|
.
MỘT
PHẬT TỬ CHÂN CHÁNH
LÀ
MỘT CÔNG DÂN CỦA TOÀN CẦU
Bhikkhu
T. Seelananda; Mỹ Thanh dịch
 |
 |
Phật
giáo và Phật pháp làm vỡ tất cả hàng rào phân chia, ngăn
cách.
Theo
lời dạy của vị Thầy, Bụt Gotoma, không có lý do nào làm
ta tách rời khỏi những người khác vì họ có tín ngưỡng
hay có quốc tịch khác.
Phật
pháp xuất sắc trên mọi phương diện. Đấy là thực hành
Phật pháp trong đời sống hàng ngày. Đây không phải là một
tôn giáo hay là một triết lý.
Lại
càng không có tính chất kỳ lạ, thần thoại, hoặc giáo điều
trong đó.
Nhưng
nếu chỉ đọc Phật Pháp thì nó cũng không giúp gì cho ta
trong sự hiểu biết về luật phụ thuộc lẫn nhau trong thế
giới nầy, hoặc giúp ta hiểu sự hiện hữu của chúng sinh
và chân lý. Bụt có nói, " một người nói nhiều về Phật
pháp, không phải là người thành thạo pháp. Người nào, sau
khi nghe pháp xong dù chỉ một ít, nhưng với sự thực hành,
hiểu được điều đã học, thì đây mới là người thành
thạo pháp." Căn bản của Phật pháp là đạo đức và kiến
thức, với tột đỉnh của chúng. Không có mặc khải của
đấng thiêng liêng hay của nhà tiên tri nào trong Phật pháp.
Cho
dù có vị Bụt nào xuất hiện hay không, pháp nầy vẫn hiện
diện. Pháp là duy nhất. Trong một nghĩa, đây không phải là
một triết lý hay tôn giáo, trong nghĩa khác, đấy là một
triết lý trong những triết lý, một tôn giáo trong những tôn
giáo. Đây không phải là một con đường siêu hình hay con
đường nệ nghi thức. Pháp (Dhamma) không hoài nghi hay giáo
điều, không hành xác hay nuông chiều dục vọng, cũng không
bi quan hay lạc quan. Lại càng không phải thuyết bất diệt
hay thuyết hư vô, không phải thuyết đa nguyên hay độc nguyên.
Đây là con đường duy nhất đưa đến giác ngộ.
Pháp
(Dhamma) giúp con người có được một liên hệ tốt với đồng
loại và những chúng sinh khác, nó không hạn chế ở một
đất nước hay quốc gia nào.
Qua
sự nhận thức của Metta (lòng từ) hoặc lòng tử tế và
nguyên lý phụ thuộc lẫn nhau (Paticcasamuppada), tất cả mọi
chúng sinh hợp tác và hoà nhập với nhau trong đời sống.
Theo bài kinh về lòng từ (Karaniyametta Sutta), người Phật tử
chân chính lan toả lòng từ tới mọi chúng sinh trên đời
với câu nói " Mong tất cả chúng sinh đều được hạnh phúc
và an lành " (sabbe satta bhavantu sukhitatta). Khi một người nói
"sabbe satta" nghĩa là tất cả mọi loài chúng sinh trong thế
giới. Để minh họa làm thế nào để những sự thật nầy
được chứng tỏ trong cuộc sống, chúng ta hãy đọc một
bài thơ ngắn của nhà thơ người Mỹ, Mark Van Doren,
Ngày
xưa có một hàng rào nơi đây
Có
nhánh cỏ cố gắng dựa vào
cánh
đồng để vào bên trong
Nhưng
ngựa non dẫm nát
cỏ
và cỏ úa màu nâu vàng
Đến
khi chủ nông trại dời đi
và
hàng rào ngã xuống.
Lúc
nầy chim muông thấy
dưới
hàng kẻm
Cỏ
xanh lan mọc phía trong.
Kể
cả đến đời sống của nhánh cỏ, một loại cỏ dại thấp
hèn, bị ngựa non dẫm nát, biến màu nâu vàng, cũng phải
đấu tranh để được sống còn . Nhà thơ nầy dù không phải
là Phật tử , cũng đã thấy được sự đấu tranh của toàn
thể vạn vật. Những sự thật của pháp luôn hiện diện
trên đời và cho dù không nghe đến lòng từ hay pháp, có một
số người vẫn nhận diện được những sự thật nầy.
