Và
nó thương tổn lòng từ bi ở một điểm nữa đó là ngài
đã tạo ra một cái bản án nghìn đời vô số đời, vĩnh
viễn kiếp số về sau cho đến lúc nào cơ chế Bát kỉnh
pháp đó được giải thể thì thôi, rằng Ni giới có mặt
làm giảm thọ bản chất của Chánh pháp.”
Về
việc Ni giới hiện diện trong Giáo đoàn sẽ làm giảm thọ
chánh pháp, điều này không sai và Như Lai đã thấy trước
điều đó. Mọi người chúng ta bây giờ vẫn cho rằng Chánh
Pháp đang tồn tại phải không? Vậy thì cũng được – có
sao đâu? Ở trên kia, tôi đã loại trừ lối quy kết của
Thầy Nhật Từ cho là: Đức Thế Tôn đẳng thức hóa chánh
pháp tồn tại 1000 năm. Cái chính là với Tuệ giác và thần
thông của Như Lai: Như Lai thấy trước nếu không có Ni giới
vào Giáo Đoàn thì Chánh Pháp sẽ trụ thế bao nhiêu năm (ví
dụ: A năm) và nếu có Ni giới vào rồi thì Chánh Pháp trụ
thế bao nhiêu năm (ví dụ: B năm) sau đó mới làm phép trừ:
vậy thì do Ni giới vào giáo đoàn nên thọ mạng Phật Pháp
giảm là: A – B năm. Chúng ta là người phàm mắt thịt,
chúng ta không biết được A là bao nhiêu, B là bao nhiêu thì
làm sao biết được hiệu số A – B sẽ là bao nhiêu? Muốn
mặc cả với Phật, trước hết chúng ta phải có thần thông
và phải biết bao nhiêu năm nữa thì mạt pháp, bao nhiêu năm
nữa thì Phật Di Lặc ra đời, lúc đó Tăng đoàn biến mất
trước hay Ni đoàn biến mất trước, người Tăng cuối cùng
hay người Ni cuối cùng của thời mạt pháp tên gì ?,… Lúc
ấy chúng ta mới bàn với nhau là: sao lời tiên đoán của
Phật không phù hợp với điều tôi đang thấy được, còn
bây giờ nếu như không thấy biết một cái gì hết về tương
lai, không biết chánh pháp sẽ còn trụ bao nhiêu năm thì làm
sao quyết định là lời tiên đoán của Phật không phù hợp?
Tại
sao Ni giới có mặt thì chánh pháp giảm thọ? - thật là dễ
hiểu. Không phải là số lượng Tăng Ni đông, chùa to, Phật
lớn, Kinh sách in nhiều, trường lớp Phật học mở ra nhiều
gọi là Phật Pháp hưng thịnh. Thầy đã nêu ra những lý do
của việc Chánh Pháp giảm thọ rồi đó “Kinh
Tương Ưng tập 2, trang 386 có đoạn như thế này, có
năm yếu tố làm Chánh pháp bị giảm thọ là không tùy thuận
Đạo sư, không tùy thuận Chánh pháp, không tùy thuận Tăng,
không tùy thuận giới đức và cuối cùng không tùy thuận
Thiền định”.
- Vì
Giáo đoàn của Phật Giáo có thêm giáo đoàn Ni cho nên số
lượng tu sĩ xuất gia gần như gấp 2. Khi số lượng gấp
2 thì xác suất vi phạm giới luật cũng tăng gấp 2: nhất
là thời gian càng cách Phật lâu xa, giới luật càng lơi lỏng.
Không cần biết là có bao nhiêu Tăng Ni, hàng Tăng sĩ đã làm
được những gì, chỉ cần một người tu sĩ phạm giới là
tiếng xấu đồn xa và đặc biệt trong thế giới thu hẹp
qua phương tiện thông tin ngày nay chỉ cần sau 5 – 10 phút
là một chuyện xảy ra ở một địa điểm nhất định nào
đó sẽ truyền đi khắp thế giới qua phone, internet, đài,
báo, websites, Tivi, Paltalk,… Khi nghe một chuyện Tăng Ni ở
Saigon chẳng hạn lộn xộn thế nào đó thì thính giả than:
Như Lai ơi, vậy nay ở Việt Nam mạt pháp rồi! Hơn nữa,
cái xấu lây lan nhanh, nhiễm cho người khác rất nhanh nếu
không có biện pháp xử lý kịp thời. Trong số nhiều người
thì dễ có khả năng một người có bệnh rồi lây lan bệnh
nhanh chóng đến người khác như bệnh cúm gà, cuối cùng khiến
người ta nghĩ là giết hết loài gà chứ không đủ kiên nhẫn
và sức phân biệt gà nào bị bệnh gà nào không bệnh.
