Khi
đọc, hoặc nghe thấy chữ “xuống núi” chúng ta thường
tưởng tượng ngay tới hình ảnh những vị đạo sỹ ẩn
tu lâu năm chốn thâm sơn cùng cốc; nay vì muốn cứu đời
mà xuống núi, mang những đạo lý mầu nhiệm đã ngộ được
để chia xẻ với nhân gian. Nhưng 5000 người trong tựa bài
viết này không hẳn thế, mà đây là những người gồm nhiều
thành phần như Thanh-văn, Duyên-giác, nam nữ khất-sỹ, nam
nữ cận-sự, đã đứng dậy, rời Hội Liên Hoa trên núi Thứu
khi Đức Thế Tôn chấp nhận ba lần, lời thỉnh cầu của
Trưởng lão Xá Lợi Phất để sẽ tuyên giảng một pháp lớn.
Tại
sao Đức Thế Tôn sẽ giảng pháp lớn mà 5000 ngàn người
lại bỏ đi?
Đây
là thời điểm khai hội Pháp Hoa trên núi Linh Thứu, người
dự hội rất đông, gồm mười hai ngàn khất sĩ, sáu ngàn
nữ khất sỹ và nhiều vị đại Bồ Tát khắp nơi câu hội
về. Sau khi Đức Thế Tôn giảng kinh Vô Lượng Nghĩa thì Ngài
nhập vào một chánh định, Đó là Vô Lượng Nghĩa Xứ. Từ
nơi này, Ngài phóng ra một luồng hào quang soi suốt khắp các
cõi Ta-bà, soi tận trời Sắc Cứu Cánh xuống tới địa ngục
A- Tỳ. Chúng hội đều thấy rõ những cảnh giới ấy như
những cuốn phim đang chiếu trên màn ảnh lớn.
Trước
hiện tượng mầu nhiệm đó, Bồ Tát Di Lặc bèn hỏi Văn
Thù Sư Lợi:
- Thưa
Bồ Tát. Bồ Tát đã từng được gần gũi và hầu cận Chư
Phật nhiều đời, có khi nào thấy Chư Phật hiện thần biến
tướng như vậy không?
Bồ
Tát Văn Thù Sư Lợi bèn nói:
- Có,
trong quá khứ tôi đã từng được thấy Phật Nhật Nguyệt
Đăng Minh sau khi giảng kinh đại thừaVô Lượng Nghĩa thì
cũng nhập định rồi phóng quang từ nhục-kế trên đỉnh
đầu. Sau khi xuất định, Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh tuyên
giảng Kinh Pháp Hoa. Hôm nay chúng hội đang được chứng kiến
sự việc y như xưa nên tôi tin rằng lát nữa đây Đức Thế
Tôn sẽ ban pháp lớn.
Phật
tử chúng ta học Phật thì đều biết rằng suốt 49 năm truyền
đạo, Đức Thế Tôn đã phải tùy căn cơ chúng sanh mà giảng,
từ thô tới tế, từ thấp tới cao, phải dùng những thí
dụ, những phương tiện dễ hiểu, đi sát vào đời sống
dân gian mà dẫn dắt chúng sanh lần từng bước, mở từng
nút những giây trói vô hình chằng chịt của vô minh vây phủ.
Chính vì thế mà trong hàng con Phật có những khuynh hướng
khác nhau như Thanh-văn, Duyên-giác, Bồ-Tát.
Con
đường Thanh-văn-thừa gồm những người do cơ may được
nghe giáo lý rồi nương theo giáo lý đó mà tu học. Mục đích
tối hậu của Thanh-văn-thừa là dốc tâm đạt tới quả vị
A-La-Hán là dấu mốc của sự chứng đắc đã chấm dứt được
sanh tử luân hồi cho chính mình.
Con
đường Duyên-giác-thừa gồm những người kém may mắn hơn,
không được trực tiếp nghe giáo lý nhưng biết tinh tấn quán
chiếu duyên sinh nên cũng giác ngộ được vô thường, vô
ngã mà thoát khỏi vô minh.
Con
đường Bồ-Tát-thừa là con đường thênh thanh lòng từ bi
của những người con Phật, theo giáo lý của Đức Thế Tôn
tu học, không chỉ độ mình mà còn độ người. Bồ Tát giác
ngộ rồi liền phát nguyện đem sự giác ngộ này mà sách
tấn, dìu dắt người khác cũng được nếm mùi vị giải
thoát như mình.