Kinh
Pháp Cú có nói " Hãy để mình vào hoàn cảnh người, một
người không nên giết cũng không nên bảo người khác giết"
"(130.vr). Thái độ thân thiện nầy được lan rộng đến môi
trường và tất cả chúng sinh, như vậy đã cung cấp một
mẫu đất mầu mỡ cho sự hòa bình và đoàn kết cho tất
cả mọi sinh vật.
Lòng
từ không giới hạn nầy lan tỏa đến tất cả chúng sinh
trong thế giới nầy -
ở
bên trên, ở bên dưới, phía bên kia, và ở khắp mọi phương
- Điều nầy được thực tập trong lúc đứng, đi, ngồi,
hoặc nằm, lúc nào còn thức thì còn phải tâm niệm điều
nầy. Người nào mà sống một cuộc đời trong tư cách nầy
được gọi là "sống cao thượng" ( một trong tám con đường
chân chánh -brahma viharam idam aahu). Trong cả thế giới làm gì
có kẻ thù cho người thực tập tâm từ. Người Phật tử
trong tư cách nầy mở rộng lòng từ đến những sinh vật
nhỏ nhít đang bò dưới chân mình. Những cây trái được
gần những người có những tình cảm cao thượng thì cây
trái đó cũng tươi tốt sum xuê hơn. Vì sự sống rất quý
giá đối với tất cả mọi loài, nên không ai có quyền lấy
đi mạng sống của kẻ khác. Nhận thức về lòng từ nầy
hay metta còn đi xa hơn là lòng bác ái được nói đến trong
quyển Corinthians.
Lòng
từ là một bài giảng của Bụt rất vi diệu. Trong những
bài pháp, Bụt đã dạy làm sao để thực tập từ tâm. Chẳng
hạn khi ăn thịt, và nuôi dưỡng sân hận, một người không
thể nào thực tập và mở rộng lòng từ. Sân hận không thể
nào dập tắt hận thù, chỉ có lòng từ bi mới có thể xóa
bỏ hận thù. Đây là điều dạy căn bản, rất phổ thông.
Lý
Duyên Khởi ("Luật phụ thuộc lẫn nhau" - Dependent Origination)
là một học thuyết mà chúng ta có thể hiểu một cách dễ
dàng sự liên hệ giữa người với người, hoặc với môi
trường. Một người có trí và có chánh niệm sẽ nhận ra
được sự thật nầy khi nhìn thấy chỉ dù là một mảnh
giấy, một hạt gạo hay một miếng bánh. Theo bài giảng về
"Lý Duyên Khởi" , cái nầy có vì cái kia có. Có nhân và có
quả. Chúng ta phải nhấn mạnh là không bao giờ có chỉ một
nguyên nhân. Tất cả những gì xuất hiện, có mặt và mất
đi trong cõi đời nầy đều do nhiều nguyên nhân và kết quả
mà tụ thành. Đầu tiên Bụt biết rõ là có Khổ (dukkha).
Và rồi Bụt tìm kiếm nguyên nhân của khổ và kiếm ra 'thuốc
chữa' cho bệnh 'Khổ'. Kết quả, là 'Bát Chánh Đạo' được
nêu ra như là một con đường dẫn đến hết đau khổ, được
giải thoát, đạt Niết Bàn.
Dĩ
nhiên, Bụt nhắc đến nguyên nhân của khổ-ham muốn, như
một hiện tượng với nhiều nguyên nhân tụ hợp lại.
Có
một lần Ngài Ananda nói "Thưa Thế Tôn, thật là vi diệu,
thật là tuyệt vời, giáo lý "Duyên Khởi", thật là sâu sắc,
thật là rõ ràng!" Bụt liền nói "Đừng nói như thế Ananda,
đừng nói như thế! Lý 'Duyên Khởi' nầy rất sâu sắc, và
thâm trầm. Vì không hiểu rõ lý nầy mà thời đại ngày nay
giống như cuộn chỉ rối, như tổ chim bện, như cỏ rối,
không thể nào thoát khỏi phiền muộn,
chịu
số phận dung rủi, và trôi lăn trong vòng sinh tử."
Như
đã nói trên, tất cả mọi sự vật trên đời nầy đều
phụ thuộc lẫn nhau.
Vì
vậy chúng ta phụ thuộc vào những vật và những người khác
trong đời sống nầy. Nghĩa là nếu không được sự giúp
đỡ của người hay vật khác trong cuộc đời nầy thì chúng
ta không thể nào sống còn. Sự cân bằng về sinh thái học
rất quan trọng cho chúng ta. Chúng ta phải phụ thuộc vào sự
giúp đỡ của mọi người để mà sống trong xã hội. Chỉ
khi hiểu như vậy, chúng ta mới có thể sống một cuộc sống
chân chánh và hạnh phúc. Người Phật tử chân chánh không
bao giờ xem thường người khác. Không làm hại người &
vật.
