THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả
 
Mật TôngTây Tạng
 

 
 
.
NĂNG LỰC CHỮA LÀNH CỦA TÂM
Nguyên tác: The Healing Power of Mind by Tulku Thondup 
Nhà xuất bản Shambhala, 1996
Việt dịch: Tuệ Pháp - Nhà xuất bản Thiện Tri Thức, 2000
PHẦN MỘT : CON ĐƯỜNG CHỮA LÀNH
(Tiếp Theo)
4
PHÁT TRIỂN NIỀM TIN

Niềm tin là đồng minh tốt nhất của chúng ta, giúp ta biết cách tu tâm và khai mở những sức mạnh của chúng ta. Chúng ta cần tin vào chính mình và con đường mình theo đuổi. Nếu chúng ta không có lòng tin, thì thậm chí tâm nửa vời của ta cũng chẳng làm nổi một cái bánh nướng dở dang.

Một số chúng ta thiếu tự tin. Chúng ta cảm thấy không hy vọng và không đầy đủ – quá yếu đuối để phấn đấu cho mục đích cao hơn. Thiếu tự tin có thể là kết quả của đặc tính tinh thần hay sự giáo dục. Nếu là do đặc tính tinh thần, điều này khó thay đổi, nhưng nếu do sự dạy dỗ, làm chậm việc phát triển của chúng ta, thì nó không khó để thay đổi và tăng trưởng.

Chướng ngại chung cho những lợi lạc của những chỉ dạy là thái độ tội lỗi. Nền văn minh hiện đại đã đem lại cho chúng ta những thuận lợi nổi bật, nhưng hình như nhiều người, đặc biệt trong xã hội cạnh tranh, có cảm giác phạm tội và không giá trị. Một số trong chúng ta có thể nói : “Tôi không xứng đáng được hạnh phúc, cái ấy phải để cho người khác, những người may mắn hơn” hoặc “Công việc này dành cho người khác, không phải cho tôi” hay “Thật không tốt khi tôi trải nghiệm an bình trong khi nhiều người khác phải đấu tranh.”

Nếu chúng ta thành thật lo nghĩ về sự ích kỷ, chúng ta đáng được khen vì thái độ tuyệt vời này. Nếu chúng ta tôn trọng và chăm sóc người khác hơn bản thân mình, đó là cốt lõi của việc thực hành đạo Phật, và một thái độ như vậy tự nhiên giúp chúng ta nhiều sức mạnh và rộng mở. Nhưng phần lớn những cảm giác tội lỗi ấy chỉ che đậy cho sự không an toàn của mình, một dạng khác của sự chấp ngã, một sự bào chữa cho việc không cố gắng cải thiện cuộc sống của chúng ta. Cảm thấy không giá trị và chống lại hạnh phúc và an bình thì phi lý như nói, “Vì tôi đói, tôi không muốn ăn.”

Một lý do khiến chúng ta thiếu tự tin là không khí cạnh tranh chung quanh mình. Bắt đầu ở mẫu giáo, nhiều đứa bé xây dựng thói quen cảm thấy chúng không đủ tốt, vì trong lớp có bạn nào tốt hơn thì được cho phần thưởng. Trở nên tốt nhất là hàng hóa giá trị cao trong thế giới hiện đại.

Trẻ em bị người lớn la mắng với sự buộc tội và khiển trách, chúng cảm thấy bị áp lực lớn về tâm lý và tội lỗi. Một số cha mẹ khiển trách con cái vì không làm được việc, và thậm chí khi họ khuyến khích, vẫn chỉ là một dạng áp lực nếu không cho chúng một tình thương vô điều kiện.

Bất cứ những nguyên nhân nào gây ra cảm giác vô giá trị, phương thuốc mạnh mẽ là ở trong sự thấu biết rằng chúng ta toàn thiện trong thật tánh của mình. Nếu hiểu điều này, sự tự tin và sung mãn sẽ phát khởi tự nhiên trong chúng ta. Cốt yếu cần nhận ra sự quan trọng của việc hiểu biết này, tối thiểu trên mức độ khái niệm. Sau đó, nếu chúng ta có bất cứ phẩm tính tốt nào trong cuộc sống, cho dù nhỏ, chúng ta phải tự tu tập để nhận ra và cảm thấy tốt đẹp về nó. Đây là cách thiết lập thói quen của một tâm tích cực. Khi chúng ta kinh nghiệm và tiếp nhận năng lượng tích cực, dù nó nảy sinh từ một kinh nghiệm đơn giản thôi, nó sẽ mang lại cảm giác thỏa mãn cho phép chúng ta khai triển hạnh phúc và sung mãn lớn lao hơn.

Nhiều thế kỷ trước, nạn đói nghiêm trọng quét qua một thung lũng ở Tây Tạng. Một người cha thấy rằng mình và đứa con không thể sống lâu hơn được vì thực phẩm đã cạn, và ông ta nhét đầy tro vào các túi, buộc lại và treo lên trần rồi bảo với những đứa con còn bé : “Chúng ta có nhiều tsampa trong những túi này, nhưng phải để dành cho những ngày sau” (tsampa là bột mì nướng, một thực phẩm chủ yếu của Tây Tạng). Sau cùng người cha chết vì đói, nhưng những đứa bé vẫn sống sót cho đến khi có người đến cứu. Mặc dù chúng yếu hơn người cha nhưng vẫn còn sống được vì chúng tin rằng còn thức ăn, còn cha chúng chết vì mất hy vọng.

Dĩ nhiên, luân lý của câu chuyện là sự tự tin giúp sức mạnh cho thân và tâm. Tuy nhiên, chân lý như nó liên hệ với cuộc sống chúng ta thì khơi gợi nhiều hơn sự cá biệt của câu chuyện. Không giống như những túi tsampa, bản tính thanh tịnh của chúng ta không chỉ là sự tưởng tượng nhằm vào việc xây dựng tự tín mà nó đặt nền trên chân lý rốt ráo nhất.

Không dễ dàng phát triển niềm tin vào chính chúng ta và những bài tập chữa bệnh, vì chúng ta bị chất đầy những nỗi nghi ngờ, sợ hãi vô tận. Nhưng nếu phá vỡ được những thói quen hàng ngày và đi vào tu tập, thậm chí trong thời gian ngắn, chúng ta có thể kinh nghiệm một số lợi ích thật sự.

Không an trú trong cảm giác tội lỗi, chúng ta phải tự hiến mình để cải thiện những khéo léo của chúng ta, phát triển tâm bi và rộng mở. Sau khi thực hành được một lúc, chúng ta sẽ tìm thấy bình thản và thái độ tích cực sẽ tăng trưởng.

NHÌN VÀO SỰ TIẾN TRIỂN CỦA MÌNH

Nhận ra tiến triển của mình, chúng ta cảm thấy sự tự tin tự nhiên trong khả năng chúng ta. Vậy, tự hiến mình cho một cơ hội mà không sợ hãi và nghi ngờ là cách tốt nhất có được tự tin.

Sau khi thực hành được một thời gian, nếu cảm thấy chán hay mỏi mệt, vì cảm thấy chúng ta sao còn quá xa với mục đích của cuộc hành trình tâm linh, chúng ta phải nhìn lại cuộc sống trước ngày bắt đầu tu tập và tán thưởng bất cứ tiến triển nào đạt được. Thậm chí khi có cảm giác thụt lùi so với sự tiến bộ của mình, điều này vẫn cần được tán thưởng. Bước tụt hậu hay đi đường vòng, thử nghiệm hay lầm lỗi, là tất cả thu góp phần vào quá trình phát triển. Đau khổ tăng trưởng có thể có vẻ như tiêu cực, nhưng chúng ta có thể thấy chúng tích cực bằng cách tự nhủ : “Tôi đã lùi một bước, và đây là một phần của hành trình về phía trước.”

Suy nghĩ tích cực là thực hành tâm linh lành mạnh, và nó cũng tạo ra lương tri. Khi chúng ta xây một căn nhà, nếu ta chỉ nghĩ về công việc to lớn chưa được hoàn tất thì chúng ta thấy nản lòng, mệt mỏi, thất vọng. Nhưng nếu ta nghĩ nhiều hơn về những gì ta đã hoàn tất hơn là những gì còn phải làm thì chúng ta cảm thấy hạnh phúc và điều đó cũng cho ta năng lực, cảm hứng để làm nhiều việc hơn.

Trên một hành trình dài, nếu chúng ta cứ nhìn hướng đến mục đích xa xôi của mình, chúng ta có thể cảm thấy chán nản vì con đường có vẻ vô tận. Nhưng nếu ta ngồi xuống, nhìn vào con đường chúng ta đã đi được, cái nhìn có thể đầy thỏa mãn và khuyến khích.

PHÓNG LỚN NGAY CẢ TIẾN BỘ ĐƠN GIẢN

Trong bất kỳ việc tu tập nào, sự khuyến khích rộng lượng có thể phóng lớn kết quả và đưa chúng ta đi xa hơn. Khả năng của ta được phóng lớn vượt khỏi cố gắng lúc đầu, giống như tiền vốn phát triển và tăng lên nhiều lần trong một cuộc đầu tư tốt, ngược lại với đồng tiền không được đầu tư gì cả.

Cho dù tiến bộ của ta bé nhỏ, nếu chúng ta tán thưởng nó như là cái gì có ý nghĩa và có giá trị, nó trở nên một thành tựu đầy năng lực. Vậy, hãy nhận ra những phẩm cách tốt của mình và những bước nhỏ mình đã đi. Hãy tự nhủ, “Tuyệt thay ! Tôi đã tạo ra tiến bộ này !” Sau đó, một cách tự phát, sự tiến triển sẽ được phóng lớn và những chướng ngại sẽ bị giảm thiểu.

Việc phóng lớn tiến bộ và vui thích làm mạnh mẽ sự an bình và thỏa mãn và trang bị cho chúng ta làm bình lặng với những khó khăn. Giả sử, chẳng hạn có một tiếng ồn từ cửa sổ kế bên, và chúng ta nhiều giờ không ngủ được, nhưng sau một lúc, âm thanh ồn giảm dần. Nếu chúng ta nhận ra và vui thích với sự giảm âm thanh thay vì lo nghĩ về tiếng ồn vẫn tiếp tục, nó sẽ làm cho chúng ta thoải mái và chúng ta ngủ dễ dàng, vì đó là năng lực của sự hân thưởng.

Sự hân thưởng và bằng lòng, khả năng sung sướng trong mọi việc dù lớn hay nhỏ, là sự tu tập chính yếu của đạo Phật. Kinh Pháp Cú (Dharmapada) dạy :

Sức khỏe tốt là thành tựu tuyệt hảo nhất.
Bằng lòng là giàu có tuyệt hảo nhất.
Bạn hòa hợp là bạn tuyệt hảo nhất.
Niết Bàn là hạnh phúc tuyệt vời nhất.

TRI GIÁC THANH TỊNH

Thói quen nhìn sự vật là xấu hay tốt, được tạo ra trong tâm ta. Chuỗi cảm xúc trong tâm ta – thích và không thích, thèm muốn và sân hận – tạo ra thêm đau khổ hay thèm khát. Cách chuyển hóa những phản ứng thói quen của ta là đem một thái độ tích cực vào mỗi tình huống và cảm nhận sâu xa năng lượng tích cực.

Tri giác trong sạch có nghĩa là thấy tất cả mọi sự đều thanh tịnh, toàn thiện, hỷ lạc và giác ngộ. Trong đời sống hàng ngày của chúng ta, có vẻ chúng ta bị phiền não đè nặng. Tuy nhiên, quan điểm đạo Phật cho rằng những phiền não, trong bản tánh tối hậu của chúng, cũng giống như những ngọn sóng trên bề mặt đại dương. Một cơn bão có thể thổi những ngọn sóng trên bề mặt, nhưng đại dương bên dưới vẫn tĩnh lặng.