- Ni
giới đối với Phật tử: khó nhiếp phục, đối với xã
hội: khó cáng đáng chu toàn trước mọi hoàn cảnh:
Kinh
nghiệm hành đạo tại phương Tây và nước ngoài, ngay những
nơi mà vai trò phụ nữ được đề cao, cho thấy: Khi Phật
tử lập được một ngôi chùa rồi, họ muốn rước đón
một vị Tu sĩ về trụ trì, họ hầu như chỉ nhắm vào các
vị Tăng sĩ chứ không chú ý và mời bên Ni. Một số chùa
đã có Ni rồi nhưng mà Phật tử vẫn thích mời được quý
Tăng sĩ về làm lễ và thuyết giảng. Dù kinh sách có dạy
đến sự bình đẳng thế nào đi chăng nữa nhưng việc phân
biệt và lựa chọn cao Tăng để làm chỗ nương tựa tâm linh,
xứng đáng với nhọc công tổ chức và sẽ mang đến lợi
lạc thiết thực vẫn là nếp nghĩ thực tế và đó là cách
nghĩ đến hiệu quả công việc của Phật tử phương Tây.
Nếu có một vài vị Ni vào ở chùa thì quan hệ Ni cô
- Phật tử cho thấy Phật tử đối với Sư Cô, Ni cô lại
tỏ ra cang cường, khó điều phục, chính tôi cũng đã thấy
nhiều Sư Cô bỏ chùa, bỏ Phật tử ra ngoài thuê nhà sống
riêng.
Nếu
có Sư Cô nào trụ trì các chùa phương Tây một mình thì Phật
tử vẫn thường lo ngại sự an nguy của Sư Cô trong chùa.
Nghĩa là trong hoàn cảnh như vậy, một vị Sư Cô trụ trì
thường hay ở thế bị động và làm sao để an tâm tu học
và ung dung lo Phật sự được?
- Quan
hệ trong nội bộ Ni: nhiều điều khó bàn hết:
Tuy
rằng đi tu là để an lạc và giải thoát cho mình và mọi
người, nhưng một thực tế tôi đã thấy là: ở bên ngoài
người ta cho rằng 3 cô gặp nhau là có một cái chợ, còn
trong chùa Ni, các Sư Cô ở chung không dễ thanh tịnh hòa hợp
với nhau chút nào? Cũng vì thế, nữ mới xuất gia làm điệu
hoặc Sa Di Ni phải nhẫn nại hay “chịu trận” bởi các
vị Ni lớn tuổi nhiều lắm. Có những vị Ni bên Mỹ
hoặc Úc châu bỏ tiền ra để làm thủ tục giấy tờ cho
Ni trẻ từ Việt Nam qua ở chung với họ. Thế nhưng vị Ni
trẻ mới được bão lãnh từ Việt Nam qua, cuối cùng cảm
thấy không thể ở chung với quý vị bảo lãnh ấy được
mà bước ra ngoài tìm chỗ ở khác, dù khổ sở thế nào nhưng
miễn là lòng cảm thấy nhẹ nhàng hơn là được rồi.
Chính
khi tôi ở Việt Nam, tôi cũng thường được méc (mách bảo)
về những rắc rối xảy ra trong nội bộ Ni và nhờ tôi góp
ý kiến. Có lẽ bản chất phụ nữ họ sống nặng về tình
cảm còn nam giới họ nặng về công việc và không quan tâm
đến tình cảm của những người xung quanh cho lắm nên ít
bị phiền nhiễu trong quan hệ lẫn nhau? Cái rắc rối là do
bên Ni giới họ có nhiều suy nghĩ “Đáng lẽ” trong
đầu: đáng lẽ cô ấy phải như thế này, đáng lẽ việc
ấy phải như thế kia,… và để ý hay chấp nơi lòng về
cách của mọi người xung quanh đối xử mình ra sao? Cho đến
bây giờ mỗi lần nhớ lại một vài chùa Ni ở quê hương,
tôi lại liên tưởng ngay đến những cái còn khó khăn - gút
mắc của nội bộ Ni chúng ấy. Tôi chỉ cầu nguyện cho nội
bộ Ni chúng an hòa, chung lo Phật sự viên thành thôi chứ đang
ở xa quý vị thì biết làm gì hơn?