Lúc
nào cũng đối xử với mọi người như thân bằng quyến thuộc.
Thầy Narada có viết, trong quyển sách " Phật giáo tóm lược"
như sau : " Đối với người Phật tử, không có xa, không có
gần, không kẻ thù hoặc người dưng, không phản bội, cũng
không phải không thể động đến, vì ai ai cũng là anh em nên
tình thương phải đại đồng, không phân biệt. Một Phật
tử chân chánh là một công dân của hoàn cầu. Người đó
nhìn thế giới chung quanh như là quê hương, tổ quốc của
mình, và tất cả chúng ta đều là anh chị em.
Mong
rằng tất cả chúng sinh đều an lành và hạnh phúc!
Paramita
International Buddhist Centre
Kadugannawa
Sri
Lanka

BƯỚC
ĐẦU ĐỂ HIỂU SÂU SẮC VỀ THIỀN ĐỊNH
Dorothy
Figen - Mỹ Thanh dịch
 |
 |
Cho
người mới bắt đầu thực tập Thiền, tôi nghĩ rằng việc
thực tập Thiền rất cần có một chương trình được sắp
đặt với những bước thứ tự.
Trước
tiên, cần phải có một chỗ yên tịnh cho việc thực tập
hằng ngày để khỏi bị làm phiền trong lúc đang thực tập.
Kế đến, rửa mặt, rửa tay và chân; nếu thời gian cho phép,
thì nên tắm sạch sẽ và mặt quần áo thích hợp. Nên thực
tập theo thời khóa biểu hằng ngày. Tôi thì tập vào lúc
6 giờ sáng và 6 giờ chiều, lúc mà đàn chim bay về tổ. Và
khi mà bạn tọa thiền, thì cần phải chú ý đến cách ngồi.
Sống lưng phải thẳng, và tinh thần phải sáng suốt, có cảnh
giác, không nên căng thẳng. Bây giờ bạn đã sẵn sàng bắt
đầu. Nhưng, trước hết, đây là những ý mở đầu.
Như
Sujata đã nói trong quyển sách của ông " Bắt đầu thấy"
-- "Thiền định là một điều hay nhất mà bạn có thể làm
cho chính mình.' Tuy nhiên, đối với thiền sinh sơ cơ nó không
dễ dàng chút nào. Việc hành thiền cần có sự tự nguyện,
thôi thúc để nhìn vào bên trong của chính mình. Hành thiền
cần có kỷ luật và sự tự nguyện để đi xa hơn, không
phải chỉ để trốn chạy hoặc bỏ qua những vấn đề mà
ta đang gặp phải.
Tại
sao hành thiền ? Có rất nhiều lý do. Nhưng trội hơn hết
là sự suy nghĩ sáng suốt, xóa tan ngu si, ảo tưởng, tham lam,
sân hận và ham muốn. Con đường đến Niết Bàn là phải
từ bỏ sự bám víu vào ' bản ngã'.
Bản
ngã rất là cố chấp và láu cá. Ðôi lần ta có cảm giác
là nó đã biến mất, để rồi sau đó lại thấy nó trồi
lên. Ðối với vài người con đường có thể còn xa lắm.
Chỉ có sự siêng năng, bền chí mới có thể giúp chúng ta
đạt được mục đích.
Bây
giờ bạn đã ngồi, chân bắt tréo trên sàn, trong một căn
phòng yên tịnh. Trong tư thế kiết già, nếu bạn làm được,
hoặc là bán kiết già, hoặc vì lý do tật bệnh, bạn có
thể ngồi trên ghế . Giữ đầu thẳng và cân bằng trên đôi
vai. Ðừng căng thẳng quá; nên thoải mái, thư giản, và chú
tâm.
Những
bước đầu của việc hành thiền là quan sát hơi thở. Chú
ý nơi lỗ mũi, theo hơi thở vào...ra...vào...ra... Chú tâm đến
làn hơi khi làn hơi vừa đến lỗ mũi. Hãy chú ý đến tất
cả và như là không chú ý gì hết.
Ðiều
nầy nghe như là nghịch lý. Nhưng thật sự là vậy. Lúc nầy
không phải là lúc mơ mộng, chạy theo những ý nghĩ lăng xăng
lộn xộn. Bạn cần chú ý đến tư thế ngồi của mình. Sau
đó thì không nghĩ đến nó nữa. Bạn biết rằng quá khứ
đã qua, đã chết rồi. Ý thức về những gì bạn đã sống
qua, vắng mặt. Tương lai thì chưa đến. Bạn chỉ có 'hiện
tại'... hiện tại trước mặt là sự ra vào của hơi thở.
