“Điều
thứ nhất một vị Tỳ kheo ni một trăm tuổi hạ, phải cung
kính đảnh lễ một vị Tỳ kheo Tăng xuất gia mới một ngày.
Điều này đặt trong nền tảng của giới tính nhiều hơn
là đạo đức, rõ ràng nếu chúng ta khách quan cứ hóa thân
là một người không phải là Phật tử thì chúng ta thấy
điều đó rất là khó có thể chấp nhận được. Cơ sở
lý luận điều thứ nhất của Bát kỉnh pháp cho rằng Ni giới
đi tu sau Tăng đoàn, do đó cung kính những vị sư huynh đi
trước là điều không thể không có.”
Một
khi hình thành hai bộ chúng: Tăng đoàn và Ni đoàn, vấn đề
đầu tiên đặt ra là nghi thức chào hỏi nhau giữa Tăng và
Ni. Gặp nhau không thể không chào hỏi vì chào hỏi sẽ bày
tỏ được sự cảm thông, hòa hợp, kính trọng nhau giữa
những người cùng chí hướng xuất trần. Các người thế
gian và các tôn giáo khác cũng tò mò xem giữa Tăng và Ni Phật
giáo cư xử với nhau ra sao?
Chúng
ta nên biết, Tỳ kheo Tăng rất cẩn thận khi đối xử với
nữ giới. Vì có như vậy Tỳ kheo Tăng mới kiểm soát, làm
chủ được mình, thanh tịnh ba nghiệp, giữ được uy nghi
và phòng tránh những điều rắc rối có thể xảy ra từ Tỳ
kheo Tăng và nữ giới, cũng như từ sự quan sát của những
người ngoại đạo. Điều này bộc lộ rất rõ trong đoạn
đối thoại sau đây:
“Cũng
chính ngài Ananda thỉnh cầu đức Phật chấp nhận giới phụ
nữ vào Giáo hội. Nhờ vậy mà bà Maha Pajapati Gotami được
xuất gia Tỳ khưu ni. Toàn thể các tỳ khưu ni đều hết lòng
kính mến Ngài.
Một
lần nọ, Đại Đức Ananda đến hầu đức Phật và bạch:
- Bạch
hóa đức Thế Tôn, chúng con phải đối xử với nữ giới
như thế nào?
-
Nầy Ananda, dường như không trông thấy.
-
Nhưng đã trông thấy rồi, bạch hóa đức Thế Tôn, chúng
con phải làm thế nào?
-
Nầy Ananda, không nên nói chuyện.
-
Nhưng nếu được hỏi, chúng con phải làm thế nào?
-
Nầy Ananda, phải cẩn thận đề phòng, giữ vững chánh niệm.
Lời
khuyên dạy tổng quát này nhắc nhở các vị tỳ khưu phải
luôn luôn thận trọng mỗi khi có việc liên quan đến nữ
giới.”[17]
Khi
đi ngoài đường, tu sĩ Phật giáo luôn chánh niệm tỉnh giác,
ý thức từng bước đi, thiền hành quán sát, tâm trí không
rảnh rang cho việc chăm chú các đối tượng, cảnh sắc bên
ngoài. Hơn nữa các vị thường cúi đầu xuống, không phóng
tầm mắt quá xa. Nhất là theo lời dạy như trên thì các Tỳ
kheo Tăng còn thận trọng hơn nữa khi đối diện và nói chuyện
với Tỳ kheo Ni. Vậy thì, vị Tăng gặp vị Ni chỉ biết đó
là một vị Ni vậy thôi chứ không cố gắng phân biệt, nhìn
thẳng vào mặt xem kỹ xem đó là vị Ni nào. Do đó, khi gặp
nhau ngoài đường, chuyện giới tính (Tăng hay Ni) thì rất
dễ nhận biết qua màu sắc, y phục và dáng đi nhưng tuổi
tác rất khó nhận biết, vì lo việc niệm tưởng, kinh hành
quán sát và không cố ý nhìn thẳng vào mặt để xem vị Tăng
đó, Ni đó là ai. Khi gặp giữa đường thì dù vị Tăng đó
là ai, vị Ni đó là ai thì chuyện đó cũng không cần phân
biệt và không quan trọng vì đâu có hỏi nói hay học hỏi
gì nhiều lúc đang đi? Trong tâm thì Tăng Ni kính trọng nhau
sẵn rồi, kính trọng về lý tưởng giải thoát và cứu độ
chúng sanh, đó là chính yếu và thuộc về tánh. Còn về mặt
hình tướng và biểu hiện thì câu hỏi đặt ra là: giữa
Tăng và Ni ai sẽ chào hỏi ai trước khi gặp nhau?