- Trong
cách cư xử giữa Ni và Tăng: Một thực tế là có một
số vị Ni chưa thật sự nghiêm túc hành Bát Kính Pháp nên
có hai điều xảy ra:
- Thân
mật hơn, vượt khỏi giới hạn Bát Kính Pháp quy định:
Có
những trường hợp như khi Tăng Ni học chung một trường,
đi làm Phật sự chung với nhau, các Tăng Ni ở chung môn phái,
ở chung một chùa hoặc đồng hương… có những duyên thân
cận gần gũi sinh hoạt với nhau nhiều nên có sự thân mật,
chẳng hạn xem nhau: Sư Huynh - Sư Muội như trong phim kiếm hiệp
hoặc là giống như các vị cư sĩ dần dà lâu ngày thì
những tình cảm theo cách thế gian phát sanh, bận rộn đến
việc suy nghĩ lẫn nhau, có sự trở ngại trong tu tập:
khó yên tịnh nơi thân khẩu ý và giữ mình trong chánh niệm,
chánh pháp, và có tánh cách thân sơ, của tôi, hoặc buồn
vui, mong muốn… Hoặc là có một số Ni cô trẻ cư xử chào
hỏi với vị Tăng sinh trẻ theo cách như thế đã quen rồi,
lại mang cách chào hỏi cư xử này áp dụng với những vị
Tăng sĩ khác mà không đúng với Bát Kính Pháp.
- Ngã
mạn đối với Chư Tăng:
Đây
lại là một khuynh hướng khác khá trở ngại cho Ni giới có
tánh cách cạnh tranh và không phục chư Tăng. Thường là khi
một số vị Ni cũng có đủ các điều kiện: có kiến thức
thông thạo, khéo léo nhiều việc, có chùa chiền, đạo tràng,
bổn đạo, đệ tử vững vàng,… lại chấp vào các sắc
tướng như thế và không siêng năng thực hành đúng với Bát
Kính Pháp. Trong tâm luôn thấy sao có nhiều vị Tăng không
thật xứng đáng để lễ bái cung kính,… và như vậy sao
mà Phật chế Bát Kính Pháp vô lý bất công đến thế?
Chẳng
hạn như hôm nay nghe thầy Nhật Từ chứng minh Bát Kính Pháp
không phải là do đức Phật chế lại thốt lên rằng - sao
mà cách chứng minh tài tình và khoa học đến vậy? Xưa nay
ta cũng nghĩ thế và quả là các tư tưởng lớn thường hay
gặp nhau. Các Ni trưởng ngày xưa sao mà lầm đường lạc
lối, cứ ôm giữ làm chi cho khổ thân không biết? Chúng ta
thông minh nên xưa nay lẳng lặng không cố gắng gìn giữ Bát
Kính Pháp cho trọn vẹn thì nay nghe xác nhận quả là không
phải do Phật chế ra thật. Thế đó, cái nào do Phật dạy
là ta cảm giác biết liền, không phải Phật dạy là ta cảm
giác biết liền, vậy mới là Thích tử nắm được lý tánh
của Như Lai chứ.
Tất
cả những lý do trên khiến cho Chánh Pháp giảm thọ khi Ni
giới có mặt vào Giáo đoàn: số lượng gấp bội lên thì
khả năng phạm giới luật càng nhiều và để lại ảnh hưởng
không tốt cho Đạo Phật nhiều hơn. Những lúng túng và rối
rắm của các vị Ni khi hành Đạo trong bối cảnh mới khiến
cho tâm bản thân các vị Ni và của quần chúng Phật tử dao
động và phát sanh nghi ngờ, bất an, quan hệ trong nội bộ.
Ni chấp trước nhiều, có nhiều bất đồng ý kiến, phân
chia thành nhóm cụm, những khoảng cách nơi lòng và những
nỗi khó chịu riêng mãi cưu mang, rồi cho đến trong cách đối
xử giữa Tăng và Ni lẫn nhau: thân mật như Huynh Muội cũng
kẹt mà khoảng cách không thông cảm và giúp đỡ nhịp nhàng
với nhau lại ngấm ngầm nuôi giữ bản ngã, hay chỉ trích
lẫn nhau cũng kẹt. Đặc biệt cũng vì có Ni giới vào trong
giáo đoàn mà hôm nay mới có những bài toán nan giải:
1/
Chấp nhận Bát Kính Pháp là do Phật chế ra thì có không ít
người cảm thấy là đức Phật thiếu Từ Bi và Trí Tuệ.
2/
Không chấp nhận Bát Kính Pháp là do Phật chế, vậy thì 2500
năm qua nhiều thế hệ Thầy Tổ đã mù quáng chấp nhận Bát
Kính Pháp hay sao?
3/
Không chấp nhận Bát Kính Pháp là do Phật chế, vậy thì những
gì ghi chép lưu truyền lại trong Kinh tạng đều chưa chắc
là do Phật dạy hay là Chánh Pháp, cần phải có một cuộc
Kết Tập Kinh Điển để giám định lại đâu là lời Phật
dạy, đâu là phần thêm thắt về sau này. Cần có sự thống
nhất trong nghị quyết của Đại Hội Phật Giáo thế giới
và Đại Hội Phật Giáo Việt nam về vấn đề Bát Kính Pháp
và những vấn đề khác là Chánh Pháp hay không Chánh Pháp,
nên vâng hành hay loại bỏ ra ngoài.
