Lúc
sau này, tôi hay bị những câu thơ ngắn quyến rũ, khi thì
bốn câu, khi thì chỉ hai câu thôi cũng đủ khiến tôi ngơ
ngẩn, nghĩ suy; hoặc có lúc chẳng nghĩ, chẳng suy gì nhưng
âm hưởng lời thơ cứ lặng thầm cuốn hút, như chiếc lá
đã rơi xuống giòng sông, không thể cưỡng lại để không
trôi theo con nước.
Chiều
nay, bốn câu thơ mãi quẩn quanh trong tôi mà tôi lại không
biết tác giả ! Thế mới tội lỗi chứ. Tôi cũng không nhớ
đã đọc ở đâu, lúc nào, nhưng tất nhiên tôi đã từng
đọc nên thơ mới ngủ yên nơi tàng thức để bây giờ thong
thả ra chơi ! Tại sao lại bây giờ ? Chỉ có trời biết và
thơ biết chứ tôi làm sao biết được !
Thôi
đành, thơ đã thức thì tôi chơi với thơ xem. Chỉ xin tác
giả ở đâu đó, hãy lượng thứ cho sự lú lẫn này.
Bốn
câu thơ như sau:
Nhìn
nắng đọng sân chùa,
Khách
có biết mấy lần dâu bể?
Lắng
chuông ngân đầu cỏ
Người
không hay một thoáng vô vi?
Chỉ
thế thôi. Có quý vị nào cảm thấy bồi hồi như tôi không?
Nếu có, xin chia xẻ với tôi nhé!
Chỉ
một câu “Nhìn nắng đọng sân chùa” tôi đã cảm thấy
thương quá là thương ! Thật ra câu này cũng có tả gì đặc
biệt đâu, tia nắng chiếu xuống sân chùa thì trong thơ văn
đã từng gặp biết bao. Nhưng câu này không chỉ muốn dẫn
người đọc tới vệt nắng đang lung linh mà chữ “nhìn”
còn ẩn dụ bóng dáng ai đó, lặng lẽ cùng với nắng mơ
màng. Ai đó, nhìn nắng rồi bâng khuâng nói với những người
chưa quen biết:
Khách
có biết mấy lần dâu bể?
Chưa
biết nhau mà “ai đó” lại ân cần thế? Ai đó, hẳn phải
có tấm lòng độ lượng, coi những người chưa biết như
đã biết, những người chưa thân như đã thân mới nhắc
nhở như vậy. Ai đó, đứng giữa sân chùa, nhìn tia nắng
lung linh trên phiến gạch và biết rằng không bao lâu, tia nắng
đọng nơi sân chùa này sẽ men lên bờ tường, sẽ leo qua
hàng giậu, xuyên qua bụi chuối và rồi sẽ tắt ở cuối
vườn rau. Chắc chắn như thế. Tia nắng đang có đây, có
thật, nhưng tia nắng sẽ tàn, sẽ mất, như không thật, như
cơn mơ. Ai đó đã mượn hình ảnh này để nhắc nhở khách
du rằng, cuộc đời ta tưởng là có thật cũng qua nhanh, cũng
đổi thay thoáng chốc thế thôi. Bao lần dâu bể là bấy nhiêu
luân hồi, đến rồi đi như giấc mộng.
Nhắc
khách du như thế sợ chưa đủ, ai đó còn từ bi khẽ bảo
“Bạn ơi, thử dừng lại tâm giao động, nghe tiếng chuông
ngân trên đầu cỏ, bạn có thấy lòng thanh thoát, tịch tĩnh
hay không?”
Tiếng
chuông này có cần thực sự phải là tiếng chuông không? Hay
chuông đây là chuông tỉnh thức trong tâm thức mỗi người.
Tiếng chuông đó bị bao âm thanh hỗn loạn của cuộc sống
đua chen thường xuyên át đi. Chỉ khi nào dừng được tham
sân si thì tâm kia mới có thể bước qua những phân biệt
ngã chấp để tiến tới chân ngã. Nơi đây thân đã an, tâm
đã lặng, ý đã trong, khách du có thể rời thuyền, lên bờ.