Chúng ta có thể tìm thấy an bình trong một kinh nghiệm khó khăn và thấy việc gì đó tích cực ngay cả nếu nó dữ dội trong sự biểu lộ bề mặt của nó. Nếu chúng ta thấy điều gì đó là an bình, cho dù nó có vẻ như rất tiêu cực, chúng ta phải nhận biết cảm giác an bình trong tâm một cách có ý thức và an trú trong kinh nghiệm đó.

Tiêu cực hay tích cực, tri giác này tùy thuộc vào tâm ta. Nếu chúng ta thấy vật gì đó tích cực, thậm chí nếu chỉ là một tách trà nó cũng có thể trở thành đối tượng của niềm vui nhờ tri giác của chúng ta. Nếu chúng ta thấy cũng cùng tách trà đó một cách tiêu cực, thì nó là khó chịu.

Thay vì luôn áp đặt quan điểm theo thói quen của ta lên sự vật, nó có thể giúp ta tự nhắc nhở làm thế nào để mở ra một thế giới thay vì giải thích nó. Chẳng hạn, nhìn một cái cây, một bác sĩ có thể thấy là vị thuốc hay chất độc. Một nhà buôn tính toán giá trị tiền bạc của nó, và người thợ mộc đo lường khả năng xây dựng của nó. Một nhà khoa học phân tích xung lực hóa học và điện năng của nó. Người say rượu thấy cái cây như một bánh xe quay trên đầu anh ta. Nhà thơ có thể đắm mình trong vẻ đẹp của nó. Một người Công giáo có thể thốt ra lời cầu nguyện ca ngợi sự sáng tạo của Thượng Đế. Một Phật tử thấy cây như là một biểu hiện của duyên sinh hay một biểu hiện của an bình tối hậu.

Mở rộng cái nhìn của chúng ta có thể nới lỏng sự chấp ngã của chúng ta và cho phép chúng ta nhận những tạo tác của riêng tâm thức chúng ta và những thói quen che tối bản tánh an bình của chúng ta như thế nào. Ngài Tsultrim Lodroš viết :

Do đạt đến giải thoát khỏi những thói quen của ba 
che chướng –
Của thân, tâm, và những đối tượng –
Chúng xuất hiện như những thân Phật, trí huệ, 
và những cõi Phật.

Ở đây chúng ta phải nhớ rằng mục đích tu tập của đạo Phật không phải là rời bỏ thế gian này để đến một thế giới tốt hơn hay ở cõi trời. Chúng ta có thể tìm thấy an bình trong chính thế giới này, nhưng bởi vì bản tính an bình bên trong chúng ta thường bị che lấp, chúng ta choáng váng giống như người bị thương phải đối phó với những trận chiến của cuộc đời. Tri giác thanh tịnh có thể chữa lành chúng ta. Nếu chúng ta tu tập tâm mình chấp nhận những khó khăn là tích cực, thì ngay cả những vấn đề rất khó khăn cũng có thể trở thành nguồn hạnh phúc thay vì đau khổ.

Đau khổ có thể là vị Thầy lớn. Sự thất vọng, chán nản có thể đánh thức chúng ta dậy. Nếu đời sống quá dễ dàng, chúng ta có thể không bao giờ nhận ra an bình đích thực. Nhưng nếu chẳng hạn chúng ta bị mất tiền, nó có thể gây cho ta tìm thấy sự thật (chân lý). Có thể chúng ta biết cách không quan tâm quá nhiều về tiền bạc, và sẽ biết an bình, sức mạnh là gì. Một số người rất nghèo nhưng rất vui vẻ. Điều này nói lên đau khổ là tương đối biết bao và tâm có thể tìm thấy hạnh phúc ở bất kỳ hoàn cảnh bên ngoài như thế nào.

Chúng ta phải nhớ rằng dưới những cơn bão lo nghĩ trên bề mặt là sự an bình. Chúng ta có thể chữa lành đau khổ của mình bằng cách ứng xử khéo léo với những khó khăn của đời sống. Mọi việc đều vô thường và thay đổi. Thay vì xem thay đổi là tiêu cực, hãy thấy nó là tích cực và rút ra lợi lạc từ nó. Việc nó là vô thường, vì tính chất thay đổi của nó, cho phép chúng ta cải thiện cuộc sống mình, nếu chúng ta chọn lựa như thế.

Ngay cả những vấn đề khó khăn nhất, như bệnh tật nghiêm trọng, thân xác lão hóa, có thể được nhìn một cách tích cực. Chúng ta có khuynh hướng xem “bản ngã” là thường, nhưng thật ra bản ngã, với mọi tham dục và bám níu, là không bền vững. Khi đau đớn xảy đến, tất cả ảo tưởng của ta sụp đổ và bị cuốn đi như lâu đài bằng cát bị cơn sóng lớn đầu tiên cuốn xuống biển. Gia đình, nhà cửa, đồng nghiệp, mọi cái yêu thích của đời sống sẽ biến mất.

Nhưng chúng ta có thể thấy ngay cả những khoảnh khắc cùng cực, khi cơ thể chịu đựng bệnh tật tàn phá hoặc cái chết tiến gần, là những cơ hội vui vẻ và tích cực. Chính lúc bấy giờ chúng ta có thể thấy chân lý về sự buông bỏ bản ngã.

Jigme Gyalwe Nyugu thuật lại một cuộc hành hương lúc còn thanh niên với người Thầy và là sư huynh của mình, Rinpoche Dodrupchen Thứ Nhất, đi qua một vùng đất không người vùng Yadrog trung Tây Tạng. Vị Thầy của ngài trở bệnh nặng nhưng vẫn rất vui vẻ, Ngài Jigme Gyalwe Nyugu viết :
Khi chúng tôi, thầy và trò đi xuống phía thung lũng Yadrog, Đức Lama Dodrupchen trở bệnh trầm trọng vì không khí ẩm thấp và bệnh thấp khớp. Ngài bị đau đớn, nhức nhối liên tục và trở nên yếu đi hầu như gần chết. Chúng tôi không còn gì nhiều để ăn ngoại trừ một mẩu thịt mỡ đã nát và một bình dầu. Chúng tôi không có đến một muỗng tsampa. Chúng tôi uống trà đen.

Sau khi Ngài ngồi xuống nghỉ, để giúp Ngài đứng dậy tôi dùng hai tay đem hết sức mạnh đỡ Ngài. Mặc dầu thân xác đang trong một tình trạng nguy kịch, thay vì buồn chán, Ngài lại nói : “À, hôm nay tôi có dịp mang theo một ít khổ hạnh trong thực hành pháp bằng cách áp chế thân xác hoang dã phải chết và tâm tham lam, gây thương tổn của tôi. Tôi đang đạt đến cái tinh túy của đời sống con người quý giá. Không còn nghi ngờ rằng những kinh nghiệm khó khăn này tôi đang trải qua là kết quả may mắn được tạo ra bởi sự tích lũy công đức và là sự tịnh hóa những che chướng ở nhiều kiếp trong quá khứ.” Đó là đại hỷ lạc trong tâm Ngài.

Tôi cũng vui vẻ theo, nghĩ rằng : “Tuyệt vời thay ngài Lama đang đưa vào thực hành lời Phật dạy :

‘Hãy giữ gìn mãi mãi Pháp,
Cho dù phải trả giá bằng việc
Vượt qua tường lửa hay đi trên cánh đồng đầy lưỡi dao’.”

Đôi khi vị Lama không nhìn thấy, tôi khóc và nghĩ : “Vị thánh nhân này đang hấp hối ở một nơi mà nhân loại không được thấy hay nghe về Ngài.”

Chúng ta có thể học buông xả bám chấp qua thiền định và qua tu tập. Sau đó một khi những khó khăn thân xác quấy rối, chúng ta sẽ cảm thấy ít nghiêm trọng, hay thậm chí biến mất hoàn toàn. Tất cả chúng ta biết rằng có một số người lại dễ dàng chịu đau đớn hành hạ hơn những người khác. Một số người không cần thuốc giảm đau (Novocaine) khi nha sĩ nhổ răng họ, trong lúc những người khác bắt đầu cảm thấy đau trước khi đến nha sĩ.

Chúng ta không nói đến thói bạo dâm ở đây, tìm kiếm đau đớn chỉ vì thích đau đớn. Trái lại, mục tiêu của chúng ta là phát triển một thái độ có thể chuyển đổi tác động và tri giác về đau khổ và đau đớn. Nếu chúng ta bị đau răng khiến tim hồi hộp và chưa thể gặp nha sĩ ngay được, chúng ta cố gắng buông xả tri giác về sự hồi hộp như là việc tiêu cực. Bằng cách không chú tâm nhiều quá hay lo nghĩ về nó, chúng ta tiếp nhận cơn đau ít nghiêm trọng hơn.

Tri giác thanh tịnh về đau khổ và đau đớn có nghĩa rằng chúng ta thực sự chào đón đau đớn như một cơ hội tích cực và cảm hứng để thực hành buông xả bản ngã. Ở một mức độ thiện xảo rất cao, có thể không những hiểu được đau khổ như một việc tích cực mà còn trực tiếp cảm nhận tất cả mọi sự việc đều là hỷ lạc – bao gồm phạm vi những kinh nghiệm từ những vui thích hàng ngày cho đến cái mà đa số người ta xếp loại là tiêu cực như cơn đau của thể xác.

Một người đã thành tựu sự hoàn thiện của mỗi một kinh nghiệm như là phúc lạc, ngay cả nếu họ có vẻ yếu đuối về thể xác, bị thương tổn, hay hư nát, vẫn có tâm thức an bình. Ngài Tsele Natshog Rangtrol nói về vị Đại Lama Zhang Rinpoche, một Đại Đạo Sư của phái Kagyu :

Vì Ngài Zhang Rinpoche đã hoàn thiện sự chứng ngộ và kinh nghiệm về “con đường của phương tiện thiện xảo”, tất cả mọi kinh nghiệm, như chân đau do gai đâm và đầu bị thương vì đụng phải đá, đều phát sinh trong Ngài sự hợp nhất tự nhiên sanh khởi của lạc và tánh không (sự rỗng rang).

Với phần lớn chúng ta, việc thực hành tri giác thanh tịnh phải có thời gian và nhẫn nại. Nhưng ngay cả nếu chúng ta không thành tựu được sự thực hành ở mức độ cao nhất, một thái độ tích cực sẽ cải thiện cuộc sống chúng ta và cho chúng ta đối phó nhẹ nhàng và hiệu quả hơn với mọi loại khó khăn.

Tuy nhiên, cần phải mở rộng tâm chúng ta với những lợi ích của việc thực hành này trước khi chúng ta thật sự làm chín muồi chúng. Nhiều người trong chúng ta không thừa nhận tính thực tế của nó để nhìn mọi việc trong cuộc sống mình là tích cực. Chúng ta nói : “Nó không đáng tin, đời sống không phải như vậy” hay “Tôi không đủ mạnh hay không đủ tốt để cảm nhận theo cách này” hoặc “Một số hoàn cảnh thật quá khủng khiếp.”

Có vài điểm để ghi nhớ trong tâm trí. Thứ nhất, nhớ rằng vấn đề lớn là sự khăng khăng áp đặt những ý niệm của mình trên những kinh nghiệm mà trong bản tánh thật sự là rỗng rang. Ngày và đêm không xấu cũng không tốt, nhưng nếu chúng ta quyết định chỉ thích ban ngày và ghét ban đêm, bấy giờ ban đêm trở thành đáng ghét.

Thứ hai, chúng ta không nên tự đồng hóa mình với những phiền não và những kinh nghiệm xấu của chúng ta trong một cách thức bám chấp. Chúng ta vốn thực sự an bình và toàn thiện từ bên trong, cho dù có những đám mây che lấp thật tánh mình. Chúng ta phải cảm thấy tốt về mình và người khác, và hãy hạnh phúc với chính mình như mình đang là.

Cuối cùng, chúng ta phải biết rằng, thực sự có thể cải thiện cuộc sống và quan điểm của chúng ta, để tìm ra hạnh phúc và an bình, đi từ tiêu cực đến tích cực. Chúng ta có nhiều cách để làm điều này – mặt trí huệ, mặt tình cảm và mặt tâm linh. Mỗi một việc chúng ta kinh nghiệm đều có thể giúp chúng ta trên con đường chữa lành.