Cũng
bởi vì có Ni giới rồi mới có vấn đề Bát Kính Pháp nên
có nghi ngờ và bất ổn nơi Phật, Pháp, Tăng.
- Nếu
quả đúng do Phật chế ra Bát Kính Pháp mà do chúng ta không
hiểu hết Như Lai Ý, lại phê phán là Phật thiếu Từ Bi,
Trí Tuệ, không công bằng khi chế Bát Kính Pháp như thế là
chúng ta hủy báng Phật.
- Vì
Bát Kính Pháp nằm sờ sờ trong Kinh Luật Luận Phật giáo
nhiều nước, vậy nếu không chấp nhận Bát Kính Pháp thì
có quyền xét lại toàn bộ hệ thống Kinh Luật Luận. Đứng
trên phương diện cá nhân mỗi người thì ta có thể cảm
thấy thích cái nào, hợp giáo pháp nào thì thọ nhận và hành
trì giáo pháp đó, còn cái nào không thích hợp thì chừa lại
cho người nào thích hợp mà lãnh. Còn vì cảm nhận cá nhân
bản thân ta không cảm thấy thích hợp lại kêu gọi tẩy
chay hoặc loại bỏ những điều trong Chánh Pháp thì sẽ gây
hoang mang xáo trộn và đánh mất đi những gì quý giá mà Phật
và chư Tổ truyền lại và biết đâu chánh Pháp giảm thọ
cũng bởi vì những suy nghĩ và việc làm nông nổi của chúng
ta vào lúc này.
- Tăng
đoàn và Ni đoàn ổn định và phát triển nương vào thật
hành Bát Kính Pháp, nay đang có những nguy cơ bất ổn trong
cư xử và liên hệ giữa Tăng đoàn và Ni đoàn.
“Nếu
chúng tôi là Ni, chúng tôi không đi tu đâu. Đi tu vô làm giảm
Chánh pháp mà Chánh pháp là mang an lạc hạnh phúc cho cuộc
đời, mà giảm Chánh pháp có nghĩa là mang lại khổ đau cho
cuộc sống. Đi tu để mang khổ đau cho cuộc sống thì đi
tu để làm cái gì? Rõ ràng là lòng từ bi bị thương tổn
ghê gớm lắm.”
Mặc
dù cho phụ nữ vào giáo đoàn thì chánh pháp giảm thọ nhưng
cuối cùng Phật vẫn thành lập Ni đoàn là vì sao?
Xét
về thời gian thì sự hiện diện của Ni giới khiến chánh
pháp giảm thọ nhưng xét về không gian Ni giới góp phần hoằng
pháp lợi sanh rộng hơn trong thời gian mà Đạo Pháp tồn tại.
Nghĩa là Đạo Phật thu ngắn chiều dài nhưng phát triển chiều
rộng. Chẳng hạn một công việc đó mà ít người thì làm
lâu xong hơn, đông người làm thì công việc mau xong hơn. Không
thể lấy thời gian làm công việc để nói là công việc làm
nhiều hay ít, khối lượng sản phảm bao nhiêu mà phải tính
xem: số lượng người tham gia làm việc là bao nhiêu, hiệu
suất làm việc của mỗi người ra sao thì mới biết tổng
thể khối lượng công việc nhiều hay ít. Đức Phật đã
thấy trước dù Ni giới vào khiến Chánh Pháp giảm thọ nhưng
nếu Ni giới hành trì Bát Kính Pháp và giới luật, lo công
việc tự giác, giác tha thì chánh pháp tồn tại tuy ngắn hơn
mà vẫn vừa đủ : vừa đủ ở chỗ là những chúng sanh có
duyên thì sẽ nghe và học được giáo Pháp, số chúng sanh
còn lại chưa kịp nghe học và hành trì chánh pháp là chúng
sanh vô duyên với Chánh Pháp Phật Thích Ca. Nhưng không
lo, một khi chánh pháp Phật Thích Ca không còn nữa thì không
lâu sau đó là đến thời kỳ đức Phật Di Lặc ra đời.
Vậy chúng sanh không có duyên với giáo pháp Phật Thích Ca
thì vẫn còn cơ hội có duyên với giáo pháp Phật Di Lặc.
