“Điểm
thứ hai nữa là khi ta đọc vào các bản văn của Phật giáo
Pali, chưa bao giờ có một đoạn nào nói rằng bà là người
cống cao ngã mạn. Các bà hoàng kia là những người ngang tàng
khinh bỉ người nam, chưa hề có. Như vậy cơ sở lý luận
để làm dẹp bớt tâm ngã mạn có thích hợp hay không?”
Cái
gì có thể bảo đảm rằng: trong số 500 mệnh phụ phu nhân
thuộc dòng họ Thích ấy không có một ai có tâm ngã mạn
hay tự hào về Dòng Họ Thích của mình? Hãy nên nhớ: Ma Ha
Ba Xà Ba Đề là Dì Mẫu của đức Phật và Da Du Đà La là
vợ của Thái Tử Tất Đạt Đa khi xưa. Cho dù Ma Ha Ba Xà Ba
Đề và Da Du Đà La có tâm bình đẳng hòa nhã thương yêu
mọi người, nhưng nếu không được phân định hoặc làm
minh bạch ngay từ đầu thì mặc cảm tự ty hoặc những quan
hệ vốn dĩ đã có từ trước nơi các vị tăng sĩ xuất thân
trong địa vị kém cỏi sẽ khiến cho các quan hệ cư xử lúng
túng, phức tạp. Chẳng hạn khi gặp Dì Mẫu, Xa Nặc hoặc
ngay cả Ngài A nan và rồi sau này đến khi La Hầu La thọ giới
Tỳ Kheo sẽ phải xử sự như thế nào?
Hơn
nữa trong thời nay, ví dụ một Thầy trụ trì mà có một
người Mẹ ở cùng chùa, hoặc nếu có người vợ cũ của
Thầy trụ trì ở cùng chùa thì tôi nghĩ thường xảy ra việc
thế này: Tăng chúng trong chùa đó than phiền to nhỏ với nhau
rằng: mấy bà ấy lộn xộn quá đi mất mà không dám nói
sợ mất lòng Sư Phụ. Chúng ta còn nhớ vị Hòa thượng Cua
mang mẹ về Chùa mà không giới thiệu đó là Mẹ mình một
phần là để cho bà tinh tiến tu tập, một phần là để cho
Tăng chúng được tự nhiên trong cách đối xử với bà. Bát
Kính Pháp còn có giá trị thực hành cho những thế hệ về
sau nữa.
“Trong
khi đó là vô số Tỳ kheo ni trong lịch sử từ lúc đức Phật
lập giáo đoàn cho đến bây giờ, đâu thuộc về cá tính
cống cao ngã mạn đó. Tại sao họ phải chịu chung một thân
phận đó là phải bị thế này thế kia v.v…”
Gì
mà dữ vậy? Chốc nữa đây tôi sẽ phân tích việc thực
hành Bát Kính Pháp rất có ích lợi cho việc tu tập của Ni
giới chứ có gì mà phải than thân trách phận nhiều vậy?
“Bất
lợi thứ nhứt là trước nhứt chúng ta giải phóng tính cách
cưỡng ép hay áp đặt là rằng tác giả chính là Như Lai Thế
Tôn. Bằng không mọi lý luận đi ngược lại với Bát kỉnh
pháp đã làm cho vai trò và vị trí của Như Lai Thế Tôn đã
giảm thiểu rất là nhiều. Chúng ta là những người xuất
gia, những Phật tử, những Sư cô đều là những đệ tử
thuần thành của Như Lai Thế Tôn, bất quá họ có phản ứng
nho nhỏ trong nhà là hết. Đối với các tôn giáo khác, nhất
là các tôn giáo đang muốn thay thế vai trò lãnh đạo tâm
linh của đạo Phật ở châu Á, có cái nhìn hoàn toàn cá biệt.”
Một
lần nữa tôi nhắc lại, chúng ta không cần lo việc giải
phóng cho Như Lai Thế Tôn, chúng ta hãy lo việc giải phóng
chính chúng ta ra ngoài sự vướng kẹt của ngôn ngữ do các
Kỳ Kiết Tập Kinh Điển có để lại sai sót: “tam sao thất
bổn”, và hãy giải phóng cái tù đọng trong tầm nhận thức
chúng ta để đón nhận Bát Kính Pháp như Tăng Ni thời đức
Phật đã từng đón nhận. Đạo Phật là đạo “nghịch lưu”,
đi ngược lại dòng chảy thế gian. Trong kinh Kalama đức Phật
dạy chúng ta tin tưởng và hành trì các pháp “khi nào các
người tự mình biết rằng các pháp ấy là thiện, là tốt,
được người có trí tán thán, các pháp này nếu được chấp
nhận và thực hiện thì sẽ đem lại hạnh phúc và an lạc”
chứ không phải là thực hành các pháp mà thế gian hoặc phong
tục tập quán, hoặc các tôn giáo khác tán thán. Và nỗ lực
của chúng ta hôm nay là nếu như trong sự suy nghiệm thẩm
thấu nơi tự thân, chúng ta nhận ra được Bát Kính Pháp là
thiện, là tốt, được người có trí tán thán, các pháp này
nếu được chấp nhận và thực hiện thì sẽ đem lại hạnh
phúc và an lạc thì tự nơi mỗi người sẽ hoan hỉ tín thọ
phụng hành.
“Các
linh mục trước năm 1975 đã từng viết sách so sánh những
điểm giống và khác của đạo Phật và đạo của họ. Họ
đã nêu ra một điểm mấu chốt đó là đạo Phật chà đạp
nhân phẩm phụ nữ lớn nhất trong lịch sử nhân loại chưa
từng. Sự chà đạp đó được nêu ra hai sự kiện. Thứ nhất
là thái tử Tu Đại Noa đã cúng dường không đốt nhang vợ
của mình cho những ông Bà la môn và đó là một hình thái
biến vào lầu xanh. Đó là các ông chồng Phật giáo đã biến
vợ của mình trở thành những người phục vụ lầu xanh,
theo tính cách sống là làm vợ khắp người ta, chết thì phải
chịu làm ma không chồng.