Cốt
ý là để làm trống tư tưởng, dẹp hết mọi thứ ' rác
rến ' cùng những ý nghĩ lăng xăng. Chỉ thở--vào ra--vào
ra, đừng bao giờ ép hơi thở. Bạn cũng không phải là người
thở - bạn, - sự thở ra vào, cho đến lúc, cái tôi của bạn
cũng từ từ mờ đi và bắt đầu tan rã, biến mất.
Cứ
hãy để cho tư tưởng cảm nhận được hơi thở khi vào,
khi ra. Những lúc đầu thực tập, đừng nghĩ nhiều. Bạn
sẽ thấy hơi thở từ từ mỏng dần và nhẹ hơn cho đến
lúc bạn có cảm giác là bạn không còn thở nữa. Lúc nầy
là lúc mà hơi thở đã được 'yên tịnh', và trở nên rất
dễ chịu.
Tôi
đốt một cây đèn cầy trong phòng thiền . Cây đèn có ba
mục đích. Thứ nhất, nếu tư tưởng nghĩ vẩn vơ, thì cây
đèn là điểm trở về sự chú tâm. Cặp mắt, trước là
quan sát cây đèn cầy, kế đó thì cặp mắt từ từ tự nhắm
lại. Mặc dù mắt nhắm, bạn vẫn cảm nhận được sự hiện
diện của ánh đèn. Bạn có thể thấy được với cặp mắt
của tinh thần. Nó sẽ đưa bạn trở lại với hiện tại.
Mục đích thứ hai chỉ là tượng trưng : với tôi nó tượng
trưng cho Ánh Sáng của Phật pháp. Và cuối cùng là cây đèn
giúp cho không khí dễ chịu và đáng yêu hơn. Nhang thơm, hoa,
và tượng Phật rất tốt nhưng cũng không cần lắm. Một
người có thể thực hành thiền bất cứ ở đâu, nơi nào
mà yên tịnh, không bị làm phiền là tốt rồi.
Nếu
bạn hành thiền ở nhà, nên tháo dây điện thoại ra, để
không bị làm phiền lúc đang thực tập.
Nên
nhớ rằng địa điểm hành thiền không cần phải đặc biệt.
Nhưng nên có một chỗ nhất định và thời gian thì không
được thay đổi, để cho chúng ta có được một thói quen
đúng giờ, đúng địa điểm. Như vậy là ta đã có được
một bước bắt đầu rất tốt. Bụt đã hành thiền nơi gốc
bồ đề và nơi đó Ngài đã giác ngộ. Một thiền sinh cao
cấp có thể hành thiền bất cứ nơi nào -- chợ, nghĩa trang,
hang động, công viên hoặc nơi đống rác.
Trong
lúc hành thiền, thiền sinh quay lại bên trong, nên những cảnh
bên ngoài không có tác động chi hết; ngược lại, lúc thiền
sinh tiến xa hơn trên bước đường thực tập, thiền sinh
có thể dùng những hoàn cảnh chung quanh để làm đề mục
cho việc hành thiền. Ðiều quan trọng cần nhớ là những
ý nghĩ nầy cần được rèn luyện và chuyển hóa. Chúng cần
được kiểm soát. Nhưng bạn, hiện giờ chỉ trong lúc ban
đầu. Những ý nghĩ từ bên ngoài sẽ tiếp tục xâm nhập
tư tưởng bạn. Ðiều nầy cũng tự nhiên thôi. Bạn sẽ ngạc
nhiên thích thú với những lời chỉ dẫn dường như là không
quan trọng. Tuy nhiên, bạn vẫn phải học hỏi để biết đối
phó thích ứng với những điều nầy khi chúng xuất hiện.
Ðừng hất chúng sang một bên một cách giận dữ. Hãy dịu
dàng, tử tế. Cho chúng những tên -- quá khứ--hiện tại--vị
lai ? Ðáng giá ? Không đáng giá? Oán thù ? Háo danh ? Ham muốn
? Ích kỷ ? Khi mà bạn bắt đầu cho chúng những nhãn hiệu
là lúc mà chúng sẽ dần dần biến mất. Khi chúng không còn
hiện diện thì bạn trở lại với hơi thở của mình nơi
lỗ mũi. Hơi thở sẽ dần dà trở nên yên tịnh, lặng lẻ.
