“Điều
thứ 3 là các Tỳ kheo Ni phải thỉnh giáo giới trong các kỳ
Bố tát …
Trong
khi đó giáo đoàn của Tỳ kheo Ni sau những lịch sử biến
thiên, không còn giống như cấu trúc của xã hội Ấn Độ
nữa. Tức là Ni được học ngay từ lúc mới vào chùa chẳng
những học Phật pháp mà còn học luôn cả thế học, có thể
nghiên cứu viết sách dịch kinh. Như vậy là họ đâu cần
có cái nhu cầu để thỉnh giáo giới. Lấy một cái điều
khoản được ra đời từ nhiều thế kỷ về trước để
áp dụng cho cơ chế xã hội hiện tại, đôi lúc nó không
cần, mà trên thực tế nếu có làm thì cũng làm cho ngoại
lệ qua loa. Nó đâu có ý nghĩa gì đâu. Chủ nghĩa hình thức
là điều nên cấm kỵ.”
Đúng
thế, hiện nay có đầy đủ điều kiện để học hỏi: kinh
sách, cassettes, CDs, VCDs, DVDs, đài truyền thanh, báo chí, websites…
Ni chúng mặc sức lựa ra những gì có sẵn, đã phát hành
sẵn để học, ôn và san sẻ trong Ni chúng. Nói rằng: Không
có người đến giáo giới thì Ni chúng vẫn có nhiều chương
trình để học hỏi, trao đổi san sẻ với nhau có lợi ích
thiết thực – đúng. Nhưng nếu bảo: Ni chúng đã có đầy
đủ điều kiện tu học và thăng hoa rồi, dù bẩt cứ vị
Giáo Giới Sư nào đến cũng không dạy thêm gì hơn nữa là
không đúng. Lẽ thứ nhất: Không ai dám tự cho mình đã học
hết tinh hoa của Phật Pháp hay tinh hoa của thiên hạ. Lẽ
thứ hai: Học là một chuyện, tu và thể nghiệm được những
điều đã học, áp dụng lý thuyết vào cuộc sống lại là
chuyện khác. Học được nhiều như vậy nhưng cái chính là
xét lại mình xem tham, sân, si, mạn, phiền não,… còn nhiều
không? Đạo Phật là Đạo để sống, thể nghiệm và giải
thoát chứ không phải là trên chữ nghĩa và dịch thuật.
Hãy
nên nhớ ngôn ngữ và chữ nghĩa chỉ là phương tiện vay mượn
kém cỏi để biểu đạt chân lý. Nhiều lúc chân lý nằm
thoát ra ngoài ngôn ngữ. Giáo pháp chỉ là ngón tay chỉ mặt
trăng, chỉ là thuyền đưa người sang sông. Chính vì thế,
để tránh cái chấp kẹt trong văn tự đức Phật đã nói:
“Trong 49 năm Ta chưa từng nói một lời nào”. Biết bao nhiêu
dẫn chứng khác có thể nêu ra ở đây: Ngài Bàn Đặc học
2 chữ: “Chổi quét” mà chứng quả A La Hán, Ngài A Nan ôm
một bụng chữ mà đến kỳ Kết Tập Kinh Điển nằm than
thở ở ngoài động Thất Diệp và “chun” được vào trong
Động giây phút chót nhất. Trong hội Linh Sơn “niêm hoa vi
tiếu” một cách vô ngôn, đức Phật phó chúc lại ngài Ca
Diếp “chánh pháp nhãn tạng, Niết bàn diệu tâm, thật tướng
vô tướng,” tổ Đạt Ma chủ trương “Bất lập văn tự,
giáo ngoại biệt truyền” trong việc khai ngộ tự tánh, hoặc
Ngài Huệ Năng không biết chữ, lo gánh củi xay lúa giã gạo,
không học hành nhiều vậy mà tỏ ngộ đạo mầu và được
truyền Y Bát… Vậy nếu các Tỳ kheo Ni cho là đã có cơ duyên