Trước khi hoan lạc bước vào cõi thong dong, ngoảnh nhìn bờ
bên kia bụi mù gió lốc, khách du có thương cảm cho những
ai chưa biết dừng vô minh hay không?
Vua
Trần Nhân Tông, vị vua khai sáng giòng thiền Trúc-Lâm để
cho hậu thế kinh nghiệm bản thân đắt giá của ngài bằng
hai câu thơ:
Mặc
ai tranh bá đồ vương
Trẫm
xin gửi lại nắm xương chùa này.
Một
vị vua có sẵn ngai vàng, quyền lực trong tay, không cần phải
tranh giành với ai mà còn buông bỏ hết khi nhận ra lẽ vô
thường của đời này. Tấm gương lớn trước mắt như vậy
nhưng người sau vẫn không thấy, vẫn tận lực xả thân nắm
bắt bóng nước, nắng chiều, khi ngày tháng lạnh lùng qua
đi không chờ, không đợi.
Trong
văn học Hồi-giáo có một nhân vật rất lạ lùng. Ông ta
tên là Nasrudin. Đã là người thuộc giới văn học, tất nhiên
không đến nỗi ngu si, nhưng ông thường có những hành động
bất bình thường, khi thì rất trí tuệ, lúc lại vô cùng
khờ khạo. Chẳng hạn, có lần bằng hữu của ông thấy ông
ngồi trước một đĩa ớt đầy ắp. Ông say sưa bốc hết
trái này tới trái kia, nhai, nuốt, nước mắt nước mũi chảy
ròng ròng vì cay, miệng xuýt xoa vừa khóc, vừa mếu. Một
người thương tình bèn quát lên:
- Ớt
cay xé lưỡi, cớ sao cứ ăn rồi khóc vậy?”
Ông
Nasrudin vẫn vừa ăn, vừa phân trần rằng:
Thì
tôi nghĩ, thế nào cũng phải có một trái ngọt chứ!”.
Cuộc
tranh đua mà chúng ta đang hàng ngày tiêu pha đời mình có khác
chi thái độ kỳ dị của ông Nasrudin kia không? Mới nghe câu
chuyện, đa số chúng ta đều kết tội ông này không khùng
chắc cũng điên.
Nhưng
Nasrudin có điên không, hay ông chỉ mượn hành động “điên”
đó để nhắc nhở những người “tỉnh” như chúng ta rằng,
chúng ta đang tiêu phí từng phút từng giây đời mình cho sự
tranh đua trăm cay nghìn đắng để tìm một chút ngọt ngào
hư ảo ! Chúng ta không chỉ điên rồ ngốn một đĩa ớt vì
hy vọng sẽ có trái thơm ngon mà suốt chặng ta-bà, chúng ta
đã khổ lụy biết bao vì liên tục tự nguyện nếm từng
thùng, từng vựa ớt !!!!
Trong
kinh Di Giáo, Đức Phật có dạy một câu rằng:
Tri
túc chi nhơn, tuy ngọa địa thượng, do vi an lạc,
Bất
tri túc giả, tuy xứ thiên đường, diệc bất xứng ý.
Câu
này tạm hiểu là: Người biết thế nào là đủ thì tuy nằm
dưới đất, người đó cũng được an vui. Trái lại, người
không biết đủ, luôn chật vật chạy theo ước vọng thì
dù ở thiên đường cũng chẳng bao giờ toại ý.
Thế
nào là đủ?
Mỗi
chúng ta, nếu quyết tâm đi theo đường Phật dạy, sẽ tự
tìm thấy câu trả lời cho mình vì mọi sự, mọi việc, dù
vi tế đến đâu cũng có sẵn một cánh cửa vô hình. Cánh
cửa đó, khéo nương theo sẽ mở ra không gian bát ngát Chân
Như.
Diệu
Trân
(Như-Thị-Am,
tháng tám 2006)