? Nhiều
Tỳ kheo Tăng đã có kinh nghiệm học và tu sâu dày, đắc quả
A La Hán, có thần thông nữa và làm thầy bên Ni giới thì
việc quở trách và khuyên lơn Ni giới sẽ chính xác và hiệu
quả. Ngược lại Ni giới lúc ấy non trẻ làm sao làm được
việc quở trách khuyên lơn này? Ví dụ một cô Sa Di Ni vào
chùa mấy ngày thì làm sao biết việc làm thầy Nhật Từ là
đúng hay sai mà quở trách với khuyên lơn? Rõ ràng giáo
đoàn Ni đang cần sự chăm sóc cho lớn mạnh từ đức Phật
với sự hỗ trợ rất lớn từ phía Tăng đoàn.
Một
lần nữa trở lại điểm mà tôi đã nhấn mạnh phần trên
là: ngay cả thời nay khi Ni giới đủ điều kiện để học
và biết nhiều nhưng có dám tự hào là hiểu biết hết hạnh
nguyện và lối làm việc của chư Tăng để mà bình luận
phán xét không? Có nhiều chư tôn Hòa thượng, Thượng tọa
có rất nhiều cống hiến cho Phật giáo, xưa nay vốn được
Ni giới rất mực kính trọng, nhưng chính các vị Hòa thượng,
Thượng tọa ấy tố tội lẫn nhau thì Ni giới có nên quan
tâm lắng nghe và khuyên lơn quở trách việc làm của những
vị Hòa thượng, Thượng tọa đó không? Tôi đã nói, dù muốn
dù không thì thực tế vẫn là: có nhiều Tỳ kheo Tăng nghĩ
đến chuyện cao xa hơn, chuyện cho quốc gia, đại cuộc và
mọi mặt của Phật giáo cho hiện tại và về sau, cho Việt
nam và thế giới còn Ni giới thông thường mà nói chỉ nghĩ
đến những việc liên quan đến mình, đến chúng của mình,
đến những lãnh vực hẹp hơn Tỳ kheo Tăng, có phải không?
Lại một lần nữa các vị cho rằng đó là lối nghĩ trọng
nam khinh nữ nhưng đó là một thực tế trong sự khác nhau
về suy nghĩ và làm việc của Nam và Nữ Á Đông: Nam – cao
xa bay bổng, có lúc hoang đường, nữ - thực tế gần gũi,
trước mắt. Chúng ta hãy đếm xem có bao nhiêu triết gia là
nam giới và có bao nhiêu triết gia là nữ giới? Điều này
lại càng đúng đối với xã hội Ấn Độ khi phụ nữ lúc
đó chỉ giống như cỗ máy sanh sản và lo công việc lặt
vặt trong nhà, còn nam giới phải cáng đáng mọi công việc
sanh nhai, xã hội, quốc gia đại sự và buộc phải liên tục
tính toán và lo xa. Nghĩa là, trong nhiều trường hợp ni giới
không hiểu trọn vẹn ý nghĩ và việc làm của Tỳ kheo Tăng
cho nên có quan tâm, theo dõi, quở trách hay khuyên lơn cũng
không có tác dụng gì mà có thể phiền não cho hai bên thôi.
Trong khi đó, vì tính chất cụ thể và gần gũi nên chư Tăng
hiểu được việc làm của Ni giới để có thể quở trách
khuyên lơn và giúp đỡ Tỳ kheo Ni.
Hãy
nghĩ xem Ni giới đâu bám vào được tiêu chí cho việc đúng
sai làm cơ sở cho việc quở trách khuyên lơn này: Lúc Phật
còn tại thế: Ni giới sinh sau đẻ muộn, học ít, nên căn
bản giáo Pháp chưa đủ sức tin là đã vững vàng để quở
trách khuyên lơn Tỳ kheo Tăng, lúc Phật nhập diệt: Các Tỳ
kheo tham gia vào việc kiết tập tam tạng kinh điển, các Tỳ
kheo lập ra các tông phái, cũng như hôm nay các Tỳ kheo đang
làm công việc giám định giới luật và quyết định tiếng
nói của các ngài Tỳ kheo có giá trị áp dụng hơn là tiếng
nói của Phật (các Ngài nói: lời phật dạy lúc đó nay đã
lỗi thời hoặc là cái này do người sau thêm thắt vào chứ
Phật không nói) lời trong kinh điển lưu truyền mà các Ngài
còn dẫm qua nhẹ nhàng như vậy thì lời quở trách khuyên
lơn của chư Ni phỏng có tác dụng gì? Đó có phải là thực
tế không?
Điều
quan trọng nhất tại đây là lúc thành lập ni đoàn, việc
bố tát, an cư, sám hối, tự tứ… của chư Ni có Tỳ Kheo
tăng hiện diện giáo giới, giúp đỡ thì quở trách và khuyên
lơn rất là hiệu quả. Còn việc Tăng đoàn ai lo, ai giúp Tỳ
Kheo tăng sống đúng với Phạm hạnh xuất gia và tu tiến?
Trả lời: đã có đức Phật và các Trưởng lão Tăng xuất
sắc và dư sức để lo chuyện ấy rồi. Tôi muốn nói vào
thời đức Phật, thật là vô lý khi một chuyện (giữ cho
Tăng đoàn nghiêm tịnh, hòa hợp) đã có người lo và dư sức
lo, thế mà Ni chúng vừa mới xuất gia tu học lại đòi lo
phần làm nghiêm tịnh Tăng đoàn, thật là chỗ đáng lo, cần
lo không lo, chỗ đã có thừa người lo rồi mình lại giành
phần lo bao đồng! Nếu những ai có năng khiếu quản lý, điều
hành hoặc có thuật điều binh sẽ cảm thấy điều này thật
là buồn cười.