|
.
BÀI
SÚC TÍCH VỀ QUÁN NIỆM HƠI THỞ
Upasika
Kee Nanayon
Thầy
Thanissar dịch từ tiếng Thái - Dịch sang Việt ngữ : Mỹ Thanh
Copyright
© Khao Suan Luang Dhamma Community 1995
 |
 |
Có
rất nhiều người bị xấu hổ khi nói về những tính xấu
của họ, nhưng họ lại chẳng xấu hổ gì khi nói về tính
xấu của những người khác. Có rất ít người sẵn sàng
báo cáo về bệnh tình của họ -- sự nhiễm ô của họ --
một cách thẳng thắn. Kết quả, thói xấu được bưng bít,
và giữ bí mật, để chúng ta không biết rằng thói xấu ấy
nguy hiểm và sẽ có cơ hội lan nhanh như thế nào. Tất cả
chúng ta đều khổ sở về nó, nhưng không ai chịu cởi mở
về điều nầy. Không một ai cảm thấy thích thú khi phải
chẩn đoán các thói xấu của chính mình…
Chúng
ta phải tìm một cách khéo léo để có thể tiêu diệt thói
xấu nầy, và có thể cởi mở về điều nầy, công nhận
tật xấu của chúng ta từ thô thiển đến tinh tế, mổ xẻ
nó thành từng phần nhỏ nhặt nhất. Chỉ có như vậy, chúng
ta mới thành công phần nào trong thực tập. Nếu chúng
ta nhìn lại chính mình một cách hời hợt, chúng ta sẽ cho
rằng chúng ta như vậy là tốt lắm rồi, biết vậy là đủ
quá rồi. Nhưng mà khi tật xấu không bị kềm chế, nó có
thể biến thành một căn bệnh ngầm, rất là khó chẩn đoán,
và khó trị ….
Chúng
ta phải mạnh mẽ để chiến đấu với tất cả những thói
xấu, ham muốn, si mê. Chúng ta phải thử sức mạnh của mình,
bằng cách chiến đấu với nhiễm ô và khắc phục các thói
xấu nầy. Một khi chúng ta có thể hàng phục được các thói
xấu rồi, chúng ta có thể cỡi lên lưng thói xấu. Nếu không,
các thói xấu sẽ cỡi lên lưng chúng ta, bắt chúng ta phải
làm việc theo ý của nó, nó xỏ mũi chúng ta, và làm cho chúng
ta ham muốn, làm cho chúng ta mệt mỏi bằng đủ mọi cách.
Thế
chúng ta có phải là thân trâu ngựa không ? Chúng ta là thân
trâu ngựa bởi vì thói xấu và ham muốn đang cỡi trên lưng
chúng ta ? Có phải thói xấu và ham muốn đã xỏ mũi chúng
ta ? Khi mà anh thấy rằng đã quá đủ, anh phải dừng lại
– hãy dừng lại và theo dõi các thói xấu để thấy nó từ
đâu đến, nó muốn gì, nó ăn gì và thích gì. Hãy xem
đây là một môn thể thao anh yêu thích – theo dõi các thói
xấu và bỏ đói nó, giống như một người từ bỏ thứ mà
họ đang nghiện…. Để xem các thói xấu có bực mình khi
không được chìu ý hay không. Xem nó có đói khát đến độ
chảy nước dãi hay không ? Kế tiếp, không cho nó ăn. Bằng
bất cứ giá nào, không để nó ăn bất cứ thứ gì mà nó
say mê. Xét cho cùng, còn có những thứ khác để ăn. Chúng
ta phải kiên quyết đối với các thói hư tật xấu – nghiêm
khắc với chính « bản ngã » của chúng ta – thí dụ ….
« Đói à ? Cứ tự nhiên đói đi ! Muốn chết ? Tốt thôi
! Cứ tự nhiên chết ! » Nếu anh thực hành với thái
độ nầy, anh sẽ thắng tất cả những thú đam mê, nghiện
ngập – bởi vì anh đã không thoả mãn những ham muốn đó,
anh không tiếp tục nuôi dưỡng cái ham muốn ấy chỉ để
tìm chút hương vị vật chất. Đã đến lúc anh phải ngừng
lại, đã đến lúc anh phải từ bỏ không nuôi dưỡng những
ham muốn nầy. Nếu nó đói khát và chết đi, thì cứ để
cho nó chết. Xét cho cùng, tại sao anh lại phải nuôi dưỡng
các tật xấu, tại sao phải cho nó ăn no, tại sao phải nuôi
nó mập mạp ?
Bằng
bất cứ giá nào, anh phải để nhiệt độ mạnh lên trên
các ham muốn và tật xấu cho đến khi nó khô héo, và hao mòn
đi. Đừng để nó ngóc đầu dậy. Hãy kềm giữ nó dưới
tay anh. Đây là cách thực tập không rắc rối mà anh nên noi
theo. Nếu anh kiên định, nếu anh chiến đấu kiên trì cho
đến khi thói xấu bị đốt cháy, thì không có một chiến
thắng nào có thể so sánh với chiến thắng nầy, không có
một chiến thắng nào oai hùng bằng chiến thắng những ham
muốn, tật xấu trong tâm anh.
Vì
thế đức Phật đã dạy trong tất cả các sinh hoạt của
chúng ta – đi, đứng, ngồi, nằm, chúng ta phải để sức
nóng thiêu huỷ các tật xấu ấy. Nếu chúng ta không làm thế,
chúng sẽ thiêu huỷ chúng ta trong sinh hoạt hàng ngày….
Nếu
anh suy nghĩ kỹ, anh sẽ thấy những lời dạy của đức Phật
hoàn toàn đúng, ngài bảo chúng ta phải quan sát các thói hư,
tật xấu và cho chúng ta biết làm thế nào để buông bỏ,
tiêu diệt, và loại trừ thói xấu. Tất cả các bước chỉ
dẫn đều có sẵn, vì thế chúng ta không cần phải tìm nơi
khác để học. Mỗi điểm quan trọng trong kinh điển, đệ
tử của ngài đã chỉ dẫn cho chúng ta con đường, vì thế
chúng ta không cần lo lắng, chỉ cần theo lời chỉ dẫn để
quan sát và dẹp bỏ những bệnh tật nầy. Thông thường người
ta không thích nói về tật xấu của chính mình, và như vậy
họ hoàn toàn sống trong sự si mê. Họ sống già và chết
đi mà không biết chút gì về tật xấu của chính mình.
Khi
chúng ta bắt đầu thực tập, chúng ta sẽ hiểu vì sao các
thói xấu đốt cháy tim chúng ta, khi chúng ta dần hiểu được
chính bản thân chúng ta. Để hiểu được sự đau khổ và
sự nhiễm ô, chúng ta học phương cách dập tắt lửa nhiễm
ô, để chúng ta có một không gian thoải mái hơn…
Khi
chúng ta biết cách dập tắt ngọn lửa nhiễm ô, tiêu diệt
thói xấu, nghĩa là chúng ta đã có dụng cụ cần thiết. Chúng
ta có thể tự tin – không còn nghi ngờ gì, không lạc lối
trong các lối thực tập khác nhau, bởi vì chúng ta thấy rõ
một cách chắn chắn phải thực tập cách nầy, luôn luôn
suy ngẫm về sự mâu thuẫn, căng thẳng, và vô ngã, và thật
sự muốn tự giải thoát khỏi các nhiễm ô.
Đức
hạnh, sự tập trung tư tưởng, và sự sáng suốt là dụng
cụ của chúng ta -- và chúng ta cần nguyên một bộ.
Chúng ta cần sự sáng suốt với Chính Kiến, và đức hạnh
với kỷ luật cá nhân. Đức hạnh rất là quan trọng. Đức
hạnh và sự sáng suốt giống như đôi cánh tay phải, trái
của chúng ta. Nếu một tay dơ, thì nó không thể tự rửa
sạch. Chúng ta cần cả hai tay để rửa tay và giữ tay sạch
sẽ. Như vậy, ở đâu có đức hạnh, ở đó có sự sáng
suốt. Ở đâu có sự sáng suốt, ở đó có đức hạnh. Sự
sáng suốt giúp cho anh hiểu rõ ; đức hạnh giúp cho anh buông
bỏ, tiêu diệt các sự nghiện ngập. Anh hiểu đức hạnh
không chỉ là ngũ giới hay bát giới. Nó bao gồm những
chi tiết rất tinh tế. Khi anh nhận thấy nguyên nhân của đau
khổ một cách sáng suốt, anh phải ngừng lại, và anh phải
buông bỏ.
Đức
hạnh rất tinh tế và chính xác. Buông xả, từ bỏ, tiết
chế, cắt bớt, và tiêu diệt : Tất cả mọi thứ nầy là
việc làm của đức hạnh. Và như vậy đức hạnh và nhận
thức sáng suốt luôn đi đôi với nhau, giống như hai cánh
tay phải, trái luôn giúp đỡ lẫn nhau. Chúng giúp đỡ nhau
để rửa sạch cấu uế. Khi ấy, tâm thức của anh có thể
trở nên tập trung, sáng ngời và trong sạch. Chỉ nơi tâm
thức mới nhận thấy những lợi ích của các đức tính nầy.
Nếu chúng ta không có những dụng cụ nầy, cũng giống như
chúng ta không có chân tay : Chúng ta không thể đi đâu hết.
Chúng ta cần phải sử dụng những dụng cụ mà chúng ta có
– đức hạnh và nhận thức sáng suốt – để tiêu diệt
nhiễm ô. Khi ấy, tâm thức của chúng ta mới được nhiều
lợi ích…
Vì
lý do đó, đức Phật đã dạy chúng ta phải thường xuyên
trau dồi đức hạnh, sự tập trung tư tưởng, và nhận thức
sáng suốt. Chúng ta cần phải mạnh khỏe để trau dồi những
phẩm chất nầy. Nếu chúng ta không tiếp tục trau dồi, dụng
cụ dập tắt đau khổ và tiêu diệt nhiễm ô sẽ không được
bén nhạy, và sẽ khó xử dụng khi cần dùng. Các dụng cụ
sẽ không phải là đối thủ của nhiễm ô. Nhiễm ô có những
năng lực quái dị để đốt cháy tâm thức chỉ trong nháy
mắt. Nếu nói tâm thức là yên tịnh và trung tính : Sự va
chạm nhẹ nhất của cảm giác cũng có thể đốt cháy mọi
thứ trong tích tắc, làm cho chúng ta cảm thấy hài lòng hoặc
bực mình. Tại sao ?
Sự
tiếp xúc của cảm giác là thước đo cho thấy chính niệm
của chúng ta cứng rắn hay mềm yếu. Thông thường tâm thức
của chúng ta dễ bị dao động mạnh mẽ. Một khi có sự va
chạm bằng tai hay mắt, nhiễm ô rất nhanh nhẹn để phản
ứng. Khi xảy ra trường hợp nầy, chúng ta có thể làm
gì để có thể kềm chế lấy nhiễm ô ? Làm thế nào để
chúng ta có thể kềm chế lấy đôi mắt của chúng ta ? Làm
thế nào để chúng ta có thể kềm chế lấy đôi tay, mũi,
lưỡi, thân và tâm ? Làm thế nào để chúng ta có thể để
cho chính niệm và nhận thức sáng suốt kềm chế những thứ
nầy ? Đây là vấn đề của sự thực tập, việc của chúng
ta …. trong sáng và giản dị, một thứ mà chúng ta có thể
thử thách chính mình, để thấy rõ tại sao khi có sự va chạm
của giác quan xuất hiện thì các nhiễm ô toé lửa nhanh chóng
quá.
