PHẦN
MỘT
CON
ĐƯỜNG CHỮA LÀNH
VÀO
ĐỀ
Tôi
sinh ra trong căn lều một gia đình du mục tầm thường trên
một cao nguyên cỏ xanh hoang dã phía Đông Tây Tạng, giữa
thế giới của những ngọn núi cao và những con sông rộng.
Mặt đất bao phủ đầy tuyết suốt tám tháng một năm. Gia
đình tôi thuộc bộ lạc du mục sinh sống trong lều, chăn
nuôi gia súc như trâu Yak, ngựa và cừu. Nhiều lần trong năm
chúng tôi cắm trại trên những thung lũng khác nhau để có
đủ cỏ tươi cho gia súc.
Lúc
lên năm tuổi, một thay đổi mạnh mẽ làm lay chuyển cuộc
sống tôi. Tôi được công nhận là tái sanh của một vị
thầy nổi tiếng thuộc tu viện Dodrupchen, một học viện quan
trọng ở miền Đông Tây Tạng. Người Phật tử công nhận
nguyên lý về nghiệp và tái sanh, vì vậy người Tây Tạng
tin rằng : khi một Đại Sư viên tịch, Ông hay Bà ấy sẽ
tái sanh như một người có khả năng lớn lao làm lợi ích
cho kẻ khác. Vì tôi là đứa con duy nhất, nên cha mẹ tôi
rất buồn, tuy nhiên họ đã dâng cúng tôi cho tu viện không
một chút lưỡng lự. Cha mẹ tôi đã tự hào và cảm thấy
được vinh dự sâu xa rằng con họ sẽ nhanh chóng trở thành
một trong những người được tôn kính trong thung lũng của
họ.
Mọi
phương diện của cuộc sống tôi đột nhiên thay đổi. Tôi
không có tuổi thơ bình thường được chơi đùa với những
đứa trẻ khác. Thay vào đó, những vị Thầy phụ đạo phẩm
giá săn sóc và đối đãi tôi với sự tôn kính, vì tôi được
công nhận là vị Thầy tái sanh của họ. Tôi cảm thấy quen
thuộc với cuộc sống mới, vì trẻ em luôn luôn dễ dàng
thích nghi với những hoàn cảnh mới hơn người lớn. Tôi
thương cha mẹ tôi, đặc biệt là bà ngoại, nhưng dù họ
được đặc biệt tạm thời cho phép, tôi bảo họ không nên
vào tu viện. Người ta cho rằng đây là một dấu hiệu khác
chứng tỏ rằng tôi đã từng sống ở tu viện trong đời
trước của tôi.
Từ
bình minh đến khi chiều xuống, vòng thời gian của tôi đầy
ắp việc học tập và cầu nguyện. Trong môi trường này,
phần lớn thời gian tôi tràn đầy hoan hỷ và an bình. Những
vị Thầy phụ đạo của tôi rất từ bi, thấu hiểu và thực
tế. Họ không phải là những tu sĩ kỷ luật cứng ngắt như
bạn đã hình dung, dù đôi lúc có thể như vậy. Trái lại,
họ hiền từ, khiêm tốn và mang lại cho mọi người niềm
hoan hỷ và nụ cười. Sau một thời gian, tôi không còn ham
chơi đùa, chạy nhảy vô ích. Tôi cũng cảm thấy không cần
thiết phải nhìn quanh nhiều, và tôi có thể ngồi yên trong
nhiều giờ. Trước tiên tôi thọ những lời nguyện cho người
mới tu và sau đó là tu sĩ. Mỗi một tháng được cạo tóc,
và sau bữa trưa chúng tôi không ăn cho đến sáng hôm sau. Những
ngày của chúng tôi đều đặn theo chu kỳ mặt trời và mặt
trăng. Cho đến tuổi mười tám, tôi vẫn chưa thấy máy bay
hay xe gắn máy. Một cái đồng hồ đeo tay là sản phẩm tinh
vi nhất của kỹ thuật hiện đại mà tôi tình cờ thấy được
trước khi rời tu viện.
Với
chúng tôi, đạo Phật không chỉ là thiền định, học tập
hay nghi lễ, mà là một cách sống hàng ngày và toàn bộ cuộc
đời. Đạo Phật dạy rằng đặc tính thiết yếu của tất
cả chúng sanh là tâm, mà trong bản tánh chân thật của mình,
tâm thì thanh tịnh, an bình và hoàn thiện đầy đủ. Tâm là
Phật. Như chúng ta biết, khi tâm thức chúng ta thoát khỏi
áp lực của cảm xúc và hoàn cảnh bên ngoài, tâm trở nên
an bình, rỗng rang, sáng suốt và lồng lộng hơn.
Trong
tu viện, tôi đã được dạy về sự quan trọng của việc
buông xả cái thái độ mà đạo Phật gọi là “chấp ngã”.
Nó là một nhận thức sai lầm về một thực thể thường
hằng, cứng chắc trong chính mình, trong những chúng sanh khác
và sự vật. “Cái ta” là một ý niệm được tạo tác bởi
tâm trí thông thường, không phải là tâm trong thực tánh của
nó. Chấp ngã là gốc rễ của rối loạn tâm trí và tình
cảm, là nguyên nhân của đau khổ của chúng ta. Đây là điểm
ở đó chúng ta có thể hiểu cốt lõi, tinh thần và mùi vị
của đạo Phật. Bạn có thấy đạo Phật là căn bản như
thế nào không ? Phật Giáo nói rằng đau khổ do tâm thức
chúng ta gây ra, thậm chí trước khi chúng ta có một cách ứng
xử nào không khéo léo hay rắc rối, hoặc ngôn ngữ bất hòa,
trước khi chúng ta lao vào đau khổ, bệnh tật, tuổi già và
cái chết chúng là sự nghiệp của tất cả chúng sanh. Trong
đạo Phật, tất cả những phiền não xáo trộn đều do từ,
đều gắn chặt vào sự chấp ngã. Ngài Shantideva một Đại
Sư của Phật Giáo đã mô tả cái bản ngã mà chúng ta bám
víu vào như “con quái vật độc ác” :
Mọi
bạo lực, sợ hãi và đau khổ
Hiện
hữu trên thế gian
Đều
do chấp ngã.
Vậy,
con đại ác quỷ này có ích gì cho các bạn ?
Nếu
bạn không buông bỏ bản ngã
Thì
khổ đau của bạn không khi nào chấm dứt.
Giống
như bàn tay mình không lìa bỏ lửa
Thì
bàn tay không bao giờ ngừng bỏng.
Nhưng,
làm thế nào chúng ta có thể buông bỏ bản ngã ? Với tôi,
việc chứng ngộ thật tánh không thể thực hiện lúc tôi
còn quá bé và mới bắt đầu giai đoạn tu hành. Nhưng, khi
đã tiến bộ qua nhiều mức độ rèn luyện thân thể và tâm
linh khác nhau, tôi đã có cảm hứng với sự tỉnh thức, lòng
bi mẫn, sùng mộ, tham thiền và tri giác thanh tịnh. Điều
đó có từ những mức độ tiệm tiến của việc nới lỏng
sự siết chặt tâm thức và cảm xúc của sự chấp ngã của
tôi, và tôi thu hoạch sức mạnh, tỉnh giác và sự rộng mở
bên trong nhiều hơn. Vì tôi dần dần đưa tâm mình vào bản
tính bình an của nó, và tự rèn luyện buông xả trong nó,
sự rối loạn của môi trường bên ngoài bắt đầu ít tác
động đến cảm nghĩ của tôi và trở nên dễ xử lý. Những
kinh nghiệm về bản tánh bình an và rỗng rang của tâm giúp
tôi chữa lành những biến cố khó chịu của cuộc sống,
duy trì sức mạnh và hạnh phúc trong cả hai môi trường tốt
và xấu.
Vào
năm tôi mười tám tuổi, vì những thay đổi chính trị ở
Tây Tạng, tôi đã đào thoát vất vả hàng ngàn dặm trong
vòng nhiều tháng với hai vị Thầy và tám người bạn của
tôi từ Tây Tạng đến Ấn Độ. Giữa đường, tại một
hang động thiêng liêng trong một thung lũng trống, ở đó những
ngọn núi xám sừng sững mọi hướng, Thầy tôi, Ngài Kyala
Khenpo, người đã săn sóc tôi như cha mẹ từ khi tôi năm tuổi
đã thở hơi cuối cùng. Đột nhiên tôi nhận thấy mình là
một người mồ côi, một kẻ đào thoát và một người tỵ
nạn không nhà.
Cuối
cùng, chúng tôi đến Ấn Độ, một miền đất giàu trí huệ
và văn minh. Lần đầu tiên trong nhiều tháng, tôi có thể
hưởng thụ cảm giác mát mẻ dưới những bóng cây và thoải
mái trong sự ấm áp của những chỗ ở. Trong khoảng một
trăm ngàn người tỵ nạn Tây Tạng ở Ấn Độ, nhiều người
đã chết vì sự thay đổi của khí hậu, thực phẩm, nước
và độ cao. Với những người còn sống, nỗi đau khổ của
những người thân còn ở lại Tây Tạng vẫn tiếp tục ám
ảnh chúng tôi cả ngày lẫn đêm.
Trong
những ngày đen tối đó, tất cả những gì tôi phải sống
và an ủi tôi là ánh sáng trí huệ của đạo Phật trong tâm
tôi. Nếu một vấn đề rắc rối có thể giải quyết và
xứng đáng để thử thách, tôi cố gắng dâng hiến cuộc
sống mình để giải quyết nó với một tâm thức an bình,
một thái độ rộng mở, một tính cách hoan hỷ. Nếu vấn
đề không giải quyết được, tôi cố gắng không nóng nảy
và lãng phí thời gian và năng lực của tôi vô ích. Trong bất
kỳ tình huống nào, tôi cố gắng buông xả những phiền não,
những bám chấp của tâm thức, bằng cách không bám vào, không
trụ nơi chúng, không lo âu về chúng, vì điều đó chỉ làm
tình huống tồi tệ hơn. Ngài Shantideva đã nói :
Nếu
bạn có thể giải quyết những vấn đề của mình,
Thì
cần gì phải lo nghĩ ?
Nếu
bạn không giải quyết được chúng,
Thì
lo nghĩ có ích gì ?
Suốt
từ lúc tôi đào thoát đến Ấn Độ, tôi không còn sống
trong cộng đồng tu viện hay dưới sự giám sát của kỷ luật
tu viện. Nhưng ấn tượng về sự an bình và hoan hỷ về tu
viện thiêng liêng ở Tây Tạng vẫn sống động mạnh mẽ
trong tâm trí tôi. Tiếng vọng của những lời từ ái, êm
dịu của những vị thầy đầy từ bi và trí huệ tột cùng
hồi tôi còn bé vẫn vang lên trong tai tôi. Quan trọng hơn nữa,
cái kinh nghiệm về sự rỗng rang, an bình, sức mạnh mà tôi
đã trau dồi rồi được tinh lọc và chiếu sáng trong lòng
tôi, qua việc đối mặt những gian khó trong cuộc sống tôi,
giống như vàng ròng được tinh luyện bằng sự nấu chảy
và trui đập. Những hình ảnh, lời nói và kinh nghiệm ấy
luôn luôn là ánh sáng dẫn đường và năng lực chữa lành
qua những đau khổ, rối loạn và yếu đuối của đời tôi.
Che
trú cho ánh sáng của tâm thức an bình khỏi gió bão của những
trận chiến cuộc đời, và tỏa ra ánh sáng của sự rỗng
rang và thái độ tích cực để đến với những người khác,
là hai yếu tố giúp cho tôi tiếp tục sống qua những lúc
khó khăn. Bằng nhiều cách, những bi kịch lớn của đời
tôi đã chuyển thành những gia hộ ban phước. Chúng làm rõ
những giáo lý đạo Phật về tính như huyễn của cuộc sống,
lột bỏ tấm màn che của sự an toàn giả tạo. Không có những
nghi ngờ gì nữa về quyền lực chữa lành của việc từ
bỏ chấp ngã.
Tôi
đến nước Mỹ năm 1980, một xứ sở của tự do và dư dả.