Trong Phật giáo, Bồ tát là một người giác ngộ, sống và giúp đỡ những người khác trong thế giới này với tất cả nỗi vui buồn của nó. Ngài Đại Bồ tát Văn Thù (Manjushri) có lần chỉ dạy một đệ tử khác, trước sự hiện diện của đức Phật, rằng bất kỳ hoàn cảnh nào cũng có thể khơi nguồn năng lực chữa lành trong tâm mình. Đây là lời của Ngài Văn Thù nói trong Kinh Avatamsaka (Kinh Hoa Nghiêm) :

Khi một Bồ tát thấy chúng sanh có nhiều tình thương, Ngài nên nghĩ : “Mong cho tất cả chúng sanh có nhiều tình thương và sùng mộ pháp.” Khi một Bồ tát thấy chúng sanh có nhiều sự không thích, Ngài phải nghĩ : “Mong sao tất cả chúng sanh có cảm giác không thích đối với mọi hiện tượng quy định bởi nhân duyên để họ sẽ nỗ lực cho giải thoát.” Khi một Bồ tát thấy chúng sanh hạnh phúc, Ngài phải nghĩ : “Cầu cho tất cả chúng sanh được hạnh phúc tột cùng bằng việc đạt được sự giàu có của đại hoan hỷ của Phật tánh.” Khi một Bồ tát thấy chúng sanh đau khổ, Ngài phải nghĩ : “Mong rằng sự đau khổ của tất cả chúng sanh được bình lặng bằng sự gieo trồng gốc trí huệ trong họ.”

KIÊN ĐỊNH VÀ TINH TẤN

Trong lúc đối mặt với khó khăn, chúng ta vội vã chạy tìm những giải pháp. Nhưng lúc những khó khăn đó dịu đi, chúng ta lơ là kỷ luật cần thiết để làm mạnh mẽ và bảo tồn những năng lượng chữa lành của ta. Khi những khó khăn lại nổi lên, chúng ta trách móc sự thực hành : “Tôi đã tu tập nhiều năm, nhưng vẫn còn những khó khăn như vậy.” Lỗi lầm không nằm ở sự thực hành, mà là ở con người đã rời xa những phương pháp chữa bệnh và những ích lợi của chúng.

Một khi bạn huấn luyện một chú chó con không được nhảy lên bàn, bạn phải kiên định không cho nó lên bàn. Nếu không nó sẽ xao lãng và thói quen kỷ luật bị quên đi. Vậy chúng ta phải duy trì mọi thói quen tốt nào mà mình đạt được trong bất cứ sự tu tập nào, giống như hàng tháng chúng ta trả bảo hiểm hạng nhất để bảo đảm an toàn cho bệnh tật và tuổi già.

Việc chữa bệnh sẽ đến chỉ do chính chúng ta nỗ lực và kiên định hướng năng lực đời mình vào thực hành. Dù nếu chúng ta thực hành ở nơi cô tịch nhiều năm, nếu chúng ta phá vỡ sự liên tục tu tập trong vài tháng, chúng ta có thể thụt lùi và thấy mình như lúc mới bắt đầu.

Một khi chúng ta thực sự đạt được một sự đột phá, nếu chúng ta tiếp tục kiên trì thực hành thậm chí vài phút trong một ngày – sự kiên cố của tâm sẽ không mất mà sẽ tiếp tục được mạnh hơn.

Ngay cả nếu chúng ta không là học trò sáng ý hay là thiền giả thông tuệ, nếu kiên trì thực hành, chúng ta có thể tiến bộ nhanh hơn những người tự xưng là học giả và những người thuyết pháp. Trích dẫn lời Ngài Jigme Lingpa, người sáng lập truyền thống Longchen Nyingthig của Phật giáo Tây Tạng, Ngài Paltrušl Rinpoche viết :

Với một người không chuyên cần,
Thì thông minh, năng lực, tài sản và cả sức mạnh không giúp gì nó được.
Nó giống như thuyền trưởng một con thuyền không có buồm.
Một tục ngữ của Tây Tạng nói :
Những học giả kết thúc với hai bàn tay trắng trong nách mình.
Trong lúc người tận tụy đập tan cả những thách thức lớn như núi Tu Di thành bụi.

Nếu chúng ta chuyên cần, thậm chí là một người có tâm đơn giản, chúng ta có thể đạt được mục đích của mình. Cũng giống như một câu chuyện về Ngài Lamchungpa trở thành một trong những nhà hiền triết danh tiếng của đạo Phật được biết như trong mười sáu vị A La Hán. Đơn giản chỉ rửa sạch những đôi giày của những vị sư khác, Ngài đã có thể hiểu được lời dạy đức Phật. Đức Dalai Lama Thứ Nhất kể lại câu chuyện này :

Tâm trí Ngài Lamchungpa rất chậm lụt, nhiều đệ tử của đức Phật cố gắng dạy Ngài nhưng rồi phải bỏ cuộc. Sau đó đức Phật hướng dẫn Ngài rửa những đôi giày của các tăng chúng và lập lại hai câu, “Bụi bặm đã được rửa sạch, nhơ bẩn đã được rửa sạch”, Ngài cố nhớ hai câu ấy với sự khó khăn vô cùng. Sau khi làm công việc ấy một thời gian lâu dài, rồi một ngày nọ, một tư tưởng xuất hiện trong tâm trí Ngài : “Ồ đức Phật nói ‘lau sạch bụi’ và ‘rửa sạch dơ bẩn’ là cái gì ? Có phải bụi và dơ bẩn bên trong (tâm) hay của đồ vật bên ngoài (giày) ?” Ngay lúc đó ba câu thơ kệ đến trong tâm Ngài :

Đây không phải là bụi của đất, mà là của tham dục.
Bụi là tên của tham dục, không phải tên của bụi đất.
Ai học được cách lau sạch bụi
Đạt được tỉnh giác trong giáo lý của Như Lai.

Đây không phải là bụi của đất, mà là của sân hận.
Bụi là tên của sân hận, không phải tên của bụi đất.
Ai học được cách lau sạch bụi
Đạt được tỉnh giác trong giáo lý của Như Lai.

Đây không phải là bụi của đất, mà là của vô minh (si)
Bụi là tên của vô minh, và không phải là tên của bụi đất.
Ai học được cách lau sạch bụi
Đạt đến tỉnh giác trong giáo lý của Như Lai.

Bấy giờ Ngài chuyên cần thiền định về ý nghĩa của những vần kệ trên và chẳng bao lâu đạt được quả vị A La Hán, một trạng thái loại trừ toàn triệt những đau khổ tình cảm và tâm trí.

SỰ QUÂN BÌNH

Sự cân bằng cần thiết cho cả thiền định và đời sống hàng ngày. Quá ép buộc và thúc bách chỉ tạo ra căng thẳng, cứng rắn, hoang tưởng và đau khổ. Quá buông lung hay lười biếng thành ra thiếu tập trung, thiếu sức mạnh, ảo giác, mơ tưởng hão huyền. Để biết cách thiền định như thế nào, Ngài Patrušl Rinpoche khuyên chúng ta hãy lưu ý đến câu chuyện trong kinh như sau :

A Nan, một đệ tử chính của đức Phật, dạy Shravana làm sao để thiền định. Tuy nhiên, Shravana không thể thiền định được tốt vì đôi khi tâm trí quá kềm chặt và lúc khác lại buông lỏng. Khi trường hợp này được trình lên đức Phật, Ngài hỏi Shravana : “Này ông, khi còn ở nhà, ông đánh đàn rất hay phải không ?”

Shravana trả lời : “Vâng, con đánh hay.”
Đức Phật hỏi : “Âm thanh hay của đàn do lên dây chặt hay lỏng ?”
Shravana trả lời : “Bạch Phật, không phải cả hai thứ đó, âm thanh hay là do sự cân bằng của dây đàn.”
Bấy giờ, đức Phật bảo : “Vậy tâm của ông cũng cần phải như vậy.”
Sau này, bằng sự thiền định trong một cách thức cân bằng, Shravana đã đạt được thành quả của việc tu tập.

Trong thiền định, chúng ta hoàn toàn chú tâm và đem hết năng lực để thiền định, và trong cách này là gắng sức. Nhưng chúng ta không cảm thấy căng thẳng và trong cách này thiền định là sự không cố gắng. Giống như dây đàn, chúng ta vừa chặt vừa lỏng. Nói khác đi, tỉnh táo mà không căng thẳng. Nếu lười biếng, tâm ta không vững chắc và tĩnh lặng. Nếu cưỡng ép, chúng ta đốt hết năng lực và kết thúc trong bám chấp. Trích dẫn Ngài Machig Labdron, một nữ đạo sư nổi tiếng của Tây Tạng, Ngài Patrušl Rinpoche viết :

Điểm thiết yếu của quan điểm thiền định
Nằm trong thắt chặt và buông lỏng.
(Đầu tiên làm chặt được ở mức chặt
Sau đó nới lỏng ra ở mức lỏng
Như vậy tinh hoa của sự thấy ở đó.)

Sự linh hoạt là chìa khóa duy trì sự thăng bằng của tâm chúng ta trong những tình huống hàng ngày. Ngài Atisha, một trong những Đại Sư Phật giáo Ấn Độ ở thế kỷ thứ mười viết :

Bất cứ khi nào tâm bạn quá cao,
Cần thiết đánh tan kiêu mạn đó
Bằng cách nhớ lại những lời dạy của Thầy.
Bất cứ lúc nào tâm bạn quá thấp,
Cần phải có nguồn cảm hứng.
Bất cứ lúc nào đối mặt với đối tượng thèm muốn hay sân hận,
Hãy thấy chúng như những ảo giác hay những xuất hiện huyễn hóa.
Bất cứ lúc nào nghe điều không hấp dẫn,
Hãy xem chúng như những tiếng vang.
Bất cứ khi nào thân thể bị tổn thương,
Hãy nhận lấy như kết quả của nghiệp.

Giống như một chuỗi động tác của người trượt băng, vẫn thăng bằng trong lúc quay tròn và làm những kỳ công đáng ngạc nhiên trên băng, chúng ta cần nhận biết trung tâm của mình. Nếu chúng ta đi vào những cực đoan, chúng ta sẽ mất trung tâm bình an và trở nên mất thăng bằng. Chẳng hạn, trong mối liên hệ giữa chúng ta và người khác, chúng ta cần tình bạn và trợ giúp, và chúng ta cũng cần độc lập.

Người ta rơi vào cực đoan trong liên hệ giữa họ và người khác. Một số cha mẹ làm ngộp con cái mình trong những liên hệ quá phụ thuộc lẫn nhau. Những bậc cha mẹ khác lại sợ tình cảm thân mật và không cho con cái họ sự trợ giúp đầy đủ. Đúng là mỗi một người đều có thể tự đứng trên hai chân mình. Nhưng nhìn chung, sự thân mật nuôi dưỡng và cho phép con cái – và cha mẹ – lớn mạnh về mặt tình cảm. Cha mẹ phải nói chuyện và tham gia vào những trò chơi trong cuộc sống của con mình và bày tỏ tình thương nồng ấm với chúng. Họ cũng phải để cho con mình thành một người độc lập không phụ thuộc. Đây là sự thăng bằng mà chúng ta cần.

Nhiều đứa trẻ trưởng thành trách móc cha mẹ về những vấn đề thuộc tình cảm, hay nổi loạn chống lại bất cứ ai áp dụng quyền lực trên chúng. Chúng ta cần phải hiểu quá khứ của mình, nhưng trách móc không mang lại tự do. Nếu chúng ta vướng mắc vào bực tức và giận dữ, chúng ta có thể tạo ra những chất độc bên trong ta và bám vào chúng để bị tổn hại. Sự chữa lành là câu trả lời. Hãy nhìn quá khứ xem là cái gì, rồi tha thứ và quên đi. Đây là cách để tìm thấy an bình.