học hỏi nhiều rồi, đủ rồi và không cần được giáo
giới thì hãy xem xét lại nơi mình, cẩn thận kẻo rơi vào
chấp chặt văn tự, sở đắc, sở tri chướng. Các vị đó
học nhiều vậy nhưng đã giải thoát chưa, đã đạt đến
chỗ vô lậu và bảo đảm thoát ra ngoài vòng luân hồi sanh
tử chưa? Nếu chưa thì hãy nên tìm học, hãy nên lắng nghe
thêm. Có thể những vị Tăng mộc mạc đơn sơ, một Thầy
vườn nhưng có những tâm hạnh, những việc làm, những cách
suy nghĩ, cách quán sát tu tập, thực thi Phật sự, những tư
tưởng sâu sắc và thực tế,… đáng để các Tỳ kheo Ni
đầy chữ nghĩa ấy tiếp kiến, học hỏi, trao đổi. Đạo
là cái gì rất gần gũi chứ không quá cao xa, không ở nơi
rượt đuổi tìm bắt mệt nhoài trong văn tự. Chừng nào các
Tỳ kheo Ni đắc quả A La Hán trở lên rồi thì có thể bảo
là không cần đến giáo giới sư nữa.
Tuy
nhiên nếu cảm thấy rằng: Các vị Tăng xung quanh về cả
pháp học và pháp hành không có ai xứng đáng cao thượng hơn
để Tỳ kheo Ni học hỏi thì cũng chịu thôi chứ biết làm
sao. Có thể là Tỳ kheo Ni ấy đạt đến chỗ vô thượng
sư hoặc có thể là vị Ni ấy kém phước duyên không gặp
các bậc cao Tăng, thạc đức. Lời khuyên của tôi nơi đây
là: được học hỏi nhiều thì nên có tấm lòng thành kính
tri ân đối với đức Phật, các bậc tiền bối, tôn đức
bao thế hệ đã để lại kho tàng giáo pháp quý giá, thầy
tổ và Phật tử đã trợ giúp cho việc học hành nghiên cứu,
và trừ ngã chấp, pháp chấp. Điều quan trọng là phải biết
đưa bài học vào trong cuộc sống của mình và mọi người.
Trí tuệ Phật giáo từ nơi Văn Tư Tu khác với kiến thức
thế gian dựa vào góp nhặt của chữ nghĩa. Con đường chuyển
hóa của Phật giáo gắn liền với thanh tịnh hóa thân tâm,
nhận thức về Khổ và biết cách dứt Khổ. Hãy cẩn thận
đừng để mớ chữ nghĩa góp nhặt làm hàng rào cản, làm
khoảng cách giữa ta và mọi người, hoặc khiến ta dương
dương tự đắc, mục hạ vô nhân. Học là điều kiện cần
chứ chưa phải là điều kiện đủ, trong tu tập nên gắn
liền: Học mà Tu, Tu mà Học. Tôi không loại trừ khả năng
một người có thể tự đọc, học nơi kinh sách và trường
lớp, xong rồi áp dụng tu tập và sinh hoạt vẫn có kết quả,
hướng đến giải thoát giác ngộ, giải thoát thậm chí có
thể làm một bậc Duyên Giác hay Độc Giác tuy nhiên hãy quán
sát cho kỹ trước khi bảo là xung quanh không có ai đáng để
mình thọ giáo, học hỏi thêm. Hơn nữa trong Ni chúng, có thể
có số Tỳ kheo Ni khác lại cảm thấy cần có những vị Giáo
giới sư thích hợp mà họ tin tưởng hơn là vị Tỳ kheo Ni
học giả trong chùa. Một điều nữa là: hiểu và áp dụng
giới luật trong cuộc sống hiện tại cũng không phải dễ
làm, chẳng phải chúng ta đang có sự cách biệt và cần san
sẻ cho nhau về việc hiểu và hành trì Bát Kính Pháp là gì?