Thí
dụ, chúng ta nghe một người phê bình một người khác. Chúng
ta nghe và không bực bội. Nhưng nếu như một ý nghĩ thoáng
qua đầu, « Cô ta thật ra đang phê bình tôi ». Một khi chúng
ta gợi lên cái « tôi », tức thời chúng ta nổi giận và
bực mình. Nếu chúng ta pha chế thêm chút xíu nữa về cái
« tôi » nầy, chúng ta có thể rất là bực tức. Chỉ điểm
nầy thôi cũng đủ cho chúng ta quan sát - một khi có cái «
ngã » tham dự vào, chúng ta tức thời đau khổ. Nó luôn xảy
ra như vậy. Nếu không có ý niệm về bản ngã tham dự vào
một việc nào đó, chúng ta có thể rất bình tĩnh và thờ
ơ. Khi người ta phê bình những người khác, chúng ta có thể
không quan tâm ; nhưng một khi chúng ta cho rằng họ đang phê
bình chúng ta, tức thời cái « ngã » của chúng ta xuất
hiện và bắt đầu dính líu vào việc ấy – và chúng ta tức
thời bị đốt cháy cùng với nhiễm ô. Tại sao ?
Anh
phải để ý về điểm nầy. Một khi cái « tôi » của
anh xuất hiện, đau khổ sẽ hiện hữu ngay liền lúc ấy.
Điều nầy cũng xảy ra khi anh chỉ cần nghĩ về « cái tôi
». Bản « ngã » mà anh nghĩ đến, nó sẽ lan tràn với
đủ loại vấn đề. Tâm thức bị phân tán các nơi vì nhiễm
ô, vì ham muốn, và tham đắm. Không có chính niệm hay nhận
thức sáng suốt để trông coi tâm thức, và như vậy tâm thức
bị lôi kéo theo chiều hướng của nhiễm ô và ham muốn.
Nhưng mà chúng ta không biết. Chúng ta nghĩ rằng chúng ta tốt
lắm rồi. Có ai trong chúng ta thấy rõ điều gì đang xảy
ra hay không ? Chúng ta ai ai cũng nặng trĩu với những ảo giác
về chính mình. Không cần thiết tâm thức bị bít kín bao
nhiêu trong nhiễm ô, si mê, chúng ta hoàn toàn không hay biết,
vì chúng ta đã bị nhiễm ô làm cho mù, làm cho điếc….
Không
có dụng cụ vật chất nào anh có thể sử dụng để khám
phá và trị liệu căn bệnh nhiễm ô, bởi vì nó chỉ xuất
hiện khi có sự va chạm của giác quan. Nó không có thực thể.
Giống như một que diêm trong hộp quẹt. Một khi que diêm không
đụng đến miếng ma-xát ở bên hông hộp quẹt, nó sẽ không
phát ra lửa. Nhưng mà khi chúng ta dùng que diêm quẹt ngang miếng
ma-xát ấy, tức thời lửa loé lên. Nếu que diêm bị tắt,
chỉ là đầu que diêm bị cháy. Nếu đầu que diêm không cháy,
thì cả que diêm sẽ bị cháy. Nếu như que diêm cháy hết rồi,
mà lửa không tắt và gặp bất cứ vật gì bắt lửa, thì
nó có thể tạo nên một ngọn lửa lớn hơn.
Khi
nhiễm ô xuất hiện ở tâm thức, nó bắt đầu với sự va
chạm nhẹ nhất. Nếu chúng ta nhanh nhẹn dập tắt nó liền,
giống như một que diêm vừa bật cháy – phù – thổi một
cái, vào đầu que diêm ngay lúc ấy. Nhiễm ô giải tán ngay
lúc nầy. Nếu như chúng ta không dập tắt kịp, thì nó sẽ
pha chế ra vấn đề, và rồi chẳng khác nào như xăng đổ
thêm vào ngọn lửa.
Chúng
ta phải quan sát các căn bệnh của nhiễm ô trong tâm thức
chúng ta, để thấy rõ triệu chứng của nó, và hiểu tại
sao nó toé lửa nhanh như thế. Nó không chịu nổi khi bị làm
rộn. Giây phút mà anh làm rộn nó, nó sẽ toé lửa ngay. Trong
trường hợp nầy, chúng ta phải làm thế nào để sửa soạn
trước ? Làm thế nào để chúng ta trang bị đầy đủ với
chính niệm trước những va chạm của giác quan ?
Cách
thức để trang bị đầy đủ là thực hành thiền định,
khi chúng ta giữ hơi thở trong tâm thức. Đây là cách giúp
chúng ta luôn giữ lấy chánh niệm, để sẵn sàng đối phó
với nhiễm ô, và như vậy chúng ta có thể hàng phục được
nhiễm ô trước khi nó xuất hiện, chỉ cần chúng ta luôn
ghi nhớ đề mục thiền quán trong tâm thức nội tại.
Căn
nhà của tâm thức là thân thể, được cấu tạo bằng những
yếu tố vật chất, nhưng bên trong căn nhà ấy có chủ đề
của thiền định, mà chúng ta luyện tập để tập trung tư
tưởng và gìn giữ chính niệm. Bất cứ chủ đề nào chúng
ta sử dụng, căn nhà nội tại của tâm thức luôn đi lang
thang, luôn pha chế những ý nghĩ và tưởng tượng. Do đó
chúng ta cần một chủ đề để thiền định. Đừng để
tâm thức ta chạy theo những ưu tư thường lệ của người
đời không biết thiền định là gì. Một khi chúng ta có chủ
đề cho việc thiền định thì việc bắt con khỉ tâm thức
bớt ngoan cố sẽ dần dà có kết quả, và ngày lại ngày,
con khỉ tâm thức sẽ từ từ bình tĩnh, yên tịnh cho đến
khi nó có thể đứng yên vững vàng trong một thời gian dài
hay ngắn hạn, tuỳ thuộc vào sự luyện tập chú tâm của
chúng ta.
Bây
giờ, làm thế nào để chúng ta thực hành thiền về hơi thở
: Sách vở nói rằng hít vào thở ra một hơi dài – hơi thở
sâu hoặc ngắn -- và rồi hít vào thở ra một hơi ngắn
– dài hoặc sâu. Đấy là những bước thực tập đầu tiên.
Sau đó, chúng ta không còn chú ý vào hơi thở dài, ngắn hay
sâu nữa. Thay vào đó, chúng ta chỉ việc chú tâm vào một
điểm của hơi thở và tiếp tục giữ chính niệm cho đến
khi tâm thức lắng xuống và yên tịnh. Khi tâm thức đã yên
tịnh rồi, kế đó anh có thể chú tâm vào sự yên tịnh của
tâm thức và đồng thời có chính niệm rõ ràng về hơi thở.
Ở
điểm nầy, anh không chú tâm trực tiếp vào hơi thở. Anh
chú tâm vào tâm thức yên tịnh và bình thường. Anh tiếp
tục chú tâm vào trạng thái bình thường của tâm thức, đồng
thời cũng giữ chánh niệm về hơi thở đang ra vào, dù không
có sự chú tâm đặc biệt nào về hơi thở. Anh chỉ dừng
lại nơi tâm thức, nhưng anh trông chừng nó với mỗi hơi
thở ra vào. Thông thường khi anh làm việc bằng tay chân và
tâm thức ở trạng thái thường, anh có thể biết anh đang
làm gì, vậy tại sao anh không có chính niệm đối với hơi
thở ? Xét cho cùng, hơi thở là một phần của thân thể mà.
Trong
số các anh, có vài vị thấy việc nầy thật mới lạ, bởi
thế họ không biết làm sao để chú tâm vào tâm thức trong
trạng thái thường với mỗi hơi thở ra vào, mà không cần
có sự chú tâm trực tiếp về hơi thở. Cái mà chúng ta đang
thực hành ở đây là luyện tập để giữ chính niệm bên
trong cũng như bên ngoài, của thân và tâm -- đơn giản và
thanh tịnh.
Hãy
bắt đầu bằng cách chú tâm vào hơi thở từ 5, 10, hoặc
20 phút. Hít vào thật sâu, và thở ra thật sâu, hoặc hít
vào thở ra một hơi ngắn. Cùng lúc, hãy để ý những giai
đoạn mà tâm thức cảm nhận được, tâm thức như thế nào
khi nó bắt đầu lắng dịu xuống, khi anh có chính niệm về
hơi thở. Anh cần phải theo dõi điểm nầy cho kỹ, bởi vì
thông thường anh chỉ thở theo thói quen, không có chút chú
tâm nào. Anh không chú tâm vào hơi thở ; anh không biết là
hơi thở có mặt. Điều nầy làm cho anh cảm thấy chú tâm
vào hơi thở thật là một việc làm khó khăn, nhưng thật
ra nó rất là đơn giản. Rốt cuộc, hơi thở ra vào theo tính
cách tự nhiên của nó. Không có gì khó khăn về hít thở.
Hít thở không giống những đề tài thiền định khác. Thí
dụ, nếu như anh thực tập bằng cách nhớ về đức Phật,
hoặc buddho, anh phải luôn lặp đi lặp lại buddho, buddho, buddho.
Quả
thật, nếu anh muốn, anh có thể lặp đi lặp lại buddho trong
tâm thức với mỗi hơi thở ra vào, nhưng đó chỉ là những
giai đoạn đầu. Anh tiếp tục lặp đi lặp lại buddho để
cho tâm thức khỏi chế biến những ý nghĩ hoặc ý tưởng
gì khác. Chỉ đơn giản lặp đi lặp lại để làm yếu dần
sự lang thang của tâm thức, để tâm thức mỗi lần chỉ
tập trung vào một đề tài. Đó là việc mà anh cần phải
quan sát. Sự lặp đi lặp lại một câu chú, một câu niệm
ngăn ngừa tâm thức khỏi lang thang với những suy nghĩ lộn
xộn.
Sau
khi luyện tập sự nhắc đi nhắc lại một câu niệm, câu
chú – anh không cần phải đếm bao nhiêu lần, bao nhiêu câu
– tâm thức sẽ lắng xuống để chú tâm vào mỗi hơi thở
ra vào. Tâm thức sẽ bắt đầu yên tịnh, trung dung, và bình
thường.
Đây
là lúc anh chú tâm vào tâm thức thay vì hơi thở. Hãy buông
bỏ hơi thở và chú tâm vào tâm thức – nhưng bên cạnh vẫn
biết rõ ràng về sự hiện diện của hơi thở. Anh không cần
phải ghi nhớ hơi thở dài hay ngắn. Chỉ cần ghi nhớ tâm
thức ở trạng thái bình thường của nó với mỗi hơi thở
ra vào. Hãy nhớ kỹ càng việc nầy để anh có thể áp dụng
trong lúc thực hành thiền.
Tư
thế : Để chú tâm vào hơi thở, tư thế ngồi tốt hơn là
đứng, đi, hoặc nằm, bởi vì với những tư thế khác, các
cảm xúc xuất hiện có thể áp đảo các cảm xúc về hơi
thở. Đi thì cơ thể lắc lư nhiều quá, đứng lâu làm mệt
mỏi, và nếu tâm thức lắng dịu xuống khi anh nằm, thì anh
sẽ buồn ngủ. Với tư thế ngồi, anh có thể giữ yên tư
thế đó và giữ cho tâm thức vững vàng trong một thời gian
lâu dài. Anh có thể quan sát một cách tự nhiên những tinh
tế của hơi thở và tâm thức.
Ở
đây, tôi muốn tóm tắt lại những bước của quán niệm
hơi thở, để trình bày làm thế nào để bộ bốn có thể
luyện tập cùng lúc như trong kinh đã nói qua. Nghĩa là, có
thể nào chú tâm cùng lúc về thân thể, cảm giác, tâm thức
và Phật pháp trong mỗi lần ngồi thiền? Đây là một câu
hỏi quan trọng cho tất cả chúng ta. Nếu muốn, anh có thể
thực hành chính xác theo những bước đã trình bày trong kinh
sách để phát triển mạnh những khả năng thiền định (jhana),
nhưng mất nhiều thời gian. Cách nầy không thích hợp cho những
ai lớn tuổi và không có nhiều thời gian để thực tập.