Để
cho nhất quán và đơn giản thì chỉ cần nên chọn một trong
hai: Tăng nên chào hỏi Ni trước hay Ni nên chào hỏi Tăng trước?
Bởi lẽ như trên đã nói để tránh động niệm và sanh tâm
quán sát phân biệt thì chỉ cần biết đối diện mình là
Tăng hay Ni vậy là được rồi, không cần quan tâm thêm xem
người ấy là ai, được bao nhiêu tuổi hạ? Chỉ trừ các
vị Đại Đệ Tử Phật quá nổi tiếng ra, còn các vị Tỳ
kheo Tăng - Ni khác có ai biết ai được bao nhiêu tuổi hạ?
Chẳng lẽ khi gặp nhau, hai người đứng sựng lại hỏi: Bạch
Đại Đức, Đại Đức được bao nhiêu tuổi hạ? Rồi ai
là người sẽ nêu câu hỏi ấy trước? Chờ nghe xong câu trả
lời rồi mới phân ngôi thứ cao thấp và chào hỏi lẫn nhau
hay sao? Tại sao lại phải nhọc lòng và nặng nề cho việc
chào hỏi quá vậy? Nếu vậy thì nó làm gián đoạn hết mọi
việc kinh hành quán sát, tu tập của mỗi người và tốn
khá nhiều thời gian và công sức cho việc chào hỏi này. Do
đó Phật chế theo một cách: vị Ni chào hỏi trước, vị
Tăng đáp lễ một cách đơn giản, nhẹ nhàng, ngắn gọn rồi
đường ai nấy đi; tiếp tục với công việc tu tập quán
sát, chánh niệm và không bận tâm với những ký ức về việc
gặp gỡ, về các chi tiết liên quan đối tượng vừa gặp,
về việc chào hỏi vừa rồi.
Đó
là nói Tăng - Ni gặp nhau ngoài đường. Còn việc Tăng - Ni
gặp nơi Tịnh xá: trường hợp này thường xảy ra khi Ni có
duyên sự đi đảnh lễ và thỉnh giáo nơi Đại chúng Tăng.
Các công việc như thế thì ít khi Tỳ kheo Ni đi thẳng đến
gặp riêng một vị Tỳ kheo Tăng tại am cốc của vị Tỳ
kheo Tăng đó mà là tác bạch duyên sự trước đại chúng
Tăng rồi Tăng sai một hoặc vài vị Tăng giúp cho các vị
Ni hay Ni chúng về những công việc đó. Khi tác bạch như thế
thì đảnh lễ và thực hành bổn phận đối với Tỳ kheo
là phải rồi.
Ni
và Tăng rất hạn chế trong việc gặp nhau đặc biệt là gặp
riêng một đối một, hay là có nhiều thời gian cư xử với
nhau. Một khi Tỳ kheo Ni có cơ hội để đảnh lễ và thực
hành bổn phận đối với Tỳ kheo Tăng thì lúc đó vị Tỳ
kheo Tăng này có duyên sự đặc biệt có liên quan đến việc
tu tập hoặc được Tăng sai đến giúp Ni chúng. Đó cũng là
những cơ hội hy hữu quý giá cho Ni giới. Tỳ kheo Tăng ấy
dù lớn dù nhỏ, dù bao nhiêu tuổi hạ mà được Tăng sai
đến thì cung kính đảnh lễ vị ấy là phải rồi, vì vị
Tăng ấy là đại diện cho đại chúng Tăng, lãnh sứ mạng
của đại chúng Tăng đến giúp Ni giới, đảnh lễ vị Tăng
ấy như là đảnh lễ và phụng hành đại chúng Tăng vậy.
Tóm
lại, tại sao lại chọn Ni đảnh lễ chào hỏi Tăng trước?