Những
chướng ngại khác sẽ tự bị chèn ép. Những tiếng động
sẽ thấm vào ý thức của bạn -- con nít chạy chơi, la hét,
xe buýt hoặc máy bay đi ngang. Hãy gán cho chúng những nhãn
hiệu như bạn đã làm với những ý nghĩ xuất hiện nơi tư
tưởng. Giữ sự chú tâm nơi hơi thở, hơi thở ra vào nhẹ
nhàng, chầm chậm. Trong một thời gian, những tiếng động
cũng dần dần biến mất. Khi mà bạn thấy mình ở 'ngoài'
, hãy đem bạn trở về với 'nơi nầy' và ' ở đây'. Khi mà
bạn có thể ngồi khoảng nữa tiếng mà không có ý nghĩ thì
hơi thở của bạn đã được nhẹ nhàng và đến độ không
cảm thấy có nhịp thở nữa; lúc nầy, bạn sẽ thấy rằng
không phải là bạn đang hít thở, mà là vì có hơi thở, thì
có bạn.
Tôi
thấy rằng trong lúc hành thiền, miệng nên mỉm cười, giống
như Bụt vậy. Nụ cười mỉm nầy làm sáng tinh thần và làm
cho tinh thần vui tươi hơn.
Lúc
nầy trong lúc đầu của việc hành thiền, nếu bạn thực
tập trong vòng nữa tiếng hay lâu hơn, bạn nên tiếp tục
cho xong hoặc kéo dài thêm thời gian hành thiền. Hoặc giả
bạn có thể hướng đến metta -- tâm từ. Thực tập nầy
rất tốt vì nó loại bỏ hận thù, ganh ghét, giận dữ và
tự ti mặc cảm.
Nó
tran trải tình thương đến tất cả, bản ngã bị tiêu diệt,
chỉ có niềm vui cảm thông, và cảm giác tốt đẹp cho tất
cả mọi loài, hữu tình hoặc vô tình, hữu hình hay vô hình,
đang sống hay đã không còn trên đời. Lòng từ của bạn
phải chan hòa khắp trái đất và vũ trụ. Sau đó bạn sẽ
thấy là không dễ dàng gì khi mà giết chết một sinh vật
dù đó là một côn trùng bé nhỏ.
Trong
lúc trải rộng lòng từ, điều quan trọng nhất là bạn phải
biết thương chính mình, thương một cách đúng nghĩa. Bạn
sẽ đạt được điều nầy khi mà những ý nghĩ vẫn đục
đã được loại bỏ. Hãy nghĩ như vầy " tôi sẽ dẹp bỏ
hết những tư tưởng vẫn đục trong tôi như sân hận, si
mê, sợ hãi, tham lam, ham muốn. Tôi sẽ làm cho tinh thần mình
sáng suốt, tươi mát và trong trắng. Làm cho tinh thần của
tôi như là một cửa sổ trong suốt. Và với tinh thần trong
sáng không chút vẫn đục, tôi hướng đến mọi loài với
lòng từ -- tình thương và lòng tử tế.
Hãy
tưởng tượng hình ảnh của người mà bạn muốn hướng
lòng từ đến họ. Hãy trở nên người đó. Cảm nhận được
tánh tình của họ nơi bạn, hướng dẫn cảm giác của bạn
đến tư tưởng và trái tim người đó. Ðến một lúc bạn
sẽ cảm nhận được một sự cảm thông- thần giao cách cảm.
Bạn sẽ cảm nhận được một sự ấm áp . Ðừng dừng lại
ở đây. Tiếp tục hướng đến người kế tiếp và kế tiếp.
Hãy đem sự ấm áp, thương yêu, tử tế của tâm hồn bạn
và truyền dẫn chúng vào tâm người hoặc vật mà bạn muốn
hướng đến. Nếu bạn làm điều nầy một hay hai lần trong
ngày, chân trời của bạn sẽ được rộng mở . Bạn sẽ
thấy rằng bạn đang truyền dẫn những rung động vi tế nầy
đến tất cả mọi loài, hữu hình và vô hình, không chút
phân biệt. Ðây có thể là bước mở đầu cho những sự
quen biết mới mà chính bạn cũng không ngờ tới. Tất cả
mọi người, dù còn sống nơi đây hay đã chết. Quen cũng
như lạ. Thú vật, côn trùng, cây cối. Tất cả mọi thứ
hữu cơ hay vô hữu cơ ( organic or unorganic). Và trong dòng chảy
vô tận nầy, cái ngã của bạn đang 'trôi', đang hòa nhập
vào tất cả mọi thứ.