Cái
mà chúng ta cần là phương thức để gom sự chú tâm lâu dài
vào hơi thở, làm cho tâm thức trở nên vững chãi, và rồi
thẳng đó xem xét tất cả những hình thành đều mau thay đổi,
dễ bị căng thẳng, và vô ngã, như vậy chúng ta có thể nhận
biết sự thật của tất cả hình thành với mỗi hơi thở
ra vào. Nếu chúng ta có thể chú tâm về những điều nầy
một cách liên tục, không gián đoạn, tâm thức sẽ trở nên
vững chãi và khít khao để anh có được một nhận thức
rõ ràng giúp cho anh đạt được trí tuệ và có nhận thức
sáng suốt.
Kế
đó, là một bảng chỉ dẫn súc tích về những bước trong
việc quán niệm hơi thở…. Hãy sử dụng bài chỉ dẫn cho
đến khi anh đạt được sự hiểu biết nội tại. Chính anh
cũng cũng sẽ tìm thấy sự sáng suốt rốt ráo nơi tự thân.
Việc
đầu tiên anh làm khi bắt đầu quán niệm hơi thở là ngồi
thật thẳng và giữ tâm thức vững chãi. Hít vào. Thở ra.
Hãy để hơi thở phóng khoáng và thanh thản. Đừng gồng tay,
chân, hay thân thể. Hãy giữ thân thể trong tư thế thích hợp
với hơi thở. Lúc đầu, hơi thở ra vào sẽ dài, sâu, và
dần dà sẽ trở nên ngắn hơn – đôi lúc hơi thở sẽ sâu
hoặc nhẹ. Khi hơi thở ra vào ngắn chừng khoảng 10 hoặc
15 phút và rồi sẽ thay đổi.
Sau
một lúc, khi anh chú tâm vào hơi thở, hơi thở sẽ dần dà
thay đổi. Hãy tuỳ ý thích của anh và chú tâm trong thời
gian mấy phút vào hơi thở, kế đó nhận biết rõ ràng về
nguyên hơi thở ấy, tất cả những cảm xúc tinh tế của
nó. Đây là bước thứ ba, bước thứ ba của bộ bốn đầu
tiên : sabba-kaya-patisamvedi – chú tâm vào hơi thở có ảnh
hưởng đến thân thể bằng cách quan sát các cảm xúc của
hơi thở trong những phần khác nhau của thân thể, nhất là
những cảm giác liên quan đến hơi thở ra vào.
Từ
đó, anh chú tâm vào cảm xúc của hơi thở ở bất cứ điểm
nào. Khi anh thực tập một cách đúng đắn trong vòng một
thời gian khá dài, thân thể -- hơi thở -- bắt đầu trở
nên yên tịnh. Tâm thức dần dà yên bình. Nghĩa là, hơi thở
và chánh niệm về hơi thở phát triển cùng lúc. Khi các tinh
tế của hơi thở trở nên yên tịnh đồng thời chính niệm
cũng lắng dịu, hơi thở trở nên yên bình. Tất cả các cảm
xúc của thân thể sẽ bắt đầu dần dần yên tịnh. Đây
là bước thứ tư, sự yên tịnh của các hình thành thuộc
về thân thể.
Đến
lúc nầy, anh bắt đầu có chính niệm về các cảm giác xuất
hiện cùng với thân tâm yên tịnh. Bất cứ là các cảm xúc
ấy dễ chịu hoặc sung sướng hoặc bất cứ như thế nào,
các cảm xúc xuất hiện một cách rõ ràng cho anh chiêm nghiệm.
Những
giai đoạn anh phải vượt qua – quan sát hơi thở ra vào, dài
hay ngắn – cũng đủ để cho anh nhận biết – mặc dù anh
không thể chú tâm vào ý đó – hơi thở hay thay đổi. Nó
tiếp tục thay đổi, từ hơi thở ra vào dài, hoặc hơi thở
ra vào ngắn, từ hơi thở sâu hay nhẹ v..v… Chừng đây
cũng đủ giúp cho anh thấy rõ phần nào về hơi thở, để
hiểu là không có gì bất biến ở đây cả. Nó tự thay đổi
từ phút giây nầy đến phút giây kế tiếp.
Một
khi anh nhận biết sự hay thay đổi của thân thể -- nghĩa
là, với hơi thở -- anh có thể nhận thấy các cảm xúc tinh
tế, dễ chịu hay đau đớn nằm trong thế giới của cảm
giác. Bây giờ, anh quan sát các cảm giác, ngay đây, lúc nầy,
anh đang chú tâm vào hơi thở. Cho dù đó là những cảm giác
xuất hiện từ thân thể và tâm thức không dao động. Chúng
vẫn thay đổi. Như vậy, những cảm xúc trong thế giới của
cảm giác biểu lộ sự thay đổi ngay chính nơi bản thân nó,
cũng giống như hơi thở vậy.
Khi
anh nhận thấy sự thay đổi nơi thân thể, thay đổi nơi cảm
giác, và thay đổi nơi tâm thức, cái đó gọi là thấy Pháp
(seeing the Dhamma), thí dụ, nhận biết sự thay đổi. Anh cần
phải hiểu điều nầy một cách đúng đắn. Thực tập bộ
bốn đầu tiên của quán niệm hơi thở chứa đựng tất cả
bốn bộ bốn quán niệm hơi thở. Nghĩa là anh nhận thấy
sự thay đổi về thân thể và chiêm nghiệm về cảm giác.
Anh nhận thấy sự thay đổi nơi cảm giác và rồi chiêm nghiệm
về tâm thức. Tâm thức, cũng vậy, hay thay đổi. Sự hay thay
đổi của tâm thức là Pháp. Để nhận biết Pháp là nhận
biết sự hay thay đổi.
Khi
anh nhận biết tính chất thật sự của tất cả mọi vật
hay thay đổi, anh hãy luôn luôn giữ sự hiểu biết về thay
đổi, với mỗi hơi thở ra vào. Hãy luôn luôn ghi nhớ điều
nầy trong tất cả sinh hoạt hàng ngày của anh và rồi xem
việc gì sẽ xảy ra sau đó.
Sự
bình tĩnh thay thế đam mê sẽ xảy ra. Và rồi có sự buông
bỏ. Đây là cái mà anh phải tự hiểu lấy.
Bài
súc tích về quán niệm hơi thở là như vậy đó. Tôi gọi
nó súc tích bởi vì nó chứa đựng tất cả các bước trong
cùng một bài thực tập. Anh không cần phải thực tập mỗi
lần một bước. Chỉ cần chú tâm vào một điểm, thân thể,
và anh sẽ nhận thấy sự thay đổi của thân thể. Khi anh
nhận thấy sự thay đổi của thân, anh sẽ nhận biết cảm
giác. Cảm giác cũng sẽ biểu lộ sự thay đổi. Sự
nhạy cảm của tâm thức đối với cảm giác, hoặc những
suy nghĩ, tưởng tượng, cũng đều hay thay đổi. Tất cả
mọi thứ tiếp tục thay đổi. Nhờ vậy anh sẽ hiểu thế
nào là sự đổi thay …
Nếu
anh có thể trở nên tinh xảo trong việc quan sát và hiểu bằng
cách nầy, anh sẽ ngạc nhiên với sự thay đổi, căng thẳng,
và vô ngã của cái mà anh cho là « cái tôi , và anh sẽ giáp
mặt với bài Pháp chân thật. Phật pháp cũng liên tục thay
đổi như ngọn lửa đang cháy – cháy với thay đổi, căng
thẳng, và vô ngã – Pháp của sự vô thường về các sự
hình thành. Xa hơn, trong tâm thức hoặc trong ý thức, có một
cái gì đó đặc biệt, khác xa hơn bất cứ loại lửa nào.
Ở đó, không có đau khổ hay căng thẳng hoặc bất cứ gì
khác. Vật nầy nằm « bên trong » : Anh có thể nói nó nằm
trong tâm thức, nhưng nó không phải nằm bên trong tâm thức.
Chỉ là với tâm thức ta cảm nhận được nó. Anh không thể
trình bày nó bằng bất cứ phương thức nào. Chỉ là sự
dập tắt của tất cả nhiễm ô sẽ giúp anh nhận biết được
nó.
Cái
« vật đặc biệt » tự nó đã hiện hữu trong tính
chất tự nhiên của nó, nhưng bị các nhiễm ô bao bọc chung
quanh nó. Tất cả những vật giả mạo – nhiễm ô – cản
trở và nắm giữ mọi thứ, làm cho tính chất đặc biệt
nầy luôn bị che đậy và cầm giữ lại bên trong. Quả thật,
không có gì trong khung thời gian có thể so sánh với nó. Anh
không thể đặt tên cho nó, nhưng anh phải đâm thủng màn
nhiễm ô để thấy nó – thí dụ, phải đâm thủng tâm thức
đầy nhiễm ô, ham muốn, bám víu để thấy rằng tâm thức
thật trong sạch, sáng suốt, và yên tịnh. Chỉ có việc nầy
là quan trọng nhất.
Nhưng
nó không phải chỉ có một mức độ. Có rất nhiều mức
độ, từ vỏ bên ngoài đến vỏ bên trong, và từ nhựa cây,
trước khi anh đụng đến ruột cây. Pháp chân thật giống
như ruột cây, nhưng còn có nhiều thứ nơi tâm thức không
phải là ruột cây : Rễ cây, cành cây và rất nhiều lá cây,
nhưng chỉ có một ít ruột cây. Tất cả mọi phần không
phải ruột cây sẽ dần dà hư hoại và tan rã, nhưng ruột
cây thì không hư. Đây là một cách mà chúng ta có thể so
sánh. Giống như một cái cây chết chưa ngã. Các lá cây đã
rụng, các cành cây đã mục, vỏ và nhựa cây đã hư hoại,
chẳng còn gì ngoài trừ ruột cây. Một thí dụ chúng ta có
thể so sánh vật nầy là sự bất tử, nơi đây không có sanh,
không có tử, không có thay đổi. Chúng ta có thể gọi đó
là Niết Bàn (Nibbana) hoặc Không Duyên Khởi (Unconditioned).
Cũng giống nhau thôi.
Bây
giờ đây. Việc nầy có đáng cho chúng ta bỏ công để thực
tập và tự nhận biết hay không ?

BÊN
CẠNH NGƯỜI GÌA SẮP CHẾT
Lama
Surya Das - Dịch Việt : Mỹ Thanh
 |
 |
Làm
thế nào để cho việc thực tập của chúng ta có lợi ích
đối với người đang bệnh nặng ?
Anh
có thể hiểu rằng sự thực tập tự nó đã hiện hữu, chỉ
cần chỉ bày – không phải để trục lợi trong việc nầy,
mà chỉ cần có mặt ở nơi đó cùng với người ấy.
Theo
tâm linh, chúng ta có mặt ở đây, giống như đây là điểm
cuối cùng. Chỉ cần chú tâm, hoàn toàn ở nơi nầy, hoàn
toàn tỉnh thức – bao gồm mọi thứ. Giống như đức Phật
đã nói, « Khi ta giác ngộ, tất cả chúng sinh đều giác ngộ.
» Vì vậy, đây là phận sự của chúng ta, chúng ta cần
phải tỉnh thức và giác ngộ trong khả năng tốt nhất của
mình.
Tất
cả đều có liên quan đến nhau, tỉ dụ như chúng ta là một
kẻ nói láo trắng trợn hoặc là tên say rượu hoặc sát nhân,
tất cả đều có liên quan đến mọi thứ xung quanh chúng ta.
Cũng như vậy, là một vị thánh nhân hoặc chỉ là một người
đạo đức, từ bi, rộng lượng cũng có ảnh hưởng đến
tất cả mọi thứ khác. Và trong những giây phút nghiêm trọng
– mỗi giây đều là quan trọng, nhưng quan trọng nhất vẫn
là sự có mặt của chúng ta ở nơi đó, đối với người
đang hấp hối hoặc đang tái sanh, có đúng thế không ?
Thật
là thích đáng khi chúng ta có mặt ngay vào lúc ấy, bởi vì
họ cảm giác được điều đó hơn mọi thứ khác đang xảy
ra xung quanh. Nơi đó, họ có thể đang rất chú tâm. Đời
sống sắp sửa chấm dứt ngay phút ấy. Đây là giây phút
quan trọng nhất.