Tự tin thái quá, sợ phải dựa vào người khác làm cằn cỗi sự tăng trưởng tình cảm và tâm linh của chúng ta. Một số người bác bỏ ý tưởng dựa vào ai khác ngoại trừ chính họ. Nhưng bằng sự quá kiêu mạn hay quá sợ hãi, họ chối bỏ lợi ích của chính họ về sự đào luyện tâm linh. Họ nghi ngờ vị thầy hay giáo lý có thể giúp họ, và những nghi ngờ này khiến họ cách xa sự chữa lành. Hoàn toàn tự do không phụ thuộc vào những người khác là có thể được, nhưng với phần đông chúng ta sự cố gắng được hoàn toàn độc lập khi chúng ta học làm sao đối xử với những khó khăn là một sai lầm.

Chúng ta cần người khác giúp đỡ để đời sống bớt là một cuộc chiến đấu. Sự trợ giúp của gia đình, bạn bè, và cộng đồng là rất tốt. Đồng thời, trong sự cố gắng phát triển tâm linh và tình cảm, chúng ta phải đi trên chính bước chân và những khả năng của mình, không theo lịch trình của người nào khác. Trong mỗi hoàn cảnh, cuối cùng nếu chúng ta có thể tĩnh lặng và buông lỏng, thì chúng ta sẽ tìm thấy cân bằng.

CẢM NHẬN

Khi chúng ta nghe kể một câu chuyện gây hứng thú, không phải việc nghe nó, mà chính việc cảm nhận chúng mang lại cảm hứng. Cách hiệu quả của việc nối kết với bất cứ nguồn chữa bệnh nào không phải chỉ là nhìn hay tri giác một đối tượng để chữa bệnh, mà cảm nhận nó với toàn bộ con người của chúng ta.

Cách thực hành những bài tập chữa bệnh là tập trung vào lòng bạn – vào những cảm nhận tích cực của bạn. Không chỉ là nghĩ, mà cũng cảm nhận nó. Quả thực là giai đoạn cao nhất của chứng đắc tâm linh thì vượt khỏi những tri giác và cảm nhận hạn chế và nhị nguyên – vượt khỏi chủ thể và đối tượng, vượt khỏi tích cực (tốt) và tiêu cực (xấu), vượt khỏi một cái “tôi” quán tưởng một hình ảnh. Tuy nhiên, với những người như chúng ta đang vật lộn với đau khổ và kích động, thì mục tiêu tức thời, thích hợp là cố gắng chuyển những quan điểm tiêu cực thành tích cực, để chữa lành những cảm nhận đau khổ và cảm nhận sự niềm vui dịu dàng từ những chiều sâu của trái tim chúng ta.

THẤY HAY CẢM NHẬN VỚI TOÀN THỂ THÂN VÀ TÂM CHÚNG TA

Khi chúng ta tu tập, đặc biệt trong lúc đầu, tự nhiên ta sẽ tập trung năng lực bằng cách nhìn hình tượng quán tưởng với mắt của chúng ta, hay nghĩ về một đối tượng với đầu óc hay cảm nhận điều gì đó bằng tấm lòng của chúng ta.

Đối với một số thực hành, phương pháp này là có ích. Tuy nhiên, đôi khi nó gây ra khó khăn nếu thực hành với quá nhiều rán sức hay căng thẳng theo cách khu trú năng lực chỉ ở trong một phần của cơ thể.

Ví dụ, có thể chúng ta tập trung quá nhiều năng lực ở cặp mắt khi quán tưởng, hay tập trung cảm nhận quá mạnh ở vùng tim. Ở Tây Tạng, điều này được diễn giải trong một thuật ngữ “Khí” hay năng lực, chảy đến bất cứ đâu trong thân thể khi tâm tập trung vào. Quá nhiều năng lực trong một vùng có thể gây ra căng thẳng và ngay cả bệnh tật.

Giải pháp đơn giản là thả lỏng và hoàn toàn chú tâm vào sự tập trung bằng cả con người của chúng ta, mà không gắng sức. Theo cách này, chúng ta thấy và cảm nhận bằng cả con người, và năng lực được phóng lớn hơn là khu trú cục bộ. Trong đời sống hàng ngày, nếu bạn nhìn chăm chú vào màn hình vi tính, bạn có thể nhức đầu, trừ khi bạn nhìn bằng một cách buông lỏng hơn. Tương tự, ca sĩ có thể làm căng thẳng dây thanh âm trừ khi họ biết cách đem âm thanh lên từ hơi thở vùng dưới bụng. Nếu thiền định là một sự gắng sức, đó là dấu hiệu cần được nới lỏng và để tâm và thân thiền định theo cách buông lỏng trong một lúc.

NĂNG LỰC CỦA SỰ BÍ MẬT

Thường sự rèn luyện tâm linh trở nên hiệu quả hơn khi được trao cho như một giáo huấn bí mật được giữ như một kho tàng bí mật, và thực hành trong bí mật không thố lộ cho bất cứ ai ngoài vị thầy của mình. Mục tiêu tối hậu của giáo lý là mở rộng cho chúng ta, không giới hạn hay tự tách biệt mình trong ẩn dật. Nhưng đặc biệt, trong lúc bắt đầu, chúng ta cần phải tập gom tụ năng lực và sự tập trung của mình. Sự bí mật giúp ta làm điều đó.

Nếu chúng ta sử dụng cái chúng ta đã học để nói huyên thuyên ở bàn ăn hay như là một nhà buôn hàng hóa, một công cụ cho những mục đích tầm thường, chúng ta có nguy cơ phân tán năng lực và nguồn cảm hứng của mình. Khi ta giữ việc thực hành được bí mật, năng lực được tập trung phát triển hiệu quả hơn, giống như một bộ máy khai thác năng lực để phóng một hỏa tiễn ra khỏi sức hút của trái đất bởi vì nhiên liệu được đốt cháy này được giữ dưới áp suất lớn lao hơn là để thoát ra một cách ngẫu nhiên.

BIẾT ĐƯỢC NHỮNG SỰ MẠNH MẼ 
VÀ YẾU ĐUỐI CỦA CHÚNG TA

Tất cả chúng ta đều khác nhau, với những khí chất cá nhân và phẩm tính tâm thức riêng biệt, nhưng tất cả chúng ta đều có thể tìm thấy an bình. Ngài Shantideva nói :

Khi nhìn thấy máu mình, một số người trở nên can đảm và mạnh mẽ hơn.
Một số người khi thấy máu người khác,
Lại lả đi hay ngất xỉu.
Những phản ứng này là do sức mạnh
Hay sự yếu đuối của tâm.
Vậy bằng cách chẳng để ý đến những khó khăn
Hãy để tâm mình trở nên bất bại với những khổ đau.

Tất cả chúng ta đều toàn thiện trong bản tánh chân thật của mình, và đó là sức mạnh vĩ đại của chúng ta. Sau khi hiểu được điều này, chúng ta phải xây dựng sức mạnh và chữa lành mọi yếu đuối của mình.

Đôi khi, việc nhận ra những yếu đuối của mình rất khó khăn. Một số chúng ta vô cảm và kiêu ngạo. Một số hay nổi giận và tiêu cực về tất cả mọi thứ. Một số say sưa với tiền bạc, quyền lực và nuông chiều mình thường trực trong sự tự mãn và những ý niệm hoang dã. Nếu có bất cứ những phiền não này đến với mình, chúng ta cần phải làm dịu đi bản ngã thô lỗ, ngoan cố và tự tìm thấy thăng bằng. Những thiền quán trên những nỗi buồn, mất mát và những khó khăn của thế giới này có thể mở rộng tâm chúng ta.

Không may, nếu chúng ta kiêu mạn và ngoan cố, thì chúng ta tự biến thành kẻ thù tệ hại nhất của chính mình, vì sẽ khó khăn để nhận ra những vấn đề của mình. Vậy nhận ra những lỗi lầm của mình là bước khởi đầu quan trọng.

Và rồi có một số trong chúng ta bị buồn chán, yếu đuối, hoang mang và ngay cả tự tử. Nếu chúng ta không tin tưởng vào bất cứ cái gì, tốt hơn hết là tham thiền về những tu tập gây cảm hứng như sùng mộ, thái độ tích cực, tri giác thanh tịnh, tâm bi và tâm từ. Chúng ta phải xua đi những lo nghĩ và nghi ngờ, phải tự tin vào chính mình và sức mạnh của những giáo lý.

Để biết mình, rất có ích lợi là nhận lời dạy bảo của một vị thầy hay người cố vấn khéo léo. Chúng ta không cần đi một mình, chúng ta có thể chấp nhận sự giúp đỡ khuyến khích của bạn bè và người khác. Đồng thời, sự chữa lành tối hậu nằm trong chúng ta. Trong cái thật sự là chúng ta, chúng ta có thể tìm thấy những câu trả lời chúng ta cần. Những lời dạy của những thời đại cung cấp cho ta những bảng chỉ đường. Chúng ta cần phải đem lòng nhiệt tình và sự sáng tạo vào cách thức mà chúng ta theo những dấu hiệu chỉ đường đó.

5
ĐỐI XỬ VỚI NHỮNG VẤN ĐỀ KHÓ KHĂN 
NHƯ THẾ NÀO

Chúng ta đã nhận thấy sự chấp ngã tạo ra những khó khăn như thế nào, và chúng ta có thể làm dịu những khó khăn bằng việc phát triển những thái độ và những khéo léo để buông bỏ sự chấp ngã này. Bây giờ chúng ta hãy tập trung kỹ lưỡng hơn nữa về một số kỹ thuật thực hành trong việc ứng xử với những vấn đề khó khăn.

SỰ TRÁNH NÉ

Thông thường chúng ta đối mặt với khó khăn để chữa lành chúng, nhưng không phải là luôn luôn. Đôi khi sự giải quyết tốt nhất là tránh né. Chẳng hạn, nếu khó khăn của bạn nhẹ nhàng hay tạm thời – không phải là thói quen có gốc rễ sâu hay một cảm giác đau trầm trọng – bỏ qua (lờ đi) chúng sẽ là giải pháp thích hợp và đúng đắn. Không cần thiết hay đáng giá để phải tận lực làm mất nhiều năng lực với những vấn đề như vậy. Nếu chúng ta không để ý tới chúng, những vấn đề đó sẽ bỏ ra đi.

Vào những thời điểm khác, phải né tránh những khó khăn nếu chúng ta không sẵn sàng đối diện với chúng, giống như một người lính tạm thời về hậu phương hay nghỉ ngơi trước khi giao tranh. Nếu khó khăn mạnh mẽ, gay gắt và mới mẻ trong tâm trí, bạn không đủ sức mạnh để đối diện hay áp dụng bất cứ sự luyện tập nào trực tiếp xoa dịu chúng. Đối mặt với chúng quá sớm có thể làm kích động mạnh đau đớn và làm cho vấn đề khó khăn hơn là chính bản thân nó. Trong trường hợp này, tối thiểu vào lúc đó, cách thích hợp để làm việc với chúng là tránh nghĩ về chúng. Sau đó, khi bạn lấy lại bình tĩnh và sức mạnh tinh thần, bạn phải cố gắng giải quyết khó khăn hay giải phóng nó qua thiền định.

Tuy nhiên, với một số người trong chúng ta có tâm thức mạnh mẽ và hoang dã, sẽ có ích lợi khi không chỉ nhìn thấy khó khăn của mình mà còn cảm nhận và kinh nghiệm đau khổ một cách sâu sắc. Nếu chúng ta thuộc loại người cảm thấy rằng mình luôn luôn đúng và người khác sai, sự kiêu mạn làm chúng ta mù quáng không thấy những vấn đề của mình. Vậy việc đối diện tức khắc với đau khổ hơn là lẫn tránh nó, có thể xúc chạm đến cái cốt lõi của đời sống của bạn, đem bạn trở lại với những nhận thức xác thực của mình và tập trung sự chú tâm của bạn theo hướng đúng.