Do
đó, chúng sanh căn cơ tới đâu thì coi sự chứng đắc của
mình là điểm cuối cùng, không thể đi xa hơn mà cũng không
muốn biết hơn. Cuộc đời này đau khổ quá, luân hồi ghê
sợ quá, nghiệp báo chập chùng quá! Nay, tôi nhờ khổ công
tu tập theo giáo pháp của Đức Thế Tôn mà giác ngộ, hết
khổ, hết nghiệp, tôi còn mong gì nữa ! Ông Xá Lợi Phất
thưa thỉnh ba lần với Đức Thế Tôn làm chi khi Ngài đã
nói:
Chỉ
chỉ bất tu thuyết
Ngã
pháp diệu nan tư
Đức
Thế Tôn đã từ chối như thế. Thôi, không nên nói nữa,
vì pháp này vô cùng thâm diệu, rất khó mà hiểu được,
tin được. Pháp vô thượng này, chỉ có Phật mới hiểu được
Phật mà thôi vì pháp này không cần dẫn giải, chỉ dùng
trí tuệ nhận ra được tướng chân thật của các pháp. Tướng
chân thật đó có thể hiểu gọn trong Thập-Như-Thị. Đó
là: như thị tướng, như thị tánh, như thị thể, như thị
lực, như thị tác, như thị nhơn, như thị duyên, như thị
quả, như thị báo, như thị bản mạt cứu cánh. Nhìn bằng
tuệ nhãn thì mọi pháp đều tự nó “như thế” mà thôi.
Như-thị-tướng là trạng tướng như vậy, như-thị-tánh là
thể tánh như vậy... v...v... Nhận ra được bản chất như
thị trong suốt này hay không, hành giả cần hội đủ trí
tuệ. Trí tuệ từ đâu? Không phải từ giai cấp, bằng cấp
đâu, mà từ sự quán chiếu, từ lắng đọng thân tâm.
Nhìn
giọt sương đọng trên đọt lá ban mai, sao có người chỉ
thấy là giọt nước tầm thường, có người lại hân hoan
vì đang được nhìn ngắm hạt kim cương của trời đất?
Chưa
cần biết Đức Thế Tôn sẽ giảng pháp gì nhưng chỉ mới
nghe tới đó, đa số hàng Thanh-văn, Duyên-giác đã nao núng,
khó tin. Làm sao các pháp đơn giản “như thế, như vậy, như
thị” mà lại thâm sâu tới mức “chỉ Phật hiểu được
Phật mà thôi”. Rắc rối quá! Thôi, chúng ta nay cũng đã
giác ngộ, giải thoát rồi. Đó chẳng phải là điều mong
ước rốt ráo lúc khởi tu hay sao?
Chính
vì những ý nghĩ này mà khi Đức Thế Tôn chấp nhận lời
thỉnh cầu của trưởng lão Xá Lợi Phất thì 5000 người
đã đứng lên, chắp tay xá Đức Thế Tôn và cùng nhau xuống
núi !
Nếu
có sanh tử luân hồi, có trùng trùng dưyên nghiệp tiếp nối
nhau thì không biết tôi có từng là một, trong 5000 người
đã xuống núi, rời Pháp-Hoa-hội năm xưa hay không? Có lẽ
có.
4999
người kia nay đâu không biết, nhưng tôi, vì ngu si, chỉ cầu
pháp nhỏ cho là đã đủ nên gần 2600 năm sau còn quanh quẩn
cõi ta-bà khổ đau thế này.
Sau
khi 5000 người đã khuất dưới chân núi, Đức Thế Tôn mới
bảo trưởng lão Xá Lợi Phất:
- Bây
giờ ở đây chỉ là những hạt rắn chắc, không còn cành
lá rườm rà, ta có thể truyền tuyên pháp lớn, quý vị hãy
lắng nghe.
Quả
thật, đó là bài pháp không chỉ làm rung động đại địa
mà còn bật rễ những tư tưởng từng là nền tảng trong
tâm người học đạo. Chỉ một câu nhẹ nhàng thôi mà chúng
hội tưởng như đất trời chuyển rung:
“Nhất
thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh”
Tất
cả chúng sanh đều có Phật tánh như nhau.