Khi
bà nội tôi vào khoảng tám mươi mấy tuổi, bà đã ở trong
viện dưỡng lão. Bà đã không còn tỉnh táo. Bà không còn
nhớ chút gì về quá khứ. Nhưng ở cùng với bà trong phút
giây đó thật là tuyệt vời.
Tôi
để ý những người trong gia đình rất phiền lòng vì bà
không nhớ tôi từng sống ở đâu, và làm gì. Họ cứ cố
gắng nhắc nhở bà, « Đây là Jeffrey. Bà nhớ Jeffrey chứ.
Anh ấy sống ở Pháp và đã đến đây thăm bà. » Bà
nội tôi không cần biết đến nước Pháp, và không cần nhớ
đến cuộc sống riêng tư của tôi. Nhưng ngay lúc ấy, tôi
và bà nội đã cùng nhau ở một nơi. Chúng tôi cùng nhau có
những giờ phút thú vị. Bà biết tôi là đứa cháu bà thương,
và chỉ như vậy. Tôi nghĩ, nếu anh tước bỏ hết mọi biếm
hoạ, niềm tin cũng như những tưởng tượng kỳ quặc, chỉ
cần như vậy cũng đủ tóm tắt lại cuộc sống của hai bà
cháu chúng tôi. Chúng tôi đang ở cạnh nhau, ngay lúc nầy.
Ngay tại đây. Hoàn toàn tỉnh thức.
Đối
diện với cái chết (hoặc sanh, hay bất cứ gì – sự tái
sinh cũng chỉ là một dạng thay đổi thôi), sự hiện diện
hoàn toàn của anh nơi đó có thể giúp cho họ nhiều hơn.
Anh không cần phải mang nguyên quyển nhật ký công tác của
anh theo. Việc nầy rất giản dị và sâu sắc hơn nhiều. Nếu
như anh không biết họ, thì anh không thể có mặt một cách
hoàn hảo đối với họ. Bởi vì đấy là tình thương. Dĩ
nhiên nếu anh yêu một người, tình thương đó là cách sâu
xa nhất để mà có mặt cùng bên nhau. Thật ra chỉ đơn giản
là : Nơi đây, chúng ta đang ở cùng vũ trụ ; thời gian, không
gian vô tận đã đưa chúng ta đến bên nhau, ngay lúc nầy,
ngay tại nơi đây.
Tất
cả đều ở ngay tại nơi nầy. Chúng ta đang ở nơi nầy.
Không cần chương trình gì sau khi đám trẻ vào đại học.
Không cần thêm những câu chuyện về quá khứ hay tương lai.
Chỉ là ngay tại đây, lúc nầy. Chỉ có vậy. Thật là không
thể tin nổi. Tôi nghĩ rằng, điều quan trọng là sự hiện
diện đơn giản, thành thật từ nơi sâu thẳm của tâm hồn,
trạng thái. Không phải đến từ những chương trình, thiết
kế tâm linh, sách kinh đặc biệt. Đừng chứng minh gì về
chính anh hết. Hãy có mặt ngay lúc ấy một cách sâu xa nhất.
Đấy là sự thay đổi. Sau đó là thời gian hồi phục ; tôi
gọi là hồi phục. Họ dĩ nhiên sẽ chết, nhưng mà anh đang
chữa trị tâm hồn họ, và cả tâm hồn của chính anh. Có
thể sẽ có sự khuây khoả và hồng ân sâu xa từ việc nầy.
Hãy giúp họ ra đi dễ dàng để họ có thể đến nơi họ
cần đến. Hãy làm một nhân chứng thực cho họ, bằng cách
tôn trọng và tin tưởng họ như anh đã từng tin tưởng.
Nghĩa
là chúng ta phải chấp nhận bất cứ gì đang xảy ra ; không
được đánh trả hay chống lại. Tôi cho rằng làm việc với
người già, sắp chết là một trong những thực tập tốt
nhất cho việc phát triển tâm linh – nếu nói một cách ích
kỷ. Đây cũng là một cơ hội và là một đặc ân. Nó giống
như darshan : một cái nhìn về thực tại, của đời sống
và cái chết, sự gặp gỡ tối hậu. Chúng ta cần phải chuẩn
bị sẵn cho việc nầy.

HẠNH
PHÚC, NGHIỆP VÀ TÂM THỨC
Đức
Dalai Lama thứ 14 - Dịch Việt : Mỹ Thanh
 |
 |
Với
sự đồng ý của Đức Dalai Lama, Dharamsala.
Trích
từ Tán Dương Nhị Pháp, ngày 5 – 8 tháng 11, năm 1982, New
Delhi, Ấn độ.
Do
Alex Berzin chuyển dịch, Lama Zopa rinpoche gạn lọc lại, và
Nicholas Ribush hiệu đính. Lần đầu do Trung Tâm Thiền Tushita
Mahayana xuất bản,
New
Delhi, 1982 (Tushita Mahayana Meditation Centre).
Đã
bao tỷ năm trôi qua từ khi thế giới nầy bắt đầu với
sự xuất hiện của nhiều chúng sinh trên mặt đất. Sau đó,
cần một thời gian rất lâu để các chúng sinh nầy trưởng
thành về mặt tư tưởng – sự phát triển và hoàn hảo các
năng lực tri thức ; và từ lúc con người trưởng thành cho
đến hiện nay cũng đã trải qua mấy ngàn năm rồi. Xuyên
qua tất cả những thời kỳ nầy, thế giới cũng đã chịu
nhiều thay đổi liên tục, và đang trong tình trạng tiếp tục
đổi thay. Kể cả ngay bây giờ, có những việc vừa xảy
ra trong một lúc tưởng chừng như bất động, nhưng chúng
cũng đang trên đà thay đổi trong từng phút giây. Một người
có thể tự hỏi cái gì sẽ không bị thay đổi, khi mọi thứ
vật chất và hiện tượng tinh thần đều nằm trong quá trình
biến đổi, không cố định. Tất cả mọi thứ đều không
ngừng xuất hiện, phát triển và rồi hoại diệt.
Trong
cơn lốc của tất cả những đổi thay nầy, duy chỉ có Chân
Lý là không thay đổi hay bị biến thể -- nói một cách khác,
đạo đức chân chính (Dharma) sẽ mang lại những kết quả
lợi lạc, và những hành động xấu ác sẽ mang lại những
kết quả đau khổ, tổn hại. Một nguyên nhân tốt sẽ tạo
ra một kết quả tốt, và một nhân xấu đưa đến quả xấu.
Tốt hoặc xấu, lợi lạc hay tổn hại, mỗi kết quả đều
có nguyên nhân. Chỉ duy nhất nguyên lý nầy là tồn tại,
không thay đổi và bất biến. Nguyên lý nầy đã có trước
khi con người bước vào thế giới nầy. Nguyên lý nầy hiện
hữu trong những thời kỳ đầu, trước và sau khi loài người
xuất hiện, cho đến bây giờ, và nó sẽ vẫn hiện hữu trong
những thời đại ở tương lai.
Tất
cả chúng ta đều muốn hạnh phúc và tránh đau khổ cũng như
tránh những điều bất như ý. Như chúng ta đã biết, sự
sung sướng và nỗi đau đều bắt nguồn từ một nguyên nhân.
Cho dù có những hậu quả nhất định, hình thành từ một
hay nhiều nguyên nhân, đã được định nghĩa ngay từ chính
bản chất của các hậu quả nầy.
Trong
vài trường hợp, ngay cả những yếu tố của nguyên nhân,
không nhiều, hay mạnh mẽ, các yếu tố ảnh hưởng vẫn có
khả năng để xuất hiện. Đặc tính yếu tố của kết quả
không quan trọng, chỉ là kết quả tốt hay xấu, tầm quan
trọng và cường độ tương ứng trực tiếp với số lượng
và sức mạnh của các yếu tố nguyên nhân. Như vậy, để
thành công trong việc tránh gặp phải những niềm đau và để
được sung sướng, việc nầy không phải là việc nhỏ, muốn
vậy, cần phải từ bỏ một số lớn các yếu tố nguyên
nhân tập thể.
Trong
lúc phân tách bản chất và trạng thái của hạnh phúc, thấy
rõ ràng là hạnh phúc có hai khái niệm. Một là sự vui sướng
tức thời (tạm bợ) ; sự vui sướng trong tương lai (tối
hậu). Những vui thú tạm thời bao gồm những tiện nghi và
hưởng thụ mà con người thèm khát, như nơi ăn chốn ở tốt,
đồ đạc trong nhà đẹp đẽ, thức ăn thơm ngon, người bạn
đường lý tưởng, những cuộc trò chuyện vui thích v…v…
và v... v… Nói một cách khác, những vui sướng tạm
thời là những thứ mà con người đang hưởng thụ trong cuộc
sống nầy. Câu hỏi là, sự hưởng thụ về những vui sướng
và hài lòng nầy bắt nguồn hoàn toàn từ những yếu tố
bên ngoài, nó cần được nghiên cứu trong ánh sáng lý luận
rõ ràng. Nếu chỉ những yếu tố bên ngoài đưa đến
những vui sướng nầy, một người phải sung sướng lắm khi
những thứ nầy có mặt, và như vậy, khi những thứ nầy
vắng mặt con người sẽ đau khổ.
Tuy
nhiên, không phải vậy. Bởi vì, kể cả khi những trạng thái
hưởng thụ vật chất kể trên vắng mặt, con người vẫn
có thể sung sướng và an lạc. Điều nầy chứng tỏ
rằng những yếu tố bên ngoài không nhất thiết mang đến
sự sung sướng cho con người. Ngược lại, có những việc
xảy ra chứng minh rằng sự an lạc nội tâm và hạnh phúc
không nhất thiết là sự hưởng thụ - do những yếu tố bên
ngoài đưa đến, và dù những yếu tố nầy có mặt, niềm
vui cũng thường không xuất hiện, chứng tỏ rõ ràng là nguyên
nhân của hạnh phúc dựa vào những yếu tố khác hơn.
Nếu
ai đó hiểu sai lạc lời bình luận về những yếu tố kể
trên và cho rằng nó là nguyên nhân duy nhất tạo nên hạnh
phúc, và loại bỏ những nguyên nhân khác, và kết luận rằng
kết quả của hạnh phúc bị lệ thuộc vào những yếu tố
bên ngoài ; sự hiện diện hay vắng mặt của hạnh phúc đều
bị các yếu tố nói trên chi phối. Sự thật không hẳn là
vậy, bởi vì một số yếu tố bên ngoài không nhất thiết
hoặc hoàn toàn chịu trách nhiệm về ảnh hưởng của hạnh
phúc.
Vậy
một số nguyên nhân bên trong là gì ? Làm sao có thể giải
thích chúng ?
Là
Phật tử, tất cả chúng ta đều tin vào Luật Nhân Quả (Law
of Karma) – luật thiên nhiên của nguyên nhân và kết quả.
Bất cứ tình trạng bên ngoài thể hiện ra sao, trong những
kiếp sống liên tục nối đuôi nhau, chúng sanh luôn chịu ảnh
hưởng về những hành động họ đã tạo ra trong các kiếp
quá khứ. Một khi sức mạnh của nghiệp quá khứ chín muồi,
một người sẽ trải nghiệm những trạng thái tinh thần sướng
vui hay đau khổ. Tất cả đều là kết quả tự nhiên từ
các hành động trong quá khứ.
Điều
quan trọng nhất là hiểu rằng, một khi các nhân duyên phối
hợp đầy đủ thì nghiệp xuất hiện, đó chỉ là kết quả
của tổng số hành động đã tạo tác trong quá khứ mà ra,
những yếu tố bên ngoài có thể xem như điều kiện thuận
lợi để kết quả hiện hành. Nhân duyên thuận lợi tốt
để kết quả tốt hiện hành từ nghiệp tốt của quá khứ
sẽ mang lại một trạng thái tinh thần sung sướng vui vẻ.