Hai
lý luận đó là làm cho lý luận giới học đường trước
năm 75 lúc bấy giờ choáng váng, bởi vì họ nghe đạo Phật
là đạo bình đẳng, nhưng khi phân tích về sự bình đẳng,
họ đưa những sự kiện này vô là chà đạp phụ nữ, mà
nói theo ngôn ngữ của nhân quyền hiện đại đó là sự vi
phạm nhân quyền nguy hiểm nhất. Bởi vì ở phương Tây, phụ
nữ là số 1, đàn ông đứng sau con chó (24p:50s). Cho nên là
các ngữ cảnh đó có thể là nó rất là nhạy cảm đối
với vấn đề Ni và Tăng ở trong truyền thống Phật giáo.”
Về
câu chuyện thái tử Tu Đại Noa đã cúng dường không đốt
nhang vợ của mình: Các linh mục đó chắc là chưa đọc xong
câu chuyện “Bố Thí Bất Nghịch Ý” và cũng không có tầm
nhận thức sâu xa trong Phật giáo, họ chỉ nghe loáng thoáng
rồi vội vã phê bình thế này thế nọ thì cũng không có
gì là lạ, chỉ có thầy Nhật Từ không biết là đã đọc
kỹ câu chuyện ấy chưa mà có vẻ đồng tình với lời chỉ
trích của họ đối với ý nghĩa câu chuyện “Bố Thí Bất
Nghịch Ý” thì đó mới là chuyện đáng nói!
Tôi
còn nhớ khi nghe trực tiếp bài giảng của thầy Nhật Từ
về hạnh bố thí cúng dường tại chùa Hải Đức – Florida
(qua Paltalk), cũng có người hỏi về hạnh bố thí của Thái
tử Tu Đại Noa, Thầy đã dõng dạc tuyên bố là câu chuyện
này do Bà La Môn ngoại đạo đưa vào để phá đạo Phật
và “chúng ta” hãy mạnh dạn gạt bỏ những câu chuyện
như vậy để giữ sự trong sáng hợp tình hợp lý, hợp nhân
bản của Phật giáo (lời văn đại để là thế).
Thế
nhưng, nhân tiện đây tôi chép lại cho thầy Nhật Từ hai
đoạn văn trong câu chuyện ấy để Thầy đọc lại xem sao:
“Ðông
cung vào từ tạ Công chúa Mạn Trà và nói rằng: "Vì tôi bố
thí thái quá, đã vét sạch kho tàng lại còn cho kẻ nghịch
tượng bạch kỳ tài, nên Hoàng phụ và triều đình đày tôi
12 năm lên núi Ðàn Ðặc".
Bà
Mạn Trà nói: "Muốn nước thạnh nhà an, tôi xin cầu chúc
Ðức Thánh hoàng, các thượng quan cùng quân nhân lớn nhỏ
trong nước, thảy đều được giàu sang, an vui vĩnh viễn.
Còn tôi thì nguyện theo cùng Thái tử vào chốn thâm sơn mà
tu hành pháp Bát nhã".
Ðông
cung nói: "Người nam tử ở núi non hiểm địa còn khó giữ
được bình tĩnh với cọp hùm cùng các loài thú dữ khác;
Vương phi đã quen thanh nhàn, làm sao chịu nổi với cảnh khó
khăn và đời vô vị. Công chúa ở thì đài các nguy nga, mặc
ròng tơ lụa, nghỉ toàn nệm gối, ăn uống tinh đồ mỹ vị;
còn trên sơn lâm, nghỉ toàn màn trời chiếu đất, nệm gối
bằng cỏ rơm, thức ăn toàn là hoa quả. Lại thêm mưa, gió,
sấm sét, sương, tuyết làm cho vỡ mặt kinh tâm. Khi lạnh
thì lạnh thấu xương, khi nóng thì nóng phỏng trán. Nơi cây
cối không bề nương dựa, dưới đất thì cỏ gai, đá sỏi
cùng loài sâu bọ độc địa, làm sao Vương phi lại chịu
nổi cảnh Khổ ấy?"
Bà
Mạn Trà đáp: "Nếu thiếp xa cách Hoàng tử thì cần gì nệm
thúy gối loan, sơn hào hải vị. Hôm nay đứng trước hoàn
cảnh này thì lẽ đương nhiên chàng đâu thiếp đó cho trọn
đạo vợ chồng. Nước lấy cờ làm biểu hiệu, khói thì
có lửa, vợ thì có chồng. Thiếp chỉ biết gởi thân cho
lang quân, mặc dầu mưa tối nắng chiều. Thiếp tưởng: lang
quân chẳng khác chi thần thức của thiếp, nếu thần thức
xa lìa thì thân kia tan rã. Vả lại lúc lang quân lập đàn
bố thí, thiếp cũng dự vào, khi lang quân lìa quê hương nếu
có người đến xin thọ thí, Thiếp biết nói làm sao với
họ? Lúc thiếp nghe ai khẩn cầu với thí chủ, thiếp quá
cảm động có thể chết đặng vậy".
Ðông
cung nói: "Tôi mở đường bố thí, không từ chối một ai,
nếu có người đến xin hai con, tôi rất hoan hỷ nhận lời.
Khi ấy Công chúa không vui lòng hưởng ứng, có phải làm rối
loạn tâm từ thiện của tôi không? Tốt hơn là Công chúa
đừng theo tôi làm chi".