Nói chung, thật khó cho tâm trí an bình sống được qua những
tấn công của dục vọng và sự quyến rũ của vật chất
hơn là những nỗi đau đớn, khổ đau. Nhưng hiệu lực của
sự tu hành Phật giáo là trong lúc tôi hưởng thọ sự thịnh
vượng vật chất của phương Tây, tôi mến phục hơn cuộc
sống khiêm tốn, tự nhiên, trần thế của đạo Phật thời
còn bé. Cũng vậy, tôi càng được hưởng thụ cuộc sống
tâm linh của đạo Phật, tôi càng đánh giá cao lòng tin, lòng
bi mẫn, sự rộng lượng đặt nền trên những giá trị của
Do Thái Cơ Đốc Giáo kết hợp với sự thịnh vượng của
phương Tây làm phong phú cho sức mạnh tâm linh tôi. Sống trong
ánh sáng trí huệ của đạo Phật, tôi nhìn thấy những phẩm
tính tích cực của mỗi hoàn cảnh qua cánh cửa của bản
tánh an bình của tâm thay vì để cho những phẩm tính tiêu
cực tràn ngập. Đây là trái tim của con đường chữa lành.
Năm
1984, lần đầu tiên trong hai mươi bảy năm, tôi có thể về
thăm quê nhà Tây Tạng. Đó là lúc tôi sung sướng gặp lại
một số bạn cũ, những người thân còn sống sót, và một
thời khắc buồn rầu nhớ lại những người tôi thương mến,
những khuôn mặt thân yêu ấy đã ở trong ký ức tôi nhiều
năm, và những vị thầy tôn kính, mà lời dạy của các vị
là nguồn chữa lành của tôi đã qua đời. Tu viện, trong ký
ức tôi là nơi tu học, qua mấy chục năm yên lặng, nay còn
lại là những bức tường vỡ. Gần đây một số tu sĩ đã
bắt đầu trở lại xây dựng lại tu viện và đời sống
tu viện của họ.
Đa
số họ có thể chấp nhận và tự chữa lành khỏi những
kinh nghiệm không may của mình mà không cần trách cứ ai khác.
Rõ ràng người ta có thể tạm thời hài lòng bằng cách trách
cứ, đổ lỗi những sự không may của mình về những người
khác, nhưng điều này luôn dẫn đến kết quả là rối loạn
và đau khổ lớn hơn. Bằng lòng, không phiền trách là điểm
chuyển hướng thật sự của việc chữa lành. Nó là sức
mạnh chữa lành của tâm. Đó là tại sao Ngài Shantideva viết
:
Nếu
bạn không thể phát sinh lòng bi mẫn
Hướng
tới những người bị bắt buộc phải hại bạn
Vì
những phiền não của họ (của vô minh và sân giận)
Việc
cuối cùng bạn có thể làm là trở nên phẫn nộ với những
phiền não ấy.
Ở
Tây Tạng, người ta đến với những vị thầy tôn giáo để
được ban phước và chỉ dạy về tâm linh hay xin cầu nguyện
để chữa lành những khó khăn hay để thành tựu những mục
tiêu trần thế hay tâm linh của họ. Hiếm khi họ đến để
tham khảo về những vấn đề tâm lý, xã hội hay vật chất
của họ. Tuy nhiên, trong nền văn hóa phương Tây, giới tăng
lữ lại được tham khảo về tất cả các loại vấn đề
đời sống. Từ khi tôi đến Mỹ, bất cứ khi nào gặp khó
khăn, những người bạn đều đến gặp tôi để nhận lời
khuyên. Thật lạ lùng, tôi lại có thể đề nghị những giải
pháp chữa lành cho nhiều khó khăn của họ. Điều bí ẩn
không phải là tôi đã được trang bị bằng bất cứ sự
khéo léo y học, nghệ thuật chữa lành hay năng lực thần
bí nào, mà do tôi đã tự tu hành trí huệ của đạo Phật,
và có được khéo léo trong việc chữa lành những hoàn cảnh
đau đớn của đời sống của chính mình. Phát hiện đó tạo
cảm hứng cho tôi giới thiệu những cái nhìn và những tu
hành của đạo Phật về sự chữa lành trong hình thức một
quyển sách.
Quyển
sách này là một hướng dẫn thực hành cho bất cứ ai mong
muốn tìm thấy an vui và chữa lành cho lo lắng, căng thẳng
và đau khổ. Nó là bản tóm tắt những lời dạy về trí
huệ chữa trị mà tôi đã được nghe từ những lời êm dịu
của những vị đại sư. Trí huệ này trở thành nguồn chữa
lành năng lực nhất cho tôi và những người bạn tôi. Đó
là những giáo lý đạo Phật về sự chữa lành, và tôi chỉ
cố thử đem chúng đến với bạn mà không làm lu mờ chúng
bằng giọng điệu và ý niệm của riêng tôi.
Quyển
sách này có ba phần. Phần đầu là một cái nhìn tổng quan
về cuộc sống hàng ngày và thiền định, những thành tố
cần thiết cho việc chữa lành. Phần hai giới thiệu những
bài tập đặc biệt để chữa lành những vấn đề tâm trí,
tình cảm, xã hội và tâm linh. Những vấn đề về thân xác
là khó chữa lành nhất, nhưng chúng cũng có thể được giúp
đỡ bằng những bài tập làm phát sinh an bình, sức mạnh,
và năng lực tích cực, suối nguồn tối hậu của sự khỏe
mạnh thân thể của chúng ta. Phần cuối giới thiệu một
số thiền định của đạo Phật không những liên quan đến
những vấn đề trong đời sống hàng ngày mà còn với việc
đánh thức Phật tánh mà tất cả chúng ta đều sở hữu và
với sự mở rộng sức mạnh chữa lành vô tận của Tâm Phật
cho chính chúng ta và người khác.
Sự
khuyên bảo và hướng dẫn trong tập sách này bắt nguồn từ
những giáo lý đạo Phật, đặc biệt từ một bản văn ngắn
nhưng độc nhất vô nhị mang tựa “Chuyển hạnh phúc và
đau khổ vào con đường giác ngộ” do Ngài Dodrupchen, Jigme
Tenpe Nyima (1865-1926) một trong những vị Lama lãnh đạo và
học giả có thẩm quyền của phái Nyingma của đạo Phật
Tây Tạng và từ những luận thư khác như “Một hướng dẫn
phương cách sống của Bồ tát” do Ngài Shantideva (thế kỷ
thứ tám) một trong những vị thầy vĩ đại Ấn Độ của
Phật giáo Đại thừa.
Trên
tất cả, bất cứ những lời dạy về trí huệ chữa lành
nào được thấy trong những trang giấy này đều được cảm
hứng từ một người bằng xương bằng thịt tốt lòng và
trí huệ nhất mà tôi đã từng gặp, là vị Thầy nhân từ
Kyala Khenpo Chochošg (1892-1957) của tôi. Dưới sự chăm sóc
của Ngài tôi đã được nuôi dưỡng trong suốt mười bốn
năm như một người con. Nếu có bất cứ lỗi lầm nào trong
sách đều do những lơi lỏng của tâm trí vô minh của tôi,
và với trách nhiệm tinh thần, tôi cầu mong được sự tha
thứ của tất cả các vị thầy đã giác ngộ và của những
người đọc bi mẫn.
Nếu
bạn theo những bài tập trong sách này, bạn có thể chữa
lành những đau khổ và vấn đề của mình, phục hồi niềm
vui và sức khỏe trong cuộc sống bạn. Ít ra, chúng có thể
giúp bạn giảm bớt mức độ đau khổ, nỗi khó khăn và làm
gia tăng niềm hoan hỷ và sức khỏe của bạn. Hơn thế nữa,
sự an vui và sức mạnh phát xuất từ năng lực chữa lành
của tâm sẽ trang bị cho bạn đón nhận những đau khổ và
khó khăn thật dễ dàng, thoải mái như một phần của cuộc
sống, cũng giống như chúng ta chào đón đêm tối như một
phần của chu kỳ một ngày.
Tôi
hy vọng rằng quyển sách này sẽ giúp mọi người học làm
thế nào để được hạnh phúc và mạnh khỏe hơn. Bất cứ
người nào tâm thức rộng mở với năng lực chữa lành sẽ
được lợi lạc bằng cách thực hành theo những bài tập
chữa lành trong sách này. Không cần thiết phải tự cho mình
là Phật tử. Tuy nhiên, những bài tập này không có nghĩa
là những thay thế cho sự điều trị thông thường. Thuốc
men thích hợp, cách sinh hoạt, chế độ ăn uống và thực
tập luôn luôn là thiết yếu cho sự chữa lành.
PHẦN
MỘT
CON
ĐƯỜNG CHỮA LÀNH
1
NHỮNG
NỀN TẢNG CỦA SỰ CHỮA LÀNH
Tâm
chúng ta sở hữu sức mạnh chữa lành đau khổ và tạo ra
hạnh phúc. Nếu chúng ta sử dụng sức mạnh này cùng với
lối sống đúng đắn, một thái độ tích cực và việc thiền
định, chúng ta có thể chữa lành không chỉ những phiền
não tâm trí và tình cảm mà ngay cả những rắc rối của
thân thể.
Khi
chúng ta đã bám vào những mong muốn và lo nghĩ với tất cả
năng lực của ta, chúng ta chỉ tạo ra căng thẳng và mệt
mỏi. Bằng cách buông xả cái ý niệm mà đạo Phật gọi
là “chấp ngã”, chúng ta có thể mở ra với thật tánh của
mình, đó là sự an vui và giác ngộ. Quyển sách này là một
lời mời đánh thức trí huệ nội tại vốn có của chúng
ta, nguồn chữa lành mà chúng ta đều có. Giống như một cánh
cửa mở ra với trí huệ này, chúng ta có thể đem vào ánh
nắng, sự ấm áp và làn gió êm dịu của sự chữa lành.
Nguồn năng lực này là của chúng ta để tiếp xúc và chia
xẻ bất cứ lúc nào, một tài sản vũ trụ có thể mang lại
hạnh phúc cho chúng ta ngay cả trong một thế giới biến dịch
không ngừng và đau khổ này.
Trong
đạo Phật, trí huệ được dạy trong kinh điển chủ yếu
nhằm đến việc thực hiện sự giác ngộ. Tuy nhiên, những
luyện tập tinh thần cũng có thể giúp chúng ta tìm được
hạnh phúc và khỏe mạnh trong đời sống hàng ngày. Có những
bài thuyết pháp dài trong đạo Phật về sự cải thiện cuộc
đời bình thường của chúng ta và cách có được một đời
sống an vui, hoan hỷ và lợi lạc ngay trong thế giới này.
NHỮNG
LỢI LẠC CỦA SỰ CHỮA LÀNH
Đạo
Phật ủng hộ sự buông bỏ những căng thẳng không lành mạnh
và không cần thiết do chúng ta tạo ra trong cuộc sống bằng
cách nhận ra chân lý sự vật thật sự là thế nào. Tôi đã
thấy nhiều ví dụ về sức mạnh chữa lành của tâm trong
những vấn đề cảm xúc, tinh thần và cả bệnh về thể
xác.
Một
ví dụ về chính cuộc đời của tôi. Khi được mười tám
tuổi, vị Thầy thân yêu Kyala Khenpo và tôi quyết định rời
bỏ Tây Tạng vì rối loạn chính trị, dù biết rằng chúng
tôi phải mất đất nước, nhà cửa, bạn hữu và cách sinh
sống. Trong một thung lũng trống trải nhưng linh thiêng, Thầy
Kyala Khenpo đã viên tịch vì bệnh tật và tuổi già. Ngài
không chỉ là người Thầy giác ngộ từ ái mà còn là người
chăm sóc từ khi tôi được năm tuổi như là cha mẹ ruột
của tôi. Đây là khoảng thời gian đau buồn và bối rối
nhất. Tuy nhiên, sự hiểu biết về vô thường – sự kiện
rằng mọi sự luôn luôn thay đổi trong đời sống khiến tôi
dễ dàng chấp nhận. Những kinh nghiệm tâm linh giúp tôi duy
trì tĩnh lặng, và ánh sáng trí huệ của giáo lý làm cho cuộc
sống tương lai trong sáng hơn với tôi. Nói khác đi, nhận
biết bản tánh của sự việc đang xảy ra, mở ra với nó
và dùng những nguồn sức mạnh mà tôi đã được trao cho
giúp tôi chữa lành những mất mát một cách dễ dàng hơn.
Chúng ta sẽ thấy có ba bước cơ bản – nhận ra những khó
khăn và đau khổ, mở rộng ra với chúng, và trau dồi một
thái độ tích cực – là toàn bộ quá trình chữa lành.
Lama
Pushul, một vị Thầy khác của tôi, suốt thời còn bé đã
có những vấn đề tinh thần. Vào tuổi thiếu niên, Ngài là
người phá phách, gia đình đã trói Ngài lại để bảo vệ
cho chính Ngài và người khác khỏi sự bạo hành đó. Qua những
thiền quán chữa lành, chủ yếu là lòng bi mẫn, Ngài đã
tự chữa lành và sau đó trở thành một vị Thầy, một học
giả vĩ đại. Ngày nay, tôi biết rằng chưa có một ai vui
vẻ, an bình và nhân từ hơn Ngài.