Nếu nhân duyên hoặc những điều kiện bên ngoài thiếu sót
thì một người không thể có được niềm vui nội tại; cho
dù điều kiện bên ngoài rất thích hợp nhưng nếu duyên tốt
không đủ, thì người ấy không thể hưởng được kết quả
sung sướng. Điều nầy chứng tỏ rằng nhân duyên nội tại
là điều kiện tiên quyết rất cần thiết cho sự sung sướng
( và ngược lại ). Vì vậy, để đạt được kết quả vui
như mong muốn, điều thiết yếu là chúng ta cùng một lúc
phải hội đủ các điều kiện cần thiết về mặt bên ngoài
( những điều kiện hiện tại thích hợp) và những yếu tố
cần có về mặt bên trong (nghiệp tốt quá khứ).
Nói
về vấn đề nầy bằng những từ đơn giản, tỉ dụ nói
về những điều kiện tốt nội tại (nghiệp quá khứ) được
tích lũy, những phẩm chất cần có như không ham muốn quá
nhiều, tự hài lòng, khiêm cung, đơn thuần và những phẩm
chất cao cả khác. Thực tập để đạt được những điều
kiện nội tại thích hợp có thể cải thiện được những
yếu tố bên ngoài và chuyển đổi chúng thành những ưu điểm
lợi ích mang lại hạnh phúc. Sự vắng mặt của những điều
kiện nội tại thích hợp, như ít ham muốn, kiên nhẫn, tha
thứ, v…v…, sẽ làm cản trở sự thụ hưởng hạnh phúc
của một người cho dù họ hội đủ những điều kiện bên
ngoài. Ngoài ra, một người cần phải trau dồi công đức,
và phẩm hạnh trong các đời quá khứ. Nếu không, các hạt
giống hạnh phúc không thể nào đơm hoa kết trái.
Việc
nầy có thể giải thích bằng một cách khác. Lạc thú và
chán chường, sung sướng và đau khổ là những kết quả không
tránh khỏi của mỗi cá nhân, tùy vào hành động thiện ác
mà họ tích lũy. Nếu như hiện tại, trong một khoảng thời
gian đặc biệt nào đó, các quả lành chín muồi thì người
ấy sẽ nhận biết ngay tức thời, nếu đó là một người
sáng suốt, thì họ biết ngay là kết quả lành của công đức
từ quá khứ. Cũng như vậy, khi một người chịu đựng đau
khổ và sự bất như ý, anh ta phải an nhiên chịu đựng, và
tự nhủ dù muốn hay không, vẫn phải chịu đau khổ và chịu
đựng kết quả của nghiệp xấu đã gieo, mặc dù thông thường
thì anh ta cảm thấy chán chường cực độ và không thể chịu
nổi. Lại nữa, nhận thức rằng sự đau khổ và việc bất
như ý đang xảy ra là kết quả của những hành động xấu
ác trong quá khứ, nếu anh ta đủ sáng suốt để bắt đầu
từ đây buông bỏ những hành động sai quấy. Cũng như hài
lòng với ý nghĩ rằng nghiệp xấu quá khứ đã chín muồi,
và anh đang phải trả cái nghiệp xấu ác ấy ngay lúc nầy,
như vậy anh ta coi như đã trả bớt được một số ác nghiệp,
nghĩ vậy anh ta sẽ thanh thản hơn.
Trí
tuệ có được sự khích lệ đúng đắn sẽ mang lại sự
bình an thiết thực cho thân và tâm. Thí dụ, một người đang
chịu đựng sự đau khổ về thân do những nguyên nhân bên
ngoài. Nếu như ý chí anh ta mạnh mẽ (dựa vào niềm tin anh
ta là người phải chịu trách nhiệm cho sự đau đớn và khổ
sở nầy), ngay đây anh ta có thể làm cho nỗi đau phần nào
giảm bớt và tinh thần anh nhờ đó cũng an lành và cảm thấy
được an ủi.
Bây
giờ để tôi giải thích việc nầy ở một trình độ cao
hơn. Điều nầy có liên quan đến sự phấn đấu và gắng
sức, để thành công cần phải hủy diệt hệ thống bất
như ý cũng như nguyên nhân của nó.
Như
đã nói trước đó, sung sướng và đau khổ, hạnh phúc và
bất như ý là những ảnh hưởng của các hành động tốt
và xấu, khéo léo hay không. Những hành động khéo léo và
không khéo (nghiệp) không phải là các hiện tượng bên ngoài.
Chúng thuộc về thế giới tinh thần. Cố gắng thật nhiều
để vun bồi nghiệp tốt và làm giảm nghiệp xấu, đó là
con đường để tạo hạnh phúc và tránh đau khổ. Thật là
một điều hiển nhiên, bởi vì một kết quả hạnh phúc thường
theo sau một nguyên nhân tốt đẹp và những hậu quả của
nghiệp xấu là sự đau khổ.
Như
vậy, việc quan trọng nhất là chúng ta cố gắng bằng mọi
cách để gia tăng những hành động tốt có phẩm chất, và
trừ bớt đi những hành động xấu.
Làm
thế nào để làm được điều nầy ? Những nguyên nhân đáng
được khen thưởng và đáng bị chê trách là kết quả của
sung sướng và đau khổ, không giống những đối tượng bên
ngoài. Thí dụ, trong cơ thể con người, với những phần khác
nhau như phổi, tim, và những bộ phận khác có thể được
thay thế bằng những bộ phận mới. Tuy vậy, điều nầy không
đúng với nghiệp quả, bởi vì nghiệp quả hoàn toàn phụ
thuộc về thế giới tâm thức. Việc làm xứng đáng
và từ bỏ nguyên nhân xấu ác hoàn toàn là tiến trình của
tâm thức. Chúng ta không thể đạt được với bất cứ sự
giúp đỡ nào đến từ bên ngoài. Cách duy nhất có thể đạt
được là điều khiển và huấn luyện tâm thức chưa thuần
hóa. Việc nầy đòi hỏi chúng ta phải có sự hiểu biết
hoàn toàn về cái mà chúng ta gọi là tâm thức.
Xuyên
qua các cửa giác quan, một người thấy, nghe, ngửi, nếm và
xúc chạm với một đối tượng, các tĩnh vật và những cảm
nhận. Hãy đóng cửa các giác quan để các trường hợp có
liên quan đến hình dáng, âm thanh, mùi vị, xúc chạm về vật
chất hay tinh thần không có cơ hội làm chao đảo chúng ta.
Khi đóng cửa các giác quan, tâm thức sẽ không thể hồi tưởng
về quá khứ, và dòng chảy của ký ức sẽ bị gián đoạn.
Cũng như vậy, những dự định cho tương lai và suy ngẫm về
những hành động trong tương lai cũng không thể xuất hiện.
Thiết lập một khoảng trống trong những tiến trình của
suy nghĩ là việc rất cần thiết. Giải thoát khỏi những
tiến trình nói trên sẽ giúp tâm thức luôn ở trạng thái
trong sạch, không ô nhiễm, rõ ràng và yên lặng.
Bây
giờ, hãy để chúng ta xét nghiệm những đặc tính nào đã
tạo thành tâm thức khi tâm thức đạt được đến trạng
thái nầy. Chúng ta chắc chắn đang sỡ hữu một thứ gọi
là tâm thức, nhưng làm sao để chúng ta có thể nhận biết
sự hiện hữu của nó ? Tâm thức quan trọng và chân
thật sẽ được tìm thấy khi tất cả gánh nặng của những
chướng ngại thô và sự lầm lạc (thí dụ, cảm nhận qua
giác quan, hồi ức, v.v.) được tiêu trừ. Phân biệt khái
niệm về tâm thức chân thật, chúng ta khám phá ra rằng, nó
không giống đối tượng bên ngoài, bản chất chân thật của
tâm thức là không có hình dáng hay màu sắc ; chúng ta cũng
không tìm thấy căn bản của chân lý hay ý niệm sai lầm về
tâm thức là nó bắt nguồn từ cái nầy hoặc cái kia, hoặc
nó di chuyển từ nơi nầy đến nơi khác, hoặc nó nằm ở
một chỗ nào đó. Khi tâm thức không gặp gỡ đối tượng
nào, tâm thức giống như khoảng trống rộng lớn vô biên,
hoặc giống như biển sâu vô tận, yên bình.
Khi
tâm thức gặp gỡ đối tượng, tức thời tâm thức nhận
biết vật ấy, giống như tấm gương soi tức thì phản chiếu
hình ảnh người đứng trước gương. Bản chất chân thật
của tâm thức không chỉ bao gồm sự nhận thức về đối
tượng, mà còn là nhận thức sự trải nghiệm cụ thể của
vật ấy, và người đang trải nghiệm nó.* Thông thường,
các giác quan nhận biết về âm sắc, như ý thức của mắt,
ý thức của tai, v.v., trình bày chức năng của nó dựa vào
các hiện tượng bên ngoài bằng cách thô kệch, méo mó. Khi
sự kích thích kiểu thô thiển nầy bị đóng lại, khi các
trải nghiệm cụ thể và nhận thức rõ ràng xuất hiện từ
nội tâm, tâm thức thừa nhận các đặc điểm của khoảng
trống vô tận tương đương với sự vô tận của không gian.
Tuy
nhiên, khoảng trống nầy không thể được xem như bản chất
chân thật của tâm thức. Ý thức về hình dáng và màu sắc
của các đối tượng thô đối với chúng ta trở nên quá
quen thuộc, khi chúng ta chú tâm duyệt xét bên trong của bản
chất tâm thức, như tôi có nói, nó là một khoảng trống
rộng lớn, vô tận, xa rời bất cứ bóng đen hay chướng ngại
thô thiển nào. Tuy thế, điều nầy không có nghĩa là chúng
ta biết phân biệt bản chất chân thật tinh tế của tâm thức.
Những gì được giải thích ở trên liên quan đến trạng
thái tâm thức trong sự trải nghiệm cụ thể, và được nhận
thức rõ ràng bởi tâm và chức năng của nó, nhưng nó chỉ
là sự trình bày tương đối về bản chất của tâm thức.
Thêm
vào đó, có vô số khái niệm và các trạng thái khác của
tâm thức. Có nghĩa là, xem tâm thức như là nền tảng cao
tột, có rất nhiều đặc tính liên quan tới tâm thức. Như
một củ hành có nhiều lớp, lớp nầy chồng lên lớp khác,
và có thể bị lột ra từng lớp, giống như mỗi loại đối
tượng có nhiều lớp ; và như giải thích ở đây, bản chất
của tâm thức cũng tương tự như vậy ; tâm thức có nhiều
lớp, lớp nầy bị lớp khác bao bọc.
Tất
cả mọi thứ đa hợp đều bị tan rã. Sự trải nghiệm và
hiểu biết đều là vô thường và sẽ bị phân hủy, chức
năng của nó dựa vào tâm thức, và tâm thức không phải là
thứ tồn tại vĩnh viễn, hay thường hằng. Từng giây từng
phút, tâm thức bị chi phối bởi sự thay đổi và phân hủy.
Khái niệm về bản chất của tâm thức là tính chất ngắn
ngủi của nó.
Tuy
vậy, như chúng ta đã từng quan sát, bản chất chân thật
của tâm thức có vô số khái niệm, bao gồm ý thức của
sự trải nghiệm cụ thể và nhận thức đối tượng. Bây
giờ hãy để chúng ta xét nghiệm sâu hơn để hiểu rõ ý
nghĩa bản chất tinh tế của tâm thức. Tâm thức trở nên
hiện hữu bởi vì nguyên nhân của chính nó. Chối bỏ nguồn
gốc tâm thức đến từ một nguyên nhân nào đó, hoặc cho
rằng đó là cách để nhận thức bản chất đa hợp của
tâm thức là sai lầm.
Với
sự quan sát phiến diện của chúng ta, tâm thức, có trải
nghiệm cụ thể và nhận thức rõ bản chất của nó, xuất
hiện như một thực thể mạnh mẽ, độc lập, chủ quan, và
hoàn toàn chiếm ưu thế. Tuy vậy, một phân tách sâu xa sẽ
cho thấy tâm thức nầy, mặc dù có chức năng nhận biết
và trải nghiệm, cũng không phải là một thực thể « bản
ngã », nhưng nó dựa vào nhiều yếu tố khác để hiện hữu.