Mạn
Trà đáp: "Hoàng tử chớ có lo xa, tôi xin tán thành mọi việc
phước thiện. Lang quân ôi! "Trong trời đất không còn ai nhân
đức hơn lang quân!"
Ðông
cung nói: "Nếu quả Vương Phi đồng tình thì không gì quý
hóa bằng!".
Chúng
ta chưa nói đến việc Thái tử là một Thiên tử thứ hai,
mọi thứ trong giang san kể cả vợ con cũng là vật sở hữu
của Thái tử theo quan niệm của phong kiến – vua quan thời
đó và chính vì vậy mà khi Vua băng hà các bà Hoàng và cung
phi tình nguyện thiêu chung để theo hầu hạ nhà vua. Ở đây
chúng ta chỉ bàn quyết định của hai người:
Thái
Tử khuyên vợ mình là Mạn Trà ở lại nuôi con tại Hoàng
Thành và một mình Thái tử chịu đi đày thôi nhưng Mạn Trà
xin đi theo. Lúc ấy Thái tử đã nghĩ ngay đến hạnh bố thì
những người thân có thể xảy ra trên đường đi thì Mạn
Trà chấp nhận. Vậy thì việc này là do hai người đã bàn
thảo, thỏa thuận, đồng tình trước chứ có ai ép uổng
ai đâu mà “đưa những sự kiện này vô là chà đạp phụ
nữ, mà nói theo ngôn ngữ của nhân quyền hiện đại đó
là sự vi phạm nhân quyền nguy hiểm nhất.”
Hạnh
Bố Thí Ba La Mật là một trong Lục Độ Ba La Mật – pháp
tu của Bồ tát. Trong Túc Sanh truyện (Jataka) chúng ta đã học
qua tấm gương tu Bồ Tát Hạnh của Ngài đến chỗ viên mãn.
Sinh vào trong thời ấy, đặc biệt Ngài lại là Thái tử nữa
nên quan niệm của xã hội cho là: vợ của Ngài, con của Ngài.
Chúng ta ngày nay có xem vợ con là vật sở hữu hay không đó
là việc của chúng ta nhưng lúc đó quan niệm và cả luật
pháp của xã hội quy định là thế. Vì tu tập để thấy
không còn “Ta” và “Của ta” thì Ngài phát nguyện bố
thí bất nghịch ý như vậy. Trong tình cảm, Ngài đã cân nhắc,
sắp xếp để vợ con được êm ấm rồi, thế nhưng, vợ
của Ngài muốn san sẻ nỗi khó khăn cuộc sống và muốn tán
trợ công hạnh bố thí bất nghịch ý của Ngài thì phải
để cho Vương phi Mạn Trà toại nguyện và cùng tu theo hạnh
của chồng mình chứ? Như vậy chính là đề cao phụ nữ đó
chứ? - không riêng gì đàn ông có hạnh tu tập cao vòi
vọi mà phụ nữ cũng có hạnh ấy, cũng thực hành được
hạnh ấy. Như thế là bình đẳng nam nữ bậc cao đó: bình
đẳng trong nhận thức, chí nguyện và thực hành tu tập các
hạnh khó tu.
Đoạn
thư hai này nói việc bố thí vợ:
Ðông
cung nói: "Công chúa hãy nguôi lòng. Phu nhân hãy nhớ lại việc
xưa, hồi thuở Phật Ðề Hòa Kiệt La ra đời. Lúc đó tôi
là một người Bà La Môn, tên là Ba Sô Vệ, còn Công tước
phu nhân là con gái Bà La Môn tên là Tu La Ðà, Công chúa cầm
bảy liên hoa, còn tôi thì nắm trong tay 100 bạc. Tôi mua năm
bông sen của Công chúa đặng cúng dường Phật, còn Vương
phi thì đem thêm hai bông khác cho tôi dâng cúng Phật. Phu nhân
lại lập nguyện như vậy: "Tôi nguyện cầu sao trong những
kiếp vị lai tôi cứ được làm vợ chàng, dầu lịch sự,
dầu xấu xa tôi không hề xa chàng".
Tôi
có nói với Công chúa rằng: "Nếu nàng muốn làm vợ tôi thì
phải tuân theo chánh ý tôi, tôi sẽ đem hết tâm lực hành
pháp bố thí, không hề thối chuyển cùng trái ý một ai. Trừ
cha mẹ tôi, ai xin vật chi tôi đều hoan hỷ. Công chúa ưng
chịu bằng lòng. Nay tôi cho hai con, Vương phi lại làm rối
loạn đến mối từ tâm của tôi".
Nghe
Ðông cung nói, bà liền tỉnh ngộ; bà nhớ lại trong kiếp
quá khứ kia, bà có hứa hẹn và nhận các việc bố thí của
Thái tử.
Ðế
Thích thấy Thái tử hành pháp bố thí Ba La Mật Ða, cố ý
thử lòng Thái tử. Ngài hóa thân làm người Bà La Môn xấu
xa và cũng dị tướng như người trước, đến trước mặt
Thái tử và thốt rằng. "Ðông cung ơi! Tôi hằng nghe Ðông
cung rất hoan hỷ làm các việc phước thiện và không hề
từ chối việc chi. Vậy tôi đến đây xin bà Vương nữ, vợ
của Ðông cung".
Hoàng
tử đáp: "Công chúa là người của Ngài".
Nhiều
đời nhiều kiếp của Da Du Đà La đã phát nguyện theo làm
vợ cho các tiền kiếp của Thái Tử Tất Đạt Đa và ủng
hộ hết mình cho các hạnh nguyện tu tập Bồ tát của Ngài.