Rồi
câu tiếp theo còn rụng rời hơn nữa:
“Ta
là Phật đã thành, các con là Phật sẽ thành”
Trời
ơi, chúng hội có nằm mơ hay không? Họ cũng sẽ là Phật
ư? Không ai khởi tâm nghi ngờ lời Phật nói, nhưng tất cả
đều bàng hoàng, tất cả đều quỳ mọp, tất cả đều ngước
mắt đẫm lệ nhìn Đấng Toàn Giác. Biết tâm thế gian như
thế, Đức Phật mới ôn tồn trấn an rằng:
- Này
các con, sự xuất hiện của tất cả các vị Phật từ quá
khứ đến nay chỉ có một mục đích duy nhất là hướng dẫn
chúng sanh đi vào con đường Phật Thừa. Đó là: Khai, Thị,
Ngộ, Nhập Phật tri kiến. Khai là mở ra, thị là chỉ cho
thấy, ngộ là vỡ lẽ, là tỉnh dậy, nhập là hòa vào, đi
vào. Khai thị ngộ nhập Phật tri kiến là trách nhiệm rốt
ráo của các vị Phật, tùy tâm chúng sanh, tùy hoàn cảnh,
phương tiện, chỉ cho thấy được tri kiến Phật mà tỉnh
ngộ rồi dẫn dắt chúng sanh chứng nghiệm được tri kiến
đó để họ cũng thành Phật, vì thành Phật là gì? Chỉ là
phủi được bụi vô minh che lấp Phật tánh sẵn có nơi mỗi
người. Này các con, tại sao 5000 người kia bỏ xuống núi?
Vì họ chưa đủ trí tuệ hiểu được sự đơn-giản-tuyệt-đối
của các pháp, vì họ chỉ cầu pháp nhỏ mà không tin có thể
thành tựu được pháp lớn. Ta nay biết rõ như thế nên đã
dùng phương tiện dẫn dắt họ theo căn cơ khác nhau nên mới
có ba thừa là Thanh-văn-thừa, Duyên-giác-thừa và Bồ-Tát-
thừa. Nay ta nói cho các con biết “khai tam hiển nhất”, không
phải tam thừa mà chỉ có nhất thừa là Phật-thừa mà thôi,
chỉ có cỗ xe lớn mới chở hết khổ đau, không từ bỏ
ai. Thanh-văn-thừa, Duyên-giác-thừa là những con đường đi
đến Phật thừa, nay trí còn kém, lực còn non, họ chưa hiểu
được nhưng với thiện tâm thì 5000 người vừa xuống núi
kia không phải không có người sẽ thành Phật.
Quả
thật, đại hội Pháp Hoa đã là cơn pháp-vũ ào ạt, dũng
mãnh làm bừng xanh từ ngọn cỏ, đóa hoa tới rừng núi, đại
dương bạt ngàn. Mưa pháp lớn, trống pháp lớn trên đỉnh
Linh Thứu còn âm vang đến ngày nay với sự chỉ dạy không
ngừng nghỉ của bao Bồ Tát hóa thân, bao thiện tri thức đã
đốt đuốc cho hàng Phật tử tin, nghe, để cùng nhau đi vào
con đường Phật-thừa.
Thưa
quý đạo hữu, có vị nào cảm thấy mình ở trong số 5000
người từng bỏ xuống núi khi xưa, xin cho biết. Chúng ta sẽ
hẹn nhau dưới chân núi để cùng, vừa sám hối, vừa phát
nguyện khi leo lên đỉnh Linh Thứu, xin Đức Thế Tôn, một
lần nữa phóng quang, từ bi ban mưa pháp lớn, đánh trống
pháp vang vì thời mạt pháp này, chúng sanh đang chìm sâu dưới
khổ đau cùng cực.
Xin
quý đạo hữu đừng bận tâm là đường lên núi Thứu bao
xa. Xin mở bất cứ trang kinh nào, quán chiếu, giữ ý buông
lời, chúng ta sẽ thấy núi Thứu ngay trong tâm, như câu thơ
viết về ngài Trí Khải thế này:
“Tích
xưa ngài Trí Khải
Tham
thiền Tổ Huệ Tư
Luyện
Pháp-Hoa Tam Muội
Bỗng
nhập định chân như
Trong
định, sư thấy Phật
Ngự
trên đỉnh Linh-san
Thuyết
Pháp Hoa huyền nghĩa
Pháp
hội vẫn chưa tan...”
Diệu
Trân
(Như-Thị-Am,
tháng 7, 2006)