“Điều
thứ tư là Ni phải làm lễ Tự Tứ, tự nói lỗi của mình
trước hai bộ Tăng và Ni về ba vấn đề thấy, nghe và nghi.
Cái lý luận nói là muốn bảo vệ nhân cách và đạo đức,
người ni phải mời người khác để nhận xét về mình. Rõ
ràng cơ hội đó đã tạo ra sự hoàn thiện ở con người
dám mạnh dạn thấy lỗi của mình. Nhu cầu này là nhu cầu
rất là lớn.
Phần
phản luận chúng ta thấy nó rất là vô lý. Nếu như tự nói
lỗi để hoàn thiện nhân cách của mình, thì tại sao chỉ
có Ni mới tự nói lỗi, còn Tăng không tự nói lỗi. Còn nếu
như là nói lỗi trước hai bộ Tăng và Ni để cho có nhiều
người có ý kiến nhiều hơn thì mình sẽ được hoàn thiện
nhiều hơn, thì tại sao chư Tăng không làm việc đó tương
tự?”
Chúng
ta nên nhớ rằng trong Tăng chúng có nhiều vị là giáo giới
bên Ni đoàn, trong đó có cả ngài Ca Diếp, A Nan, Ưu Ba Ly…
tức là có các vị đã là thầy của Ni chúng. Trong khi Tự
Tứ thì hoặc là mỗi vị tự sám hối lỗi của mình hoặc
là người khác chỉ ra lỗi của mình theo nơi thấy, nghe và
nghi. Như vậy Ni chúng sẽ được nghe lời sám hối hoặc là
nghe những lời phản ảnh về những sự nghi nghờ và buộc
tội về vị Giáo giới Sư của họ. Đọc câu chuyện “Cuộc
đời Ðức Xá-lợi-phất (Sarìputta) - Nguyễn Ðiều (1966)”,
chúng ta đã thấy Xá Lợi Phất bị vu cáo thế nào như đã
nêu phần trên, chúng ta cũng thấy 500 vị A La Hán buộc sáu
tội Ðột Cát La đối với ngài A Nan gay gắt như thế nào
trong kỳ Kiết Tập Kinh Điển lần thứ nhất, rồi về sau
này chuyện ngài Cưu Ma La Thập nhận và sống chung với mười
cung nữ do Tần chủ Diêu Hưng ban tặng, chuyện Ngài Phật
Ấn uống rượu thịt ngâm thơ với Tô Đông Pha và mượn
vợ của Tô Đông Pha một đêm, chuyện “trà đình tửu điếm
vô phi thanh tịnh Đạo Tràng” của Tế Điên Hòa thượng,
chuyện Tổ Đơn Hà thiêu mộc Phật, chuyện chư Hòa Thượng,
Thượng Tọa trong hai Giáo Hội: GHPGVNTN và GHPGVN ngồi lại
Bố Tát với nhau lần đầu tiên và nêu ra những lỗi nơi
thấy, nghe và nghi sau 30 năm không sinh hoạt chung (nếu như
có ngày ấy), chuyện thầy Nhật Từ và các thầy đã từng
đàm thoại với thầy về vấn đề Bát Kính Pháp an cư chung
và Bố tát nêu lại những lỗi thấy, nghe, nghi lẫn nhau,…
những chuyện như thế nếu để các Ni giới cùng thời vào
ngồi lắng nghe chư Tăng buộc tội lẫn nhau thì như thế nào…?