Khi
tôi sống ở Tây Tạng, việc chữa lành thân thể bằng thiền
định và thái độ đúng là một phần thông thường trong
cuộc sống hàng ngày. Thế nên bây giờ có ai hỏi tôi cho
những ví dụ về việc chữa lành thân thể, tôi cũng không
dễ hình dung ra chuyện nào để kể. Đối với những người
từ Tây Tạng, họ chấp nhận như một sự kiện bình thường
rằng tâm có thể chữa lành cho thân thể. Tâm dẫn dắt những
năng lực của cơ thể đó là lý do tại sao tâm có thể chữa
lành. Có nhiều sự chữa lành, khi còn bé tôi không để ý
đến. Tuy nhiên, tôi thực sự biết một ví dụ gần đây,
nhiều người cho đó là chuyện lạ, nhưng với quan điểm
của đạo Phật cũng không đáng ngạc nhiên lắm.
Hai
năm trước, Ngài Dodrupchen Rinpoche, một vị Lama có tâm linh
cao, trong lúc đến vùng ngoại ô xa xôi của Bhutan, đã bị
một cơn đau ruột thừa nghiêm trọng. Một phó thủ tướng
đã sắp xếp một trực thăng để đưa Ngài đi bệnh viện.
Những bác sĩ sợ rằng ruột thừa của Ngài sẽ vỡ và sự
đau đớn rất là lớn. Ngược lại với lời khuyên mạnh
mẽ của các bác sĩ, Ngài từ chối giải phẫu và tự chữa
lành cho mình bằng thiền định và những chân ngôn (Mantra).
BẤT
CỨ AI CŨNG ĐƯỢC LỢI LẠC
Khả
năng chữa lành những bệnh nặng nhờ thiền định tùy thuộc
vào mức độ lòng tin và kinh nghiệm tâm linh của người đó.
Dĩ nhiên, phần lớn chúng ta sẽ rất vui được giải phẫu
khi bị viêm ruột thừa sắp vỡ. Tôi kể câu chuyện này để
minh họa sức mạnh của tâm, và vì người ta quan tâm mạnh
mẽ về việc duy trì sức khỏe thân thể của họ. Một số
chúng ta là những vị thầy tâm linh. Nhưng bất cứ ai cũng
có thể được lợi lạc từ thiền định và từ thái độ
tích cực. Bắt đầu từ ngay bây giờ, chúng ta có thể sống
một cuộc sống hạnh phúc và mạnh khỏe hơn.
Mặc
dầu bệnh tật thân thể là một chủ đề bạn sẽ đọc
ở đây, quyển sách này như một sách giáo khoa, giúp chúng
ta ứng xử với những phiền não hàng ngày. Đây là nơi bắt
đầu tốt nhất cho phần lớn chúng ta. Nếu chúng ta có thể
học cách đem sự bằng lòng lớn hơn vào bất cứ việc gì
mình làm, những ban phước khác sẽ tự nhiên tuôn chảy.
Những
quan niệm và bài tập thiền quán trong sách này được bắt
nguồn từ những giáo lý Nyingma của đạo Phật, một phái
lâu đời nhất của Tây Tạng, có từ thế kỷ thứ chín,
một học phái gồm đủ cả ba truyền thống chính của Phật
giáo : Tiểu thừa, Đại thừa và Kim Cương thừa. Tuy nhiên,
bạn không cần phải là một Phật tử để sử dụng quyển
sách này. Không may, nhiều người xem Phật giáo như là một
tôn giáo được truyền bá bởi một đạo sư đặc biệt của
lịch sử, đức Phật Thích Ca Mâu Ni, tôn giáo đó chỉ làm
lợi lạc cho những người theo truyền thống này.
Đạo
Phật là một con đường phổ quát chung khắp. Mục tiêu của
nó là chứng ngộ chân lý phổ quát, trạng thái toàn giác,
Phật tánh. Theo chính đức Phật Thích Ca Mâu Ni, có vô số
những chúng sanh chứng ngộ Phật tánh trước khi Ngài đản
sanh. Đang có, đã có, và sẽ có đạo Phật, con đường và
những vị Phật (những người đã giác ngộ) trong thế giới
này cũng như trong nhiều thế giới khác ở quá khứ, hiện
tại và vị lai. Có thật rằng cách đây hơn 2.500 năm, đức
Phật Thích Ca Mâu Ni truyền bá những giáo lý được gọi
là Phật giáo. Phật giáo được dạy bởi đức Thích Ca Mâu
Ni là một trong những hình tướng biểu hiện của đạo Phật,
nhưng không phải là loại đạo Phật độc nhất. Người nào
với tâm thức rộng mở sẽ nghe được con đường thực sự,
mà người Phật tử gọi là Pháp, thậm chí ngay trong thiên
nhiên. Dharmasamgiti nói : “Người nào có tâm thức tốt, ngay
cả vào thời không có Phật, sẽ nghe được Pháp từ bầu
trời, tường vách và cây cỏ. Với những người tìm cầu
mà tâm thanh tịnh, những giáo pháp và những giáo huấn sẽ
hiển lộ theo những mong muốn của người đó.”
Đạo
Phật nhận biết những khác biệt trong những văn hóa và thực
hành của mọi người trong thế gian, và trong những nuôi nấng
và nhân cách cá nhân. Nhiều nền văn hóa và tôn giáo khác
có những truyền thống chữa lành, và đưa ra những lời khuyên
đặc biệt về đau khổ. Ngay cả ở Tây Tạng, có nhiều cách
tiếp cận với đạo Phật. Có nhiều sự khác biệt về cách
tiếp cận là tốt, ngay cả nếu đôi lúc chúng có vẻ mâu
thuẫn với nhau, bởi vì con người thì khác nhau. Toàn bộ
mục đích là làm cho thích hợp với những nhu cầu của cá
nhân.
SỰ
THIỀN ĐỊNH, TÂM THỨC, THÂN THỂ
Chữa
lành bằng thiền định không giới hạn cho một niềm tin tôn
giáo nào. Ngày nay, nhiều thầy thuốc được đào luyện trong
truyền thống y khoa phương Tây đã giới thiệu những phương
thức thiền định truyền thống như một cách hồi phục và
duy trì sức khỏe tinh thần và cơ thể. Những thực hành này
hiếm khi biết đến kinh nghiệm về cái mà đạo Phật gọi
là Thật tánh hay sự rộng mở vĩ đại, mà chỉ nhấn mạnh
vào việc quán tưởng, sự phát triển thái độ và năng lực
tích cực. Bệnh cao huyết áp, trong nhiều trường hợp được
tạo ra và tiến triển nặng hơn do những căng thẳng tinh thần,
đặc biệt phù hợp với những điều trị thay đổi luân
phiên như vậy (thiền quán, thái độ tích cực...). Một số
thầy thuốc đã giới thiệu việc chú tâm vào một điểm
trên cơ thể ở những vùng bị co cơ và sau đó chủ động
buông lỏng những cơ đó, kết quả đạt được sự bớt
đau và thư giãn. Phương pháp này theo cùng nguyên lý của đạo
Phật về cách nhận biết một vấn đề và sự nới lỏng
bám chấp vào nó.
Sự
chữa lành có hiệu quả nhiều nhất nếu có bất kỳ niềm
tin tâm linh nào hay kinh nghiệm thiền quán đi cùng. Tiến Sĩ
Herbert Benson, khoa y trường Đại học Harvard, người khởi
đầu Liệu Pháp Thư Giãn đã viết như sau : “Nếu bạn thật
sự tin tưởng vào triết lý cá nhân hay niềm tin tôn giáo
– nếu bạn gắn chặt tâm hồn bạn với thế giới quan của
bạn – bạn có thể đạt được những kỳ diệu khác thường
của tâm và thân mà thường chúng ta chỉ suy đoán về chúng.”
Tiến
Sĩ Y Khoa Bernie Siegel, giáo sư và phẫu thuật gia của Đại
học Yale, mô tả một số lợi ích của thiền định : “Thiền
định làm bình thường hay giảm áp huyết, nhịp tim, những
mức độ nội tiết tố căng thẳng trong máu, làm thay đổi
những mẫu sóng não, cho thấy não ít bị kích thích... Thiền
định cũng làm nâng cao ngưỡng chịu đau và giảm sự già
sinh học của con người. Tóm lại, nó làm giảm sự hao mòn
của thân, tâm, giúp con người sống khỏe mạnh và lâu hơn.”
Nhiều
nhà báo như Bill Moyers, đã ghi nhận chi tiết về sự liên
hệ giữa thân, tâm với sức khỏe. Ông đã nói trong phần
giới thiệu quyển sách Tâm và sự chữa lành trên một loạt
các buổi phát hình công cộng :
Tôi
cho rằng mình luôn quan tâm về mối liên hệ giữa thân và
tâm, mặc dầu tôi đã lớn lên trong một nền văn hóa phân
chia tách biệt tâm và thân. Tuy vậy, hàng ngày trong thế giới
phân chia dứt khoát tâm và thân này, ngôn ngữ chúng ta đã
phản bội lại những giới hạn của những phạm trù của
chúng ta.
Bà
quả phụ Brown đã chết vì một cơn vỡ tim – bà ta không
bị bệnh tim trước khi chồng bà qua đời. Cha mẹ tôi nói
chuyện về người bạn bán tạp hóa của họ, người “hay
tự lo rằng mình bệnh hoạn.” Chú tôi, Carl tin rằng cái
cười có thể làm dịu sự đau khổ, trước thời gian Norman
Cousins xuất bản câu chuyện của Ông về cách thế nào để
đối phó với những bệnh hiểm nghèo bằng cách xem những
phim Anh Em nhà Marx và những bộ phim video “Ống Kính Bộc
Trực.”
Trong
những năm gần đây, Y học phương Tây đã bắt đầu có cách
nhìn xác thực hơn về thân và tâm, khảo sát sự liên hệ
giữa tâm trí, những cảm xúc và sức khỏe. Trong những năm
70, những nhà nghiên cứu tìm ra bằng chứng ở não có những
cái mà họ gọi là chất dẫn truyền thần kinh, là những
sứ giả hóa chất đến và từ bộ não. Một số chất này
có tên là Endorphins và Enkaphalins với chức năng làm hết đau.
Một số khác dường như có liên quan đến trạng thái cá
biệt của tâm trí như : giận dữ, sự bằng lòng, hay bệnh
tâm thần.
Sự
nghiên cứu tiếp tục tìm thấy những liên hệ sinh học giữa
não bộ, hệ thần kinh và hệ miễn nhiễm. Mặc dầu y học
phương Tây không phải là chủ đề của quyển sách này, thì
những phát minh trong lãnh vực này rất đáng quan tâm. Bằng
chứng mới về tâm và thân luôn luôn được đón nhận và
có thể lợi ích cho nhiều người. Tuy nhiên, ý niệm căn bản
đàng sau những cuộc nghiên cứu này thật ra là rất xưa.
Đạo Phật tin vào sự quan trọng của tâm nhiều thế kỷ
đã lâu trước khi có những học thuyết về sinh học phân
tử hiện đại.
ĐƯỜNG
LỐI CỦA Y HỌC TÂY TẠNG TRONG VIỆC
CHỮA
LÀNH TÂM LINH
Trong
đạo Phật, tâm phát sinh những năng lực chữa lành, trong
lúc thân vốn là cứng đặc và vững chắc, làm nền, quy tụ
và làm mạnh cho chúng. Bản văn chính của y học Tây Tạng
là Bốn Tantra (Gyud Zhi), người Tây Tạng coi là Terma hay là
sự Mặc Khải huyền bí, được Ngài Trawa Ngonshey tìm ra ở
thế kỷ mười một. Theo những bản văn cổ này, gốc rễ
mọi bệnh tật của thân và tâm là sự chấp ngã. Những độc
của tâm thức khởi lên từ sự bám chấp này là tham, sân,
si.
Những
bệnh tật của thân phân làm ba loại chính. Sự mất hài hòa
của khí hay năng lượng, thông thường tập trung ở phần
dưới cơ thể và có tính lạnh là do tham dục gây ra. Mất
hài hòa của mật, thường tập trung ở phần trên cơ thể
và có tính nóng là do sân hận gây ra. Mất hài hòa về thủy
dịch, thường tập trung ở đầu, mang tính lạnh là do si (vô
minh) gây ra. Ba phạm trù : tham, sân, si này cũng như nhiệt
độ phối hợp của chúng, ngày nay còn có thể rất ích lợi
trong việc xác định những bài tập thiền quán nào có hiệu
quả nhất, theo những tính chất và trạng thái cảm xúc cá
nhân.