Hai người như thế thật là hy hữu và nhờ vậy mà Ngài trở
thành Phật Thích Ca, và hôm nay Da Du Đà La đang xin xuất gia
để tu dần thành Phật. Vậy mới nói là Đạo Phật nghịch
lưu, tại sao chúng ta phải buộc các vị Bồ tát suy nghĩ hành
động giống như chúng ta, chúng ta mới chịu? Nhân quyền ở
chỗ nào? Mọi người đều tự do suy nghĩ và hành động miến
là hành động đó có ích lợi cho xã hội mà. Bên cạnh vĩ
nhân là một vĩ nhân, chúng ta có thể nói cả Tất Đạt Đa
và Da Du Đà La đã cùng tu hạnh Bồ tát nhiều đời nhiều
kiếp và như vậy đã nâng giá trị phụ nữ lên cao tuyệt
vượt khỏi cái nữ nhi thường tình.
“Đối
với chúng ta có thể không là gì cả, nhưng mà đối với
họ chúng ta không thể cấm họ có cái nhìn khác với chúng
ta được. Cho nên chúng ta cứ thử đặt những vấn đề đó
trong bối cảnh của toàn cầu hóa thì nó khác đi nhiều lắm.
Nếu đức Phật là tác giả của Bát kỉnh pháp thì ta thấy
có hai vấn đề đặt ra liên hệ với lý luận 1 và lý luận
2 của Anan trong cuộc đối đáp với đức Phật. Đó là tính
cách từ bi và tuệ giác của đức Phật không còn nữa. Thứ
nhất là đức Phật đã không thương tưởng di mẫu của mình
và đã có những biểu hiện rất là mâu thuẫn với những
gì mà mình đã chủ trương về lòng hiếu thảo. Dĩ nhiên
là có nhiều bài kinh nói về công đức của xuất gia, là
ngài cho rằng hiếu thảo lớn nhất là trở thành người đi
tu, báo hiếu lớn nhất là báo hiếu về phương diện tinh
thần, nhưng lần này mẹ của ngài muốn trở về đời sống
tinh thần là đời sống tâm linh cao nhất, ngài không chấp
nhận thì như vậy học thuyết đó có mâu thuẫn hay không?
Di nhiên theo cái cơ chế này, hoàn toàn mâu thuẫn. Và do đó
lòng từ bi, sự hiếu thảo có thể bị lung lay, không đảm
bảo được 100%.”
Về
lòng hiếu thảo và tại sao đức Phật cân nhắc chưa quyết
định cho Dì Mẫu và 500 Mệnh Phụ Phu Nhân dòng họ Thích
vào giáo đoàn ngay, tôi đã phân tích ở trên.
Về
Từ Bi và Hiếu Thảo: Lo cho Cha Mẹ biết quy y Tam Bảo, biết
phân biệt tà pháp, chánh pháp, tu tập để chứng các Thánh
quả cho đến quả A Na Hàm, như thế là Đại Hiếu còn
việc có giúp cho cha mẹ xuất gia được hay không là tùy duyên
chứ không quá câu nệ hay khiên cưỡng. Lo giúp cho cha mẹ
vẹn toàn phần tự độ thoát luân hồi sanh tử là quá lý
tưởng rồi chứ còn gì nữa, thử hỏi mấy ai làm được
như vậy? Đối tượng quan tâm của đức Phật không chỉ
có Dì Mẫu và những người thân mà là Pháp và Tăng (Chánh
Pháp và Giáo Đoàn) và rộng hơn nữa là khắp pháp giới chúng
sanh vì trong vòng luân hồi sanh tử mênh mang vô tận này
tất cả chúng sanh là cha mẹ, trong kinh Báo Hiếu Phụ Mẫu
ân, Phật lạy xương khô để hiển thị nghĩa ấy. Làm sao
để Tăng đoàn vững mạnh và chánh pháp cửu trụ là lợi
lạc hết thảy hữu tình và là báo hiếu cha mẹ nhiều đời
nhiều kiếp. Do đó, nếu như việc Dì Mẫu và 500 thể nữ
thuộc họ Thích xuất gia mà lại ảnh hưởng đến hạnh nguyện
độ tận chúng sanh thì đành phải bỏ số ít mà chọn số
nhiều thôi. Dù nói bỏ mà không bỏ vì ít nhất nếu ở tại
gia mà tu tập đúng pháp tự bản thân họ cũng ra khỏi luân
hồi sanh tử rồi.
“Thứ
hai nữa là khi đức Phật cho phép Ni giới vào trong thì ngài
cho một cách bất đắc dĩ qua 6 lần thỉnh cầu; 3 lần của
di mẫu, 3 lần của ngài Anan. (26p:15s) Một người có lòng
từ bi thật sự là không cần phải năn nỉ, cơ chế của
năn nỉ là cơ chế của ô dù trù dập. Ai có o bế mình, khen
tặng mình thì mình nâng đỡ, còn bằng không thì mình đì
đọt chết luôn. Cơ chế đó là cơ chế của các thần linh
tôn giáo ngoại đạo, chứ không phải là cơ chế của lòng
từ bi đạo Phật.”
Không
biết thầy Nhật Từ đã nghe qua cái khái niệm “phương tiện
thị hiện hiển bày” chưa? Bây giờ tôi nêu vài câu hỏi
tương tự như câu hỏi này của Thầy:
1/
Nếu vì lòng từ bi Phật hãy tự đi tìm chúng sanh mà cứu
chứ sao đợi chúng sanh phải xưng niệm danh hiệu và lễ bái
quý Ngài rồi mới đến với chúng sanh?
2/
Phẩm 'Như Lai Thọ Lượng' - Thứ Mười Sáu trong Kinh
Diệu Pháp Liên Hoa có ghi rằng: “Nhưng, thiện-nam-tử! Thực
ta thành Phật nhẫn lại đây, đã vô-lượng vô-biên trăm
nghin muôn ức na-do-tha kiếp”, vậy thì đã thành Phật rồi
sao lại phải làm Bồ tát Hộ Minh, sao lại phải đản sinh
xuống thành Ca Tỳ La Vệ làm Thái Tử Tất Đạt Đa rồi xuất
gia, tu hành chứng Đạo cái gì nữa?