Toàn là những tội nghe qua cảm thấy trời long đất lở,
khiến nhiều người choáng váng và sốc thật sự. Với chí
khí “Nam nhi tự hữu xung thiên chí, hưu hướng Như Lai hành
xứ hành” hoặc là: “Phùng Phật sát Phật, phùng Tổ sát
Tổ”, hoặc tâm đắc với tư tưởng: “Phật là Phật, Anh
là Anh, Anh đâu cần làm Phật và Phật cũng đâu cần làm
Anh” thì tốt hơn hết là quý chư Tăng hãy tự nêu lỗi lẫn
nhau trong dịp riêng, đừng nêu lỗi ra trước mặt Ni giới
khiến về bản chất tâm sinh lý êm hòa, hiền thục quý Ni
bị “Tăng xông máu” và phải đưa đi cấp cứu khi cảm
thấy thần tượng của mình sụp đổ, tương lai của đạo
pháp mù mịt, các bậc Long Tượng Phật Pháp đang giao tranh
và cơ hồ như sắp làm sập đổ ngôi nhà Phật Pháp,… Cái
tư tưởng cách mạng, canh tân, hoạt hiện Phật giáo vào đời
sống hiện tại, phá chấp, đạp lên lề thói cũ thường
có ở chư Tăng và nhiều lúc việc đúng sai phải trái thật
khó mà phân định thì cứ nên để “các tư tưởng lớn
đó làm việc riêng với nhau” tốt hơn, thế giới hòa bình
hơn. Đừng lôi các Tỳ kheo Ni vào những việc như thế hãy
để quý vị đó tịnh niệm và tiếp tục tin tưởng, phối
hợp, hoặc trợ duyên Phật sự cho quý Thầy. Lúc Phật còn
tại thế thì Ngài giám định chuyện đúng sai, còn bây giờ
lấy tiêu chí nào giám định? Nếu gọi là căn cứ giới luật
thì các Ngài phán: giới luật này do người đời sau thêm
vào chứ không phải do Phật chế ra… bó tay thôi. Vậy chư
Tăng nên chỉ ra tội riêng với nhau không nên nêu trước mặt
Ni giới là tốt hơn nhiều.
“Chúng
ta thấy có nhiều lý luận tưởng chừng như thích hợp lắm,
nhưng trên thực tế có nhiều phát sanh. Vấn đề mấu chốt
nữa là vấn đề mời gọi chư Tăng chỉ điểm ba việc thấy,
nghe và nghi dựa vào tư tưởng kinh điển nhà Phật nó không
thích hợp?...
Đức
Phật dạy mỗi người phải phản quan chính mình về các giác
quan, thông qua thiết lập chánh niệm tỉnh thức trong từng
cử chỉ đi đứng, nằm, ngồi. Tự quan sát mình, tự hoàn
thiện mình chứ Ngài không có kêu là phải đi quan sát dùm.
Chẳng lẽ, mấy ông thầy tối ngày đi rình mấy bà Ni làm
gì, rồi đến cái ngày Bố tát mới chỉ điểm thấy nghe
và nghi thì vô lý. Còn không thôi tối ngày cứ đi nghe ngóng
coi bà đó bả làm gì. Rất là vô lý, chúng tôi thấy nó ra
sao đó. Chúng ta nói là Tự tứ là hoạt động dân chủ cầu
tiến trên cơ sở nhận lỗi và sửa lỗi, nó là cái cơ chế
để phát huy đạo đức lớn lắm, và như vậy là nhu cầu
của tất cả mọi người chứ không phải chỉ có nam hay là
nữ hay là đặc biệt của người nữ.”
Dù
có hạn chế như thế nào đi nữa thì con người có mắt vẫn
thấy, có tai vẫn nghe, có tâm thức suy luận thì vẫn cứ
nghi. Thôi để cho dễ dàng và cụ thể hơn tôi nhắc cho Thầy
nên tự nhớ lại ở bản thân Thầy (thầy Nhật Từ). Thời
học ở Ấn Độ, Thầy có thấy Ni sinh hay không và chính Thầy
đã từng nghe chư Tăng buộc tội những người Ni phải không?