Có nhiều lý do rõ ràng mà ai cũng dễ dàng nhận thấy:
1/
Để ngắn gọn, đơn giản và không sanh tâm phân biệt, động
niệm nhiều: như trên tôi đã nói, việc chào hỏi vì gặp
nhau tình cờ ngoài đường thì chỉ thực hiện đơn giản,
thường là xá chào lặng lẽ chứ không có thời gian dừng
lại để đảnh lễ sát chân và thực hành các bổn phận
khác. Vậy thì để tránh nhọc công phân biệt: vị Tăng ấy
là ai, vị Ni ấy là ai, bao nhiêu tuổi hạ? Chuyện này ở
giữa đường làm sao biết được, cho nên chỉ cần Ni xá
chào trước, Tăng xá chào lại. Nếu phải chọn nhất quán
một mô thức: Ni chào hỏi trước hay Tăng chào hỏi Ni trước
thì chọn: Ni xá chào Tăng trước là thích hợp hơn chứ.
Có rất nhiều khả năng (xác suất cao) là Vị Tăng đối diện
đó lớn tuổi hạ hơn Tỳ kheo Ni vì Tăng đoàn thành lập
đã lâu và có rất nhiều vị Tăng (cũng như Tăng đã chứng
Thánh quả) trước khi Ni đoàn được thành lập. Ni đoàn thành
lập sau Tăng đoàn. Tỳ kheo Tăng dạy bảo và giúp đỡ cho
Ni giới trên nhiều phương diện cho sinh hoạt tu tập thì gặp
một hình bóng của vị Tăng cũng khiến Ni giới nhớ đến
ơn đức chư Tăng. Tại sao Phật lại khiến Tăng giúp Ni giới?
Bởi lẽ một mình Phật đâu có làm hết mọi việc, có bao
nhiêu người từ phương xa đến đang đứng ngoài cổng tịnh
xá mong chờ gặp Phật. Những điều Phật đã dạy cho Tỳ
kheo Tăng thì Tỳ kheo tăng đến truyền trao cho Tỳ kheo Ni là
thuận tiện hơn nhiều vì hai trú xứ Tăng và Ni cố định
qua lại cũng thuận tiện.
2/
Khi mang tính chất duyên sự, Phật sự và Tăng sai thì một
vị Tăng đến với Ni chúng là đại diện cho cả Đại chúng
Tăng lo giúp Ni chúng: cho nên đảnh lễ và thực hành bổn
phận đối với vị Tăng ấy là hợp tình hợp lý thôi.
Nếu
như tu hành chơn chánh trong giáo pháp của Phật thì cả hai
vị Tỳ kheo Ni đảnh lễ và thực hành bổn phận đối với
Tỳ kheo Tăng và vị Tăng được đảnh lễ ấy chỉ có lợi
lạc thôi chứ không ai cảm thấy khó chịu, khiên cưỡng,
bất công, mệt mỏi, hay giảm phước đức cả. Bởi lẽ chúng
ta đã biết: Tỳ kheo có nghĩa là: Khất sĩ, Bố ma, Phá ác,
là vị nối nghiệp ba đời chư Phật làm rúng động tam thiên
chứ đâu phải ít ỏi hay nhỏ nhoi gì?
Tỳ
kheo Ni đảnh lễ Tỳ kheo Tăng và quán sát chân chánh thì được
nhiều lợi ích: Vì trong đó có bao hàm nhiều ý nghĩa: vì
đảnh lễ Phật, Phật đã dạy trong Bát Kính Pháp và Phật
đã cho cơ hội như ngày hôm nay, đảnh lễ Pháp: vì cầu Pháp,
cầu giáo giới, đảnh lễ Tăng: vì hình ảnh của vị Tăng
ấy là đại diện cho Tăng chúng, hoặc là vị Tăng ấy đang
được Tăng sai đến, phụng hành sứ mạng của Tăng đoàn
giao, mà Phật sự với Ni giới và vì trực tiếp cụ thể
là biết ơn tâm hạnh cao cả của vị Tăng này đã vì sự
tu học của Đại chúng Ni mà đến.