Và như vậy, nó dựa vào một cái gì đó hơn là chính nó.
Phẩm chất không độc lập của bản thể tâm thức là bản
chất thật của nó, và đó là thực tại tột cùng của bản
ngã.
Với
hai khái niệm nầy, bản chất chân thật cao tột của tâm
thức và sự hiểu biết về bản chất chân thật ấy, khái
niệm đầu là nền tảng, khái niệm sau là thuộc tính. Tâm
thức (bản ngã) là căn bản và những trạng thái khác đều
là thuộc tính. Tuy nhiên, căn bản và thuộc tính đều sỡ
hữu cùng một bản chất. Thực thể của tâm thức (căn bản)
không có bản ngã (nó dựa vào một nguyên nhân khác hơn là
chính nó) và bản chất của nó, vô ngã (sunyata), không
ngừng hiện hữu như là một, từ vô thỉ bản chất đó giống
nhau và không thể tách rời. Bản chất của vô ngã (sunyata)
thâm nhập tất cả mọi thứ. Như chúng ta hiện tại, vì chúng
ta không thể nắm bắt hoặc thông hiểu được thực tại
cao tột (sunyata) của tâm thức, do đó, chúng ta tiếp
tục phạm lỗi lầm và tật xấu của chúng ta vẫn còn.
Hãy
xem tâm thức như một chủ đề và thực tại cao tột của
tâm thức cũng là đối tượng của nó, một người có thể
sẽ hiểu đúng đắn về bản chất chân thật của tâm thức,
cũng như thực tại cao tột của nó. Và sau một buổi tọa
thiền dài nhiều kiên nhẫn, một người có thể nhận thấy
và nắm bắt được sự hiểu biết về thực tại cao tột
của tâm thức, nơi đó không có những đặc tính đối lập,
một người sẽ dần dần có thể làm kiệt quệ các ảo tưởng
và khuyết điểm của tâm thức như sự giận dữ, sự phô
trương, ganh tỵ, ghen ghét, v…v…
Sự
thất bại để nhận định về bản chất chân thật của
tâm thức sẽ bị khắc phục xuyên qua việc đạt được năng
lực để hiểu rõ về thực tại cao tột. Nó sẽ diệt bỏ
ham muốn, giận dữ, những ảo giác khác bắt nguồn từ tham,
sân, si. Cũng như vậy, sẽ không còn cơ hội để tích lũy
nghiệp xấu ác. Bằng cách nầy, việc tạo nghiệp (xấu ác)
có ảnh hưởng đến tương lại sẽ bị tiêu trừ ; một người
có thể gia tăng lượng và phẩm của những nghiệp tốt lành,
và trừ tiệt nghiệp xấu ác có thể ảnh hưởng đến các
kiếp sống trong tương lai – ngoại trừ nghiệp xấu ác đã
tích lũy từ lâu lắm.
Thực
tập để có sự hiểu biết hoàn chỉnh về bản chất thật
của tâm thức, đòi hỏi sự gắng sức, tập trung cao độ
về tinh thần. Trong trạng thái hiện tại của chúng ta , khi
tâm thức chúng ta đối diện với bất cứ vật gì, tâm thức
tức thời bị vật ấy lôi cuốn. Việc nầy làm cản trở
sự hiểu biết. Như vậy, để đạt được năng lực tinh
thần vĩ đại, điều kiện tiên quyết là cần phải có sự
nỗ lực. Thí dụ, một con sông lớn chảy qua một dải đất
rộng lớn nông cạn thì nước chảy ít mạnh, nhưng khi nước
chảy qua đèo dốc thì tất cả nước tập trung nơi chỗ hẹp
và như vậy nước sẽ chảy mạnh hơn. Cũng tương tự như
vậy, để tâm thức được tập trung, cần tránh tất cả
những giải trí, những sao lãng, vì nó lôi kéo tâm thức khỏi
đối tượng tập trung. Nếu không làm như vậy, việc
thực tập để đạt sự hiểu biết về bản chất thật của
tâm thức sẽ hoàn toàn bị thất bại.
Để
dễ sai khiến tâm thức, cần nhất chúng ta phải điều khiển
và huấn luyện nó. Không nên để những hoạt động về thân,
khẩu, ý, chạy tán loạn, lung tung. Giống như một người
nài huấn luyện và làm đằm con ngựa hoang bất trị bằng
cách hướng dẫn dạy dỗ nó một cách khéo léo, lâu dài ;
cũng như vậy, các hoạt động của thân, khẩu, cần được
huấn luyện để làm cho nó trở nên dễ sai khiến, chính đáng
và hoàn chỉnh. Do đó, những Bài giảng của Đức Phật bao
gồm ba loại, đó là sila (giới luật), samadhi (thiền định)
và prajna (trí tuệ), tất cả để huấn luyện tâm thức.
Bằng
cách học hỏi, thiền định và thực tập vào Tam Học (trisiksa),
một người sẽ thăng tiến để đạt được sự tỉnh thức.
Một người thực tập miên mật với phẩm chất tốt đẹp
có thể chịu đựng một cách kiên nhẫn những nỗi đau khổ,
kết quả của nghiệp xấu trong quá khứ. Anh ta sẽ xem sự
xui rủi như là sự may mắn trá hình, bởi vì nó giúp cho anh
ta tỉnh thức về ý nghĩa của sự báo ứng (nghiệp) và thuyết
phục anh ta cố gắng chú trọng vào những việc làm phước
thiện. Nếu như nghiệp xấu ác (evil) của quá khứ chưa chính
muồi, anh ta vẫn có khả năng để xóa sạch nghiệp chưa trổ
quả bằng cách sử dụng sức mạnh của bốn năng lực, như
sau : quyết tâm đạt thành quả vị Phật ; quyết tâm kiêng
cữ những hành động bất thiện kể cả dám hy sinh thân mạng;
làm việc phước thiện, và sám hối.
Đó
là con đường để đạt đến hạnh phúc tức thời, dọn
sẵn đường cho sự giác ngộ trong tương lai và để tránh
tích lũy thêm những nghiệp bất thiện.

MỖI
NGƯỜI TRONG CHÚNG TA LÀ MỘT VỊ Y SĨ
Đức
Phật Dược Sư và Nghiệp chữa bệnh
Dịch
sang tiếng Việt : Mỹ Thanh
 |
 |
Một
nhà cố vấn về thời trang thẩm mỹ bị bệnh ung thư.
Đây
là cách mà bà ta sử dụng để làm giảm nỗi đau :
Bà
ta gửi một tin nhắn đến người bạn đang là học viên
ở Viện Vajrapani ở California, để hỏi về cách thực
tập chữa bệnh. Bà được người bạn chỉ dẫn nên
mua lại các sinh vật sắp sửa bị giết và phóng sanh
chúng ở một nơi an toàn, giúp cho chúng có thể sống
lâu hơn.
Người
phụ nữ dễ thương nầy đã cứu rất nhiều súc vật
sắp sửa bị giết. Bà đã phóng sanh hai hoặc ba ngàn
con vật, đa số là gà, cá, và giun trùng. Bà đem gà
đến một nông trại gia súc, và thả cá xuống sông.
Bà mua hai ngàn con trùng vì chúng rẻ và dễ tìm, và
bà thả trùng trong khu vườn của bà. Phóng sanh trùng
là một ý rất hay vì trùng khi được thả ra sẽ lẹ
làng chui xuống đất. Chúng sống trong khu vườn nhà
thì không bị sát hại bởi các sinh vật khác và như
vậy chúng sẽ sống lâu hơn. Các con vật khác được
phóng sanh trong rừng, hồ, hoặc biển không chắc sẽ
sống lâu hơn vì chúng luôn có những kẻ thù trong thiên
nhiên.
Nghe
nói rằng sau khi đã thực tập phóng sanh, bà ấy vào
nhà thương để chẩn đoán lại, và các bác sĩ đã
không tìm thấy dấu vết nào của căn bệnh ung thư .
Thật
hay giả, chuyện nầy cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên
đối với những ai tin tưởng thuyết nghiệp quả. Đây
là những lời của ông Deepak Chopra :
«
Không có món nợ nào trong vũ trụ mà không phải trả.
Vũ trụ có một hệ thống tính toán sổ sách rất
hoàn hảo, và tất cả mọi thứ là sự trao đổi tới
lui. »
Như
vậy, nhờ giúp đỡ sinh mạng các con vật yếu đuối,
người phụ nữ đã xác định niềm tin của bà trong
tính xác thật của luật nhân quả, gọi là « nghiệp
vừa là hành động vừa là kết quả của hành động
đó. » Hành động của bà không phải là ảo thuật
hay phép lạ mà là gieo trồng những hạt giống thích
hợp để chúng đơm hoa kết trái thành sức khỏe và
niềm hạnh phúc. Thật vậy, nếu chúng ta muốn tạo
dựng hạnh phúc trong cuộc sống, chúng ta phải học gieo
trồng các hạt giống hạnh phúc cho người khác. Cũng
như với các thực tập của người Phật tử thông thường,
kết quả mà một người đang nhận lãnh là nghiệp
của quá khứ. Tất cả mọi thứ đang xảy ra vào lúc
nầy là kết quả của những hành động mà ta đã làm
trước đó. Đây là một minh họa cho thành ngữ « gieo
nhân nào gặt quả nấy » . Nếu chúng ta có lòng
từ bi và tử tế, chúng ta sẽ luôn luôn không có ý
gây tổn hại đến người khác, và việc nầy chính
nó đã là một phương pháp chữa bệnh. Theo niềm tin
Phật giáo, một người có từ tâm là vị thầy chữa
bệnh thần kỳ nhất, không những chỉ chữa lành bệnh
hay giải quyết được các nan đề cho chính họ, mà còn
là vị thầy chữa bệnh cho những người khác. Đa số
chúng ta đều xác nhận rằng trong nhà thương, nơi căn
bệnh đang hoành hành và bệnh nhân đang chịu đựng nỗi
đau, với nụ cười thân thiện và lời khích lệ của
vị y sĩ, bệnh nhân sẽ đỡ đau và mau khỏe hơn. Thật
ra chính là do tình thương mà bệnh được chữa lành.
Một khi tình thương được lan tỏa ra từ nơi sâu thẳm
của một người, chính tình thương yêu đã tạo nên sức
khỏe tốt.
Trong
truyền thống Phật giáo, vị thầy chữa bệnh nguyên
thủy và đầu tiên là đức Phật. Thường được gọi
là Đức Phật Dược Sư, chính đức Phật Dược Sư
đã tiết lộ các bài pháp thiêng liêng được gói ghém
trong những bài kinh được gọi là Tứ Mật Y Kinh (Four
Medical Tantras). Tất cả y thuật của Phật giáo đều bắt
nguồn từ bộ kinh thiêng liêng nầy. Như đã giải thích
trong bài đầu tiên của các bài kinh nầy, đức Phật
Dược Sư một lần đã ngồi thiền định, và xung quanh
các vị đệ tử gồm có các vị y sĩ, các vị thông
thái, thiên vương và các vị Bố Tát, tất cả đều
ước muốn học hỏi về phương pháp chữa bệnh. Tất
cả đều lặng người bởi hào quang sáng rỡ trang nghiêm
của đức Phật, mà không dám mở lời. Biết được
nguyện vọng của họ, đức Phật Dược Sư đã phát
ra hai ánh hào quang, ánh hào quang thứ nhất là lời thỉnh
cầu học pháp, và ánh hào quang thứ hai giảng giải về
pháp nầy. Nhờ vậy, bài kinh nầy được nói ra, và
đức Phật Dược Sư giải thích những chứng bệnh khác
nhau về thân cũng như tâm, giảng về nguyên nhân của chúng,
sự chẩn đoán bệnh tình, và cách chữa trị.