Quả thật là có “những điều trông thấy mà đau đớn lòng”
phải không? Cũng chính Thầy không ít lần phân giải về tội
trạng của Ni, kể cả việc đi gặp các giáo sư Ấn Độ
hoặc trong các cuộc họp mặt, hoặc trong phone, hoặc trong
bài viết gửi đến chư Tăng có phải không? Rồi trong khi
đi dạy tại Vạn Hạnh, Vĩnh Nghiêm, các chùa Ni, Thầy nhắm
mắt cách nào để không phải thấy? Trong những lúc trà đàm
với pháp lữ, hoặc có những vị Ni cô oan ức tìm Thầy để
xin một lời khuyên giải, hoặc trong các dịp hội thảo, kiểm
điểm quan trọng của Ni chúng có mời Thầy đến tham dự
để lắng nghe khách quan và cho lời chỉ dạy, Thầy làm sao
không vận dụng nơi thấy, nghe, nghi để rồi cố gắng thiết
lập lại lục hòa cho những Ni chúng đó?
Đặc
biệt, dù hàng ngày không thấy, không nghe, không nghi đi nữa
thì đến giờ Tự Tứ cũng phải thấy và nghe những gì đang
xảy ra và hãy có lời khuyên dạy chỉ bảo tại nơi đó.
Ở trên kia tôi đã ví dụ một vị Thượng Tọa được mời
đến giải quyết nỗi bất ổn trong đại chúng Ni vì đại
chúng bất mãn vị sư phụ Ni, Vị này ưu ái thương riêng
một vị đệ tử và muốn sau này người đệ tử ấy kế
thế trụ trì như thế nào rồi. Ban đầu vị Thượng Tọa
đó đâu có “tối ngày đi rình mấy bà Ni làm gì” nhưng
mà vì lòng Từ Bi, vì Đạo Pháp, khi Ni chúng thỉnh mời đến
thì phải ngồi sinh hoạt với Ni chúng đó một ngày, dụng
toàn tâm lực vào việc thấy, nghe, nghi để phân giải và
cuối cùng là có kết quả tốt đẹp. Vậy thì mắt, tai và
tâm thức… là cái vốn quý giá của con người lỗi không
ở nơi mắt, tai và tâm thức, hoặc thấy, nghe, nghi mà quan
trọng là biết thấy, nghe, nghi về những gì ở Ni giới, mục
đích của việc làm đó là thế nào và nên làm với một
tinh thần và dụng tâm ra sao?
“Điều
thứ năm, Ni phạm giới Tăng tàn, phải thực hiện hình phạt
ý hỷ nửa tháng trước hai bộ Tăng và Ni. Tức là Tăng tàn
được xem như là gần mất đi phẩm hạnh của người xuất
gia. Tổn thất về tính cách phạm hạnh đó có thể ở mức
độ nghiêm trọng cho tình trạng mất đi tánh mạng. Cho nên
trong trường hợp đó phải đi sám hối trước hội đồng
Tăng và Ni để cho ý thức về lỗi lầm đó được mọi người
biết làm cho mình thúc thủ và làm mới cuộc đời, đổi
mới cuộc đời… Rõ ràng cái nhu cầu đó cần phải được
áp dụng cho hai giới Tăng và Ni cho mọi người.”