Tỳ
kheo Tăng thọ nhận sự đảnh lễ cúng dường của Ni giới
nên quán sát chân chánh và sẽ có nhiều lợi ích: Tỳ Kheo
Ni đang đảnh lễ ba đời mười phương Phật Pháp Tăng chứ
không phải chỉ đảnh lễ riêng bản thân mình, bản thân
hãy tu tập và chu toàn Phật sự xứng đáng với sự ủy thác
chư Tăng và xứng đáng với sự tin tưởng và tôn kính này
của Ni chúng, trong lòng có một sự tôn kính và bằng tâm
niệm mà đảnh lễ và đáp lễ chư Ni bởi vì họ đang thiết
tha với Phật Pháp và lý tưởng cao cả nên bày tỏ thành
tâm và cần cầu như vậy.
Bây
giờ xét về những lý tánh liên hệ đến việc đảnh lễ:
trong kinh Pháp Hoa có vị Tỳ-kheo Thường Bất Khinh phàm
khi ngó thấy hoặc Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, hoặc Ưu-ba-tắc, Ưu-bà-di,
thảy đều lễ lạy khen ngợi mà nói rằng: "Tôi rất kính
quí Ngài chẳng dám khinh mạn. Vì sao? Vì quý Ngài đều tu
hành đạo Bồ-Tát sẽ được làm Phật". Vậy thì đảnh lễ
người khác là đang đảnh lễ Phật tánh của họ và đang
trở về với Phật tánh bên trong của mình, đang dẹp tự
ngã và đang học tính khiêm hạ, đang trân quý Tam Bảo và
các giá trị chân thiện mỹ. Với tâm thành kính mà đảnh
lễ cúng dường Tỳ kheo, dù đó là một vị giả danh Tỳ
kheo hay Tỳ kheo không xứng đáng thì Tỳ kheo Ni vẫn có công
đức và phước đức. Có công đức là vì do quán sát các
hạnh lành đã nêu trên, có phước đức là do việc làm xét
ở nơi tâm cao quý và thành kính. Chúng ta nhớ câu chuyện
một bà già nghèo khổ, làm lụng khó nhọc mới có đủ cơm
ăn, nhưng ngày nào cũng nhịn một bát cơm để đảnh lễ
cúng dường bốn vị Bà La Môn xuất gia lười biếng tu hành
giả dối, kiếp sau bà lão trở thành Hoàng hậu vợ vua Ba
Tư Nặc còn bốn vị Bà La Môn xuất gia đó trở thành bốn
người Thạch nữ khiêng kiệu cho Hoàng hậu.
Hơn
nữa, “năng lễ sở lễ tánh không tịch”, “ngũ uẩn giai
không” có gì để chấp việc đảnh lễ?
Có
người sẽ đặt câu hỏi là: Nếu gọi là Phật tánh bình
đẳng, nếu gọi là “tánh không tịch” nếu gọi là “ngũ
uẩn giai không” vậy thì Tỳ kheo Tăng có được đảnh lễ
Tỳ kheo Ni không?
Nói
tánh là vậy nhưng đã còn sống trong cõi đời này thì phải
có tướng và Tánh Tướng viên dung. Xét về sự tướng thì
lúc vị Tăng đang thọ nhận sự đảnh lễ cúng dường là
vì vị Tăng đó đang được Tăng sai, đang giảng dạy
và làm giáo giới Ni, đang lo các việc giúp cho Ni đoàn. Bàn
về tánh về thể là bàn lý như vậy cho Tăng và Ni quán sát
trong lúc đảnh lễ, việc này là việc tu tập quán sát lâu
dài, còn thực tế không phải vị Tăng Ni nào cũng thâm nhập
vào lý tánh tuyệt đối ấy. Đứng trên phương diện sự
tướng mà xét: Thầy đảnh lễ trò, anh đảnh lễ em, người
ban ơn đảnh lễ người chịu ơn là không phù hợp. Vì cần
có sự tướng, cần có sự nhắc nhở cho việc tu tập và
cùng lo Phật sự, cần có nghi thức khi liên hệ chào hỏi
nhau và đặc biệt có tác dụng lớn cho những vị Ni mới
xuất gia sơ cơ hậu học, chưa tỏ ngộ Phật Pháp và thể
tánh thì cần phải nương, quy y, đảnh lễ, cung kính và vâng
hành nên Phật chế ra việc đảnh lễ này.