3/
Tại sao sau lúc thành Đạo, đức Phật do dự không muốn đi
giáo hóa chúng sanh ("Như Lai đã khó khăn lắm mới chứng ngộ
được "Giáo Pháp". Không cần phải phổ biến "Giáo Pháp"
ngay lúc này. Người còn mang nặng tham ái và sân hận không
dễ gì thấu triệt. Người tham ái chìm đắm trong đêm tối,
không thấy được Giáo Pháp, vì lòng tham ái bao phủ như đám
mây mờ đen nghịt, vì Giáo Pháp đi ngược dòng với tham ái.
Giáo Pháp sâu kín, thâm diệu, khó nhận thức và rất tế
nhị". Nghĩ như vậy, Đức Phật chưa quyết định truyền
bá Giáo Pháp) phải đợi Phạm Thiên Sahampati đến cung thỉnh
đức Phật ("Bạch hóa Đức Thế Tôn, cầu xin Đức Thế Tôn
truyền dạy Giáo Pháp! Cầu xin Đấng Trọn Lành truyền bá
Giáo Pháp! Có những chúng sanh bị ít nhiều cát bụi vướng
trong mắt, nếu không nghe được Giáo Pháp sẽ phải trầm
luân sa đọa. Nhưng cũng có người sẽ chứng ngộ chân lý"
[12]), “lẽ nào Phạm Thiên lại từ bi và Tuệ giác hơn Đức
Phật?”
4/
Tại sao Đức Phật không tự ý quyết định việc kéo dài
thọ mạng để tiếp tục hóa độ chúng sanh thêm một kiếp
sống nữa hoặc là nói ra cho rõ ràng để ngài A Nan hiểu
và ngài A Nan sẽ theo đó mà thỉnh Phật trụ thế, đức Phật
chỉ gợi ý không rõ ràng lắm bởi vậy ngài A nan mới không
kịp hiểu để thỉnh cầu rồi trong kỳ kiết tập lần I
lại bị ngài Ca Diếp hạch tội là không thỉnh Phật trụ
thế? Đức Phật đã không muốn kéo dài thọ mạng hóa độ
chúng sanh thì cứ nhập Niết bàn sao còn “để tai họa và
tiếng đời” lại cho ngài A nan mà làm gì?
Ở
đây chúng ta không có nhiều thời gian để bàn hết về các
câu chuyện “thị hiện” tương tự, tôi chỉ nêu tóm tắt
vài ý để trả lời cho 4 câu hỏi trên rồi sẽ quay lại
với “6 lần thỉnh cầu; 3 lần của di mẫu, 3 lần của ngài
Anan.”
Về
câu hỏi 1: Phật lúc nào cũng thương chúng sanh như mẹ thương
con nhưng nếu chúng sanh ngoảnh mặt quay lưng không đoái tưởng
gì đến Phật và không có duyên với Phật thì Phật cũng
không thể độ được, thật là: “vô duyên đối diện bất
tương phùng”. Niệm Phật, tưởng Phật và nhờ Phật giúp
cho là thiết lập duyên đến với đức Phật và sẽ có cảm
ứng hai chiều. Đây là sự tương tác của 2 bên, chúng sanh
phải làm sao để cảm ứng làn sóng “vô duyên từ” của
chư Phật và đây là “Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn”.
Ví dụ, Hoàng hậu Vi Đề Hy ở trong ngục niệm tưởng đến
Phật, lạy Phật cầu Phật thì Phật mới đến và sự xuất
hiện mới có ý nghĩa. Có bày tỏ thành tâm và sẵn lòng mong
đợi, tin tưởng thì sự gặp gỡ với đối tượng mới có
giá trị giải hóa mọi khó khăn.
Về
câu hỏi 2: Đức Phật vừa là đức Phật tôn giáo vừa là
đức Phật lịch sử. Theo liễu nghĩa thì: nói có việc đản
sanh, xuất gia, thành đạo và nhập niết bàn của chư Phật
chỉ là phương tiện nói. Thật ra Phật Thích Ca đã thành
Phật từ lâu và cũng chẳng lúc nào rời xa chúng sanh để
nhập niết bàn bao giờ. Vấn đề là khi nào chúng sanh đủ
duyên thì Ngài thị hiện và không đủ duyên thì không hiện
bày ra nữa. Đức Phật có lục thông, mười lực vô ngại
như vậy Ngài muốn thị hiện vào thế giới này lúc nào chẳng
được? Thị hiện vào thế gian là nhằm để “khai thị chúng
sanh ngộ nhập Phật tri kiến” để chỉ bày con đường và
chân lý cao thượng.