Theo
y học Tây Tạng, sống trong an vui tự tại với phiền não
và buông xả ngã chấp là phương thuốc tối hậu cho sức
khỏe tinh thần lẫn vật chất.
Bản
ngã là gì mà chúng ta hay gặp trong sách này ? Quan điểm của
đạo Phật đôi lúc khó hiểu cho những người không phải
đạo Phật. Dù bạn có thể thiền định mà không cần biết
bản ngã là gì, một số hiểu biết về bản ngã sẽ làm
dễ dàng hơn việc thực tập những bài tập chữa lành được
giới thiệu ở phần sau.
Ngôn
ngữ có thể lừa dối chúng ta khi nói về chân lý tối hậu.
Trong ý nghĩa hàng ngày, khi chúng ta nói về “bản thân tôi”
hay “bản thân bạn” là hoàn toàn tự nhiên. Tôi nghĩ chúng
ta có thể đồng ý rằng tự hiểu biết là tốt, và tính
ích kỷ có thể làm chúng ta không hạnh phúc. Nhưng hãy đi
xa hơn một chút và thử nghiệm sự thật sâu hơn về bản
ngã như đạo Phật thấy nó.
TẠI
SAO CHÚNG TA ĐAU KHỔ
Tâm
chúng ta tạo ra kinh nghiệm hạnh phúc lẫn đau khổ và khả
năng tìm thấy an vui nằm trong chúng ta. Trong thật tánh của
nó, tâm thì an bình và giác ngộ. Bất cứ ai hiểu được
điều này là đã ở trên con đường đến trí huệ.
Đạo
Phật đặt trọng tâm trên nguyên lý hai chân lý, chân lý tuyệt
đối và chân lý tương đối. Cái tuyệt đối là thật tánh
của tâm thức chúng ta và của vũ trụ thì giác ngộ an bình,
và toàn thiện. Thật tánh của tâm với đạo Phật Nyingma
nghĩa là sự hợp nhất giữa tỉnh giác và rỗng rang, hay tánh
giác và tánh không.
Chân
lý tương đối hay quy ước là trong toàn bộ đời sống bình
thường – cuộc sống trần tục vô thường qua đi của sanh,
tử mà đạo Phật gọi là luân hồi (Samsara) – thế giới
được kinh nghiệm như là nơi chốn của đau khổ, của sự
thay đổi không ngừng và vọng tưởng, vì khuôn mặt của
thật tánh bị che mất do những thói quen tâm thức và phiền
não mọc rễ trong sự chấp ngã của chúng ta.
Trong
tư tưởng phương Tây, “bản ngã” thường mang nghĩa cá
nhân hay ý thức bản ngã về “tôi, là tôi và của tôi”,
đạo Phật bao gồm ý nghĩa bản ngã này mà cũng hiểu “bản
ngã” là bất cứ hiện tượng hay đối tượng nào – tất
cả mọi sự – mà chúng ta bám chấp như thể chúng là một
thực thể đang hiện hữu thực sự. Nó có thể là bản ngã
của người khác, bản ngã của cái bàn, của đồng tiền
hay bản ngã của một ý niệm.
Nếu
chúng ta bám chấp vào những sự vật đó, chúng ta đang kinh
nghiệm chúng theo cách nhị nguyên, như một chủ thể bám chấp
một đối tượng. Bấy giờ tâm trí bắt đầu phân biệt,
chia tách và dán nhãn sự vật như ý niệm rằng “tôi” thích
“cái này”, hay “tôi” không thích “cái này”. Chúng ta
nghĩ “cái này” đẹp, vậy là trói buộc đến, hay “cái
kia” không đẹp, thế là đau khổ đến. Chúng ta khao khát
những gì mình không có hoặc cảm thấy buồn rầu khi mất
chúng. Khi tâm thức chúng ta càng nắm siết hơn, càng cảm
thấy gia tăng kích thích hay đau khổ và đây là chu trình đau
khổ.
Với
tâm “tương đối” hay tâm bình thường, chúng ta chấp ngã
như thể nó vững chắc và có thực. Tuy nhiên, bản ngã là
một ảo giác, vì mọi kinh nghiệm trong luân hồi đều tạm
thời, thay đổi và chết mất. Tâm bình thường của chúng
ta nghĩ bản ngã như là một cái gì đó thực sự hiện hữu
như một thực thể độc lập. Nhưng trong quan điểm đạo
Phật, bản ngã không thực sự hiện hữu. Nó không cố định
hoặc là một cái gì bền vững, mà chỉ là một mệnh danh,
dán nhãn bởi tâm. Bản ngã cũng không là một thực thể độc
lập. Trong quan điểm Phật giáo, mọi pháp vận hành tùy thuộc
lẫn nhau, bởi thế không có gì thực sự có một phẩm chất
hay bản tính độc lập.
Trong
đạo Phật, luật nhân quả được gọi là nghiệp (karma).
Mỗi một hành động đều có một hậu quả tương ứng, mọi
sự tùy thuộc lẫn nhau. Hạt nẩy mầm thành cây, đơm hoa,
kết trái rồi tạo ra hạt trở lại. Đó là một ví dụ rất
đơn giản về nguyên nhân. Nhờ nghiệp, hành vi của chúng
ta đã định hình thế giới mà chúng ta sống. Ngài Thế Thân
(Vasubandhu), nhà viết luận thư vĩ đại của Đại thừa đã
nói : “Do nghiệp, những thế giới khác nhau được tạo ra.”
Bám
chấp tạo ra nghiệp tiêu cực – những thói quen và khuynh
hướng tiêu cực của chúng ta. Nhưng không phải mọi nghiệp
đều xấu, dù có một số người suy nghĩ nhầm lẫn về nó.
Chúng ta cũng có thể tạo ra nghiệp tích cực và đó gọi
là sự chữa lành. Sự bám chắc bản ngã tạo ra nghiệp tiêu
cực. Nghiệp tích cực tháo gỡ sự bám chấp này, và khi buông
lỏng sự nắm chặt ấy, chúng ta tìm thấy sự an vui trong
mình và trở nên hạnh phúc, mạnh khỏe hơn.
TẤT
CẢ CHÚNG TA ĐỀU LÀ PHẬT
Đạo
Phật tin rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Trong
thật tánh của mình, tất cả chúng ta đều là chư Phật.
Tuy nhiên, khuôn mặt Phật tánh của chúng ta bị che lấp bởi
nghiệp và những tì vết của nó, mà gốc rễ là sự chấp
ngã giống như mặt trời bị mây che phủ.
Tất
cả chúng sanh đều giống nhau và đều là một sinh linh toàn
thiện trong thật tánh của chúng. Chúng ta biết, khi tâm thức
được tự nhiên, thoải mái và tự tại trước những tình
huống, những áp lực tinh thần hoặc cảm xúc làm rối loạn,
chúng ta thể nghiệm được sự an vui. Điều này hiển nhiên
là tâm bản nhiên không bị nhiễm ô là an bình và không đau
khổ. Dù rằng, trí huệ, thật tánh thường an trú trong chúng
ta, bị che phủ bởi sự nhiễm ô tinh thần, nó vẫn hoàn thiện
và trong sáng. Tổ Long Thọ (Nagarjuna), người đặt nền tảng
của học phái Trung Đạo của Phật giáo Đại thừa, viết
:
Nước
trong trái đất không bị biến thể.
Cũng
vậy, trong phiền não.
Trí
huệ vẫn không biến thể.
Tổ
Long Thọ nói về sự an bình và giải thoát như là “cõi giới
tối hậu” của chính nó luôn luôn ở trong chúng ta mọi lúc
nếu chúng ta nhận ra nó, chứng ngộ nó :
Trong
bụng bà mẹ mang thai
Dù
có một đứa trẻ, ta không thể thấy.
Tương
tựï, ta không thấy tự tánh mình
Nó
bị che lấp bởi phiền não của chúng ta.
An
bình là ở trong chúng ta, chúng ta không cần phải tìm kiếm
nó ở đâu khác. Bằng cách dùng cái mà đạo Phật gọi là
“phương tiện thiện xảo” gồm sự thực hành thiền định,
chúng ta có thể mở bày ra điện thờ thiêng liêng tối hậu
này. Tổ Long Thọ mô tả cõi giới tối hậu này – sự rỗng
rang vĩ đại, sự hợp nhất giữa tâm và pháp giới – theo
cách sau :
Khi
khuấy sữa, bơ tinh chất sẽ hiện ra,
Tịnh
hóa phiền não, cõi giới tối hậu sẽ hiển lộ toàn vẹn
Như
đèn trong bình, ánh sáng không xuất hiện.
Phật
tánh bị che phủ trong cái bình của phiền não
khiến
ta không thể thấy.
Nếu
ta đục một lỗ trên bất cứ chỗ nào của bình
Từ
chỗ đó ánh sáng chiếu ra mạnh mẽ
Khi
cái bình của những phiền não
Bị
hủy diệt bởi định như Kim Cương
Ánh
sáng chiếu soi vào hư không vô tận.
Thích
Ca Mâu Ni, đức Phật lịch sử, nói trong Haivajra :
Chúng
sanh là Phật trong bản tánh chân thật của họ,
Nhưng
bản tánh của họ bị che ám bởi những phiền não duyên sanh
Khi
những phiền não được trừ sạch, chúng sanh là Chân Phật.
Phật
tánh hay giác ngộ là “vô ngã”. Nó là sự an vui, rỗng rang,
vô ngã, nhất thể và niềm vui toàn thể, vĩnh viễn, toàn
khắp. Với đa số người, viễn cảnh đạt đến toàn giác
là rất xa lạ và khó hiểu. Mục đích của quyển sách này
là không vượt khỏi bản ngã, cũng không phải là toàn giác,
mà chỉ là buông xả việc chấp chặt bản ngã một ít để
được hạnh phúc và mạnh khỏe hơn. Dù thế, nó giúp ta có
được một ý niệm về cái có nghĩa là sự rộng mở và
nhất thể toàn triệt.
Những
câu chuyện chúng ta được nghe về “những kinh nghiệm cận
tử” lúc hấp hối, hay trở về từø cõi chết, có thể
cung cấp cho chúng ta sự quán chiếu. Nhiều người đã sống
lại từ quá trình hấp hối đã mô tả việc di chuyển qua
một đường hầm, gặp ánh sáng trắng xúc chạm cho họ một
cảm giác đại lạc, đại an bình. Tuy vậy, ánh sáng không
phải là một cái gì tách rời khỏi kinh nghiệm này. Ánh sáng
là sự an bình. Và họ là ánh sáng. Họ không kinh nghiệm và
thấy ánh sáng theo lối nhị nguyên thông thường, như chủ
thể và đối tượng. Thay vào đó, ánh sáng, sự an bình và
con người là một.
Trong
một câu chuyện lúc cận tử, một người đàn ông đã thấy
lại mọi việc xảy ra trong đời sống mình, từ lúc mới
sinh ra cho đến khi chết, không chỉ là một sự kiện này
tiếp theo một sự kiện khác, mà toàn bộ cuộc sống xảy
ra cùng lúc. Và ông ta không thấy bằng mắt hay nghe bằng tai,
ngay cả biết bằng ý, ông ta có một tỉnh giác sinh động
và thuần khiết về cái thấy, biết và cảm nhận mà không
có sự cách biệt giữa chúng. Trong trường hợp như vậy,
khi những giới hạn và hạn chế không còn, đó là cái một.
Với cái một, không có đau khổ hay xung đột, vì xung đột
chỉ hiện hữu khi nào ở đó có hơn một.
Với
Phật tử, những kinh nghiệm như vậy được đặc biệt quan
tâm, vì chúng có thể là một thoáng thấy “trung ấm quang
minh của bản tánh tối hậu” là một giai đoạn chuyển tiếp
sau khi chết, cho người nào có một nhận biết nào đó về
chân lý, vượt được khỏi phạm vi không gian, thời gian và
những ý niệm thông thường. Những chuyện như vậy không
chỉ là về kinh nghiệm chết, mà chúng còn có thể cho chúng
ta biết về sự giác ngộ có thể thực hiện được trong
lúc ta còn sống.
Tâm
giác ngộ thực sự không xa lạ lắm đâu. Tánh không hay sự
rỗng rang, thì ở đây với chúng ta, dù chúng ta thường không
nhận ra nó, chúng ta có thể thể nghiệm toàn bộ về nó vào
những thời điểm quan trọng trong cuộc sống, hay thậm chí
là một cái thoáng thấy giữa cuộc sống hàng ngày của ta.