Lại
một lần nữa chúng ta gặp vấn đề tương tự như điều
thứ tư ở trên. Ở đây, yêu cầu hành xử khác nhau đối
với Tăng và Ni đặt trên căn bản hai lý do sau đây:
- Bản
chất tâm sinh lý khác nhau ở Tăng và Ni hay Nam và Nữ: Bản
chẩt của nữ là nhu thuận, điều đó càng đặc biệt đúng
đối với phụ nữ Ấn Độ và Á Đông, bản chất của nam
là quật khởi, vùng lên: “Chọc trời khuấy nước mặc dầu,
dọc ngang nào biết trên đầu có ai” (Truyện Kiều). Ni giới
hầu hết là khép mình vào giới luật và một khi lỡ lầm
vi phạm thì cần có ấn tượng trong lúc sám hối trước hai
bộ chúng Tăng và Ni để nương lực Đại chúng mà tu sửa
lại phận mình. Đối với Tỳ kheo, bản chất nam tính đặc
biệt trong giai đoạn đầu thì tính phàm phu vẫn còn chứ
chưa phải là Phật Thánh ngay mà là đang trên con đường tu
tập. Đó là những tánh ngang ngạnh, cang cường và như vậy
tự ái cũng lớn. Nên nhớ là nói về phạm giới tăng tàn
thì có nhiều điều rất dễ bị hổ thẹn. Người Tỳ kheo
đã phạm giới Tăng tàn thật sự là người có nhiều nghiệp
và trong tâm vốn có nhiều phiền não, cho nên xử lý với
tội Tăng tàn cần phải khéo léo, tuy áp dụng đúng luật
nhưng đại chúng nên thể hiện từ tâm thông cảm, thương
xót cho hoàn cảnh, trường hợp và muốn vực người phạm
giới đứng dậy. Cho nên xử lý Tỳ kheo Tăng phạm tội tăng
tàn riêng nơi Tăng chúng thôi thì tự nhiên và hiệu quả hơn
và không khí, phản ứng thế nào cũng không ảnh hưởng lan
rộng nhiều. Nếu như xét thấy áp dụng việc sám hối tội
tăng tàn của Ni thực hành trước hai bộ chúng có lợi nhiều
hơn nhưng việc này có tác dụng ngược lại đối với Tăng
thì cứ để chư Tăng sám hối tội tăng tàn trước Tăng chúng
mà thôi. Ở đây không phải là đang hạ thấp Ni giới mà
là khuyến khích và làm nổi bật một số đức tính tốt
sẵn có: nhu thuận, nhẫn nại, thành thật và cầu tiến của
Ni giới. Ở trong một gia đình, khi con cái vi phạm cùng một
lỗi giống nhau, cha mẹ lại áp dụng biện pháp phạt khác
nhau đối với con trai, con gái không phải là vì phân biệt
đối xử hay thương con nào nhiều hơn mà căn cứ vào tánh
khí đứa con và phương pháp nào là hiệu quả nhất đối
với chúng. Đạo Phật không chủ trương bình đẳng trên hình
thức mà hướng vào mục tiêu giải thoát, giác ngộ, tùy căn
cơ trình độ mà giáo hóa, tùy bệnh mà cho thuốc. Các vị
Thiền sư có lúc nói dịu dàng, có lúc hét la, có lúc khiến
đệ tử phải quỳ ngoài sương gió, chặt một cánh tay, có
lúc khép cửa làm gãy một chân đệ tử,… không phải là
Thiền sư bất bình thường hay không bình đẳng mà là vì
lòng Từ Bi xem xét và ứng xử xứng tánh, hợp căn cơ của
đối tượng. Thân thể con người nam nữ sai khác, tánh chất
sai khác, sức chịu đựng sai khác… thì làm sao áp dụng nguyên
xi một mô thức cho hai bên được? Từ Bi và Trí Tuệ của
Phật và Bồ Tát là giúp chúng sanh hướng thượng và giải
thoát nên trong việc làm có trường hợp làm nghịch hạnh,
chứ không phải là luôn an ủi, xoa dịu chúng sanh.