Đôi lúc, sự tránh né là cách giải quyết tốt nhất cho những thương tổn ở quá khứ. Thậm chí nếu bạn còn tàn dư của một sự đau đớn, hiệu quả sẽ giảm bớt nếu cái kinh nghiệm tiêu cực được một kinh nghiệm tích cực mạnh mẽ theo sau nó. Trong trường hợp đó, khó khăn có thể phần nào trung hòa. Sau đó, thay vì tái tạo lại khó khăn, điều tốt nhất là chỉ tiếp tục với những kinh nghiệm tích cực.

SỰ CÔNG NHẬN VÀ SỰ NHẬN LẤY

Đôi khi chỉ nhìn vào một vấn đề, chúng ta có thể gạt bỏ nó trong một cái nhìn thoáng qua như một việc không quan trọng và tiếp tục với cuộc sống mình. Nhưng những vấn đề khác cần phải hoàn toàn đối mặt để chữa lành. Những bài tập chữa lành nhằm mục đích này. Nhưng trước khi chữa lành, bước đầu tiên là sự công nhận và nhận lấy.

Nhiều người cố thử xua đi hay kềm chế những vấn đề lớn hay đè nén chúng. Chúng ta biết rằng bám chấp làm cho vấn đề tồi tệ hơn, và sự đè nén cũng vậy. Nó là một dạng khác của chấp ngã, vì chúng ta đang gán tên vấn đề như là một cái gì đó phải tránh bằng mọi giá. Chừng nào còn bám vào quan điểm tiêu cực này, chúng ta tự bó hẹp thật tánh mình bằng sự xua đi cái ta không muốn. Cố gắng vứt bỏ đi những vấn đề cần được chữa lành, có thể ngó lơ chúng trong một lúc, nhưng chúng thường tái xuất hiện dưới một dạng mạnh mẽ và độc hại hơn với sự lơ là của chúng ta.

Nếu chúng ta không nhận ra vấn đề mà cố gắng che đậy chúng, đó cũng giống như thực hiện một cuộc phẫu thuật mà lại nhắm mắt. Để tìm thấy phương thuốc, chúng ta cần nhìn thấy và chấp nhận vấn đề rõ ràng nó là gì.

Cùng lúc, không cần phải làm rắc rối thêm vấn đề của mình, ngay cả khi chúng có vẻ nghiêm trọng, bằng cách phóng đại những khó khăn trong tâm trí mình. Thậm chí nếu phiền não làm đảo lộn chúng ta, có thể sử dụng trí năng để tự nhủ rằng chúng ta có thể đối xử với khó khăn, có thể tự nhắc mình rằng nhiều người khác đã ứng xử thành công với những khó khăn giống như chúng ta. Thậm chí việc nhớ lại rằng chúng ta có trí huệ, sức mạnh, khả năng hồi phục bên trong lớn lao đã có thể giúp ích nhiều hơn, dù chúng ta không luôn luôn cảm thấy hay biết được điều này vì những phiền não trên bề mặt ngoài của ta. Nếu chúng ta nhạy cảm và xúc cảm quá mức về những vấn đề của mình, bánh xe đau khổ chỉ chạy nhanh hơn. Ngài Shantideva viết :

Nóng, lạnh, mưa, gió và bệnh tật
Băng bó, đánh đập và v.v...
Với chúng, bạn không nên quá nhạy cảm
Còn nếu bạn như vậy, những khó khăn do chúng tạo ra 
sẽ gia tăng.

Sau khi nhận ra một vấn đề, chúng ta cần phải sẵn sàng làm bất cứ điều gì cần thiết để bốc thuốc cho nó. Chúng ta phải thiết tha và tự tin có thể cải thiện được cuộc sống mình. Một số người vô ý thức, hay thậm chí ý thức, bám chấp vào những vấn đề của họ. Một số người nói : “Tôi thích sự rối loạn, nó thêm gia vị cho cuộc sống.” Nhưng có lẽ, cái thực sự họ nói có nghĩa họ chịu đau khổ nhiều hơn. Mục đích của chúng ta là phải chữa lành sự đau khổ của mình.

Nếu chúng ta quyết tâm chữa bệnh, mỗi một vấn đề sẽ trở nên dễ dàng hơn để đối xử và để dung thứ, và có thể những cái khác mà chúng ta nghĩ rằng thường còn và không giải quyết được sẽ biến mất không dấu vết. Trước khi đối mặt với những khó khăn lớn, chúng ta cần phải khéo léo và hết mình, và khi đó là lúc chúng ta có thể tự giúp mình bằng cách bắt đầu ngay lập tức. Như Ngài Shantideva nói :

Nếu bạn đã tu tập,
Không có cái gì không trở nên dễ dàng.
Trước hết, tập chịu những vấn đề nhỏ
Về sau bạn có thể chịu những vấn đề lớn lao.

TÌM THẤY NGUỒN

Khi gốc rễ của mọi đau khổ là chấp ngã, chúng ta sẽ muốn tìm ra nguồn gốc đặc biệt của vấn đề trong tầm tay. Như một sự trợ giúp để nhận ra một vấn đề, bài tập này có ích lợi. Hãy ngồi ở một nơi tiện lợi, ít bị xao lãng. Thả lỏng thân và tâm. Hít vài hơi thở sâu và hình dung mọi lo nghĩ thoát ra khỏi cùng với hơi thở. Cảm thấy an bình, trong sáng và trống trải. Hãy buông lỏng trong trạng thái an bình này trong một lúc. Rồi, chầm chậm nhìn vào vấn đề bạn đang đối mặt. Hãy thấy và cảm nhận nó. Hãy nhận biết sự hiện diện của nó.

Hãy nhớ lại vấn đề này bắt đầu phát xuất ở đâu, khi nào, như thế nào. Trong tâm thức bạn, chậm chậm đi lui lại thời gian ban đầu có thể được, nơi chốn và ngọn nguồn của đau khổ. Hãy thấy hình dạng, màu sắc, nhiệt độ và định vị vấn đề tới mức có thể.

Việc trở lại nguồn gốc khởi thủy của những vấn đề có một số lợi ích. Trước hết, chỉ bằng tham thiền về những nguyên nhân và cảm nhận chúng, chúng ta đã chữa lành. Thứ hai, việc trở lại quá khứ phát sinh một cảm thức và khoảng không lớn hơn sự nhận biết hiện giờ của chúng ta, và bằng sự mở rộng khoảng không nhiều hơn và viễn cảnh rộng lớn hơn chúng ta sẽ cảm thấy ít lo lắng về những vấn đề đặc biệt này. Cuối cùng, bằng việc đi đến tận gốc rễ, chúng ta có thể nắm vững vấn đề trần trụi tại nguồn gốc của nó và nhổ gốc nó như nhổ cỏ, nhờ những bài tập chữa lành.

Chúng ta không phải bị ám ảnh bởi sự tìm thấy và hoàn toàn hiểu rõ được gốc rễ của mỗi vấn đề ; hơn nữa chúng ta phải làm việc với nguyên nhân như nó tự bộc lộ vào lúc đó.

Bên cạnh đó, chúng ta phải thực hành tâm bi hướng về chính chúng ta và những người khác trong quá trình này. Ví dụ, nếu chúng ta thấy cha mẹ tạo ra những lầm lỗi làm tổn hại đến chúng ta thì chúng ta phải thấy rõ ràng điều này. Đồng thời chúng ta cũng phải nhớ rằng họ cũng nô lệ cho tham, sân, si như mọi người khác, trong đó có chúng ta. Chúng ta phải cảm thấy thiện cảm đối với họ, và cũng vui thích có cơ hội để phá vỡ xiềng xích vô minh nó đã làm hại những cha mẹ và con cái trong gia đình chúng ta trong nhiều thế hệ. Phản ứng của chúng ta là : “Thật tuyệt vời khi tôi thấy được điều này bây giờ và có thể chữa lành được độc tố đã làm hại đến gia đình chúng ta cả một thời gian dài !”

GIẢI THOÁT NHỮNG VẤN ĐỀ QUA CẢM NHẬN

Khi quan hệ giữa những vấn đề và nguồn gốc của chúng, chúng ta phải thấy chúng một cách khách quan – chúng là gì và xuất hiện thế nào – mà không phải chúng ta gán tên cho chúng một cách tiêu cực. Nếu không thì sự tu tập của chúng ta có thể phát động một chu kỳ phiền não và đau khổ khác.

Đây là một ví dụ đơn giản : Nếu bạn bị đau đầu, bạn cần biết cái gì là sai và nguyên nhân là cái gì. Tương tự, nếu bạn có một vấn đề với một người bạn, cần biết và hiểu rõ vấn đề sẽ tốt để bạn có thể bắt đầu đối xử với nó. Nhưng bạn thấy và cảm giác vấn đề một cách ý niệm và tình cảm như là “xấu”, “khủng khiếp” và “không thể chịu được” v.v... bấy giờ một khó khăn tương đối nhỏ sẽ phát triển thành đám cháy rừng. Cách để đối xử với những vấn đề tình cảm là nói “Tôi nhức đầu, nhưng tốt thôi” hay tối thiểu là “Tôi nhức đầu, nhưng tôi kiểm soát được nó”, hoặc “Nó khá đau, nhưng bất cứ ai cũng có thể bị, không lúc này thì lúc khác.”

Trong việc chữa bệnh, không có cảm xúc nào hay những nhu cầu căn bản nào là sai lầm hoặc cần phải từ bỏ. Chúng ta phải chấp nhận sự hiện hữu của cảm giác của chúng ta, tiếp đón và đem chúng lên bề mặt để chúng có thể giải thoát. Nếu việc luyện tập khuấy dậy đau đớn phiền não, hãy nhìn nó là tích cực, vì sự đau khổ ám chỉ rằng sự tu tập có một tác động và quá trình làm lay động này đang xảy ra. Việc cảm thấy buồn về những vấn đề khó giải quyết là tốt. Hãy cho phép bạn tự cảm nhận và diễn tả nỗi buồn theo cách tiếp xúc được với gốc rễ của vấn đề, để nhổ bật gốc rễ của đau khổ khỏi hệ thống của bạn. Nếu nước mắt chảy, hãy để cho mình khóc. Khóc giải thoát cho căng thẳng tinh thần, áp lực thân xác và những chất độc tạo ra khi chúng ta kềm giữ đau khổ bên trong.

Kể lại những vấn đề của mình cho người biết lắng nghe cũng giúp cho đau khổ giảm nhẹ. Nếu chúng ta diễn tả tư tưởng của mình tự nhiên và thật thà mà không bám chặt, che dấu hay phòng thủ trước sự đau khổ thì việc chữa lành sẽ tốt hơn cho chúng ta. Nếu chúng ta giải phóng áp lực bằng việc thở sâu và khóc, đó cũng là một phần của việc chữa lành.

Chúng ta phải cảm thấy những phiền não khi chúng khuấy động, nhưng không được vướng mắc vào đau khổ hay để vấn đề gây tác động mạnh hơn mức cần thiết lên chúng ta, làm cho những gốc rễ mọc sâu hơn vào tâm thức và làm mạnh mẽ những thái độ tiêu cực và có lẽ thậm chí những biểu hiện trên thân thể. Vậy ý tưởng là phải xóa đi đau khổ, không nên đào quá sâu đến độ chúng ta tự làm tổn thương mình. Lo nghĩ về những bối rối của mình chỉ làm những vấn đề thêm tồi tệ chứ không tốt hơn. Như Ngài Dodrupchen nói :

Nếu chúng ta không cảm thấy lo lắng về những vấn đề, sức mạnh của tâm có thể giúp chúng ta chịu đựng ngay cả những đau khổ to lớn một cách dễ dàng. Chúng ta sẽ có thể cảm nhận chúng là ánh sáng và không thể chất như bông vải. Nhưng nếu chúng ta chất chứa lo lắng, nó sẽ tạo ra dù những đau khổ nhỏ nhưng khó chịu đựng. Ví dụ, khi ta nghĩ về vẻ đẹp của một cô gái, dù nếu chúng ta cố gắng thoát khỏi tham dục, ta cũng bị đốt cháy. Tương tự, nếu chúng ta tập trung trên những đặc tính của đau khổ, chúng ta sẽ không thể phát triển sự chịu đựng với chúng.