Mặt
khác, đức Phật hiểu rõ nguyện vọng của các đệ
tử mà không cần họ phải nói ra, việc nầy cho thấy
lòng từ bi vô hạn của đức Phật đối với các đệ
tử. Thật vậy, các thầy chữa bệnh như đức
Phật được gọi là những vị đại y sĩ không những
chỉ vì khả năng chữa lành bệnh – mà còn là vì
lòng từ bi và trí tuệ để chẩn đoán và chữa trị
tận gốc rễ của căn bệnh, dù là thân bệnh hay tâm
bệnh.
Trong
nghệ thuật tranh ảnh, hình đức Phật Dược Sư được
vẽ với màu vàng hoàng kim, dù các đặc điểm khác
vẫn là màu xanh dương.
Trong
bất cứ hình ảnh nào, bàn tay trái của đức Phật
Dược Sư đều để trên đùi trong tư thế bắt ấn
của thiền định, với một cái bát bằng sắt. Tay phải
ngửa lên, như đang ban phát, một cử chỉ thể hiện
sự rộng lượng, một nhánh myrobalan (một loại thảo
dược trong y học Tây Tạng). Đây là một loại trái cây
có thể chữa bệnh rất phổ biến trong y học Tây Tạng
và ở đây là biểu tượng của sự phục hồi mạnh
mẽ của thế giới thực vật, nhắc nhở chúng ta là
trái đất cung cấp miễn phí cho chúng ta, và không đòi
hỏi gì hơn là gìn giữ sự mầu mỡ của nó với
sự chăm sóc nhẹ nhàng, nâng niu.
Tuy
nhiên, y học Phật giáo chỉ áp dụng thuốc men một cách
có giới hạn. Việc sử dụng thuốc chỉ được áp
dụng vừa phải để chữa các triệu chứng ngoại tại
của căn bệnh. Việc chữa trị căn bệnh cho con người
tận gốc rễ cần phải nương vào sự chứng ngộ tâm
linh, mỗi người chúng ta đều có thể tự chữa trị
bằng cách nầy. Đức Phật Dược sư thường được
vẽ với đủ loại dược thảo thơm tho bao quanh, trong y dược
Tây Tạng, với vô số thiên vương, và Bố Tát. Hình vẽ
như thế nầy được gọi là « Thiên đàng của đức
Dược Sư » .
Thiên
đàng nầy tượng trưng cho một vũ trụ lý tưởng, nơi
tất cả các thuốc giải cho mỗi chứng bệnh đều hiện
hữu. Đức Phật Dược Sư cũng đã nói như sau, « Bao
nhiêu chúng sinh hiện hữu trong hệ thống thế giới,
đều có một con đường giải thoát. »
Theo
lời Romio Shrestha « « Đức Phật Dược Sư là nhà bào
chế thuốc tâm linh. Để khám phá ra sức mạnh chữa
bệnh tiềm tàng ngay trong con người chúng ta, là lối
vào thiên đàng của « Bậc thầy về thuốc giải. » .
Cũng có nghĩa là thiên đàng nầy nằm ngay trong lòng
mỗi chúng ta, chỉ cần tâm thức sáng suốt để nhận
diện và sử dụng nó. Romio Shrestha còn nói thêm, « Thân
thể chúng ta có khả năng tự chữa bất cứ căn bệnh
nào. Mỗi một cây, mỗi một dược thảo, mỗi thuốc
giải đều có vật bổ sung của nó nằm trong cốt lõi
tinh tế của thân thể con người. »
Chúng
ta không những có khả năng chữa trị cho chính bản thân,
mà còn có thể chữa bệnh cho những người xung quanh
chúng ta như câu chuyện sau đây :
Ngày
xưa đó, có một tăng sĩ sống trong một làng nhỏ ở
Tây Tạng. Ông ta rất là tầm thường, và hằng ngày
chăm lo nhiệm vụ tu sĩ của mình. Năm đó làng xảy ra
một cơn dịch đậu mùa, giết chết vô số người trong
vùng, vị tăng sĩ cũng bị đậu mùa và chết đi. Đó
là vào giữa mùa đông, mặt đất bị đóng băng và
củi thì khan hiếm, vì vậy xác của vị ấy được
khiêng thả xuống một cái hồ đang đóng băng. Một thời
gian sau đó, cơn dịch đậu mùa chấm dứt. Vào mùa xuân,
mặt băng tan đi, và người ta nhận thấy một cầu vòng
phía trên mặt hồ nơi mà họ đã thả xuống xác của
vị tu sĩ.
Người
ta liền đến nơi đó và thấy xác của vị tu sĩ đang
nổi lên, hoàn toàn nguyên vẹn. Xác của ông được đưa
về tu viện và được làm lễ hỏa táng theo nghi thức
tăng sĩ. Khi xác thân của ông biến mất trong ngọn lửa,
nơi dàn hỏa xuất hiện nhiều cầu vồng bay thẳng lên
bầu trời, sau đó người ta tìm được các xá lợi trong
đống tro tàn. Lúc ấy, mọi người đồng công nhận
vị tăng sĩ là một người xuất chúng trong cái vỏ
ngoài rất « tầm thường », và người ta khen tặng ông
đã nhận lãnh căn bệnh hiểm nguy để thanh tịnh hóa
các nghiệp xấu tạo nên cơn dịch. Trong Phật giáo Tây
Tạng, bệnh hoạn có thể là một biểu hiện của sự
thành công về mặt tâm linh, và sự hy sinh chính mình
để cứu những người khác.
Một
người mẹ có thể hiểu được điều nầy, bà mẹ
có thể cho đi sự sống của mình để nuôi nấng các
con. Thật như vậy có thể chứng minh sự ép xác, khổ
hạnh là đúng, xem bệnh hoạn như một cây chổi quét
sạch hết nghiệp xấu, và như vậy chứng tỏ con đường
tâm linh cao nhất để thanh tịnh hóa bản thân là sự
chịu đựng khổ hạnh.
Một
người tầm thường có khả năng trị bệnh xuất phàm.
Khả năng nầy chỉ đạt được khi chúng ta chấp nhận
về mình sự đau khổ của kẻ khác, chịu đau khổ như
kẻ khác, bằng cảm nhận lấy nỗi khổ của họ. Trau
dồi những cảm giác tương thông nầy sẽ làm tăng trưởng
lòng từ bi, sự xót thương. Chỉ có như vậy mới có
thể huy động được năng lực chữa bệnh không giới
hạn đã tìm tàng sâu thẳm trong tâm thức vô biên của
chúng ta.
Thật
sự bệnh tật và đau khổ được xem là cách giải
thoát đặc thù, cho ta cơ hội để trải nghiệm sự
liên hệ chặt chẽ giữa ta và những chúng sinh khác,
và cho ta thấy rõ bản chất tử vong của kiếp con người.
Có một câu chuyện về một vị trụ trì thiền viện
đã đạt được năng lực chữa bệnh bằng lòng từ
bi. Một ngày trong khi ông ta đang dạy dỗ đệ tử, bất
thần ông ta la đau. Khi các đại sư hỏi ông bị gì, ông
nói rằng có một con chó đang bị đánh đập bên ngoài.
Khi họ ra ngoài, họ nhìn thấy một người đàn ông đang
giận dữ và dùng gậy để đánh một con chó. Khi người
đàn ông được gọi vào bên trong thiền viện, vị trù
trì kéo áo xuống cho ông ta thấy những vết bầm và
cắt trên lưng đúng ngay chỗ con chó bị đánh đập.
Đây là tính chất hợp nhất mà một vị thầy chữa
bệnh lý tưởng cần phải có.
Truyền
thống Phật giáo nhận diện Đức Dược Sư là vị
thầy chữa bệnh lý tưởng, và nhấn mạnh rằng năng
lực chữa bệnh mạnh mẽ nhất nằm trong lòng chúng ta.
Theo ông Deepak Chopra "Chúng ta có một dược phòng nội
tại thật sự thanh nhã. Dược phòng nầy chế tạo thuốc
có hiệu quả trong thời gian với mục tiêu chính xác về
bộ phận được chữa trị, và không bị ảnh hưởng
phụ của thuốc.."
Như
vậy, chúng ta hiểu rằng đức Phật Dược Sư đang ở
trong lòng mỗi chúng ta. Con đường đi đến giải thoát
phải xuyên qua việc thiền định, đặc biệt là thiền
định mường tượng. Bằng cách thiền về đức Dược
Sư và mường tượng về Ngài trước mặt chúng ta,
chúng ta có thể đối diện với đức Phật Dược
Sư, và trông thấy được nụ cười từ bi sáng rỡ
đối với vũ trụ, và cặp mắt hiền dịu đầy ắp
tình thương yêu đối với tất cả chúng sinh.
Kế
đó, từ nơi trái tim đức Phật phóng ra một luồng
hào quang sáng chói và làn ánh sáng nầy ngấm dần
vào trái tim của chúng ta một cách dịu dàng. (Trái tim
ở đây có nghĩa là « trung tâm » - cốt lõi của bản
chất nằm ngay trọng tâm ngực của chúng ta, không phải
chỉ là một cơ cấu máy móc vật chất chỉ để bơm
máu). Trọng tâm nầy được định nghĩa như sau :
"Ngay
trong bản thân anh, đã có sự tĩnh lặng và một ngôi
đền thiêng liêng mà anh có thể lui vào bất cứ lúc
nào để nghỉ ngơi và yên tịnh một mình. Ngôi đền
thiêng liêng nầy chính là nhận thức đơn giản về sự
tiện nghi không bị bất cứ rối loạn nào có thể xâm
phạm được. Nơi đây không có sự sợ hãi và không
có đau thương. Một thiền sinh cần phải tìm ra không
gian tâm thức nầy để có thể chữa được các bệnh."
Deepak Chopra
Chứng
nghiệm nầy đến với chúng ta như một ánh chớp sáng
suốt, và đây không phải bằng lời nói, hoặc bằng
ngôn ngữ học. Đây là cảm giác thật bất ngờ, một
sự hiểu biết tự do, khi mà chúng ta trải nghiệm chân
lý không cần từ ngữ. Chân lý lọc qua từ ngữ sẽ
bị gò bó, bởi vì chúng ta cần một thời gian nhất
định để chuyên chú về ý nghĩa của nó. Xuyên qua trải
nghiệm biểu tượng và sáng tạo tâm linh mà những chúng
sinh « tầm thường » được chuyển hóa để
trở thành những vị thầy chữa bệnh xuất chúng. Đây
là cách giao tiếp với đức Phật Dược Sư, vị y sĩ
chữa bệnh vĩ đại nhất.
Cũng
vì vậy các y sĩ tin tưởng vào những lý tưởng nói
trên sẽ thực tập thiền định và cầu khẩn đức
Phật Dược Sư trước khi ra toa xắt thuốc, và trước
khi đưa cho bệnh nhân sử dụng. Khi bắt đầu làm
những công việc nầy, họ đọc thần chú của đức
Dược Sư. Câu thần chú ấy là OM BEKANDZE BEKHANDZE MAHA
BEKANDZE RANDZE SAUNGATE SOHA. Khi đọc thần chú thiêng liêng
nầy, họ tưởng tượng đến hình ảnh mật hoa rơi xuống
từ những âm tiết của thần chú, rớt vào chén thuốc.
Những âm tiết nầy hoàn toàn tan hòa vào chén thuốc
và làm cho thuốc ấy trở nên có hiệu lực và có
khả năng trị bệnh.
Biểu
tượng hành động nầy nhắm vào sự thực hành và
các âm tiết thiêng liêng đã tạo nên câu thần chú, làm
cho chén thuốc có khả năng trị bệnh, cũng như vậy,
do ý thức được việc bước đi trên con đường nghiệp
đúng đắn, chúng ta có thể thấm nhuần cuộc sống
của chúng ta với mật hoa chảy ra từ những hành động
tốt đẹp xuyên qua việc trau dồi phẩm hạnh.
Phụ
lục và sách tham khảo :
•
Baker, Ian. The Tibetan Art of Healing, New Delhi, 1997.
•
Chopra, Deepak. Journey Into Healing (Awakening the Wisdom Within You),
London, 1999.