Chúng ta không cần phải đợi tới lúc cận tử. Dù cho những
câu chuyện cận tử có thể gây cảm hứng và thích thú, giác
ngộ không phải chỉ là một câu chuyện này hay câu chuyện
khác. Nó không phải là kinh nghiệm “này” hay cách nhìn “kia”
hay chúng sanh này chúng sanh kia. Toàn bộ tánh rỗng rang vượt
khỏi những đối cực “hiện hữu” và “không hiện hữu”,
cũng không vừa “hiện hữu” vừa “không hiện hữu” hay
“không hiện hữu” vừa “không phải không hiện hữu”.
Nói cách khác, toàn thể tánh rỗng rang không thể ở trong
mô tả và ý niệm.
CON
ĐƯỜNG CHỮA LÀNH
Giác
ngộ là nhất như (oneness) vượt lên sự chấp ngã, nhị nguyên,
hạnh phúc hay phiền muộn, nghiệp xấu hay tốt. Tuy nhiên,
khi ta nói về sự chữa lành như trong sách này, không cần
thiết phải quá quan tâm đến giác ngộ. Chứng ngộ thật
tánh của tâm ta là sự chữa lành tối hậu, nhưng với tâm
thông thường cũng có những năng lực chữa lành. Chúng ta
có thể dùng tâm nhị nguyên, thông thường để tự giúp đỡ
chính mình. Phần lớn những bài thực hành trong sách này dùng
những tiếp cận hàng ngày để trở nên thong dong và hạnh
phúc hơn.
Vậy,
mục đích chúng ta đơn giản là đi từ tiêu cực đến tích
cực, từ bệnh tật đến chữa lành. Nếu lúc này chúng ta
đã ở trong một trạng thái tích cực, chúng ta có thể học
làm sao để duy trì và hưởng thụ nó. Tuy nhiên buông xả
bám chấp nhiều đến đâu chúng ta sẽ cảm nhận nhiều tốt
đẹp đến đó.
Trên
một hành trình dài, chúng ta có thể luôn ghi nhớ đích đến
tối hậu, nhưng thật là tốt nếu mỗi ngày chúng ta sống
trọn vẹn và nghỉ ngơi suốt dọc con đường. Nếu muốn
buông lỏng sự chấp chặt bản ngã, chúng ta không nên quá
cố gắng. Tốt hơn nên có một lối tiếp cận nhẹ nhàng.
Bất cứ những bước mà ta đi, dù là những bước ngắn,
điều quan trọng nhất là thích thú với những bước nhỏ
đó, và rồi chúng sẽ trở nên đầy sức mạnh. Luôn luôn
chúng ta phải hân thưởng những gì mình có thể làm, và không
nên cảm thấy điều chúng ta không làm được là xấu.
Hãy
rộng mở, tích cực, buông xả hơn một tí. Đây là những
mục tiêu của quyển sách này. Nếu chúng ta là người mới
thiền định và tu hành tâm linh, điều quan trọng là thực
hành, dùng kiến thức của ta để thấy con đường đúng mà
đi. Khi ta giữ một thái độ rộng mở, những khơi gợi về
những thiền định đặc biệt chữa lành giúp chúng ta tiến
nhanh. Sự hướng dẫn tốt nhất của tất cả là trí huệ
trong chúng ta. Chúng ta không nên hạn chế trong vài phương
pháp thiền định. Thay vào đó, tất cả đời sống suy nghĩ,
cảm nhận, những hoạt động và kinh nghiệm hàng ngày –
có thể là một phương tiện của sự chữa lành.
2
SỨC
MẠNH CHỮA LÀNH CỦA TÂM
Khi
tôi được sáu hay bảy tuổi, đôi lúc tôi chơi đùa với
các bạn trên những đồng cỏ mênh mông, nơi người du mục
Tây Tạng sinh sống. Đó là những ngày đầy nắng hạ trên
cao nguyên phía Bắc Tây Tạng. Mặt đất bao phủ cỏ xanh trông
mút tầm mắt. Khắp nơi, ngập đầy mắt là khung cảnh ngoạn
mục của những bông hoa đầy màu sắc. Không khí tĩnh lặng,
chim muông bay lượn, hót những điệu nhạc êm dịu, những
con bướm nhảy múa dập dờn trong gió, những con ong bận rộn
hút mật từ những bông hoa. Trên bầu trời xanh thẳm, đó
đây có những đám mây che bóng trên đất mẹ đầy quyến
rũ và đẹp đẽ. Sự xúc chạm dịu dàng của không khí và
ánh sáng, không cảm giác nào có thể so sánh. Khung cảnh hoàn
toàn thanh tịnh và an bình, không có một dấu vết nào của
nhiễm ô hay không hài hòa, chỉ có những âm thanh ngọt ngào,
những khúc nhạc êm dịu của thiên nhiên. Mọi việc xảy
đến tự nhiên, không có thời hạn để theo đuổi. Không
có tiếng của đồng hồ hạn chế chúng ta, chỉ có những
chu kỳ mặt trời, mặt trăng làm nhịp điệu và định lượng
cuộc sống chúng ta.
Toàn
thể cảnh vật hoàn toàn tự do, mở rộng và an bình ngây
ngất. Tôi không nghĩ đến mùa đông lạnh giá liên tục chờ
đợi chụp xuống đầu chúng tôi. Tôi lăn tròn trên đất
mẹ đầy khoan dung, luôn chào đón và chạy chân trần trên
cánh đồng, thưởng thức những nụ hôn của cỏ ướt. Toàn
bộ hiện hữu của tôi, cả thân và tâm thể nhập toàn bộ
vào một kinh nghiệm duy nhất – niềm vui.
Đột
nhiên, chân phải tôi đau nhói, toàn thân tôi co cứng vì đau.
Lúc này tất cả những gì tôi cảm thấy đã chuyển thành
kinh nghiệm đau đớn. Thoạt tiên, tôi chưa có ý niệm gì
về việc xảy ra, sau đó một âm thanh vù vù từ chân tôi,
một con ong nghệ bị kẹt giữa hai ngón chân, nhưng tôi không
thể mở ngón chân ra được. Con ong càng chích đau, chân tôi
càng xiết chặt, cơn đau lại gia tăng. Cuối cùng, một người
bạn chạy đến và mở những ngón chân tôi cho con ong bay ra.
Chỉ có làm như vậy mới chấm dứt cơn đau.
Nếu
chúng ta có thể thấy rõ ràng tâm thức bám chấp đã tạo
ra những rối rắm của chúng ta như thế nào ! Khi chúng ta
bám chặt vào bản ngã, thân thể, tâm thức và tâm linh chỉ
làm gia tăng cơn đau. Trong sự lầm lộn của mình, chúng càng
bám chặt hơn và tự vận hành một chu kỳ đau khổ là đặc
trưng của thế giới luân hồi sinh tử. Ngay khi chúng ta hạnh
phúc, đau khổ có thể đến bất cứ lúc nào, và vì thế
chúng ta thường bám chặt vào cái mình có e rằng sợ mất.
Theo
triết học Phật giáo Đại thừa, chúng ta lang thang trong thế
giới này vô mục đích, không thấy được sức mạnh nội
tại có thể giải thoát chúng ta. Tâm chúng ta tạo tác tham
muốn và ghét bỏ và giống như người say, chúng ta nhảy nhót
lung tung vì bị điều khiển bởi vô minh, bám chấp và thù
hận. Hạnh phúc thì thoáng qua, sự không hài lòng lại săn
lùng chúng ta. Tất cả giống như một cơn ác mộng. Chừng
nào còn tin vào giấc mơ là thật, chúng ta còn là nô lệ của
nó.
Để
thức tỉnh dậy, phải xua tan những đám mây khỏi bản tánh
chân thật của tâm ta. Nhiều thế kỷ trước, một hoàng tử
là Sĩ Đạt Đa Cồ Đàm (Sidharta Gautama) đã từ bỏ quyền
lợi hoàng tộc, và sau khi thiền định lâu dài và sâu xa,
Ngài thấu biết chân lý đời sống như nó thực sự là. Ngài
đã được biết đến như là một vị Phật. Trong Phạn ngữ,
từ Phật có nghĩa là thức tỉnh. Chúng ta cũng có thể thức
tỉnh. Quá trình chữa lành là thức tỉnh sức mạnh của tâm
chúng ta.
TÂM
LÀ NHÂN TỐ CHÍNH
Giống
như người thầy thuốc, chúng ta phải chẩn đoán ra bệnh,
loại bỏ nguyên nhân gây bệnh và dùng thuốc để chữa lành
bệnh. Ngài Vô Trước (Asanga), người đặt nền tảng cho học
phái Duy Thức của đạo Phật viết :
Cần
phải chẩn đoán bệnh, để loại bỏ nguyên nhân của nó,
Và
dùng thuốc để đạt được khỏe mạnh
Đau
khổ phải được nhận biết, nguyên nhân phải được loại
bỏ,
Phương
thuốc để chấm dứt bệnh phải được áp dụng, và sự
chấm dứt đạt được (diệt đế).
Trong
đạo Phật, việc chẩn bệnh và phương thuốc được chứa
trong Bốn Chân Lý : Chân lý rằng chúng ta đang khổ đau, chân
lý về tại sao chúng ta khổ đau, chân lý rằng ta có thể
chấm dứt sự khổ đau của chúng ta, và chân lý về con đường
dẫn đến giải thoát. Chúng ta có thể chọn đi theo con đường
này. Ngay khi đối phó với những khó khăn hàng ngày, chúng
ta có thể cải thiện đời sống mình. Tâm là chìa khóa. Bằng
sự hướng dẫn và tu tâm thích hợp, chúng ta có thể kinh
nghiệm được sức mạnh chữa lành. Kinh Pháp Cú (Dharmapada)
nói :
Tâm
dẫn dắt mọi hiện tượng.
Tâm
là nhân tố chính, đi trước mọi hành vi.
Nếu
nói hay làm với một tâm độc ác,
Khốn
khổ sẽ theo sau, giống như xe theo sau do ngựa kéo.
Mọi
hiện tượng do tâm dẫn dắt.
Tâm
là nhân tố chính, đi trước mọi hành vi.
Nếu
nói hay làm với một tâm thanh tịnh,
Hạnh
phúc theo sau, như bóng theo hình.
Hạnh
phúc thật sự và trường cửu không đến từ môi trường
vật chất hay bên ngoài, mà qua sự bằng lòng và sức mạnh
của tâm. Ngài Dodrupchen viết :
Người
có học nhận ra rằng mọi hạnh phúc và đau khổ đều tùy
thuộc vào tâm, do vậy, phải tìm hạnh phúc từ chính tâm.
Bởi vì họ hiểu rằng mọi nguyên nhân của hạnh phúc hoàn
toàn ở trong chúng ta, nên họ không dựa vào những nguồn
bên ngoài. Nếu chúng ta thấu biết điều này, thì dù chúng
ta có đối mặt với những vấn đề khó khăn gây ra bởi
người hoặc vật, chúng cũng không thể làm thương tổn chúng
ta. Hơn thế nữa, chính sức mạnh của tâm này cũng sẽ ở
với chúng ta để cung cấp cho chúng ta an vui và hạnh phúc
vào lúc chết.
Thật
tánh của tâm chúng ta là an bình. Học cách buông bỏ những
lo nghĩ, căng thẳng không cần thiết, chúng ta đã để cho
hạnh phúc có cơ hội tỏa sáng. Tất cả đều tùy thuộc
vào tâm ta. Đạo Phật tin rằng tâm thức có thể chuyển hóa
cảm xúc, và hạnh phúc không chỉ có thể mà là thuộc quyền
của chúng ta. Chúng ta không cần phải để sự lo nghĩ làm
chủ. Buông bỏ là một đường lối thông thường, nó không
phải là một thái độ lạ thường nằm riêng trong một tôn
giáo hay triết học nào, như trong Kinh Thánh (Eccles 30:5) nói
:
Không
nên buông thả mình cho buồn rầu,
và
tự hành hạ mình vì lo nghĩ.
Sự
vui vẻ của lòng là đời sống của mọi người,
niềm
vui là cái làm cho cuộc sống kéo dài.
Cẩn
thận với sơ suất, an ủi lòng mình,
xua
tan phiền muộn ;
Vì
phiền muộn là sự hủy hoại của nhiều người
và
không ích lợi gì cho ai.
Ghen
tỵ và thù hận làm ngắn đi cuộc sống,
lo
nghĩ chỉ đem lại già sớm.
Một
trái tim vui vẻ chan hòa giúp ăn nhiều,
cho
những ai muốn thưỏng thức bữa ăn ngon.