Khi
mà bạn tọa thiền xong, hãy đi thiền hành, và trong lúc nầy,
nghĩ nhớ về Bốn Chân Lý của Bụt dạy; tất cả mọi loài
sanh ra để khổ, v...v...
Và
ta cần phải tìm lối thoát ; tìm ngõ ra khỏi nơi đau khổ.
Hãy tìm lấy một con đường an toàn chắc chắn và hãy theo
đó mà sống cuộc sống của bạn. Và mục đích là Niết
Bàn ngay tại đây, ngay trên trái đất nầy!
GIÁO
DỤC THÁNH THIỆN VÀ VIPASSANA
Giáo
sư P. L. Dhar; Mỹ Thanh dịch
 |
 |
Albert
Eisntein đã nói như sau, kiến thức là những gì còn lại khi
tất cả những gì học được đều bị quên hết. Nếu chúng
ta ước lượng cách giáo dục hiện tại với định nghĩa
trên, thì chúng ta thấy, kết quả chỉ là những tranh chấp
táo tợn, và tánh tự cao, đố kyiện diện. Sự giáo dục
ít nhất cũng đem lại cho chúng ta những hiểu biết, những
kỹ năng chuyên môn, nhưng nó không mang lại cho ta sự phát
triển về mặt nội tâm.
Kết
quả là sự giáo dục chỉ đào tạo những học sinh tự cao,
thiên về vật chất. Vì vậy trẻ em ở tuổi niên thiếu,
thay vì mơ về vẻ đẹp, tình cao thượng và sự hoàn mỹ,
thì chúng hiện nay mơ giàu sang để hưởng thụ, và bỏ thời
gian để nghĩ cách làm cho có nhiều tiền. Bởi thế cho nên
xã hội chúng ta hiện nay đang bị dằng xé bởi hai điều
kinh khủng nhất, là sự tích trữ và sự tiêu thụ, cộng
với những vấn đề về xã hội như tham nhũng, xung đột
và bạo động. Vấn đề về môi trường như ô nhiễm không
khí, và sự kiệt quệ về tài nguyên thiên nhiên, có thể
đưa đến sự hiểm nguy cho cuộc sống con người trên quả
địa cầu nầy. Những tư tưởng gia và những triết gia đủ
mọi thành phần dù ở ngoại quốc hay ở Ấn độ, đều đồng
ý là cần có một sửa đổi toàn diện về hệ thống giáo
dục như một điều kiện tiên quyết để tìm ra giải pháp
cho những cơn bệnh ngặt nghèo đang hoành hành chúng ta. Chỉ
khi nào có sự thay đổi thiết yếu nơi bản năng thú tính,
con người mới có thể sống hòa bình với chính bản thân
họ -- đây là điểm quan trọng cần được giáo dục - vì
những thay đổi phiến diện không sớm thì muộn sẽ bị đàn
áp bởi những bản năng thú tính.
Quan điểm
về giáo dục thánh thiện
Sự
giáo dục cần được xem như là một sự tổng hợp của cuộc
sống hơn là đơn thuần chỉ những câu trả lời cấp bách
cho những thách thức trực tiếp.
Nói
rộng ra, có bốn khía cạnh có liên hệ lẫn nhau, về đời
sống của con người, được nhận diện như sau : khía cạnh
thân thể, khía cạnh cảm giác, khía cạnh trí thức, và khía
cạnh tâm linh.
Sự
giáo dục về thánh thiện cần phải được phát triển mạnh
mẻ nơi bốn khía cạnh nầy. Thí dụ, sự giáo dục về thân
thể cần được hợp nhất với sự luyện tập các giác quan,
để có được sự đồng nhất.
Đồng
thời, sự giáo dục về những xúc cảm cần được nhấn
mạnh với sự luyện tập tâm trí--để phát triển những
tình cảm lợi ích như tình thương đại đồng, lòng từ bi,
sự nhẫn nại, khiêm nhường, bình thản, v...v... và loại
bỏ những bản năng thấp hèn như tham lam, ganh tyﬠtự kiêu,
nóng nảy, v...v... Trong trường hợp những bản năng tốt đẹp
được phát triển, thì một người có thể tạo được một
liên hệ lành mạnh với xã hội.
Sự
giáo dục về mặt trí thức không phải chỉ là sự phát triển
khả năng suy luận, mà là khả năng để đáp ứng một cách
độc lập, hợp lý, có lý trí dựa trên căn bản của sự
hiểu biết về những hiện tượng khác nhau của thiên nhiên.