Nếu
thầy Nhật Từ thấy điều này bất công phi lý thì thầy
hãy thử thực hành điều ngược lại: Trước khi thầy dạy
lớp Ni, thầy đảnh lễ Ni chúng tam bái, hoặc thầy đến
các Trưởng lão Ni, đảnh lễ thăm hỏi và xin các vị Ni trưởng
cho biết ý kiến về Bát Kính Pháp, lúc ấy thầy hãy cảm
nhận như thế nào trong thân tâm của thầy và đại chúng
Ni. Quả thật nếu nó lợi lạc và tự nhiên như là việc
Ni giới đảnh lễ thầy thì có lẽ dần dần sau này nhiều
người noi gương làm theo như vậy. Thầy làm như vậy sẽ
có tác dụng mạnh hơn là bài thuyết giảng của thầy về
“Giáo đoàn Tỳ kheo Ni và Bát Kỉnh Pháp”.
“Điều
thứ hai là Ni không được an cư ở nơi không có Tăng.
Cơ sơ lý luận bảo vệ cho rằng là điều khoảng này mang
tính bảo hộ an ninh và phạm hạnh thì rõ ràng đó rất là
chính xác. Bởi vì trong giai đoạn trong quá khứ trong giai đoạn
thời của đức Phật, tính an ninh rất là bấp bênh. Nói chung
là những chỗ nào mà sự phát triển về cơ chế, định chế
xã hội chưa có vững thì an ninh là một vấn đề. Do đó
chư Tăng phải bảo hộ những người yếu hơn mình như là
một trong những hạnh nguyện dấn thân.”
Về
mặt an ninh, xin nói thêm: Tại Ấn Độ ngày nay nạn bắt cóc
con gái và ám sát vẫn còn. Bọn thổ phỉ trong rừng núi vẫn
còn nhiều. Vì các cô con gái khác được cha mẹ bảo hộ
- giữ kỹ trong nhà như đã bàn ở phần trên – nên nếu
Ni giới an cư tại trú xứ xa chư Tăng thì sẽ là mồi ngon
cho bọn thổ phỉ này. Chư Ni an cư gần trú xứ Tăng thì sẽ
được bảo hộ về mặt an ninh.
“Lý
luận phản biện như thế này: Liệu là cái nhu cầu bảo vệ
đó có cần thiết trong thời đại ngày hôm nay hay không? Khi
mà chư Ni đã có những cái chùa riêng và chùa của họ lớn
hơn chùa của Tăng và họ cũng đâu hề có lời thỉnh cầu
bảo hộ nào đâu, mà mình cũng chưa hề bảo hộ họ lần
nào, ngày nào cả.”
Trong
việc an cư, chư Tăng không chỉ giúp cho Ni chúng về việc
an ninh mà chư Tăng còn giúp thêm nhiều việc khác nữa như
sau:
1/
Mùa an cư là mùa ưu tiên cho việc học hỏi – giáo
dục: Chúng an cư sẽ ở lại một chỗ và cơ hội dành cho
cho việc học hỏi nhiều hơn các thời gian khác trong năm.
Như trên đã nói, đức Phật thường được vua quan, quần
thần, dân chúng đến đảnh lễ viếng thăm và học hỏi nên
không có thời gian nhiều để đến dạy Đại chúng Ni. Trong
những bài Phật thuyết pháp công cộng thì Tăng – Ni, Phật
tử và các loài cùng nghe. Ngoài giờ ấy ra, chư Ni muốn học
hỏi thêm thì có những vị Tăng lãnh trách nhiệm, Tăng sai
đến dạy cho Ni chúng. Vì nhiều vị Tăng đã được nghe Phật
thuyết giảng các năm qua, chư Tăng học nhiều, hiểu nhiều
và kinh nghiệm hành trì nhiều, và nhiều vị đã chứng
Thánh quả nên đến Ni chúng mà trình bày và giảng giải lại,
thời ấy thì đâu có kinh sách, cassettes, CDs, VCDs, websites,…
như bây giờ để mà thay thế sự giảng dạy của chư tôn
đức. Sau đó, có còn lại điều nào chưa sáng tỏ thì trình
lên Phật chỉ giáo thêm. Vậy nếu Ni chúng an cư xa chư Tăng
thì làm sao chư Tăng đến giáo giới và giảng dạy? (Thời
ấy chư Tăng chỉ đi bộ mà thôi).