Khi đau khổ, chúng ta cần phải rộng mở và chớ cố gắng đẩy cảm giác ta vào một số dạng ước ao khô cứng. Một số vấn đề được chữa lành trong chốc lát, một số khác có thể mất một thời gian dài. Ví dụ, buồn phiền có thể là một cảm xúc rất lớn, chúng ta phải để cho nỗi buồn có khoảng không tự nhiên của nó để lành và không phải tự đặt thời khóa biểu cho mình. Cố gắng hối hả làm giảm nỗi buồn cũng giống như ta mong muốn dòng sông ngừng chảy theo ý mình. Dòng sông phải chảy và cuối cùng theo hướng của nó. Nếu chúng ta đòi hỏi thu xếp nhanh chóng hay loại bỏ nỗi buồn gấp gáp, nó có thể trở nên chìm lặn xuống khiến chúng ta tổn thương trong nhiều năm.

ĐỐI MẶT VỚI NHỮNG VẤN ĐỀ MỘT CÁCH BÌNH AN

Chúng ta cần thăng bằng trong việc đối xử với những vấn đề, đặc biệt nếu có người khác liên quan vào vấn đề đó. Nếu chúng ta đang ở dưới một áp lực lớn của xúc động, tốt nhất đừng nên nói hay làm bất cứ điều gì. Nếu bạn cảm thấy giận dữ, kích động hoặc hạnh phúc tột cùng, hãy đợi một lúc. Nếu khác đi, cái mà bạn nói có thể không đúng hay chỉ đúng một phần, và giống như gây tổn thương. Khi bạn cảm thấy bình an hơn, hãy nghĩ về những lựa chọn của mình, cái nào thực tế, cái nào không. Thời gian để nói hết sự việc hoặc có những quyết định là khi nào chúng ta bình an.

Trong liên hệ với những vấn đề, nhận ra vấn đề là điều quan trọng. Nhưng chính trong viễn cảnh rộng hơn mà mỗi người nhận ra những khuyết điểm và lỗi lầm của mình. Thay vì châm ngòi cho cơn bão xúc cảm, hãy đợi cho đến khi bình an và rõ ràng, khi bạn có thể suy nghĩ hợp lý : “Cái gì gây ra vấn đề cho mình ?” Khi bạn bắt đầu thấy nó, thậm chí nếu vấn đề xem ra khó khăn, bạn phải nhận ra nó theo cách thư giãn, nghĩ rằng : “Vâng, nó đây. Nhờ trời, tôi đã sát gần được với nguyên nhân của vấn đề rồi !” Không mất đi sự tương tục an bình của tâm, chấp nhận và đối mặt vấn đề với quyết định chữa lành nó, nghĩ rằng : “Tôi không được, vợ hay chồng tôi không được, quan hệ giữa chúng ta không được, nhưng tất cả đều được. Chúng ta sẽ làm việc về nó. Chúng ta có thể chữa lành nó.”

Ở giai đoạn này, nếu bạn không thể tránh sự lo lắng nổi lên trong lòng, chớ lo nghĩ về mối lo lắng. Nếu bạn không lo nghĩ về những mối lo lắng, những lo lắng tự chúng sẽ hết day dứt, thay vào đó là sự gom tụ được sức mạnh.

NHÌN NHỮNG VẤN ĐỀ LÀ TÍCH CỰC

Nếu chúng ta bám vào và vật lộn theo thói quen với khía cạnh tiêu cực của hoàn cảnh, toàn thể tinh thần, tri giác và kinh nghiệm của ta sẽ trở thành tiêu cực đầy đau khổ không cách gì chuyển đổi. Nhìn vấn đề theo cách tiêu cực, thường suy nghĩ và nói về nỗi đáng sợ hay đau khổ của nó, ngay cả những vấn đề nhỏ cũng khó vượt qua giống như quả núi vững chắc và to lớn, bén nhọn như lưỡi dao và tối tăm như ban đêm. Ngài Dodrupchen viết :

Bất cứ khi nào những vấn đề xảy đến với chúng ta từ con người hay vật thể vô tri, nếu tâm chúng ta làm quen với việc chỉ tri giác đau khổ hay những khía cạnh tiêu cực của chúng, bấy giờ ngay cả từ một việc tiêu cực nhỏ sẽ tạo ra nỗi đau đớn tinh thần lớn lao. Vì đó là tính chất của việc buông lung trong bất cứ loại ý niệm nào, dù là đau khổ hay hạnh phúc, cái kinh nghiệm này do đó sẽ gia tăng cường độ. Cái kinh nghiệm tiêu cực này dần dần trở nên mạnh hơn, sẽ đến một lúc khi hầu hết những gì xuất hiện trước chúng ta sẽ trở thành nguyên nhân đem lại bất hạnh, và hạnh phúc sẽ không còn cơ hội khởi lộ. Nếu chúng ta không thấu hiểu rằng lỗi lầm nằm trong cách sở đắc kinh nghiệm của tâm thức của chúng ta, và nếu chúng ta trách móc đổ lỗi mọi vấn đề cho chỉ những điều kiện bên ngoài, bấy giờ ngọn lửa không ngừng của những hành vi tiêu cực thói quen như sân hận và đau khổ sẽ gia tăng trong chúng ta. Điều đó được gọi là : “Mọi hình tướng khởi sanh trong hình thức những kẻ thù.”

Bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta phải cố gắng nhìn thấy mặt tích cực của nó, ngay cả khi nó có vẻ là tiêu cực. Tuy nhiên, nếu chúng ta có một suy nghĩ hay cảm nhận tiêu cực, điều quan trọng là hãy nhẹ nhàng với mình. Đừng tạo cảm giác tiêu cực thêm bằng cách nói rằng : “Ôi, tôi lại lặp lại rồi”, hay “Sao tôi ngu thế này.” Nếu chúng ta làm thế, bánh xe của sự tiêu cực bắt đầu chuyển động không ngừng. Thay vì vậy, chúng ta cần tỉnh biết những tư tưởng và cảm giác của chúng ta, nói rằng, “Ôi tốt”, và chuyển sự chú ý của chúng ta vào những bài tập chữa bệnh, nếu có thể, chúng ta chuyển hướng tâm ta hay làm một cái gì khác từ chu kỳ tiêu cực đến con đường đúng. Ngài Dodrupchen nhấn mạnh :

Chúng ta không những làm cho tâm trí không thể thẩm thấu với bất hạnh và đau khổ, mà còn đem an lạc vào tâm trí chúng ta từ chính những thăng trầm. Để cho điều này xảy ra, chúng ta phải ngăn ngừa sự khởi lên của những lực lượng xấu đối nghịch và những lời không hòa hợp. Chúng ta phải quen phát sinh chỉ cảm giác yêu thích sự an lạc. Để làm điều này, chúng ta phải chấm dứt việc nhìn hoàn cảnh gây tổn hại là tiêu cực, và phải cố gắng rèn luyện để nhìn thấy chúng là có giá trị. Sự việc có làm hài lòng ta hay không, hoàn toàn tùy thuộc vào cách tâm thức chúng ta tri giác chúng.

Năng lực tích cực mạnh mẽ có thể ngăn chận hay làm dịu bớt đau khổ. Nhưng kết quả ý nghĩa nhất của một thái độ tích cực không nhất thiết giữ gìn cho đau khổ khỏi xảy ra, mà để giữ chúng không trở thành một lực lượng tiêu cực và đau khổ khi nó xảy đến. Ngài Dodrupchen viết :

Như vậy, để không bị khuất phục bởi những chướng ngại như kẻ thù, bệnh tật và những lực lượng gây tổn hại như là kết quả của việc rèn luyện tâm linh, không có nghĩa rằng chúng ta xua đuổi chúng hay chúng sẽ không tái diễn. Mà hơn thế nữa có nghĩa rằng : chúng không thể khởi lên như là những chướng ngại cho việc theo đuổi con đường hạnh phúc và giác ngộ.

Chúng ta có thể làm bạn với những vấn đề của mình. Khi phiền não gay go xảy ra, chúng ta có thể hỏi chúng cần gì. Bằng cách trở nên thân thiện hơn với những vấn đề của mình, chúng ta có thể tìm ra cái mình cần làm. Chúng ta cần phải buông lỏng và thôi bám chấp, để tự chăm sóc mình và những nhu cầu thật sự của mình, hoặc thay đổi cách cư xử theo một cách đặc biệt một cách tốt hơn. Vấn đề tự nó nắm giữ chìa khóa cho việc chữa lành của chính nó nếu chúng ta đem tỉnh giác của chúng ta đến với nó, hơn là xua đuổi hay bám víu mù quáng vào nó. Bằng việc cho phép đủ khoảng không cho một vấn đề lớn, chúng ta đã sẵn sàng cho việc chữa lành của mình.

Mục tiêu chính yếu của thực hành tâm linh là làm trong sáng khoảng không tâm thức của mớ rác rưởi tri thức cảm xúc mà chúng ta đã gom góp từ khi còn bé, và cung cấp khoảng không cho cái kinh nghiệm của sự buông xả thật sự và hoan hỷ. Chúng ta phải nhận ra rằng tư tưởng hay nguồn cảm hứng tích cực trở thành sự nuôi dưỡng cho tâm, giống như thực phẩm lành mạnh. Những quan điểm và đam mê tiêu cực giống như những cặn bã vô dụng đều có những hiệu quả gây độc.

Vậy chúng ta phải tự thấy mình và những vấn đề của mình một cách rõ ràng, mà không tự lôi kéo mình dấn sâu vào đau khổ. Nếu chúng ta gấp gáp giải quyết vấn đề, chúng ta có thể làm kích động chúng. Đôi khi cần phải kiên nhẫn để cho những vấn đề bộc lộ và giải phóng khi chúng đã sẵn sàng.

Thăng bằng và tích cực không luôn luôn dễ dàng. Thế nên rất quan trọng cần tạo ra một cố gắng quyết tâm không để tâm trí ta bám vào những vấn đề như chúng là tiêu cực, giải pháp là để cho tâm trí được bận rộn với một điều gì khác như đọc sách, làm vườn, vẽ hay vẻ đẹp của thiên nhiên, của nghệ thuật hoặc âm nhạc.

Tâm chập chờn của ta cần được thực hành trong thái độ tích cực, và điều này xảy đến trong cách ta đối xử với những chi tiết của đời sống hàng ngày như thế nào. Nếu trời mưa, chúng ta có thể thưởng ngoạn cơn mưa. Những ngày nắng tốt đẹp như thế nào thì những ngày mưa cũng đẹp như thế đó. Nếu cơn mưa có vẻ như làm phiền mình, hãy mặc áo mưa và mang dù, không nên chìm trong tiêu cực. Chúng ta nhìn cơn mưa như nó là nó và tiếp tục với cuộc sống mình.

Khi chúng ta tạo ra một hoàn cảnh tốt nhất, tâm thức ta trở nên mạnh hơn. Khi chúng ta biết cười về mình và những vấn đề của mình, chúng ta chữa lành. Khi chúng ta biết hoan hỷ với chính mình và kềm chế nhìn vấn đề theo lối tiêu cực, chúng ta trở nên tích cực hơn với mọi sự. Suy nghĩ tích cực là thói quen tuyệt vời cần phát triển, vì nó chữa lành chúng ta và làm chúng ta hạnh phúc trong cuộc sống mình. Ngài Dodrup-chen giải thích :

Bằng việc thực hành loại tu tập này, tâm ta trở nên nhân từ dịu dàng. Thái độ chúng ta sẽ rộng mở chúng ta trở nên dễ dàng sống với mọi sự. Chúng ta sẽ có một tâm can đảm. Việc rèn luyện tâm linh của chúng ta sẽ thoát khỏi những chướng ngại. Mọi hoàn cảnh xấu sẽ phát lộ một cách rạng rỡ và nhiều tốt lành. Tâm thức ta sẽ luôn luôn được hài lòng bởi hạnh phúc của sự an bình. Để tu hành con đường giác ngộ trong thời đại nhiều loại cặn bã này, chúng ta phải có lớp vỏ bọc của sự tu tập để chuyển hạnh phúc và đau khổ trở thành con đường giác ngộ. Khi chúng ta không bị phiền não bởi khổ đau của nỗi lo lắng, những khổ đau tinh thần và tình cảm không chỉ biến mất giống như những vũ khí rơi khỏi tay những người lính, mà trong hầu hết những trường hợp, ngay cả những lực tiêu cực thực sự như bệnh tật, cũng sẽ tự động biến mất.