- Như
đã nói trên, dù với lý tưởng hành Đạo nhưng Tỳ kheo,
đặc biệt là sau khi Phật nhập diệt, do bản chất lý luận,
suy tư triết gia nhiều, thích suy nghĩ cao xa nên những cách
phá chấp và tranh biện sẽ xảy ra nhiều. Ví dụ trong thời
đức Phật đã xảy ra với Đề Bà Đạt Đa, Lục quần Tỳ
kheo, những nhóm Tỳ kheo tranh cãi về Kinh và Luật mà Phật
không hóa giải được phải bỏ đi an cư một mình trong Hạ
Thứ Mười - tại rừng Parileyyaka. Sau này, trong kỳ kiết tập
kinh điển lần II, cũng có sự bất đồng ý kiến của nhóm
Tỳ kheo Bạt Kỳ và trưởng lão Da Xá về mười điều phi
pháp căn cứ trên giới bổn, để rồi sau đó là hình thành
các bộ phái khác nhau đặt trên căn bản các bộ Luật khác
nhau… Một lần nữa, xin nhắc lại có những vị Tỳ kheo
Tăng hết sức năng động tích cực trong Phật giáo, thực
hành, mang đạo Phật vào thể nghiệm bản thân và mạch sống
cuộc đời và như vậy uyển chuyển tùy duyên phương tiện
và hành trì giới luật có “khai giá trì phạm”. Đó là
nhiệt tình của quý vị Tăng ấy, nhưng có thể nhiệt tình
quá mức, mong muốn hiện đại hóa đạo Phật trong khi tuệ
giác chưa trọn vẹn để biết cách giữ bản tánh nhất như
và vi diệu của giáo Pháp khiến vị Tăng ấy phạm tội Tăng
tàn. Chẳng hạn, một người nhiệt tình hoạt động nhưng
có những cải cách không theo lề lối cũ dễ bị xem là phạm
giới: giới phá tăng hòa hợp, giới hỗ trợ phá tăng, giới
ngoan cố chống cự… Vấn đề là ai hiểu được động cơ
của việc làm, tác dụng hay tác hại của việc làm trong hiện
tại và mai sau trên bình diện rộng lớn toàn thế giới, vũ
trụ của vị ấy… Lối nhận thức sinh hoạt khác thường
làm xôn xao Tăng chúng Phật giáo này là nguyên nhân để những
Tỳ kheo bảo thủ nghe, thấy, nghi và buộc tội Tăng tàn, nhưng
bản thân người làm việc đó không chấp nhận và không phục
vì người ấy tự biết tâm mình làm là vì phụng sự Tam
bảo và như thế là phù hợp nhất, đảm bảo sự phát triển
đạo pháp trong tình hình hiện tại và tương lai. Vậy thì
từ bất đồng ý kiến rồi dẫn đến phân rẽ trong Tăng
đoàn, chí hướng ai nấy đi, Ni chúng nếu đi dự nghe các
lời buộc tội Tăng tàn đối với những Tỳ kheo này thì
sẽ không ích lợi gì, chỉ thêm hoang mang, xót xa và đảo
lộn mọi suy nghĩ và nếp sống yên tịnh trong phạm hạnh
mà thôi.
Tuy
nhiên, trong mối tương quan này, chúng ta cũng hãy nhìn thấy
những điểm tích cực mà bao Tỳ kheo Tăng đã đóng góp trong
sự nghiệp hoằng dương Phật Pháp kể từ thời Phật tại
thế đến nay. Chúng ta hãy xem các kỳ kiết tập kinh điển
từ lần thứ I đến thứ VI, 28 vị tổ sư Thiên Trúc, 6 vị
Tổ ở Trung Hoa, bao nhiêu vị tổ sư đến Việt Nam và những
tổ sư Việt Nam cũng đều là Tỳ kheo Tăng. Cho nên cái bản
chất đào sâu, tìm hiểu, nghiên cứu, khám phá, canh tân, áp
dụng vào cuộc đời, tích cực đi đến mọi ngóc ngách cuộc
sống lại dễ vướng vào sự kết buộc vào tội tăng tàn
nhưng chính nó lại mở ra những bước đi mới cho Phật giáo.
Tóm lại Phật đã biết trước là Tỳ kheo Tăng công cũng
nhiều mà “tội” cũng nhiều, nhất là tội Tăng tàn, nên
không buộc Tăng phải ra sám hối trước hai bộ chúng Tăng
Ni vì như vậy chỉ thêm động niệm phiền nhiễu Ni chúng
dài dài và tạo sự hoang mang trên bước đường tu niệm.
Chỉ có Tỳ kheo Ni nên sám hối tội Tăng tàn trước hai bộ
chúng Tăng, Ni vì những Tỳ kheo Ni phạm tội ấy phần lớn
là vì cá nhân không gìn giữ được nên Tỳ kheo Ni dễ dàng
chấp nhận sám hối hơn.