Cuối
cùng là sự giáo dục về tâm linh cần được phát triển
với sự hoàn hảo tâm trí, với sự hiểu biết bằng trực
giác sự hiện hữu của chính mình và biết rõ mình cần phải
làm gì trong cuộc sống nầy.
Hiện
tại hệ thống giáo dục tân thời đã bỏ quên khía cạnh
xúc cảm và tâm linh của bản tánh con người, và họ chỉ
chú tâm đến khía cạnh thân thể và trí thức một cách nông
cạn, hời hợt. Không phải là những nhà giáo dục và những
nhà đặt kế hoạch học đường không biết đến sự thiếu
xót nầy. Bởi vì trong những năm đầu 1966, uỷ ban Kothari
đã công nhận sự cần thiết về dạy dỗ những giá trị
xã hội, đạo đức, và tâm linh nơi học đường.
Xã
hội Ấn độ vì những giai cấp, tôn giáo, tín ngưỡng khác
nhau đã ngăn bước cho một giải pháp hoàn hảo. Đã có những
cố gắng để phổ biến sự giáo dục đạo đức một cách
gián tiếp bằng những buổi cầu nguyện, tham khảo và những
hội nghị tịnh tâm, v...v... Những cố gắng bằng cách thực
tập thiền định, giảng đạo, nói pháp trong những trường
học Công giáo, Hồi giáo, Ấn giáo, nào là trường của Maharishi
Mahesh Yogi, hội đoàn Krishnamurti, Saibaba Trust, v...v... Tuy nhiên,
những việc nầy đã không được số đông hưởng ứng.
Hiện
tại ở Ấn độ và những nước khác, gần đây đã có một
phương cách rất khoa học để làm chủ và thanh tịnh hóa
tâm trí, nếu phối hợp được với hệ thống giáo dục thì
sẽ trở nên một phương thức được đại đa số chấp nhận,
để nuôi dưỡng những khía cạnh tình cảm và tâm linh của
con người. Phương thức nầy là một môn khoa học lâu đời
nói về vật chất và tinh thần, được gọi là Thiền Vipassana.
Sau đây là sự diễn tả ngắn gọn về phương thức của
Thiền Vipassana, và làm thế nào để phối hợp được Thiền
Vipassana với cách giáo dục tân tiến.
Thiền Vipassana
Nhìn
về phương diện giáo dục thánh thiện , Thiền Vipassana được
diễn tả như là một phương thức để thanh lọc tâm trí,
loại bỏ những bản năng thấp hèn để một người có thể
thể hiện những ưu điểm của mình : như tình thương đại
đồng, lòng tử tế, sự cảm thông, khoan dung, khiêm nhường,
thanh thản, v...v..., và đồng thời sẽ cảm nhận được một
sự thấu hiểu sâu sắc về sự thật của thiên nhiên và
mục đích hiện hữu của
con
người. Điều nầy có thể thực hiện được với sự phát
triển của Chánh Kiến. Chánh kiến là phát triển sự chú
tâm, sự nhận biết, trong mọi lúc, mọi trường hợp; chú
tâm để ý đến tất cả những gì xảy ra cho thân cũng như
tâm. Với sự hiểu biết chính xác về tính cách vô thường
của mọi sự vật, bằng sự thanh tịnh hóa tâm trí -- dần
dà tâm trí ta sẽ được thanh thản, bình an.
Để
sự thực tập Vipassana được có kết quả tốt, quan trọng
nhất là việc giữ năm giới như : không giết hại, không
trộm cắp, không nói dối, không tà dâm, và không dùng những
chất thuốc kích thích, có hại. Một vi phạm trong năm điều
kể trên sẽ làm cho tâm trí bị bất an, giao động, và chắc
chắn sẽ làm trở ngại cho việc thực tập Thiền Vipassana.
Điều hiển nhiên là sự thực tập Vipassana sẽ cũng cố tinh
thần chúng ta và cho chúng ta một sức mạnh để giữ giới
được hiệu quả hơn. Những điều chỉ dẫn đầy đủ về
việc thực tập Vipassana được hướng dẫn bởi một vị
thầy nơi các thiền viện; nhưng những lý luận căn bản và
những đặc điểm của phương thức nầy sẽ được giải
thích nơi đây.
Bước
đầu thực tập là sự chú tâm, hoặc chánh niệm, bao gồm
sự chú tâm nơi cơ thể. Phương thức thực tập ban đầu
là chú tâm đến hơi thở, sự thở ra, thở vào của cơ thể.