2/
Kinh nghiệm về tổ chức đoàn thể:
Ngay
thời hôm nay khi chúng ta có đủ luật tạng và sách vớ nói
về tổ chức và điều hành đoàn thể, nhiều vị trụ trì
chúng chỉ có 10 người mà luôn than thở là khó khăn nhiều
quá, liên tục gặp gỡ và học hỏi kinh nghiệm từ nhiều
vị trụ trì khác. Vậy thì tổ chức Ni đoàn với chúng an
cư khá đông thời đó, các vị có trách nhiệm quản chúng
Ni phải thường xuyên học hỏi bên Tăng vì các vị Tăng có
kinh nghiệm trong lĩnh vực này: kinh nghiệm từ đời sống
khi chưa xuất gia và kinh nghiệm trong thời gian sống với giáo
đoàn Tăng. Chúng ta phải thừa nhận thực tế là: có một
số tranh cãi trong Ni đoàn phải thỉnh nhờ các vị Tăng đến
để dàn xếp, thiết lập lại sự an hòa cho Đại chúng. Một
điều phổ biến trong các trường Cơ Bản Phật Học có cư
xá Tăng và cư xá Ni gần Trường là vị quản chúng bên Tăng
và các thầy trong Ban Giám Hiệu thường được mời đến
cư xá Ni để giải quyết một số vấn đề bất ổn trong
Ni chúng.
3/
Kinh nghiệm tu học cá nhân:
Việc
tu - đặc biệt trong tu Thiền Định - là một quá trình khám
phá tâm thức, tri kiến và cách nhìn nhận về cảnh giới
bên ngoài,… Đôi lúc người tu có những biến chứng, có
những kinh nghiệm mới mẻ cần phải trình bày cho các bậc
Tôn Túc xem về chỗ thấy, lối suy nghĩ, rồi hướng thực
tập như thế là đúng hay chưa? Thời ấy số lượng chư Tăng
nhiều, chư Tăng tu lâu năm, có nhiều kinh nghiệm tu tập và
chứng Thánh quả cũng nhiều nên có thể giải quyết những
nghi vấn, những biến tướng trong quá trình tu tập, có thể
giúp điều chỉnh cho kịp thời và hợp chánh pháp. (Việc
tẩu hỏa nhập ma là do hành trì và vận dụng tâm thức sai
phương hướng).
Ba
tháng an cư là thời điểm tốt nhất cho việc tu học, Ni chúng
an cư gần Tăng sẽ được bảo hộ về mặt an ninh, sẽ có
chư Tăng đến giảng dạy, sẽ học hỏi thêm về cách tố
chức và điều hành Ni chúng và được gỡ rối về những
kinh nghiệm tu học cá nhân.
Đâu
phải chư Ni có chùa to hơn chư Tăng thì không cần bảo hộ?
Bảo hộ ở đây bao gồm bảo hộ về an ninh cho chùa chiền,
cho sinh mạng và an hòa thanh tịnh trong tâm thức mỗi con người.
Chùa to lớn, Ni chúng và Phật tử nhiều, vấn đề giáo dục
Phật giáo lại càng đặt trọng và nếu Ni chúng cảm thấy
có nhu cầu học hỏi thì đi tìm, thỉnh Tôn Đức Tăng đến
chỉ dạy cho việc tu học trong mùa an cư. Chùa to lớn, Ni chúng
đông thì càng dễ xảy ra những bất đồng ý kiến trong chúng
nhiều hơn. Tôi nhớ lại một chùa Ni nọ cũng to lớn, nhưng
trong chúng không yên vì một số Sư Cô cho rằng vị Ni sư
trụ trì - Sư Phụ ấy dành tình cảm đặc biệt cho một đệ
tử Ni và sẽ trao quyền trụ trì lại cho vị đệ tử này.