SỐNG
NHƯ THẾ NÀO TRONG THẾ GIỚI
Một
số người nghĩ đạo Phật là một tôn giáo cho những ai muốn
đạt đến trạng thái an lạc, và rồi biến mất vào một
loại không hiện hữu nào đó đối với những người khác.
Đây không phải là một hình ảnh chính xác của đạo Phật.
Người Phật tử tin vào sự nhập cuộc hoàn toàn trong đời
sống. Con đường chữa lành không loại trừ những vấn đề
và khó khăn, mà nó ôm lấy chúng như là một phương tiện
để chứng ngộ thật tánh của chúng ta.
Chúng
ta có thể dùng một tiếp cận thực tế đối với những
vấn đề có vẻ hoàn toàn tiêu cực. Nếu chúng ta đang ở
trong hoàn cảnh căng thẳng, chúng ta phải nhận ra và tự làm
hòa với nó, nghĩ rằng : “xấu đấy, nhưng cũng tốt thôi”.
Nếu chúng ta không trở nên cuồng loạn nơi hoàn cảnh, tự
kéo dài một chuỗi nhận thức tiêu cực, thì ảnh hưởng
của chúng sẽ tiêu dần đi, vì giống như mọi sự trong cuộc
sống, hoàn cảnh này là vô thường, không sớm thì muộn sẽ
thay đổi. Biết như vậy, chúng ta có thể an nhiên tiến đến
bước kế tiếp của sự chữa lành, với một cảm nhận tự
tin rằng những hoàn cảnh bên ngoài không thể chế ngự trí
huệ nội tại của chúng ta.
Trong
quan điểm Phật giáo, rốt ráo những cảm xúc không tốt cũng
không xấu. Chúng ta phải chấp nhận và chào đón tất cả
cảm xúc của ta. Đồng thời, chúng ta cần không bị chi phối
bởi những cảm xúc hoang dã hay phá hoại. Nếu chúng ta bị
tổn thương bởi thèm muốn, vướng mắc, rối ren hay sân hận,
tốt hơn nên nghĩ về “cái đúng để tôi làm” hơn là về
“cái tôi muốn làm”. Khi ta đi vào con đường chữa lành,
chúng ta nên làm mạnh mẽ những ý định của mình. Chúng
ta phải để tâm trí chúng ta hướng dẫn mọi cảm xúc.
Nếu
dựa vào bất cứ những gì bên ngoài chúng ta như chúng là
nguồn thỏa mãn tối hậu, chúng ta sẽ cảm thấy như trên
con thuyền chòng chành giữa sự mãn nguyện và không thỏa
mãn. Sự bám chấp phó mặc chúng ta cho sự luân chuyển mãi
của bánh xe luân hồi, một thế giới thoáng qua của hoan lạc
và đau khổ. Khi chúng ta buông bỏ bản ngã và tìm thấy trung
tâm an bình thật sự của chúng ta, ta thấy rằng không cần
phải bám víu vào những ý niệm tốt, xấu, hạnh phúc, đau
buồn, cái này hay cái kia, “tôi” và “họ”. Nhiều tôn
giáo và triết học khuyên chống lại sự đồng hóa mạnh
mẽ với bản ngã. Bản văn nổi tiếng của Ấn Độ giáo,
Áo nghĩa thư (Upanishads) đã so sánh sự tự đồng hóa này
với một cái bẫy : “nghĩ ‘đây là tôi’ và ‘đó là
của tôi’, người ta đã tự trói buộc với bản ngã và
hành động như con chim mắc bẫy.”
Chăm
sóc những nhu cầu thực sự của chúng ta và người khác là
con đường tìm thấy an bình, và khi làm điều này chúng ta
đã tham gia vào cuộc sống. Đấu tranh không phải là điều
xấu. Chúng ta có thể học để thấy sự đấu tranh với đời
sống là một thách thức thích thú. Tuy nhiên, phải nhận ra
rằng, trong việc tìm kiếm bất kỳ một mục đích nào trần
tục hay tâm linh, việc bám chấp sẽ làm mệt mỏi và trói
buộc chúng ta trong sự ích kỷ. Khi chúng ta biết cái mình
thực sự cần để sống, việc khéo léo sống trong một cách
thế quân bình trở nên dễ dàng hơn.
ĐIỀU
GÌ QUAN TRỌNG CHO CUỘC SỐNG CON NGƯỜI
Thực
phẩm, quần áo, chỗ ở, sức khỏe, sự chăm sóc và giáo
dục là cần thiết để kéo dài cuộc sống quý giá của con
người. Là thành viên của xã hội con người, chúng ta cần
tôn trọng người khác, tôn trọng những nhu cầu căn bản,
những thể chế làm lợi lạc cho người khác. Ngoài ra, không
có gì ở bên ngoài đáng giá bằng thời gian, an bình, năng
lực và trí huệ của chúng ta – những tặng phẩm lớn của
cuộc sống chúng ta. Những tiện nghi khác của đời sống
phần lớn là công cụ để thỏa mãn tâm khát khao của chúng
ta, tôn sùng và đánh bóng bản ngã của chúng ta, và siết
chặt thêm sự bám chấp của chúng ta. Khi tích lũy những lạc
thú thế gian, sự ham muốn chạy theo của chúng ta càng lúc
càng nặng hơn. Kinh Lalitavistara khuyên :
Hưởng
thụ những lạc thú của tham dục,
Như
uống nước muối, sẽ không bao giờ đem lại thỏa mãn.
Giàu
và nghèo đều đau khổ như nhau, vì những lo nghĩ bên ngoài
liên hệ với tham dục. Thậm chí có hàng tỷ đau khổ do giận
dữ, thất vọng, buồn chán. Họ có hưởng thụ một ít an
bình, nghỉ ngơi thật sự nhưng chỉ lo lắng mất những gì
họ có hoặc kiếm cho được những gì họ không có. Họ không
thể hưởng thụ người mà họ đang là, mà chỉ sống cho
cái mà họ bị lôi cuốn và bị nô lệ. Không phải bản thân
việc kiếm tiền gây ra đau khổ, mà việc trao cuộc đời
mình cho sự bạo ngược của những sở hữu bên ngoài là
sự giết mất của an vui.
Trong
một cách tương tự, người nghèo mắc bẫy vào cuộc chiến
đấu để sống còn. Họ không dám hưởng thụ một chút nào
mà họ có, vì sợ mắc phải đau khổ hơn. Khi Mẹ Teresa nhận
giải Nobel hòa bình, Bà kể câu chuyện này : “Một ngày,
những Soeur truyền giáo ở Calcutta đem về một đứa bé mồ
côi và họ đưa cho đứa bé một miếng bánh mì. Đứa bé
chỉ ăn phân nửa. Khi hỏi tại sao đứa bé trả lời : “Nếu
con ăn hết, vậy đâu còn bánh mì nữa để con ăn.” Chỉ
sau khi chắc chắn sẽ có bánh mì, đứa bé mới chịu ăn hết
phần bánh còn lại.
Mặc
dù sự tiến bộ và phát triển vật chất của văn minh hiện
đại, nhiều người đã trật đường khỏi ý nghĩa cuộc
sống. Dù giàu hay nghèo, hoặc thoải mái giữa giàu và nghèo
chúng ta phải thận trọng, không nên quý chuộng những lạc
thú vật chất với cái giá mất đi bản tánh chân thật của
chính mình. Nếu sử dụng năng lực của mình để chỉ nghĩ
đến những việc trần tục và làm sao để có được nhiều
hơn – thức ăn ngon hơn, nhiều tiền hơn, nổi tiếng và được
biết đến nhiều hơn, bất cứ thứ gì ở bên ngoài chúng
ta – thì chúng ta sẽ mất đi cái giá trị nhất.
Chúng
ta tập trung chú ý đến tất cả mọi thứ cách xa chúng ta
– càng xa con người chân thật của chúng ta, chúng ta càng
cho là quan trọng. Chúng ta định giá trị những gì mình có
và thân xác ở trên tâm thức, vẻ bề ngoài của ta lên trên
sức khỏe, sự nghiệp đặt lên trên cuộc sống gia đình.
Chúng ta đồng hóa với thân thể và xem tâm chỉ là công cụ
của thân, như một người nào đó đã mô tả một cách hài
hước “nấm trên bộ não.” Chúng ta tự cắt mình ra khỏi
nguồn hạnh phúc thực sự, tích lũy những sở hữu cho nhà
cửa mình mà không chăm sóc cho thân, tâm, mặc dù điều kiện
quan trọng nhất cho cuộc sống trong nhà là một tâm hạnh
phúc và một thân khỏe mạnh.
Khi
tôi trưởng thành ở Tây Tạng, một người quen đã dùng rìu
để đốn củi và chặt phải đôi giày mới. May thay, chân
anh ta không bị thương mà lại rách giày da, chiếc giày có
một giá trị với một xứ nghèo như Tây Tạng. Anh ta nói
thật lòng : “Nếu tôi không mang giày, chân tôi bị thương
rồi sẽ lành. Tệ thật, đây là đôi giày mới và chúng không
bao giờ lành.” Đây là cách nhìn rất buồn cười về sự
vật. Nhưng nó cũng phổ biến với những người đặt vấn
đề vật chất lên trên hết, rồi tới thân và cuối cùng
là tâm, sự việc đã hoàn toàn bị đảo ngược.
Mặc
dù chúng ta có thể nói : “Tôi muốn được an bình và khỏe
mạnh”, chúng ta thực sự coi trọng thành quả của sự năng
nổ trong việc kiếm được những nhu cầu vật chất hơn là
làm thăng bằng hay an bình để nuôi dưỡng sức mạnh bên
trong chúng ta. Chúng ta tiêu tốn nhiều thời gian và sinh lực
cho sự nghiệp hơn việc xây dựng cuộc sống trong gia đình,
dù chúng ta làm việc là để cho gia đình hạnh phúc.
Chúng
ta sống giống như những con ong, chúng bỏ cả đời gom góp
mật, nhưng cuối cùng lại để cho kẻ khác hưởng thành quả
suốt đời lao động của chúng. Chúng ta đặt giá trị trên
việc kiếm được nhiều tiền hơn và trên cách sống khoa
trương dùng tiền mua sắm hơn là làm việc có mục đích và
để ý xem việc làm ấy có ích lợi cho mình và người khác
hay không. Chúng ta chấp nhận sự nguy hiểm cho cuộc sống
quý giá của mình để kiếm tiền, giống như uống rượu
để xoa dịu sự căng thẳng của công việc làm mắc bệnh
đau bao tử. Đồng tiền trở nên người chủ, ý nghĩa và
mục đích tối hậu cho quá nhiều người.
Nếu
chúng ta cố gắng làm việc trên tâm để cải thiện những
thái độ, phẩm chất của mình, xã hội hiện đại gán cho
chúng ta là ích kỷ, không thực tế và lười biếng. Người
sản xuất ra vật chất được đánh giá, ca ngợi cao, mà không
phải là người tìm kiếm con đường tâm linh. Nếu chúng ta
ở nhà chăm sóc phần bên trong và cuộc sống thiêng liêng,
người ta đối xử chúng ta như một kẻ bất tài, thất nghiệp
và vụng về. Căn nhà bị giảm xuống thành nhà trọ, một
nơi để nghỉ qua đêm.
Chúng
ta phải từ bỏ những cái gì đó để được những cái khác.
Làm sao chúng ta có thể nghĩ đến việc đánh mất trung tâm
an bình quý giá và cuộc đời vui tươi tự nhiên chiếu sáng
từ đó, chỉ để có kinh nghiệm một cuộc sống đầy những
khó khăn ? Hiện nay, hình như không chỉ người bình thường
mà thậm chí còn có những vị thầy tâm linh cảm thấy bị
thúc dục theo đuổi nền văn hóa vật chất hiện đại. Có
một câu chuyện cổ châm biếm về tình trạng này :
Ngày
xưa ở Ấn Độ, những nhà tiên tri tiên đoán rằng trong bảy
ngày nữa sẽ có một cơn mưa lớn, ai uống nước mưa sẽ
bị điên. Khi mưa xuống, vị Vua đã trữ đầy nước sạch
cho mình nên không bị điên. Dân chúng dùng hết nước sạch,
phải dùng nước mưa nên bị điên. Sau đó, họ coi ông Vua
là điên. Do đó, để hiểu và cảm thông với dân, ông Vua
phải uống nước mưa và bị điên giống thần dân của mình.
Tôi
không đề nghị rằng chúng ta có thể hay phải lờ đi hệ
thống của đời sống hiện đại. Chúng ta không thể tồn
tại nếu không có những nhu cầu cơ bản, chúng ta cần thực
tế và tôn trọng những quan điểm chung. Nhưng chúng ta cần
đặt mọi sự vào viễn cảnh tổng quan. Thiết yếu là hiểu
được chúng ta là ai, chúng ta đứng ở đâu, cái gì là giá
trị thật sự và làm thế nào để sống trong thế giới.