Vậy
toàn bộ cuộc đời của Ngài từ khi đản sanh ở Vườn Lâm
Tỳ Ni cho đến khi nhập diệt ở tại Rừng Câu Thi Na chỉ
là một cuộc thị hiện, hiển bày. Như vậy, ngay cả việc
lập Bát Kính Pháp cũng chỉ là thị hiện. Đức Phật với
Tuệ giác và thần thông sẽ biết nếu từ chối lần 1 và
lần 2 thì Dì Mẫu sẽ cầu xin lần 3 chứ không thối chí
và nếu từ chối Dì Mẫu lần 3, Dì Mẫu cũng sẽ tìm cách
đến bên Phật và bày tỏ sự kiên quyết hơn. Đức Phật
có Tha Tâm thông, Túc Mạng thông, Thần Túc thông,… trong Kinh
Pháp Hoa, đức Phật có thể thọ ký trước ai tu bao nhiêu
kiếp nữa thì sẽ thành Phật và cõi nước ở đâu, vậy
thì trong trường hợp này tại sao đức Phật lại không thấy
trước là sau khi vua Tịnh Phạn băng hà thì Dì Mẫu sẽ kiên
quyết xin xuất gia và kéo theo nhiều người khác nữa đi xuất
gia? Vua Tịnh Phạn vì bận lo việc nước không thể xuất
gia, còn Dì Mẫu và Gia Du Đà La ở lại Hoàng Thành cũng là
nhằm giúp cho Vua Tịnh Phạn an tâm trị quốc thôi. Một khi
vị vua trẻ mới lên kế thế thì sự hiện diện của Dì
Mẫu, Gia Du Đà La,… không còn thật sự ý nghĩa như đối
với vua Tịnh Phạn nữa thì hiển nhiên là Dì Mẫu, Gia Du
Đà La sẽ kiên quyết xin xuất gia. Vì các lẽ: vì đã có
học Phật Pháp, thấm ý nghĩa vô thường như thầy Nhật Từ
nói, hiểu rõ ý nghĩa cao quý của việc xuất gia mà đức
Phật cũng như bao Hoàng tử khác đang sống, vì tình cảm nên
cũng muốn gần gũi và tìm nguồn an ủi nơi các vị Hoàng
Tử đáng yêu một thời chung sống ngày xưa, muốn đi tu để
tự thân thâm nhập hiểu được tâm hạnh của các “Ông
Hoàng này” nhiều hơn và noi theo chí nguyện: tự độ, độ
tha, tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn để mình và tất
cả chúng sanh cùng ra ngoài luân hồi sanh tử…
Nghĩa
là một khi mà ý tưởng xuất gia đã có manh nha trong tâm tưởng
của Dì Mẫu, Gia Du Đà La,… thì hai vị này sẽ kiên quyết
thực hiện ý định khi nhân duyên thuận tiện chứ không bỏ
dở ý tưởng hay bỏ cuộc. Và lần này ở tại Vesali, nếu
đức Phật không cho, Dì Mẫu, Gia Du Đà La, và các mệnh phụ
phu nhân sẽ ở lại ngoài cổng Tịnh Xá, thiền quán, nhịn
ăn nhịn uống cho đến chết mới thôi, để ít nhất thì
kiếp sau nguyện tái sanh làm thân nam và kịp thời được
Như Lai Thế Tôn cho xuất gia trước khi ngài nhập Niết bàn,
hay là dù thần thức có đi vào cảnh giới nào, họ tin là
Như Lai Thế Tôn cũng không bỏ rơi họ. Vậy thì Như Lai Thế
Tôn có từ chối lời thỉnh cầu của họ 3 hay 6 lần cũng
là thị hiện từ chối mà thôi và Như Lai đã tự có quyết
định nơi mình trước: Khi nào hiển bày cho họ đủ hiểu
việc xuất gia là việc rất khó khăn và ở nơi họ cũng bày
tỏ được sự tha thiết, thành tâm vượt qua tất cả và
xứng đáng để vào giáo đoàn tịnh hạnh – lúc ấy ta khai
mở cửa cho quý vị nữ giới vào giáo đoàn cũng chưa muộn
màng gì.
Chúng
ta có thể mượn vài việc thế gian tương tự để làm ví
dụ cho dế hiểu hơn việc thị hiện này: Ví dụ Khổng Minh
cố tình nói khích cho Trương Phi biết là Trương Phi hữu dõng
vô mưu rồi trong một trận chiến nọ, Khổng Minh bày trận
mà bỏ sót (cố ý chừa trống) một vị trí chiến lược.
Trương Phi tự ý điền vào chỗ trống đó và quyết tâm cho
Khổng Minh lần này sáng mắt ra và sám hối về câu nói: “Trương
Phi hữu dõng vô mưu” hôm trước. Nhưng cái tài của Khổng
Minh là biết khích tướng và cố ý khiến cho Trương Phi đem
hết sức mình trong vị trí chiến lược đó và sau chiến
trận thì Trương Phi cũng nhận ra điều này và thấy cái Trí
của mình như hạt sỏi bên ngọn Thái Sơn - Khổng Minh, mình
tự lọt vào cái thế cài sẵn của Khổng Minh, bị Khổng
Minh điều động mà cho là hay là giỏi,…
Hoặc
cũng giống như là cha mẹ và người anh sắp đi hành hương
phương xa, người cha nói là sẽ để lại cô con gái ở nhà,
thực ra trong tâm người cha đã có quyết định là đến giờ
phút cuối cùng thì cũng sẽ mang cô gái đó đi thôi nhưng
ban đầu thì làm ra vẻ là muốn để con gái ở nhà vậy.
Cô con gái một mực xin tháp tòng chuyến đi với cha mẹ và
anh trai, người cha năm hồi bảy lượt từ chối bởi vì người
cha biết cô con gái sẽ không từ bỏ ý định mà càng từ
chối cô ta sẽ càng quyết tâm nhiều hơn. Rồi thì người
anh trai cũng thương em gái mà đứng ra tiếp sức xin thêm cho
em gái của mình nhiều lần nữa. Người cha thấy thế là
tốt vì sau này trên dặm trình người con gái đã biết trước
sẽ rất khó khăn. Thân gái dặm trường mà đã quyết tâm
rồi thì “đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi,
mà khó vì lòng người ngại núi, e sông” (Nguyễn Thái Học)
và lúc đã dấn thân không nệ hà hiểm nguy khó nhọc nữa
thì sẽ “mấy núi cũng trèo, mấy sông cũng lội, mấy đèo
cũng qua”. Hơn nữa hai anh em sẽ đoàn kết gắn bó nhau trong
dặm trình, ngay cả những lúc không có cha mẹ ở trước mặt
họ, bởi lẽ người anh đã đứng ra xin thêm cho người em
thì người anh tự có một phần trách nhiệm trong chuyến đi
này của người em, và dù khó khăn cho mấy thì hai anh em khuyên
nhắc với nhau: đúng là trước kia cha đã nói trước nhưng
anh và em năn nỉ hết lời cha mới cho đi, vậy hai anh em mình
phải rán dìu dắt nhau đi cho đến đích mới thôi…
3/
Tại sao sau lúc thành Đạo, Đức Phật do dự không muốn đi
giáo hóa chúng sanh phải đợi Phạm Thiên Sahampati đến
cung thỉnh Đức Phật, lẽ nào Phạm Thiên lại từ bi và Tuệ
giác hơn Đức Phật?