Không một ai trong chùa Ni ấy có thể có đủ tư cách để
lập lại sự an hòa cho chúng trong chùa ấy cả, vì chúng không
phục Ni sư trụ trì thì ai đứng ra bàn giải bây giờ? Cuối
cùng chúng phải thỉnh cầu một vị Thượng Tọa bên Tăng
đến hòa giải. Vị Thượng Tọa Tăng này phân tích nhiều
lắm về ý nghĩa xuất gia, vai trò của trụ trì, về bổn
phận của Sư Phụ và đệ tử, về Lục Hòa, về Vô Ngã vị
tha, về những lợi ích thiết thực tâm linh và hoạt động
cuộc sống hàng ngày, về cách quán sát tâm trong các cuộc
tranh cãi, nguyên nhân của những xung đột bất đồng, về
nguyên tắc chọn vị trụ trì mới và tấn phong trụ trì,…
Vị Thượng tọa Tăng này nói chuyện với chúng cả một ngày
thì sau đó tôi thấy mọi việc an hòa trở lại.
“Họ
muốn bảo hộ, họ điện thoại lên công an, công an xuống
lo hết trơn. Hoặc là an ninh văn phòng, họ xuống sẽ làm
hết hà. Vệ sĩ, bây giờ có công ty về sĩ nhiều lắm.”
Công
an và vệ sĩ có làm gì được trong việc như vừa nêu trên.
Cũng không hề có kẻ cướp, nghịch tặc từ bên ngoài sách
nhiễu, cũng không hề có ai vi phạm pháp luật; vấn đề ở
đây là những khúc mắc trong tư tưởng và nếp sống sinh
hoạt của người xuất gia thì công an biết gì mà giúp, vệ
sĩ thuê về để giữ gìn cái gì? Hầu hết các việc là cần
giải quyết êm thấm nội bộ, xét vào thanh quy của đại
chúng chứ chưa dùng tới bộ luật hình sự hay dân sự. Còn
những việc mang tính chất khủng bố, hăm dọa tính mạng,
hành hung,… thì ít khi xảy ra mà nếu xảy ra thì giải quyết
cũng nhanh thôi, lúc này mới nhờ đến luật pháp quốc gia
và các cơ quan an ninh xã hội… Nhưng vấn đề chính muốn
nói ở đây là nâng cao việc tu học và giúp xóa tan đi những
nghi nghờ, phiền não, khoảng cách tâm lý, khúc mắc, bất
an của Đại chúng,… những việc này cần nhờ chư Tôn Đức
Tăng chỉ dạy và với Từ Bi và Tuệ Giác sẽ lập lại sự
an hòa cho Đại chúng Ni mà thôi.
“Giới
luật được thiết lập sau 20 năm. Hệ thống an cư, bố tát,
định tội, trị phạt cũng nằm trong năm 21 trở đi. Trong
khi đó ở năm thứ 6 này, chúng ta đã nghe cái câu điều lệ
thứ hai: Ni không được tổ chức an cư ở những nơi không
có Tăng. Chúng ta thấy nó vô lý không? Thời điểm đó làm
gì có cơ chế an cư mà có nội dung đó.”
Đúng
là hệ thống giới luật được thiết lập và ban hành đầy
đủ về giai đoạn sau này (theo nhiều tài liệu thì Giới
Bốn Ba La Đề Mộc Xoa được hình thành vào năm thứ mười
ba sau ngày Phật thành Đạo).
Tuy
nhiên việc an cư thì mùa hạ nào Phật và Giáo Đoàn cũng
an cư. Chúng ta có thể đọc trong sách đức Phật và Phật
Pháp để biết vị trí và những gì xảy ra trong Hai Mươi
Hạ Đầu Tiên của Đức Phật:
“Hạ
Đầu Tiên - tại Benares (Ba La Nại), Hạ Thứ Nhì, Thứ Ba Và
Thứ Tư - tại Rajagaha, Hạ Thứ Năm - tại Vesali, Hạ Thứ
Sáu - tại đồi Mankula, trong Kosambi, gần Allahabad., Hạ Thứ
Bảy - tại cung Trời Tavatimsa (Đạo Lợi), Hạ Thứ Tám - tại
rừng Bhesakala, gần tảng đá Sumsumara, trong quận Bhagga, Hạ
Thứ Chín - tại Kosambi, Hạ Thứ Mười - tại rừng Parileyyaka,
Hạ Thứ Mười Một - tại Ekanala, một làng theo đạo Bà La
Môn, Hạ Thứ Mười Hai - tại Veranja, Hạ Thứ Mười Ba - tại
tảng đá Caliya, Hạ Thứ Mười Bốn - tại Jetavana, kỳ Viên,
Savatthi, Hạ Thứ Mười Lăm - tại Kapilavatthu (Ca Tỳ La Vệ),
Hạ Thứ Mười Sáu - tại thành Avali, Hạ Thứ Mười Bảy
- tại Rajagaha, Hạ Thứ Mười Tám - tại tảng đá Caliya, Hạ
Thứ Mười Chín Và Hai Mươi - tại Rajagaha.”[18]
Cũng
vậy, hệ thống giới luật quy định thể thức an cư chưa
được thiết lập. Tuy nhiên đã có việc an cư thì đức Phật
đề cập về trú xứ an cư là điều rất tự nhiên thôi,
rồi sau này giới bổn sẽ từ từ kiết tập tổng hợp đưa
vào sau. Đúng là thường thì nhân phạm đức Phật chế giới
nhưng trong những năm đầu đức Phật cũng phải dạy những
điều cần thiết để đảm bảo cho các sinh hoạt Giáo đoàn
chứ? Thật là vô lý khi có việc an cư mà không biết sẽ
nên an cư tại đâu?