Nếu
chúng ta không thận trọng và để cho tâm bám chấp trở thành
siết chặt và khô cứng, những thói quen tiêu cực sẽ ăn
mòn cảm thức an bình của ta. Kinh Udanavarga nói :
Từ
sắt, rỉ sét xuất hiện, và
Rỉ
sét ăn mòn sắt
Cũng
vậy, những hành vi không thận trọng mà chúng ta làm,
Do
bởi nghiệp, dẫn ta xuống những cuộc sống địa ngục.
Trong
thời gian đầu của cuộc sống tỵ nạn, một biến cố đơn
giản tạo một ấn tưởng mạnh trong tôi. Tôi đã đến Kalim-pong
với vài người bạn, một thị trấn dễ chịu nằm trên những
ngọn đồi thuộc dãy núi Hy Mã Lạp Sơn Ấn Độ. Trên đỉnh
đồi, chúng tôi dừng lại ở một nghĩa trang để uống trà
vì mệt và đói, cũng không đủ tiền để ăn tại nhà hàng.
Tôi
đi tìm một số cây và đá để tạo một cái bếp. Khi qua
phía bên kia của ngọn đồi, tôi gặp một nhà sư già có
khuôn mặt lớn và đôi mắt nhỏ chiếu sáng khoảng dưới
tám mươi tuổi. Tôi nhận ra Ngài là một Lama từ Mông Cổ
đến vì khuôn mặt tròn và lưỡng quyền cao. Ngài ngồi trong
một căn phòng rất nhỏ đàng sau một căn nhà cũ, cửa sổ
và cửa ra vào mở rộng. Căn phòng mỗi bề rộng tám bộ
(khoảng 2,43 m). Ngài thiền định, đọc sách, nấu ăn, ngủ
và nói chuyện với mọi người, ngồi xếp bằng trên cái
giường suốt ngày trong một căn phòng nhỏ tương tự. Ngài
có một bàn thờ nhỏ, với một ít tượng tôn giáo và vài
quyển kinh trên một cái kệ nhỏ trên tường. Cạnh giường
là một bàn ăn rất bé và cũng là bàn làm việc, gần bàn
là một bếp than nhỏ, trên đó Ngài đang nấu một ít thức
ăn cho mình.
Ngài
nở một nụ cười hoan hỷ và hỏi tôi : “Anh tìm gì ?”
Tôi đáp : “Chúng tôi vừa tới đây và tôi đi tìm một ít
củi nấu trà.” Ngài nói một cách êm dịu : “Không có nhiều
thức ăn, nhưng anh và tôi hãy chia với nhau bữa cơm tôi đang
sửa soạn nhé ?” Tôi cám ơn nhưng từ chối lễ phép. Các
bạn tôi đang đợi. Rồi Ngài bảo : “Đợi một chút, tôi
sắp nấu xong và bạn có thể mượn cái lò. Cũng còn ít than
cho bạn đủ để nấu trà.”
Những
điều đã thấy làm tôi sửng sốt. Ngài rất già, nhưng Ngài
dường như không có thời gian để tự chăm sóc. Tuy vậy,
cặp mắt nhỏ của Ngài đầy nhân từ, nét mặt trang nghiêm
và duyên dáng đầy niềm vui, tấm lòng Ngài rộng mở đầy
nhiệt tình chia xẻ, tâm ngài an bình. Ngài nói chuyện với
tôi như một người bạn cũ dù rằng mới gặp tôi lần đầu.
Một cảm giác an bình, hoan hỷ, lạ lùng xuyên suốt thân tôi.
Tôi cảm thấy như vậy vì tinh thần tự nhiên và sức mạnh
tâm linh của Ngài tỏa ra như một người giàu có và hạnh
phúc nhất trên thế giới. Tuy nhiên, theo cách nói của thế
giới duy vật, Ngài là kẻ không nhà, không việc làm và không
có hy vọng. Ngài không có một sự giúp đỡ, không lợi tức
thu nhập, không trợ giúp của gia đình, không tín dụng xã
hội, không có sự giúp đỡ của chính quyền, không đất
nước, không tương lai. Hơn hết, Ngài là một người tỵ
nạn ở nước ngoài, thậm chí còn khó giao thiệp được với
dân địa phương. Ngay cả ngày nay, khi tôi nhớ đến Ngài,
tôi không thể làm gì khác mà chỉ lắc đầu trong nỗi kinh
ngạc và tôn vinh Ngài trong tâm. Tôi cũng muốn nói thêm rằng,
Ngài không phải là người duy nhất có tính chất ấy mà tôi
đã gặp. Có nhiều người đơn giản mà vĩ đại như vậy.
KHỞI
ĐẦU CON ĐƯỜNG CHỮA LÀNH
Buông
lỏng chấp ngã đem đến cho ta tâm an bình, và với nó không
gì có thể tổn hại được chúng ta. Ngay cả nếu có đau
khổ, thái độ đúng sẽ giúp chúng ta chịu đựng phiền não
một cách nhẹ nhàng hơn. Để được ích lợi từ những kỹ
thuật thiền quán nhằm làm mạnh tâm, ngay lúc khởi đầu,
điều quan trọng là nghe những lời chỉ dạy mà không có
những định kiến hay phán đoán. Nếu chúng ta tìm điều gì
đó có thể hiểu và có ý nghĩa cho nhu cầu của mình, chúng
ta cần hướng mọi ý định, cảm nghĩ vào việc đem kỹ thuật
vào trong thực hành, không ngần ngại, trông chờ hay nghi ngờ.
Niềm tin là tác nhân của sức mạnh chữa lành. Đơn giản
bằng việc mở rộng tâm, chúng ta sẽ ngạc nhiên bởi sức
mạnh bên trong của chính ta.
Rèn
luyện tâm thức khiến phát triển sự nồng ấm của tinh thần
và có thể dẫn chúng ta đến một nhận biết rộng mở và
linh hoạt hơn. Mặc dù không phải mọi kỹ thuật tôi hướng
dẫn ở đây đều nguyên dạng như trong kinh điển, nhưng mọi
đề nghị gợi ý đều đặt nền trên những nguyên lý và
trí huệ của đạo Phật. Mục đích nhằm đem lại sức mạnh
an bình nội tại bằng việc phát triển những phẩm tính như
nhận thức tích cực, sự khéo léo (thiện xảo) chuyển mọi
sự xảy đến cho chúng ta thành sự hỗ trợ thay vì là một
chướng ngại.
Phẩm
tính quan trọng khác nữa là sự sùng tín, rất cần thiết
trong bất kỳ việc thực hành tâm linh nào, tuy vậy không cần
thiết phải mang ý nghĩa tôn giáo. Với những ai thích một
tiếp cận thế tục hơn, sự sùng tín đơn giản có nghĩa
là một sự trau dồi trí huệ nội tại và một sự cảm kích
sâu xa về chính chúng ta, về người khác và về thế giới
nói chung. Cầu nguyện là cách mà một người thực hành tâm
linh làm để dẫn năng lượng vào việc biểu lộ sùng tín
hơn là hao phí năng lực đó trong những chuyện phiếm vô mục
đích. Kiểu cầu nguyện thế tục là sự diễn đạt những
cảm giác hạnh phúc hay hoan hỷ bằng ngôn ngữ của chính
chúng ta, mà chúng ta có thể nói thầm hay lớn tiếng.
Với
Phật tử Đại thừa, những ai quan tâm trong việc chuyển hóa
những khó khăn và làm tan biến tự ngã, lòng bi mẫn được
xem là công cụ chữa lành đặc biệt. Khi chúng ta đến với
những người khác, sự chấp cứng bản ngã bắt đầu mềm
dần. Mặc dù mục tiêu tối hậu của việc đào luyện tâm
linh là thoát khỏi sự nương dựa vào bất cứ cái gì ngoài
tâm, đạo Phật khuyên bảo rằng tham gia vào thế giới là
một sự thực hành tích cực trên con đường chân thật. Điều
này bao gồm việc phụng sự những người khác, tạo ra những
cơ sở, những viện để giúp đỡ người khác, che chở, biếu
tặng, cầu nguyện và tôn trọng. Thậm chí những gặp gỡ
xã hội nhỏ nhặt của đời sống cũng có một lợi lạc
mạnh mẽ khi chúng ta biết vui thích và tôn trọng bất cứ
ai mình gặp. Ngài Shantideva viết :
Khi
bạn nói, hãy nói với sự thanh thản, trong sáng,
thích
hợp và thoải mái,
Không
có tham dục và thù hận,
Với
ngữ điệu dịu dàng và ôn hòa vừa phải.
Khi
bạn nhìn, hãy nhìn với đôi mắt yêu thương và
trung
thực, nghĩ rằng :
“Nhờ
vào người này
Tôi
sẽ trở thành toàn giác.”
Bằng
cách để cho chúng ta lưu tâm chăm sóc, bình an và buông xả,
thì những công việc và hoạt động hàng ngày, ngay cả đến
hơi thở, cũng có thể trở thành một phần của việc thực
hành chữa lành, và chúng ta sẽ đạt được sức mạnh một
cách tự nhiên. Nếu chúng ta mở rộng với nó, đời sống
bình thường của chúng ta sẽ chuyển thành một đời sống
chữa lành. Bấy giờ, dù không chính thức ngồi thiền, cuộc
sống chúng ta sẽ là sự thiền định trong hành động.
Phần
lớn những bài tập trong cuốn sách này nhằm vào việc chuyển
hóa những xúc cảm bằng việc nhận ra những vấn đề và
đi từ tiêu cực đến tích cực. Một tiếp cận khác đi đến
thiền định là vượt trên cả xấu lẫn tốt, bằng việc
mở rộng chúng ta với những cảm nhận và kinh nghiệm tâm
chúng ta đúng “như nó là”. Thật ra, thiền định nhằm
vào sự chuyển hóa những vấn đề khó khăn được hiệu
quả nhất khi nó bao gồm những cảm nghĩ tốt và sự rộng
mở. Trước tiên, chúng ta tập trung, sau đó lúc kết thúc
thời khóa công phu bằng buông xả và làm một với bất kỳ
cái gì chúng ta đang kinh nghiệm.
Sau
khi học một số những thiền định truyền thống và bài
tập, chúng ta có thể khéo léo áp dụng những phương thuốc
riêng của mình trong những vấn đề hàng ngày. Cái ý niệm
“tôi” sẽ mềm dẻo nhiều hơn ta nghĩ. Chúng ta có thể
thí nghiệm và học cách đùa bỡn hơn, ít chú tâm vào viễn
cảnh tiền đồ của mình. Chẳng hạn, khi một vấn đề có
vẻ nghiêm trọng, chúng ta có thể tìm thấy sự giảm nhẹ
bằng việc nhận ra một cái gì hài hước trong đó. Hoặc
nếu dưới áp lực của công việc, chúng ta có thể cảm thấy
thư giãn và thông thoáng hơn. Vì ngôn từ có sức mạnh lớn,
chúng ta có thể tự nhủ “áp lực vẫn còn đó, nhưng tôi
cảm thấy hoàn toàn thoải mái.” Chúng ta có thể nhận biết
hơi thở của mình trong cách thư giãn và chú ý cảm nhận
khoảng trống và không khí quanh ta, và trong cách này chúng
ta thực sự ít bị áp lực và được nhiều khoảng không
hơn.
Khi
cảm thấy phiền não quá mạnh, một số người thấy ích
lợi khi thực hành sự rộng mở hơn là cố gắng chuyển hóa
khó khăn. Hòa nhập vào sự rộng mở rỗng rang sẽ được
thảo luận ở chương kế tiếp, nhưng nó sẽ không làm ngạc
nhiên bất cứ ai vì cái nguyên lý đàng sau sự tiếp cận
này là buông bỏ tự ngã.
Nếu
có người rớt xuống biển mà không biết bơi, người đó
sẽ nắm chặt nước và sẽ chìm như một tảng đá. Một
người bơi giỏi vì đã được rèn luyện, biết cách buông
lỏng và hòa nhập làm một với đại dương bao la. Tu hành
giống như học bơi và cần có một số hướng dẫn khi bắt
đầu. Tu tâm cũng cùng một cách như vậy, đó là phần còn
lại của quyển sách này.