Chúng
ta đã bàn qua về cái lý tương tác hai chiều cảm ứng lẫn
nhau. Hơn nữa chánh Pháp là quý giá vô biên hơn tất cả mọi
trân bảo ở thế gian này. Chuyện “chọn mặt gửi vàng”
là chuyện tất yếu xảy ra. Không thể mang một của quý hiếm
giao cho người không biết giá trị của nó để rồi đánh
mất của quý đó một cách hoang phí. Chúng ta có biết việc
Lưu Bị “tam cố thảo lư” để thỉnh cầu Khổng Minh về
giúp nghiệp Hán như thế nào rồi và biết bao chuyện tương
tự xảy ra như vậy trong Lễ Cầu Hiền Sĩ. Chúng ta thường
nghe “hữu cầu hữu ứng”, “hữu cầu hữu đáo, bất thỉnh
bất lai”,… Trong lễ nghĩa Nho gia cũng có: “Lễ Bái Sư”
hoặc “Lễ Kiến Sư”, trong truyền thống Phật giáo có “tác
bạch cung thỉnh Pháp Sư đăng tòa thuyết pháp”, Phạm Thiên
hay biết đức Phật là một vị Phật và có chánh Pháp vi
diệu, Phạm Thiên là nhân vật đại diện cho chúng sanh trong
tam giới đôi ba phen thỉnh cầu như thế mới bày tỏ lòng
cần cầu học đạo giải thoát của chúng sanh. Ai có lòng
tha thiết muốn lắng nghe, tha thiết học hỏi và phát nguyện
vâng hành thì mới là người xứng đáng thọ lãnh giáo Pháp.
Cũng
thế, hôm nay Dì Mẫu và Ngài A Nan khẩn thiết cầu xin như
thế mới thể nghiệm được cái quý giá của việc xuất
gia và nữ giới cũng đã sẵn sàng chuẩn bị tâm lý để
vượt qua mọi khó khăn trong hành trình xuất gia tu học. Chúng
ta nên nhớ đức Phật là người đầu tiên cho nữ giới gia
nhập vào một giáo đoàn tôn giáo trong khi xã hội còn rất
nhiều thành kiến không tốt đối với nữ giới và cả các
tôn giáo khác cũng vậy. Nếu như Ni giới vào tu mà xảy ra
chuyện gì các người thế tục hoặc các tôn giáo khác sẽ
bĩu môi nói: Humm, đó, ông Cù Đàm, làm hay làm giỏi, giải
phóng - đổi đời phụ nữ hả, thật là người làm liều
và không nhìn xa thấy rộng, chúng ta đã biết trước như
thế rồi mà, có đâu mà bồng bộc xốc nổi, ảo tưởng,
háo danh như ông Cù Đàm để bây giờ lỡ khóc lỡ cười,
Thầy trò chết chùm lẫn nhau,…
Về
câu hỏi 4: (Tại sao Đức Phật không tự ý quyết định việc
kéo dài thọ mạng để tiếp tục hóa độ chúng sanh thêm
một kiếp sống nữa hoặc là nói ra cho rõ ràng để Ngài
A Nan hiểu và Ngài A Nan sẽ theo đó mà thính Phật trụ thế,
Đức Phật chỉ gợi ý không rõ ràng lắm bởi vậy Ngài A
nan mới không kịp hiểu để thỉnh cầu rồi trong kỳ kiết
tập lần I lại bị Ngài Ca Diếp hạch tội là không thỉnh
Phật trụ thế? Đức Phật đã không muốn kéo dài thọ mạng
hóa độ chúng sanh thì cứ nhập Niết bàn sao còn “ để
tai họa và tiếng đời” lại cho Ngài A nan mà làm gì?)
Lẽ
dĩ nhiên là đức Phật có thể kéo dài mạng sống cho báo
thân hiện tại của Ngài. Vấn đề ở chỗ là có nên làm
hay không? Trong phẩm Như Lai Thọ Lượng trong kinh Pháp Hoa,
đức Phật đã chỉ rõ về việc nhập Niết bàn của Phật
là như thế nào. Ví như một vị lương y đại tài bào chế
được nhiều phương thuốc rất công hiệu để chữa trị
bệnh cho khắp thiên hạ. Các con của vị thần y này ỷ lại
cha mình là Thầy thuốc giỏi nên dù họ có bệnh mà vẫn
nhởn nhơ không quan tâm đến bệnh tình lại còn lơ là, quên
tới quên lui, hoặc làm biếng uống các toa thuốc do cha bắt
mạch ra toa nữa.
“Người
cha nghĩ rằng: "Người con này đáng thương, bị trúng độc,
tâm đều điên-đảo, dầu thấy ta về, mừng cầu xin cứu
lành, nhưng thuốc tốt như thế, mà chẳng chịu uống, nay
ta bày chước phương-tiện, khiến chúng uống thuốc này".