Điều mà tâm Từ bi khiến cho Phật Thích Ca cân nhắc là:
làm sao khoảng cách giữa thời kỳ Mạt Pháp cho đến khi Phật
Di Lặc ra đời không phải là khoảng cách quá xa, vì chúng
sanh trong thời gian đó không có cơ hội nghe biết được chánh
pháp chư Phật. Một khi chấp nhận nữ giới vào giáo đoàn
đức Phật đã ước lượng được các điều sau đây:
1/
Có bao nhiêu nữ giới sẽ xuất gia tu học kể từ khi Ni đoàn
thành lập cho đến lúc Mạt Pháp?
2/
Chất lượng tu học và khả năng chứng Thánh quả của những
vị Ni đó, cũng như sự hóa độ, lợi tha của Ni giới đối
với chúng sanh là đến đâu và được bao nhiêu?
3/
Khoảng thời gian dài nhất và thời gian ngắn nhất mà giáo
Pháp Ngài có thể tồn tại trên cõi đời này là bao nhiêu?
4/
Tổng cộng tất cả lại: nếu như có Ni giới vào thì số
lượng chúng sanh nghe biết đến giáo pháp Phật Thích Ca, tu
tập và có lợi lạc từ giáo Pháp là bao nhiêu, còn nếu không
có Ni giới vào thì số lượng chúng sanh được thấm nhuần
lợi ích từ giáo pháp là bao nhiêu?
Do
đó, điều quan trọng ở đây là cả hai: thời gian Chánh Pháp
hiện diện ở đời và số lượng chúng sanh thấm nhuần lợi
lạc từ giáo Pháp đó. Chẳng hạn như chúng ta bảo suốt
25 thế kỷ qua chánh Pháp vẫn còn đang hiện diện trên thế
giới này, nhưng số lượng chúng sanh được hóa độ nương
nơi giáo Pháp trong từng thế kỷ là khác nhau. Một lần nữa,
xét riêng mạng sống của một con người, cái quý không nằm
ở chỗ sống được nhiều, không phải người sống 90 tuổi
là quý hơn người sống được 50 tuổi mà cái chính là: mỗi
người đã sống và đang sống như thế nào? Có người sống
ít mà để lại sự nghiệp vạn thế, có người sống nhiều
mà gây phiền hà cho nhiều người khác.
Hơn
nữa, không phải số lượng Ni nhiều thì mạt pháp mà phải
nói là: số lượng giả danh Tỳ kheo nhiều thì mau mạt pháp.
Do vậy cá nhân nơi mỗi người nữ nên đi tu và cố gắng
làm sao để cho mình trở thành một vị Ni chân chánh, làm
lợi lạc nhiều cho đạo Pháp và chúng sanh, giúp chánh pháp
cửu trụ, và những hình ảnh đẹp của những gương mặt
Ni này sẽ xóa mờ và góp phần vớt vát cho số lượng Ni
khác đang làm hỏng chánh Pháp. Chẳng hạn có ai đó bảo:
Ồ, Đài Loan đang Mạt Pháp, các Ni cô loạn quá, thì có người
khác nói: không phải thế, vẫn còn có Sư Cô A, B, C tu học
và hành trì như chánh Pháp, khi nào còn có hình bóng của chân
Tăng, chân Ni tại thế thì khi đó chánh Pháp vẫn còn mà.
“Cái
thứ hai là về tuệ giác, nếu chúng ta áp dùng theo công thức
lý luận là gậy ông đập lưng ông thì Như Lai Thế Tôn đã
bị Anan gài vào một cái bẩy rất là lớn, đó là tất cả
mọi chúng sanh đều có tiềm năng thành Phật, mà chúng sanh
này không chỉ nam mà bao gồm luôn nữ và bao gồm luôn cả
bêđê. Thì rõ ràng đâu thể nào loại trừ Ni giới.”
Như
Lai Thế Tôn không hoàn toàn sống trong thế giới này như chúng
ta dù rằng lúc ấy Ngài còn mang báo thân. Có những lúc Ngài
nhập vào thiền định và đến khắp cùng pháp giới chư Phật,
có lúc Ngài phân thân đi nhiều nơi khác. Dù những bậc A
La Hán có tha tâm thông đến mức nào cũng không đọc được
cái gì đang diễn ra trong tâm trí của Như Lai. Tất cả những
gì chúng ta có thể thấy nghe và biết được Như Lai chỉ
là vài dấu hiệu về âm thanh, sắc tướng mang tính chất
thị hiện, hiển bày. Phật vẫn thuyết pháp, vẫn nói, vẫn
đi đứng sinh hoạt như chúng ta nhưng đồng thời lúc ấy
Phật vẫn đang trú trong Như Lai đại định. Cũng chính vì
thế trong kinh Kim Cang, Phật dạy:
“Này
Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao? Các ông chớ bảo Như Lai khởi
nghĩ thế này: Ta sẽ độ chúng sanh. Này Tu-bồ-đề, chớ
khởi nghĩ thế ấy. Vì cớ sao? Thật không có chúng sanh Như
Lai độ đó. Nếu có chúng sanh Như Lai độ đó thì Như Lai
ắt có ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả. Này Tu-bồ-đề, Như
Lai nói có ngã ắt không phải có ngã mà người phàm phu cho
là có ngã. Này Tu-bồ-đề, người phàm phu đó Như Lai nói
tức không phải phàm phu, ấy gọi là phàm phu”.