•
Chopra, Deepak. The Seven Spiritual laws of Success: New Delhi, 2000.
•
Crow, David. In Search of the Medicine Buddha (A Himalayan Journey), New
York, 2001.
•
Landaw, Jonathan, and Weber, Andy. Images of Enlightenment (Tibetan Art
in Practice), New York, 1993.
•
Rinpoche, Lama Zopa, Foreword by Lillian Too. Ultimate Healing (The Power
of Compassion), Boston, 2001.
•
Shrestha, Romio. Celestial Gallery: New York, 2000.
•
Vessantara. Meeting the Buddhas (A Guide to Buddhas, Bodhisattvas, and
Tantric Deities), Birmingham, 1993.
•
Yanagi, The Unknown Craftsman (A Japanese Insight into Beauty), Tokyo,
1989.
Source:
http://www.exoticindiaart.com/article/medicinebuddha

NHỮNG
LỢI ÍCH KHI NIỆM OM MANI PADME HUM
Lama
Zopa Rinpoche
Dịch
Việt : Mỹ Thanh
 |
 |
Trích
dẫn từ lời mời tham dự buổi thuyết giảng ở Tu Viện
Chenrezig, buổi thuyết pháp được Lama Zopa Rinpoche hướng dẫn,
trong Trung tâm Phật giáo Lộc Uyển ở Madison, Wisconsin, Mỹ
quốc vào tháng bảy, năm 2000. Ven. Lhundup Damchö sao chép
bản thảo và hiệu đính ; Giáo sư Nick Ribush hiệu đính bài
trích dẫn. Ven. Ailsa Cameron chỉnh sửa các pháp thoại của
Rinpoche ở khoá tu nầy.
Những
lợi ích khi niệm câu chú của đức Phật Từ Bi, thật vô
tận như bầu trời vô hạn.
Kể
cả khi anh không hiểu nhiều về Phật Pháp, kể cả khi anh
chỉ biết có mỗi câu « Om Mani Padme Hum » (Án ma ni bát di
hồng) ; cuộc sống hạnh phúc nhất là khi một người
đã sống cuộc sống không dính mắc đến tám việc thế gian.
Nếu anh sống mà không bị ràng buộc bởi cuộc đời nầy,
và chỉ bỏ thời gian niệm Om mani padme hum – câu chú có 6
âm vận là thực chất của tất cả Phật Pháp - Đấy là
Phật Pháp thanh khiết nhất.
Câu
chú xem ra rất giản dị, và rất dễ nhớ. Tuy nhiên, nếu
anh nghĩ đến những lợi ích, nó không giản dị như vậy
đâu. Nầy nhé, tôi kể ra đây chỉ những lợi ích của câu
chú nầy. Niệm câu chú của Phật Từ Bi để thanh tịnh
hoá hoàn toàn bốn lỗi, và việc vi phạm bốn nguyện ước
chánh của sự tự giải thoát và hoá giải liên tục năm nghiệp
tiêu cực (1).
Trong
Mật Tông có kể rằng khi niệm câu chú nầy, bạn sẽ đạt
được bốn phẩm chất để sanh ra ở cõi Tịnh Độ của
Đức Phật Amitabha (A-Di-Đà), và những tịnh độ khác ; vào
lúc sắp chết, sẽ thấy đức Phật và ánh sáng hiện ra trên
nền trời, trông thấy các thiên nữ dâng phẩm vật ; và sẽ
không bao giờ bị đọa vào địa ngục, ngạ quỷ hoặc cõi
súc sanh. Bạn sẽ được tái sanh nơi tịnh độ của Phật
hoặc tái sanh ở nơi vui sướng.
Một
người niệm mười chuỗi mỗi ngày, khi họ đi bơi lội, ở
nơi sông, biển hoặc nơi nào có nước, nước nào chạm vào
người đó, là nước ấy được phước lành.
Còn
kể rằng trong vòng bảy đời của người ấy sẽ không bị
tái sanh vào các cõi thấp. Lý do là vì quyền năng của
câu chú, thân thể người niệm chú được phước lành, và
hình dung thân thể họ trong thể thánh thiện của Chenrezig
(Quán Âm). Do đó, thân thể trở nên mạnh mẽ, được phước
lành và điều nầy ảnh hưởng đến ý thức trong vòng bảy
đời và cho dù khi họ lâm chung với ý niệm không tốt, họ
cũng không bị đoạ vào cõi thấp hơn.
Như
vậy, khi một người đã đọc tụng mười chuỗi câu chú
Om Mani Padme Hum mỗi ngày, khi họ bước vào con sông hay biển,
nước nào chạm vào người ấy coi như được phước lành,
và nước nầy sẽ thanh tịnh hoá tỷ tỷ sinh vật trong nước
ấy. Vậy đó là lợi ích không thể tưởng tượng nổi ;
người nầy cứu giúp những con vật sống trong nước ấy
thoát khỏi đau khổ trong những cõi thấp hơn.
Khi
một người như vậy bước trên đường và gió chạm vào
người ấy, rồi chạm đến các côn trùng, nghiệp tiêu cực
của các sinh vật nầy sẽ được thanh tịnh hoá và giúp chúng
tái sanh ở nơi tốt hơn. Cũng như vậy, khi họ thoa bóp hoặc
đụng vào những người khác, nghiệp xấu của những người
nầy cũng được tiêu trừ.
Việc
ngắm nhìn một người như vậy mới thật có ý nghĩa ; được
nhìn thấy và sự xúc chạm trở nên một phương tiện giải
thoát cho chúng sinh. Nghĩa là kể cả khi hơi thở người ấy
chạm vào thân thể những chúng sinh khác, cũng có thể giúp
các chúng sinh ấy tiêu trừ nghiệp chướng. Ai uống nước
nơi ao hồ mà người ấy tắm cũng được phước lành.
Chúng
ta thật là may mắn gặp gỡ được Phật Pháp và có cơ hội
đọc tụng, và thiền ngẫm về Phật Quán Âm. Đây là cách
dễ nhất để thanh tịnh hoá bất cứ nghiệp xấu nào mà
chúng ta đã tạo, không những chỉ trong đời nầy mà còn
luôn cả những đời trước nữa.
Bởi
vì chúng ta đã gặp Phật Pháp, và đặc biệt với phương
thức nầy – sự thực tập và niệm chú của đức Phật
Từ Bi – việc nầy dễ dàng để thanh tịnh hoá các nghiệp
tiêu cực và tạo thêm phước đức rộng rãi, và như vậy
dễ đạt đến giải thoát. Chúng ta may mắn không thể tưởng
tượng được.
Như
vậy, không có gì dại dột hơn khi không chịu nắm lấy cơ
hội tốt nầy. Thông thường, chúng ta luôn luôn bị quẩn
trí và lãng phí cuộc sống của mình. Không chỉ có vậy,
kể cả những hành động chúng ta đã làm vì bản ngã, và
với ba độc trong tâm thức, tham, sân và si, tạo nên những
nghiệp xấu, nguyên nhân của đau khổ. Trong tất cả sự hiện
hữu, không có gì dại dột hơn khi sử dụng thân thể khoẻ
mạnh của con người chỉ để tạo ra đau khổ.
Những
nơi như Tây Tạng, Nepal, Ấn Độ và Ladakh, có một truyền
thống lâu đời về khoá tu Từ bi và đọc tụng 100 triệu
câu chú Om Mani Padme Hum. Khoá tu ở Viện Chenrezig là khoá
tu đầu tiên được tổ chức ở phương Tây và là lần đầu
tiên của Hội FPMT. Nơi đó, khoá tu được tổ chức
mỗi năm một lần – và chỉ một lần trong năm !
Nếu
trong cuộc sống của bạn, bạn cảm thấy tội lỗi, bạn
có thể khắc phục tội lỗi xuyên qua việc thanh tịnh hoá
tâm thức ở các khoá tu.
Khoá
tu không phải chỉ là đọc tụng thần chú và thiền định,
nhưng bao gồm cả việc thọ giới Bát Quan Trai, nếu như không
làm được mỗi ngày, thì ít nhất cũng nên thực tập thường
xuyên. Mỗi một ngày thọ giới Bát Quan Trai thì phước lành
ấy tăng lên 100.000 lần. Phương thức nầy dễ dàng và
nhanh chóng trong việc thanh tịnh hoá bản thân, và góp nhặt
phước lành, cũng như đạt đến trí tuệ và giải thoát các
chúng sinh khỏi đau khổ và giúp họ giác ngộ được nhanh
chóng.
Ai
được tham dự khoá tu Mani thật là may mắn không thể tưởng.
Kể cả khi bạn không thể tham dự suốt khoá tu, bạn có thể
tham gia trong vòng hai tháng, một tháng hoặc ít nhất vài tuần
lễ. Bạn cũng có thể tham dự khoá tu chỉ một tuần.
Riêng tôi ước mong sao một khoá tu như thế nầy có thể được
thực hiện ở Mông Cổ, bởi vì thực phẩm chánh của Mông
Cổ là thịt, và rất nhiều thú vật đã bị giết mỗi ngày.
Thực tập nầy sẽ giúp thanh tịnh hoá việc ấy. Sau khi tu
viện ở Mông Cổ được xây xong, tôi hy vọng sẽ có vài
ngàn người tham dự khoá tu Mani ở đó. Kế đó, tôi cũng
muốn khoá tu được thực hiện ở các nơi khác, như ở phương
Tây chẳng hạn.
Khoá
tu nầy có thể ban phước lành cho đất nước nơi mà khoá
tu được thực hiện, và mang lại nhiều hoà bình, hạnh phúc
và thịnh vượng.
Kể
cả khi bạn biết các bài giảng về cách thiền ngẫm, về
Bố Tát, bạn vẫn cần nhận những ơn phước của vị Phật
Từ Bi, bằng cách thiền định và đọc tụng thần chú trong
khoá tu Mani. Như vậy, việc niệm chú Om Mani Padme Hum là một
phương thức để thực hiện sự Bố Tát – để chuyển hoá
tâm thức của bạn thành tâm thức Bố Tát và làm cho việc
thiền định về Bố Tát trở nên hiệu quả hơn.
Thông
thường, theo kinh nghiệm của riêng tôi, trong nhà tôi ở Solu
Khumbu trong dãy Hy Mã Lạp Sơn của Nepal, có những người sống
cả đời chỉ niệm Om Mani Padme Hum, và họ không hiểu rõ
ba khía cạnh chánh của con đường – sự từ bỏ, bố tát
và chánh kiến về Không – họ không biết cả mặt chữ.
Mặc dù họ không thể đọc và không biết các mẫu tự, họ
vẫn hết lòng tận tâm với lòng từ bi và bồ đề tâm và
sống hết đời chỉ niệm Om Mani Padme Hum. Những người như
vậy rất là tốt bụng, tử tế, và từ tâm. Đây là bằng
chứng từ kinh nghiệm cá nhân, niệm câu chú nầy có ảnh
hưởng đến việc chuyển hoá tâm thức trở nên hiền hoà
và từ bi.
Không
có bồ đề tâm, bạn không thể đem hạnh phúc đến cho mọi
loài chúng sinh. Bạn không thể hoàn thành công việc tốt đẹp
cho tất cả chúng sinh, và bạn không thể đạt được những
phẩm chất về sự chấm dứt cũng như giải thoát, kể cả
cho chính bản thân bạn.
Như
thế, mỗi người đều được hoan nghinh khi tham gia khoá tu
niệm 100 triệu lần Om Mani Padme Hum.
******
Chú
thích :
1.
Đây là những nghiệp rất nặng, nó chính mùi ngay tức khắc
khi nghiệp của đời sống nầy chấm dứt và liền tái sinh
ở cõi địa ngục. Năm nghiệp đó là : giết mẹ, giết cha
của mình, làm chảy máu thân Phật, giết một vị A-la-hán
và gây chia rẽ trong Tăng đoàn.

NƯỚC
PHẢN ẢNH TÂM THỨC CỦA CHÚNG TA
Dịch
Việt : Mỹ Thanh
 |
 |
|