Nghĩ
thế rồi liền bảo rằng: "Các con phải biết, ta nay già suy,
giờ chết đã đến, thuốc "lương-dược" tốt này nay để
ở đây, các con nên lấy uống, chớ lo không lành". Bảo thế,
rồi lạì đến nước khác, sai sứ về nói: "Cha các ngươi
đã chết".
Bãy
giờ, các con nghe cha chết, lòng rất sầu khổ mà nghĩ rằng:
"Nếu cha ta còn, thương xót chúng ta,có thể được cứu hộ,
hôm nay bỏ ta xa chết ở nước khác". Tự nghĩ mình nay côi
cút, không có chổ cậy nhờ, lòng thường bi-cảm, tâm bèn
tỉnh ngộ biết thuốc này, sắc hương vị ngon, liền lấy
uống đó, bệnh độc đều lành. Người cha nghe các con đều
đã lành mạnh, liền trở về cho các con đều thấy.
Các
Thiện-nam-tử! Ý ông nghĩ sao? Vả có người nào có thể nói
ông lương y đó mắc tội hư-dối chăng?
- Thưa
Thế-Tôn, không thể được!
Phật
nói: "Ta cũng như thế, từ khi thành Phật đến nay đã vô-lượng
vô-biên trăm nghìn muôn ức na-do-tha a-tăng-kỳ kiếp, vì chúng
sinh dùng sức phương-tiện nói: "sẽ diệt độ", cũng không
ai có thể đúng như pháp mà nói ta có lỗi hư dối.”[13]
Vậy
thì khi đức Phật xét thấy nhân duyên diệt độ và nhập
niết bàn đã đến, những gì cần nói, dạy, truyền trao,
Ngài đã nói, dạy và truyền trao xong và rõ ràng trong Kinh
Di Giáo, lúc Phật hỏi có ai còn điều gì nghi ngờ nới Pháp
và Luật của Ngài nữa không, cả hội chúng đều im lặng
vì mọi điều Ngài dạy như vậy là đủ và sáng tỏ quá
rồi. Thế nên dù Ngài có ở thêm thế gian này cũng không
làm gì hơn được nữa, ngược lại còn khiến một số đệ
tử ỷ lại mà giãi đãi không lo tu nữa là khác. Ví dụ như
trường hợp ngài A Nan, sống làm thị giả bên Phật bao năm
tháng và chính trong kinh Lăng Nghiêm cũng đã cho thấy Ngài
chưa hành trì sâu sắc giáo Pháp Phật dạy nên khi Phật vừa
nhập diệt ở Kỳ Kiết Tập Kinh Điển lần I, Ngài Ca Diếp
ép buộc Ngài A Nan phải đắc quả A La Hán mới vào Động
Thất Diệp mà trùng tuyên giáo pháp. Ngài than thở là vắng
Như Lai Thế Tôn Ngài bị bơ vơ và hất hủi, nhưng chính nhờ
thế mà Ngài đắc Đạo quả A La Hán ngay vào đêm ở ngoài
Động Thất Diệp ấy.
Nhưng
nếu Phật ra đi đột ngột thì chúng sanh sẽ thắc mắc 2
lẽ : 1/ Ngài không đủ năng lực kéo dài thọ mạng sao? 2/
Nếu có năng lực đó thì tại sao Ngài không vì từ bi mà
trụ thế thêm để làm chỗ nương tựa cho Phật tử và chúng
sanh?
Đức
Phật giải quyết 2 thắc mắc đó bằng cách đợi đến lúc
nào ngài A Nan bị mỏi mệt, mê mờ, lơ đãng thế nào đó
(kinh sách chép là: lúc ấy tâm của Đại Đức Ananda bị Ma
Vương ám ảnh) đức Phật nói rằng:
"Người
nào đã trau dồi, phát triển thật lão luyện, chắc chắn
nắm vững, chứng nghiệm, thực hành và thuần thục điêu
luyện bốn Phương Tiện để Thành Tựu (Tứ Thần Túc, Iddhipada)
có thể, nếu người ấy muốn, sống thêm được một kiếp
sống (kappa) hay có thể hơn chút ít (kappavasesam). Này Ananda,
Như Lai đã trau dồi, phát triển, đã chắc chắn nắm vững
và chứng nghiệm, thực hành và thuần thục điêu luyện Tứ
Thần Túc. Nếu muốn, Như Lai có thể sống thêm một kiếp
sống hay hơn chút ít."[14]
Vì
Ngài A Nan đang bị “Ma Vương ám ảnh” nên có nghe loáng
thoáng mà không để ý và không thỉnh cầu Phật kéo dài thọ
mạng. Vậy là sau đó Phật thông báo là chuẩn bị nhập Niết
bàn.
Như
vậy thì ngài A nan sẽ bị hạch hỏi và kết tội về sau
này, nhưng Như Lai vẫn biết là ngài A nan chịu được, ngài
A nan sẽ tu hành chứng quả và hoằng hóa độ sanh lâu dài
chứ không ảnh hưởng gì nhiều. Thị hiện như thế để
những người sơ cơ và những người không biết đạo sẽ
hiểu rằng: Như Lai vẫn có thần lực có thể duy trì thọ
mạng, vẫn có lòng từ bi muốn tiếp tục ở lại độ sanh,
nhưng Ngài đã gợi ý mà ngài A nan không đại diện cho những
người Phật tử và chúng sanh để thỉnh cầu, như vậy là
hàng đệ tử không cần sự hiện diện của Như Lai thế Tôn
nữa, cơ duyên giáo hóa đã mãn nên Thế Tôn quyết định
nhập diệt thôi.
Bởi
vì chúng sanh không thể hiểu hết được thâm ý của Như
Lai nên Như Lai thị hiện cho chúng sanh hiểu theo cách
như thế cũng tốt cho việc tu tiến mà thôi.