Nghĩa
là tất cả các thi tác (việc làm) của Ngài đạt đến chỗ
vô công dụng hạnh. Có những điều Ngài dạy, giải thích
và hiển bày cho chúng ta hiểu biết về những sự việc đó
thì chúng ta nên hiểu theo lời dạy như vậy. Ngoài ra chúng
ta không thể đạt tới tâm giới hay cảnh giới Như Lai đang
trú, dù Như Lai đang đối diện chúng ta. Trong kinh thí dụ
lá cây, Phật dạy: “Những điều ta biết như lá trong rừng,
những điều ta nói như nắm lá trong bàn tay”. Cũng vậy những
gì xảy ra trong tâm trí của Như Lai quả là bất khả tư nghì,
không thể mượn nội dung cuộc đối thoại để đánh giá
tầm mức của Như Lai. Như Lai không nhọc lòng dồn hết 100
% năng lực để đối phó với những cái “gậy” và “bẫy”
của ngài A Nan cũng như là của Dì Mẫu như thầy Nhật Từ
nghĩ. Ngài ngồi đó cũng chỉ là ngồi “chơi” vậy thôi,
nói cũng chỉ là nói “chơi” vậy thôi, Ngài đã có quyết
định sẵn và nếu nói “gài” và “thế” thì chính ngài
A Nan đang lọt vào một vai diễn mà Như Lai là đạo diễn.
Một lần nữa chúng ta trở lại với câu chuyện của Khổng
Minh và Trương Phi.
Trương
Phi ngỡ rằng lần đó sẽ làm sáng mắt Khổng Minh ra nhưng
Trương Phi đâu ngờ rằng: Khổng Minh đã ước lượng trước
cái tầng mức (level) của Trương Phi đang ở đâu, trước
thế trận bày ra như thế Trương Phi sẽ làm gì, cái gọi
là thông minh đột xuất và sáng tạo của Trương Phi lại
nằm trong dự kiến sẵn của Khổng Minh: Trước hoàn cảnh
như thế, nó sẽ làm như thế như thế và kết quả cuối
cùng sẽ là như thế, như thế… Như một người lớn có
đứa con đang chơi, mặc dù cũng mỉm cười với con, cũng
nói chuyện với con, nhưng tâm trí của người lớn còn lo
nhiều chuyện khác trong cuộc sống hoặc suy tính thêm về
tương lai của con chứ không phải là đặt 100 % tâm trí vào
câu chuyện của đứa con nít 3 tuổi. Có những món quà mẹ
đã mua sẵn để dành cho con nhưng quyết định đến khi nào
thì lấp ló cho nó thấy, biết trước tánh ý của con mình
nó sẽ xin như thế nào và nói thế nào và từng bước nên
trả lời thế nào, cũng có thể đợi cho nó lý luận nọ
kia rồi mỉm cười trả lời cầm chừng và khuyến khích cho
nó lý luận tiếp (ví dụ: mẹ có thương con không, nếu mẹ
thương con mẹ có muốn con vui không? Con khóc mẹ có buồn
không? Bây giờ con muốn cái bánh ấy, mẹ không cho con là
mẹ không thương con, là con sẽ khóc đến sưng mắt con sẽ
ngoan và sẽ học giỏi nếu mẹ cho bánh cho con,…). Quyết
định cho con mình chờ đợi bao lâu, lý luận hay trình bày
bao lâu rồi mới cho nó cái bánh, đó là quyết định của
người mẹ. Người Mẹ đã có chủ ý từ ban đầu, chúng
ta không thể nói là người Mẹ vì đuối lý, cãi không lại
con mình nên phải đưa món quà ấy ra. Cái mà người Mẹ muốn
là thử xem con mình thế nào, tâm ý ra sao, bày tỏ thế nào
và nó có hứa hẹn là đứa con ngoan tốt sau khi nhận được
món quà không?.