Có
người sẽ nêu câu hỏi: Tóm lại hầu hết chư Tăng cứ tự
cho rằng: Ni giới luôn cần phải được bảo hộ, dạy bảo,
giúp đỡ bởi chư Tăng, Ni giới không tồn tại và phát triển
cho riêng mình chăng?
Câu
trả lời là: Thực tế Ni chúng thời đức Phật là thế,
vì họ thấy con đường xuất gia của đức Phật và Tăng
chúng rất cao đẹp nên họ đi theo nhưng mà đó là một sự
thay đổi rất lớn. Cứ thử nghĩ trước khi xuất gia nữ
giới chỉ quen việc phục dịch trong nhà, không được học
hỏi hay suy nghĩ chuyện cao xa, chưa làm quen với mô hình tổ
chức và sinh hoạt tập thể… Khi xuất gia rồi thì nương
nhờ nơi đức Phật và Tăng đoàn giúp đỡ cho. Cho dù có
vị Ni chứng quả A La Hán, nhưng chứng được quả A La Hán
xong không có nghĩa là giỏi toàn diện để có thể mang lợi
lạc về mọi phương diện đến Đại chúng mà chỉ là được
tâm giải thoát, tuệ giải thoát và hết phiền não lậu hoặc
mà thôi. Ni chúng thời đức Phật cần thiết sự bảo hộ
về an ninh và dạy bảo của Tỳ kheo Tăng nên an cư gần trú
xứ Tăng chúng. Còn nếu bây giờ nếu chúng Tỳ kheo Ni nào,
trú xứ Tỳ kheo Ni nào cảm thấy tự bản thân Ni chúng kiết
giới xa trú xứ Tăng và tự sinh hoạt tốt được thì
thôi vậy. Một thực tế khó khăn hiện tại xảy ra là: có
những nơi chùa chiền Phật giáo còn ít, một số vị Ni trụ
trì ở một chùa xa xôi, vùng đó không có đủ túc số 4 vị
Ni để cùng tổ chức an cư, vị Ni đó cũng khó tùng hạ an
cư, chỉ tâm niệm an cư một mình tại trú xứ,cũng khó có
điều kiện liên hệ vị Tăng, (ví dụ như có một vài chùa
hoặc tịnh thất Ni lác đác trên nước Mỹ - trừ vùng Cali
có nhiều chùa Ni) gặp hoàn cảnh thế thì phải chịu thôi,
đâu có lựa chọn gì được và vị Ni đó vẫn là là Tỳ
kheo Ni vậy.
Nhưng
hãy xem xét kỹ lại nếu như đến đăng ký an cư 3 tháng ở
một trú xứ gần bên trú xứ Tăng và có lợi lạc, an ổn
và tu học dễ tiến triển nhiều hơn thì nên cố gắng sắp
xếp để an cư nơi đó. Ni giới đừng vì cố chấp cho rằng
nơi tự bản thân mình có đầy đủ tất cả không cần gì
hướng ngoại (nơi Tỳ kheo Tăng) tìm cầu. Nên cẩn thận kẻo
cố chấp mà sinh ra ngã mạn và ảo tưởng (cho rằng nơi mình
mọi thứ luôn đúng và đã đủ rồi).