Những vị thánh thời quá khứ đã nói : “Bằng sự không cảm thấy bất cứ ghét bỏ hay không bằng lòng nào về bất cứ sự gì, tâm ta sẽ ở yên không rối loạn. Khi tâm thức ta không rối loạn, năng lực sẽ không rối loạn và do đó những yếu tố khác của thân thể cũng không rối loạn. Vì sự an bình và hài hòa này, tâm ta sẽ không bị rối loạn, như thế bánh xe của niềm vui sẽ chạy đều.” Các vị cũng nói : “Chim muông dễ làm tổn thương ngựa và lừa vì những vết thương trên lưng chúng, những lực lượng tiêu cực sẽ dễ dàng tìm thấy cơ hội để gây hại cho những người có tính sợ hãi với những lo lắng tiêu cực. Nhưng sẽ khó làm tổn hại những người mà bản chất họ mạnh mẽ với thái độ tích cực.”

Khi chúng ta không quan tâm về việc bảo vệ hay bám víu vào bản ngã, đau khổ trở thành một phương tiện để chứng thực an bình và hạnh phúc. Với thái độ tích cực, đau khổ có thể trở nên giống như kẹo ngọt. Trong đạo Phật, sự tương tự được ví với ladu, loại bánh kẹo ngọt nhưng rất nóng từ Ấn Độ. Ngài Dodrupchen chỉ cho chúng ta lợi ích to lớn của việc phát triển một sự nhẫn chịu dễ dàng :

Chúng ta phải nghĩ, “Những đau khổ mà tôi trải qua trong quá khứ đã giúp tôi rất nhiều để đạt được hạnh phúc ngày nay dưới nhiều dạng phi thường... rất khó đạt được. Cũng vậy, đau khổ mà tôi trải qua sẽ tiếp tục giúp tôi đạt đến những kết quả kỳ diệu tương tự. Vậy ngay cả nếu đau khổ của tôi trầm trọng, nó cũng là sự dễ chịu cực kỳ.” Như có nói :

Như ladu bằng mật mía
Trộn với bạch đậu khấu và hạt tiêu.

Hãy suy nghĩ lập đi lập lại về điều này và nuôi dưỡng kinh nghiệm hỷ lạc và an bình của tâm. Qua sự rèn luyện theo cách này, sẽ khởi lên một tính chất tràn ngập hay sự dồi dào hoan lạc tinh thần nó làm cho những khổ đau của các thức giác quan nhẹ nhàng như không có. Như vậy, có một tâm không thể bị tổn thương bởi đau khổ là đặc tính của những ai vượt qua được sự đau yếu bằng nhẫn chịu.

“Đảo ngược tư tưởng ghét đau khổ” là nền tảng của “việc chuyển đau khổ thành con đường (giác ngộ).” Vì trong lúc tâm trí ta bị rối loạn, và sự can đảm, hoan hỷ bị dập tắt bởi lo lắng, chúng ta không thể chuyển đổi đau khổ thành con đường giác ngộ.

Dĩ nhiên, nhiều người trong chúng ta chỉ thích vùi đầu trong cát khi đau khổ xảy đến. Nếu chúng ta không có nhiều kinh nghiệm trong thái độ tích cực, chúng ta có thể tự hỏi có người nào có thể hoàn toàn chấp nhận cuộc sống, tiêu cực cùng với tích cực. Nó giống như người chơi môn thể thao nhào lộn trong bầu trời biết cách trôi nổi trong bầu trời bao la. Khi chúng ta thấy người nào hào hứng biểu diễn trong lúc rơi trong không trung, chúng ta tự hỏi làm thế nào có thể được như vậy. Bí quyết là thư giãn buông thả. Sau một lúc, chúng ta có thể trở nên rộng mở hơn với đời sống.

Chúng ta có thể bắt đầu bằng việc mở rộng viễn cảnh những kinh nghiệm tiêu cực của mình. Ví dụ, chúng ta thường nghĩ nỗi buồn là tiêu cực. Tuy nhiên, khi buồn phiền đúng đắn, nó không thực sự là tiêu cực, vì chúng ta đang chữa lành một vết thương. Trong một số trường hợp, nỗi buồn có thể thực sự xuất hiện hoàn toàn đẹp đẽ. Chẳng hạn, nhiều người tin rằng những bản nhạc buồn trong nhạc opera hay nhạc phổ thông là đẹp. Vậy xúc cảm buồn không nhất thiết “xấu”, trừ khi ta thấy nó như vậy.

Vượt lên tiêu cực và tích cực, rốt ráo mọi hiện tượng là rỗng rang. Thế nên vì hiện tượng là rỗng rang, chúng ta có thể chọn lựa một cách nhìn tích cực và không cảm thấy lo lắng ngay cả khi một hoàn cảnh xem ra xấu. Nó cũng có thể giúp nhìn và cảm thấy vấn đề theo cách hoàn toàn rộng mở rỗng rang. Chúng ta có thể thiền định trong sự rộng mở, rỗng rang.

NHÌN THẤY SỰ RỘNG MỞ RỖNG RANG CỦA NHỮNG 
VẤN ĐỀ CỦA BẠN

Khi chúng ta cảm thấy tràn ngập bởi những vấn đề như buồn phiền hay cô đơn, chúng ta có thể hòa nhập vào sự rộng rang của nỗi buồn. Hãy để hơi thở trở nên thoải mái. Thay vì cố gắng xua đuổi nỗi buồn, hay gán tên cho chúng như một điều xấu, hãy an trú tâm thức bạn ở chỗ rỗng rang mà tĩnh lặng. Hãy để cho ngọn gió của nỗi buồn lướt đến, giống như bạn chào đón nó với hai tay mở rộng. Hãy cảm nhận nó mà không bám víu hay phán xét, mà chỉ như nó là nó. Hãy thoải mái càng nhiều càng tốt nếu bạn có thể. Hãy chậm chậm trải nghiệm và nếm hương vị của chính nỗi buồn.

Buông lỏng và hòa nhập với cảm nhận, tự tan biến mình trong nó, hư không nhập vào hư không. Hãy thấy và chấp nhận nó, trở thành một với nó. Bạn phải vượt qua những ý niệm về buồn phiền, và bạn sống với thật tánh của nỗi buồn, chính là cái an bình tối hậu. Sau một lúc, bạn có thể tìm thấy dễ dàng hơn khi ở cùng với nỗi buồn. Có lẽ nó bắt đầu hòa tan vào một cảm giác an bình. Buông lỏng trong cảm giác an bình này càng lâu nếu có thể được.

Chúng ta có thể ứng xử với đau khổ thân xác trong cùng cách như vậy. Lẽ dĩ nhiên, chúng ta phải sử dụng cảm thức thông thường về sự đau, và với cơn đau bất thường hay nghiêm trọng điều hợp lý là phải đi khám bác sĩ nếu có thể được. Những cách tiếp cận với đau đớn và đau khổ bằng thiền định không gạt bỏ những điều trị và biện pháp khác vì những phương pháp này có lợi ích.

Trong việc đối xử với cơn đau, đôi khi nó đột nhiên giảm bớt nếu chúng ta không chú ý tới nó quá nhiều hay nghĩ tiêu cực về nó. Vào những lúc khác, cần thiết phải hoàn toàn đối diện với nó. Những người với cơn đau mãn tính (kinh niên), có thể thấy cơn đau có phần giảm bớt nếu họ thực hành thiền định trên nó. Hãy hòa nhập với cơn đau. Tự cho mình cơ hội để nhìn thấy cơn đau mà không có sự gán tên của sự ghét bỏ thông thường. Trong một cách thư giãn chầm chậm, tiếp cận với cái cảm giác của thân thể mà bạn đang cảm nhận và đơn giản chỉ ở với nó. Khi bạn duy trì hơi thở buông lỏng, hãy kinh nghiệm cảm giác của thân thể. Ở với cảm giác trong cách an bình này trong một thời gian lâu, dù phải thời gian dài bạn mới cảm thấy thoải mái khi làm thế. Cuối cùng từ từ đem tỉnh giác của mình trở về sự yên nghỉ của cơ thể và môi trường quanh bạn.

Bạn có thể thấy rằng cái kinh nghiệm cảm giác thân thể trong cách này không phiền toái như thông lệ, và bạn có thể đem kinh nghiệm này vào những khía cạnh khác của cuộc sống mình. Nó có thể giúp bạn tiêu dùng một số thời gian với cơn đau mỗi ngày trong cách an bình và nhẹ nhàng này.

Sự tiếp cận rỗng rang với những vấn đề khó khăn là một trong những cách thực hành cao nhất của đạo Phật, mà bất cứ ai cũng có thể sử dụng trong đời sống hàng ngày, cùng với việc trau dồi quan điểm tích cực.

ĐỐI XỬ VỚI SỢ HÃI

Nhiều người xáo trộn vì sợ hãi và lo lắng, và họ muốn giải thoát khỏi mình khỏi những cảm xúc bức bách cuộc sống của họ. Phương thuốc cho sợ hãi, cũng như nhiều vấn đề khác nằm trong chúng ta. Tùy theo hoàn cảnh và khí chất, có nhiều cách tiếp cận. Ở đây có thể ích lợi khi thảo luận một số cách tiếp cận nào đó như là một cách xem lại một số phương tiện khéo léo về thực hành được giới thiệu trong sách này.

Có lẽ một trong những nhận thức trước tiên là sợ hãi có thể là một người bạn và một người giúp đỡ. Trong lúc nguy hiểm, sợ hãi có thể giúp sức mạnh cho đôi chân chúng ta, cho phép chạy nhanh hơn ta từng nghĩ. Chúng ta cũng có thể đánh giá cao hơn khuôn mặt rất tầm thường của sợ hãi trong đời sống hàng ngày. Ví dụ, nếu chúng ta sợ bị thi trượt, chúng ta phải cảm thấy động cơ để học siêng năng đủ để thi đậu.

Nếu sợ hãi hoặc lo âu là triệu chứng của một vấn đề sâu hơn, chúng ta không được che dấu chúng. Bằng việc chú tâm đến lo âu có vẻ như bức bách và gay gắt, chúng ta có thể tìm thấy chìa khóa cho vấn đề khiến chúng ta có thể đi đến việc chữa lành.

Thường chúng ta có thể đối diện đơn giản với sợ hãi và nó có thể tan đi. Sau cùng, sợ hãi và lo lắng là những cái gì được tạo ra trong tâm thức chúng ta. Biết được rằng những cảm xúc đó là những tạo tác giả tạo có thể cho phép chúng ta xua tan chúng. Khi lo lắng trở thành một thói quen, một khuôn mẫu tiêu cực của tư tưởng, chúng ta phải tự nhớ lại rằng nó không thực và không bền vững. Chúng ta nghĩ lo lắng là thực vì chúng ta nắm bắt nó, nhưng nếu buông xả nắm bắt này, chúng ta có thể ngạc nhiên thấy rằng sợ hãi cuối cùng là con cọp giấy.

Vậy chúng ta có thể đối diện với sợ hãi và tìm thấy chìa khóa chữa lành trong nó. Hoặc chúng ta thoát khỏi vô minh hay giải tan sợ hãi. Hay chúng ta có thể tránh né sợ hãi khi nó quá lớn để xử lý tại chỗ, và sau đó trở lại chữa lành nó khi chúng ta đã sẵn sàng.