3
BƯỚC
KHỞI ĐẦU
Trải
qua nhiều thế kỷ, đạo Phật đã phát triển cả một kho
bao la kiến thức về tâm. Đặc biệt khi chúng ta bắt đầu
học thiền định, tất cả những đề nghị và quan niệm
có thể làm cho ta cảm thấy tràn ngập. Tốt nhất là giữ
cho sự thực hành của chúng ta đơn giản. Hãy đặt những
mục tiêu có thể đạt đến và nỗ lực với năng lực tích
cực. Đừng lo âu về những khó khăn, mà nên cảm thấy vui
thích với bất cứ những lợi lạc nào xảy đến. Ngay cả
những kinh nghiệm tiêu cực hay những cái gọi là khuyết điểm
cũng lợi lạc nếu chúng ta nhìn chúng một cách tích cực.
Khi
thiền định, nên thoải mái và buông xả, hơn là xua đuổi
những lo nghĩ và ước muốn của mình. Chúng ta thường ngồi
để thiền định, nhưng phần lớn những gì chúng ta biết
từ thiền định phải được đem vào trong những sinh hoạt
thường ngày. Ngôn từ là cần thiết để diễn tả thiền
định như thế nào và đem thái độ đúng vào cuộc sống
của chúng ta ra sao. Tuy nhiên, điều quan trọng là thực hành
và cảm nhận, không có sự quan tâm quá mức về những ý
niệm, phạm trù hay quy tắc. Hãy nhẫn nại, rộng mở và làm
việc với những gì đời sống của riêng bạn đem lại cho
bạn.
CHỌN
ĐỊA ĐIỂM
Chỗ
tốt nhất để thực hành rèn luyện tâm linh trong việc chữa
lành là một nơi an bình, thoải mái và ít bị xao lãng, là
chỗ tâm trí có thể tĩnh lặng và thân thể dễ chịu, là
chỗ ta cảm thấy tỉnh giác, thông thoáng và vui thích.
Những
nhà hiền triết thời xưa, đã ca ngợi nhiều nơi, tùy thuộc
vào tính cách của hành giả, sự thực hành và mùa. Được
ưa thích là những nơi cô tịch có tầm nhìn rộng trong sáng,
như đỉnh núi chọc trời hay giữa cánh đồng phì nhiêu. Một
số hành giả tìm niềm vui trong rừng, giữa cây cối, động
vật hoang dã và chim muông ca hát những khúc hát niềm vui không
tuổi tác và chơi đùa không sợ hãi. Những người khác lại
thích thực hành ở vùng biển với những cơn sóng nhảy múa
liên tục hay một con sông với dòng chảy tự nhiên, mạnh
mẽ. Một số lại chọn những hang động khô ráo trong những
thung lũng trống mà không gian ở đó an tĩnh tuyệt vời.
Nếu
không sống trong cảnh thiên nhiên như vậy, chúng ta nên tìm
một chỗ thoải mái trong nhà, sửa soạn thật tốt và vui
thích với nó.
Chọn
một căn phòng hay một góc phòng yên tĩnh nhất, ít bị quấy
rối bởi điện thoại, trẻ em, người trong nhà, hay bạn bè.
Bấy giờ hãy cảm thấy tốt : tốt về nơi chốn, thời gian
và cơ hội có được nơi chốn và thời gian đó. Hãy khởi
lên lòng hoan hỷ với dịp may này co thể thấu hiểu ý nghĩa
tâm linh của cuộc đời bạn.
Nói
chung, với người mới bắt đầu nên thực hành một mình,
ở một nơi không có những chướng ngại. Sau khi đạt được
sức mạnh trong tu tập, chúng ta có thể tìm những hoàn cảnh
khó khăn hơn, đòi hỏi sự chịu đựng và kỷ luật nhiều
hơn – với những chướng ngại như người khác quấy rối
hay tiếng ồn của giao thông – chúng ta sử dụng những gian
khó này để làm mạnh mẽ mình. Cuối cùng, khi sẵn sàng,
chúng ta có thể thực hành khi ở trong những hoàn cảnh tồi
tệ nhất, với mọi loại quyến rũ tinh thần và những cảm
xúc hỗn loạn. Thực hành siêng năng theo cách này, chúng ta
có thể đối diện và chuyển hóa bất kỳ hoàn cảnh nào
thành một nguồn sức mạnh mà không mất đi tâm an bình của
mình. Chúng ta sống ở bất cứ nơi đâu, nơi đó trở thành
một lâu đài của giác ngộ và sự thanh tịnh. Mỗi một sự
kiện sẽ là một lời chỉ dạy. Sau đó, nơi chốn sẽ không
còn là vấn đề, chỉ cần duy nhất một việc là chọn nơi
để ta có thể phụng sự người khác một cách tốt nhất.
CHỌN
THỜI GIAN
Mặc
dù bất cứ nơi nào tu tập cũng tốt, với người mới bắt
đầu, sự an bình và tĩnh lặng là có lợi. Sáng sớm thì
tốt vì là ngày mới mẻ và tâm trí trong sáng. Tuy nhiên, có
một số người cảm thấy thư giãn và sẵn sàng thiền định
vào buổi chiều. Chọn thời gian, tuân thủ đều dặn và hãy
hạnh phúc với thời gian đó. Nếu có thể, chớ để cho việc
gì làm phiền nhiễu việc thực hành đều đặn của bạn.
Bất
kể thiền định hay luyện tập chữa lành, chúng ta phải trọn
vẹn với chúng. Chúng ta không nên mơ tưởng đến tương lai
và lập chương trình trong đầu. Không theo đuổi quá khứ,
không bám níu vào hiện tại. Nhiều loại tư tưởng hay kinh
nghiệm tâm linh có thể khởi lên trong thiền định, nhưng
thay vì bám chấp, hãy để chúng đến và đi một cách tự
nhiên.
Hãy
thực hành hàng ngày. Thậm chí nếu chúng ta thiền quán trong
một thời gian ngắn, tính kiên định sẽ giữ kinh nghiệm
thiền định sống động và vững chắc nơi chúng ta trên con
đường chữa lành.
Chúng
ta nên thiền định bao lâu ? Tâm thức bạn là người chữa
lành, vậy câu trả lời tùy thuộc vào nhu cầu và khả năng
của bạn. Có thể trong vài phút, hai mươi phút hay một giờ.
Bạn có thể thiền định trong nhiều giờ, với những khoảng
thời gian nghỉ, trong suốt một thời gian dài. Không nên quan
tâm thời gian quá đáng, mà nên cảm thấy điều gì là đúng.
Khi
chúng ta hạnh phúc, khỏe mạnh và không có những vấn đề
bận tâm, đây là điều thật tốt cho sự thực hành. Do vậy,
khi đối mặt với đau khổ, chắc chắn sẽ xảy đến, chúng
ta sẽ có những phương tiện thiện xảo sẵn sàng sử dụng.
Không may, nhiều người trong chúng ta phải cần trải qua đau
khổ mới có thể chuyển hóa tâm thức đến những giải quyết
tâm linh. Khi ở trong sự bối rối và đau khổ, chúng ta có
ít cơ hội, năng lực và sáng suốt để tu tập. Ngài Dodrupchen
khuyên :
Khi
chúng ta thực sự mặt đối mặt với những tình huống khó
khăn thật rất khó cho ta thực hành việc chữa lành. Do đó,
thật quan trọng nếu có những kinh nghiệm từ những tu tập
tâm linh, để khi những hoàn cảnh bất lợi phát sinh, chúng
ta đã sẵn sàng. Có một sự khác biệt lớn nếu chúng ta
sử dụng một sự tu tập mà mình đã có kinh nghiệm trong
đó.
TƯ
THẾ
Mục
tiêu thiết yếu của bất cứ loại tư thế thiền định nào
là để thư giãn những bắp thịt và khai mở những kinh mạch
trong thân để cho năng lực và hơi thở trôi chảy tự nhiên
qua chúng. Bất kỳ tư thế nào làm thân thể được thẳng
và thoải mái, không gồng cứng, sẽ phát sinh sự trôi chảy
tự nhiên của năng lực giúp tâm trí tĩnh lặng và sinh động.
Mục đích của những tư thế của thân được giản lược
trong câu nói phổ thông của Tây Tạng :
Nếu
thân bạn thẳng, những kinh mạch của bạn sẽ thẳng.
Nếu
những kinh mạch của bạn thẳng, tâm bạn sẽ thẳng.
Một
trong những tư thế thiền định của đạo Phật được nhiều
người biết đến nhất là thế Hoa Sen (kiết già), người
ta ngồi xếp bằng, chân phải đặt lên đùi trái và chân
trái đặt lên đùi phải. Đa số người phương Tây thích
ngồi bán già vì dễ hơn, với một mắt cá chân đặt lên
nếp gấp của chân đối diện (háng). Nếu ngồi trên một
đệm nhỏ, nửa thân trên hơi vươn lên một chút để có
sự rỗng rang và buông lỏng.
Hai
bàn tay đặt trong lòng (dưới rốn một chút), lòng bàn tay
ngửa lên, tay phải đặt trên tay trái với hai đầu ngón cái
chạm nhau. Hai khuỷu tay cách thân trong thế tự nhiên giống
như cái cánh, không gồng cứng hay ép vào thân, cằm hơi hạ
xuống để cổ hơi cúi, giúp mắt có thể nhìn rõ phía trước
khoảng một đến hai mét, ngay chóp mũi, đầu lưỡi chạm
nhẹ lên vòm miệng. Yếu tố quan trọng nhất là giữ xương
sống thẳng.
Một
số người có những vấn đề ở lưng nên rất khó ngồi
theo kiểu này. Bạn có thể ngồi trên ghế để thiền định,
nhưng phải chắc rằng giữ được xương sống thẳng thay
vì khom xuống. Dù chọn bất cứ tư thế nào điều cần thiết
là thoải mái. Bản thân Đức Phật, sau nhiều năm kinh nghiệm
tu hành khổ hạnh đã từ bỏ sự hành xác. Bạn phải được
đầy đủ thoải mái để tâm trí có thể buông lỏng và dễ
tập trung.
Tư
thế ngồi để thiền định là tốt nhất, nhưng tâm chúng
ta thật sự có khả năng chữa lành dù bất cứ đâu và ở
bất kỳ hoàn cảnh nào, chừng nào mà chúng ta còn tỉnh biết.
SỰ
BUÔNG LỎNG
Để
thoát khỏi những gắng sức đấu tranh của tâm thức – những
áp lực của ý niệm và cảm xúc bám chặt chúng ta – khi
thiền định, chúng ta phải buông lỏng các bắp thịt. Nếu
sự căng thẳng tập họp ở đâu đó trong những bắp thịt
hãy đưa tỉnh giác đến vùng đó và cởi mở sự siết chặt.
Sự buông lỏng đem lại một tâm trạng tĩnh lặng, trong đó
ta có thể thắp lên ngọn nến của năng lực chữa lành. Tuy
vậy, sự buông lỏng không có nghĩa buông thả trong lười
biếng, vô ý, nửa tỉnh nửa mê hay giấc ngủ. Có những lúc
ta cần nghỉ và ngủ, nhưng sự thiền định hiệu quả nhất
là với sự tỉnh thức, linh mẫn và trong sáng. Đây là cách
để tiếp xúc với bản tánh an bình, hoan hỷ của chúng ta.
Hãy
để cho bạn buông xả trong sự chuyển dịch từ thiền định
trở lại với hàng ngày. Hãy thức dậy chậm rãi và thư giãn
tâm trong nhữnh hoạt động của bạn. Theo cách này bạn đem
một tâm thức trống rộng vào cuộc sống của bạn.
TẠO
KHOẢNG KHÔNG TÂM THỨC
Một
số trong chúng ta hoàn toàn hiến mình cho điều chúng ta làm.
Chúng ta đem những vấn đề của công việc về nhà, vì vậy
không có cơ hội hưởng thụ cuộc sống gia đình. Sau đó,
lại đem những vấn đề ở nhà đến nơi làm việc, nên không
thể tận tâm với công việc. Trong lúc thiền định, chúng
ta để hình ảnh và cảm giác mơn trớn tinh thần khiến không
có cơ hội để tập trung. Rốt cuộc, chúng ta không có đời
sống nào để sống vì ta luôn ở trong quá khứ hoặc tương
lai.
Nếu
để đồ đạc trong nhà bừa bãi và nhiều quá, chúng ta không
còn chỗ để sống. Nếu tâm trí đầy những chương trình,
những bận tâm, những tư tưởng, những cảm xúc, chúng ta
không còn khoảng trống cho chính cái thật sự là chúng ta.
Nhiều
người cảm thấy cuộc sống họ quá hỗn độn để thiền
định, thậm chí khi họ có thời gian ở nhà để tập thiền
họ vẫn cảm thấy bị xao lãng. Để đem tất cả sự chú
tâm và năng lực trong cuộc sống gia đình và thiền đ