Chúng
ta hãy xem, đức Phật đã chờ đợi một cuộc đàm thoại
như vậy và lèo lái để cho ngài A Nan trình bày hết ý. Dì
Mẫu, Da Du Đà La cũng như 500 mệnh phụ phu nhân lần này đến
đã cạo tóc đắp y mà đức Phật không cho nhập vào Giáo
đoàn thì cũng quyết “thi gan cùng tuế nguyệt” đứng và
ngồi cho đến chết ở nơi cửa Tịnh Xá chứ đâu dễ chịu
thua quay về? Chuyện Dì Mẫu khóc ngoài cổng Tinh xá sẽ nhanh
chóng khiến tất cả Tăng chúng hay biết và quần chúng cũng
đã có nhiều người biết vì phái đoàn Dì Mẫu cạo tóc,
đắp y vàng đi bộ từ Ca Tỳ La Vệ cho đến Tỳ Xá Ly hơn
200 cây số chứ có ít đâu. Như vậy hiển nhiên cảnh tượng
này làm xúc động từ tâm của Tăng chúng. Ai là người sẽ
đến gần hỏi chuyện với Dì Mẫu và chịu thay Dì Mẫu thưa
xin cùng đức Phật? Chuyện này cũng dễ biết thôi. Trước
hay sau gì rồi thì cũng đến lúc ngài A nan can thiệp vì Ngài
nổi tiếng là con người tràn đầy lòng thương, sâu sắc,
tế nhị, đa văn đệ nhất và có quan hệ hết sức gần gũi
với Dì Mẫu và đức Phật nữa (dù lúc ấy Ngài chưa phải
là thị giả).
Nhưng
dù không phải là ngài A Nan đi nữa, có ai đó ví dụ như
ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên hay Ưu Ba Ly thưa xin giùm
cho Dì Mẫu thì cũng tốt thôi. Miễn sao Dì Mẫu, Da Du Đà
La và 500 mệnh phụ phu nhân ấy có ấn tượng không bao giờ
quên là: được làm Tỳ Kheo Ni là một vinh hạnh lớn lao,
cao quý; hình thành Ni đoàn sẽ gặp rất nhiều khó khăn, khó
khăn từ tâm sinh lý, cơ thể vật lý của người phụ nữ
trong sự tu học và hoằng pháp du hóa muôn phương, cho đến
thiết chế Tăng Ni nội bộ và cả đến những khó khăn do
thành kiến và dị nghị từ bên ngoài,…
Chúng
ta hãy bàn về những ích lợi từ cuộc đối thoại giữa
Phật và Ngài A Nan:
- Dạy
phương pháp báo hiếu: như tôi có ghi ở phần trước (Phật
dạy: «Này A-nan, ân đối với người như vậy khó có thể
trả được. Chẳng phải dùng cơm ăn, áo mặc, giường nằm
ngọa cụ, thuốc men mà có thể trả được. Ta ra đời khiến
cho Ma-ha Ba-xà-ba-đề thọ ba quy y, cho đến quyết định được
vào chánh đạo cũng như vậy.») Giúp cha mẹ quy y và tu tập
trong chánh đạo là báo hiếu chân chánh.
- Xác
nhận tất cả chúng sanh đều có Phật tánh và sẽ thành Phật
đó là hình thức nhắc nhở đầy ấn tượng giữa đạo diễn
Như Lai Thế Tôn và vai diễn nhiệt tình, sống động là ngài
A Nan, tác động trực tiếp của sự xác nhận này là động
lực khiến các vị Tỳ kheo Ni đầu tiên (sau khi thành lập
giáo đoàn Ni) sẽ tinh cần tu tập và sớm chứng Thánh quả.
- Xác
nhận một thực tế Chánh Pháp giảm thọ để cả Chư tăng
và Chư Ni ý thức nỗi khó khăn bội phần khi có Ni giới trong
giáo đoàn và hãy làm sao cho chánh pháp tồn tại lâu hơn,
cũng như trong thời gian chánh pháp tồn tại đó hãy khiến
cho nhiều người cùng uống suối nguồn chánh Pháp.
- Đó
cũng là duyên khởi cho sự thiết lập Bát Kính Pháp đưa ra
mô thức liên hệ giữa Chư tăng và chư Ni.
- Đại
diện Tỳ kheo Tăng là ngài A Nan đứng ra thưa thỉnh, vậy
thì sau này nếu có khó khăn gì cũng không ai than trách là
Như Lai Thế Tôn để lại nhiều trở ngại quá mà bởi vì
chính bản thân Tỳ kheo Tăng xin cho Ni giới vào, chính các
phụ nữ tự nguyện tha thiết thỉnh nguyện xin vào giáo đoàn.
Vậy sau này Tăng đoàn và Ni đoàn hãy cố gắng giúp cho nhau,
đó không phải là sự áp đặt thiết lập ra bởi bản thân
đức Phật.