Đôi lúc, chúng ta không thể tránh né sợ hãi, vì dường như những hoàn cảnh áp đặt lên chúng ta. Bấy giờ, chúng ta có thể cố gắng để hiểu được sợ hãi trong thực tánh của nó như là năng lực thanh tịnh mà không có sự dán nhãn tiêu cực. Những diễn viên giỏi và diễn giả trước công chúng biết rằng sự sợ hãi sàn diễn có thể làm họ lanh lợi, mẫn cảm sẵn sàng cho việc biểu diễn đầy cảm hứng. Những quân nhân được nhiều huy chương vì lòng can đảm trong trận chiến kể lại rằng họ cảm thấy sợ hãi, nhưng sợ hãi được chuyển hóa thành lòng can đảm. Nếu chúng ta thể hòa nhập vào kinh nghiệm thì sự sợ hãi lớn lao có thể làm cho chúng ta cảm thấy đầy sống động, mặc dù chúng ta chỉ còn một vài phút phải rời bỏ cõi trần. Bất cứ hoàn cảnh nào, chìa khóa là không bám lấy sợ hãi.

GIẢI PHÓNG NHỮNG SỢ HÃI MẠNH MẼ

Người ta phát triển đủ loạïi ám ảnh, giống như sự lo sợ không bình thường khi ở một nơi bị đóng kín hay nỗi sợ đi máy bay. Trong những trường hợp này, vấn đề là lo sợ nỗi sợ hãi, sự siết chặt của tâm thức phóng đại và nhân lên nỗi sợ ban đầu cho đến khi miệng khô, cổ họng thắt chặt và thân thể run rẩy. Cách thực hành để đối phó với những nỗi sợ kịch liệt này cho chúng ta những bài học rộng hơn về cách chúng ta có thể tự rèn luyện như thế nào để đối phó với bất kỳ khó khăn.

Chúng ta hãy nhìn vào một ví dụ, chứùng sợ khoảng rộng, có nghĩa “sợ hãi nơi chợ búa” và được kinh nghiệm như chứng sợ khoảng không và những nơi công cộng. Nỗi sợ có vẻ như thật đến độ người ta đôi lúc trở thành tù nhân trong chính căn nhà của họ.

Trước hết, giải pháp là thấy trên cấp độ ý niệm, rằng lo sợ về sự sợ hãi là một bóng ma ảo ảnh mà chúng ta có thể nhẹ nhàng rèn luyện để chiến thắng. Thiền định và quán tưởng tích cực là cách có ích.

Chúng ta cũng có thể dùng kinh nghiệm của cuộc sống hàng ngày để rèn luyện thân, tâm thoát khỏi chứng sợ hãi không căn cứ. Sự rèn luyện phải thực hiện trong những bước nhỏ đủ để dễ dàng xử lý. Thoạt tiên, đi ra ngoài cách một quãng ngắn, đủ xa trước khi sợ hãi đến. Hãy chào đón nỗi sợ. Buông lỏng hơi thở và thân thể và cho phép nỗi sợ khởi lên. Hãy kinh nghiệm nỗi sợ ; cố gắng rỗng rang với nó. Hãy tự nhắc mình : “Đây chỉ là cái ngã sợ hãi của ta. Ta có thể buông bỏ cái sợ này.” Nếu thân bạn run, đừng cố ép ngưng lại. Cứ để mình run, buông bỏ mong muốn xua nó đi, cùng lúc duy trì thân thể và hơi thở buông lỏng. Hãy để nỗi sợ đi xuyên qua bạn, đây là cách để giải phóng nó. Hãy để cho sợ hãi làm công việc tồi tệ nhất của nó, biết bạn sẽ còn sống và rằng nó không thể gây tổn hại bạn cho dù nó có vẻ cứng chắc và đau đớn.

Khi bạn sống qua được nỗi sợ hãi của bạn, hãy đánh dấu điều này, dù bạn còn rất sợ và tiếp tục sợ đi đến những chỗ ấy. Hãy vui mừng vì bất cứ tiến bộ nào đạt được. Mỗi ngày tiến xa hơn một chút, nhưng đôi khi cũng phải nghỉ luyện tập. Khi bạn bước bước lùi vì sợ hãi, hãy chấp nhận những bước lùi như là một phần của quãng hành trình đi về phía trước. Tự động viên mình đều đặn, và một ngày nào đó bạn sẽ có thể đi trọn vẹn trên con đường đến nơi nào mà bạn đã lựa chọn làm một mục đích. Hãy tự thưởng mình, có lẽ bằng việc tự thiết đãi hay vui mừng ở tại đó. Sau chiến thắng lớn lao này, hãy giữ sự thực hành với sự khéo léo mới. Hãy củng cố sức mạnh của mình cho đến khi bạn hoàn toàn thoát khỏi sợ hãi.

Giải pháp này được sử dụng trong khoa tâm lý học cư xử hiện đại, như là phương thuốc cho bệnh sợ hãi không căn cứ (phobias) và nó cũng phù hợp với sự tu hành tâm linh của đạo Phật. Một số chúng ta đủ may mắn không bị bệnh sợ hãi dạng đặc biệt này (phobia) sẽ nhận ra tính phổ quát của kỹ thuật và sự liên quan của nó với cuộc sống và sự thực hành tâm linh của chúng ta.

Chúng ta cần phải đi từng bước nhỏ, tự động viên mình, và thực hành kiên định. Chúng ta là con người và cần sự giúp đỡ khi phiền não. Nguồn giúp đỡ lớn nhất và sức mạnh là tâm ta. Chúng ta có thể khơi dậy năng lực chữa bệnh nằm trong chúng ta. Đây là mục đích của những bài tập chữa bệnh, nó sẽ giúp chúng ta đối phó với sợ hãi và những vấn đề khác.

6
ĐỐI XỬ VỚI NHỮNG ĐAU ỐM THÂN XÁC 
NHƯ THẾ NÀO

Với nhiều người trong chúng ta, bệnh tật của thân thể giống như một cục nam châm thu hút những lo lắng. Đôi khi chúng ta cảm thấy cơn đau nhắc nhở con người chúng ta mong manh và giới hạn biết bao. Điều này không nhất thiết phải xấu vì mùi của sự tử vong có thể cho chúng ta một đánh giá tốt hơn cho cái tại đây và bây giờ. Thậm chí những bệnh nhẹ như cảm lạnh có thể giúp chúng ta thực hành việc buông bỏ bản ngã, và trong khi làm như vậy nó cho chúng ta sự tự do để thực hiện mọi mặt cuộc sống của chúng ta.

Mặc dù những bệnh tật thân thể có thể khó chữa lành hơn những vấn đề cảm xúc bằng những sức mạnh của tâm, tuy nhiên tâm thức giữ một vai trò lớn trong sự chữa lành bệnh tật thân thể. Trong một vài trường hợp, với một tâm đơn thuần có thể chữa khỏi những bệnh tật thân thể, thậm chí với những bệnh mà thuốc men thông thường đã thất bại.
Đạo Phật tạo rất ít phân biệt giữa thân và tâm. Thật vậy, Bốn Tantra, quy tắc của y học cổ truyền Tây Tạng công bố rằng tất cả bệnh tật là kết quả của sự chấp ngã. Shedgyud, một trong những Tantra này nói :

Nguyên nhân chung của bệnh tật,
Nguyên nhân duy nhất của mọi bệnh tật,
Là vô minh do không nhận ra bản tánh thật sự của vô ngã.
Chẳng hạn, con chim sẽ không bao giờ tách rời khỏi bóng mình
Ngay cả nếu nó bay trong bầu trời (và bóng không thể thấy) ;
Cũng như vậy, người không giác ngộ sẽ không bao giờ thoát khỏi bệnh tật,
Thậm chí dù họ vẫn đang hưởng thụ hạnh phúc.
Những nguyên nhân đặc biệt của bệnh tật là sự không sáng suốt tạo ra
Tham dục, sân hận, và vô minh,
Và nó tạo ra bệnh đường mật, khí, và đờm dãi như là kết quả.

Ngài Zurkharpa Lodroš Gyalshen bình luận về những bản văn y học cổ, đã viết :

Y học đồng nghĩa với chữa lành.
Nó chữa lành những rắc rối của khí (năng lượng), mật, 
thủy dịch của thân,
Nó là sự chữa lành những phiền não của tham, sân, si của tâm.

Nếu tâm bạn khỏe mạnh, thân bạn cũng sẽ mạnh. Tuy nhiên, thậm chí có người tâm linh sâu thẳm cũng bị bệnh. Chúng ta giải thích điều này như thế nào ?

Đức Phật đã chứng đắc toàn giác, vượt khỏi đau khổ và luật nhân quả được biết là nghiệp báo. Nhưng đức Phật cũng vẫn là một con người, giống như tất cả chúng ta, Ngài cũng có một thân lệ thuộc vào sự hư hoại và cái chếát. Tuy vậy, một người đã giác ngộ, thoát khỏi chấp ngã và như thế không kinh nghiệm bệnh tật như đau khổ. Nó là thái độ của tâm thức có giá trị nhất.

Ngay cả với chúng ta, về những người chưa chứng ngộ, thì chúng ta càng buông xả, bệnh tật của chúng ta càng bớt nghiêm trọng. Đây là bài học thực tiễn tất cả chúng ta có thể hiểu được và nhớ trong tâm. Với quan điểm tích cực, bạn sẽ không cảm thấy tồi tệ và thân thể có thể tự chữa lành chính nó tốt hơn.

Có vẻ rất kỳ lạ, nhưng thực tế chúng ta có thể chào đón bệnh tật khi nó đến. Đạo Phật xem bệnh tật như một cái chổi quét đi những tích tập của những thái độ và phiền não tiêu cực. Ngài Jigme Lingpa viết :

Không có một nhiên liệu nào tốt hơn bệnh tật để đốt tiêu nghiệp xấu.
Không nên chấp nhận một tâm buồn phiền hoặc quan điểm tiêu cực lên bệnh tật,
Mà hãy xem chúng như những dấu hiệu tiêu hao nghiệp xấu của mình và hoan hỷ với chúng.

Với những người không phải Phật giáo và tương tự Phật giáo, sự đau yếu có thể cung cấp một cơ hội làm giảm bớt, buông xả và hưởng thụ cuộc sống thậm chí đang ở giữa đau khổ.

Đôi lúc, khi thân thể bạn bắt đầu cảm thấy mất thăng bằng, bạn có thể thoát khỏi bệnh tật trước khi nó bám rễ vững chắc vào thân, tâm của bạn. Nhưng dù bạn xuống cấp vì lạnh hay cúm, đừng để ý quá nhiều vào nó. Hãy cố gắng đừng cảm thấy mình là nạn nhân, như thể bệnh cúm chọn riêng bạn. Đa số người đều bị bệnh và bằng cách nhớ lại điều này bạn có thể đặt đau khổ vào trong viễn cảnh tổng quan và phát triển tâm bi cho gia đình nhân loại mà bạn thuộc vào.

Mọi sự đều vô thường, bao gồm cả bệnh tật, thậm chí có lúc bạn cảm thấy nó xấu vĩnh viễn. Hãy nhớ rằng cảm giác xấu cuối cùng rồi cũng tan biến đi.

Khi bạn bệnh, hãy cố tìm cách cảm thấy một cái gì tốt trong đó. Hãy thiền định trong lúc nằm trên giường, hoặc đọc một cuốn sách thích thú. Hoặc nếu lúc đó bạn thấy khó chịu, với sự đơn giản và thưởng thức, bạn có thể nhìn ra cửa sổ xem những dải ánh sáng trong phòng, hay lắng nghe những âm thanh sinh hoạt bên ngoài. Nếu bạn cảm thấy khổ sở vì những triệu chứng như buồn nôn, đừng tiên liệu trước trong thời gian tới sẽ đau đớn hay khổ sở hơn. An trú một cách tĩnh lặng bên trong thân thể bạn và đơn giản cảm thấy thư giãn đến mức có thể. Nếu bạn phải ở trong phòng bệnh, có thể đem vào một vài thứ tạo cảm hứng như bức tranh hay hoa tươi bên cạnh bạn để tạo niềm an ủi.

Bạn phải tự chăm sóc tốt cho chính bạn và sức khỏe của bạn. Lời khuyên này hoàn toàn hiển nhiên ; tại sao một số ngư