“Như
vậy là cơ sở lý luận thua Anan và tuệ giác cũng thua Anan
ở chỗ là Anan lúc đó mới có 25 tuổi đầu vì Anan nhỏ
hơn đức Phật là 15 tuổi. Đức Phật thành đạo theo Nam
tông là 35 tuổi, 5 năm sau thiết lập Ni đoàn, lúc đó là
ngài 40 thì Anan mới có 25, còn là phàm phu tục tử giống
như chúng ta thôi. Sau khi Như Lai Thế Tôn qua đời thì sự
kiện kết tập kinh điển ba tháng sau thì Anan mới chứng quả.
Như vậy mấy mươi năm sau Anan mới chứng đạo thì lúc đó
Anan vẫn còn là thư sinh bạch diện của phàm phu. Do đó trên
cơ chế lý luận về phương pháp Phật học thì một người
phàm phu tục tử như Anan, không thể nào hơn tuệ giác và
nhận thức của Như Lai Thế Tôn được.”
Trước
hết chúng ta hãy ôn lại: Ngài A Nan đã xuất gia năm nào và
tu học được bao nhiêu rồi cho đến khi thiết lập Ni đoàn.
“Hai
năm sau khi Đức Phật Thành Đạo, Hoàng Thân Ananda xuất gia
cùng với năm vị quý phái khác của dòng Sakya (Thích Ca) là
Anuruddha, Bhaddiya, Kimbila và Devadatta. Không bao lâu sau khi nghe
một thời Pháp của Đại Đức Punna Mantaniputta, Ngài đắc
Quả Tu Đà Hườn (Sotapatti, Nhập Lưu), tầng đầu tiên trong
tứ thánh.”[15]
Vậy
thì ít nhất là ngài A Nan cũng chứng được quả Tu Đà Hườn
và theo học Phật pháp 3 năm rồi. Nên nhớ cho là ngài A Nan
là người thông minh, học rộng và nhớ dai, việc gì nghe một
lần rồi nhớ, không bỏ sót một chi tiết nào. Cũng vì thế
mà sau này trong kỳ Kiết Tập Kinh Điển lần I, Ngài được
suy cử trùng tuyên giáo Pháp.
Đọc
trong lịch sử của ngài A Nan, chúng ta thấy lời tán thán
của Tăng chúng đương thời về Ngài như sau:
Trong
vườn Cấp Cô Ðộc, rừng cây Kỳ Ðà, bấy giờ chúng Tỳ
kheo vây quanh với nhau mà bàn luận rằng: "Không rõ hiền giả
A Nan vào thời quá đã tu tập công đức gì, mà đời này,
hiền giả hiểu sâu biết rộng, nhớ dai và đẹp đẽ
quá vậy?". Các Tỳ kheo nghĩ rồi bèn đi đến bạch Phật:
- Kính
bạch Ðức Thế Tôn, chúng con chẳng hiểu đời trước của
hiền giả A Nan đã tu tập công đức gì mà hiền giả được
làm thị giả Thế Tôn, và thông minh đĩnh ngộ quá vậy? Xin
Thế Tôn ân cần chỉ giáo cho chúng con sáng tỏ.
"Phật
pháp như đại hải thủy, lưu nhập A Nan tâm"
“Đức
Phật liệt Đại Đức Ananda vào hàng các đại đệ tử của
Ngài vì năm lý do: sức học uyên thâm (bahussutanam), trí nhớ
vô cùng trung thực (satimantanam), phẩm hạnh cao thượng (gatimantanam),
kiên trì (dhitimantanam) và chuyên chú cần mẫn (upatthakanam)”.[16]
Trong
“chúng ta” mà thầy Nhật Từ nói đó không biết có những
ai đã chứng quả Tu Đà Hườn hay các quả vị cao hơn? Không
biết có mấy người học đâu nhớ đó như ngài A Nan. Chúng
ta hãy tưởng tượng mỗi ngày ít nhất là Ngài nghe Phật
thuyết giảng một thời vậy thì 3 năm, ngài A nan đã học
được 365 x 3 = 1095 bài giảng. Chẳng lẽ trong số hơn 1000
thời Kinh ấy không có thời nào có đề cập:
1/
Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh và sẽ thành Phật.
2/
Đạo làm con phải lo báo hiếu cho cha mẹ.
Việc
thưa thỉnh và thưa hỏi hỏi là việc của A Nan, đức Phật
không vì “thua lý” ngài A Nan mà thay đổi quyết định,
rồi bất đắc dĩ chấp nhận phụ nữ vào Giáo đoàn. Tôi
đã nói, đối với Như Lai tất cả chỉ là thị hiện, là
một màn diễn, và Như Lai chỉ ngồi “chơi” và chờ lúc
kết thúc màn diễn đó và nhận nữ giới vào giáo đoàn vậy
không thể mang tâm phân biệt cạnh tranh hơn thua vào đây để
đánh giá Thế Tôn được.