Phương thức nầy gọi là Anapana - sự phát triển chánh niệm,
cái nầy không phải là 'sự nắm giữ' hơi thở giống như
một số thực tập khác ( praa.naayaama ). Đây chỉ là sự quan
sát, sự theo dõi chu trình tự nhiên của hơi thở. Chỉ quan
sát để biết hơi thở nào ngắn, và hơi thở nào dài. Để
giúp thiền sinh thực tập một cách có hiệu quả hơn, thiền
sinh được chỉ dẫn để quan sát, chú tâm vào những điểm
vi tế hơn, như nơi cánh mũi nào mà hơi thở đi ra hoặc đi
vào, hơi thở có chạm vào nơi nào chung quanh lỗ mũi không.
Sự
thực tập nầy là quan sát sự thật như nó là, không chút
ham muốn cũng không chút ghét bỏ. Hiển nhiên là lúc ban đầu
ta không thể nào thực tập chú tâm một cách liên tục, chỉ
cho dù trong một hay hai phút ngắn ngủi. Tâm trí theo thói quen
sẽ chạy lung tung, nhưng thiền sinh chỉ cần theo dõi và quan
sát sự việc nầy một cách sáng suốt, chỉ quan sát sự lăng
xăng của tâm trí, và rồi chuyển sự chú tâm sang hơi thở.
Với
sự thực tập quan sát hơi thở (Anapana) đều đặn trong vòng
vài ngày, sự chú tâm sẽ được gia tăng, hơi thở sẽ trở
nên nhẹ và điều hòa. Vì hơi
thở
có liên hệ mật thiết với tâm trí, cho nên một khi hơi thở
trở nên điều hòa thì tâm trí sẽ được yên bình, không
còn giao động.
Tâm
trí sẽ trở nên bén nhạy hơn và có thể quan sát đến những
hiện tượng vi tế hơn nơi thân và tâm, thí dụ, thấy và
cảm nhận được những
cảm
giác đang xuất hiện chung quanh lỗ mũi, trong lúc thực tập
theo dõi hơi thở.
Điều
kế tiếp trong việc thực tập Chánh Niệm là sự chú tâm
nơi những cảm thọ của thân thể. Và đây là một đề mục
thiền quán về những cảm giác nơi thân, nhưng lại cảm nhận
được bởi tâm trí.
Trong
lúc mà ta đang giám sát kinh nghiệm về những cảm thọ, thì
thật ra ta đang quan sát sự phản ứng liên kết giữa thân
và tâm. ( vedana a-samosara.naa sabbe dhamma: Tất cả những gì
xuất hiện nơi tâm trí thường được kèm theo bởi những
cảm giác). Thêm vào đó, cảm giác (Vedana) cung cấp sự liên
hệ mật thiết giữa ảnh hưởng (phassa) của sáu cửa giác
quan và kết quả là phản ứng thương hay ghét (ta"nhaa), cái
nầy là gốc rễ của tất cả sự đau khổ. Sự khám phá
sâu sắc nầy là một trong những quan điểm căn bản trong
giáo lý của Bụt Gotama, một vị khoa học gia xuất chúng nói
về tương quan giữa tinh thần và vật chất.
Sự
thực tập Vipassana bao gồm "cảm nhận" những cảm giác của
cơ thể một cách thấu đáo, không phản ứng hay đánh giá
bất cứ một cái gì, cho đến lúc chúng ta phát triển được
sự thanh thản, bình an ở mức độ sâu nhất. Thường thì
nói rất dễ nhưng làm rất khó, bởi vì vô thức "cảm nhận"
được những cảm giác của cơ thể; và vì vô thức rất
là cứng đầu, hay chống đối, và thường có thói quen phản
ứng theo cách riêng của nó.
Nó
hay phản ứng với những gì dễ chịu bằng cách ham muốn
và những gì khó chịu bằng chán ghét, và vì vậy đã cũng
cố và khuyến khích khuynh hướng của tâm trí chạy theo những
cảm giác dễ chịu và chạy trốn những cảm giác đau đớn.
Thực
tập về chánh niệm và sự thanh thản bằng cách chú ý đến
những cảm giác là để cắt đứt thói quen nầy một cách
từ tốn. Ta lập đi lập lại sự quan sát về những cảm
giác như chúng thật là : luôn luôn thay đổi-luôn luôn xuất
hiện, có một lúc, rồi biến mất, và rồi tạo cơ hội cho
những cảm giác mới xuất hiện. Với sự thực tập đều
đặn, thói quen phản ứng theo cảm giác sẽ được thay thế
bằng một kinh nghiệm về sự thật của vô thường hay anicca.
Thiền sinh được huấn luyện để tập trung vào một điểm
và gom tất cả sự chú ý vào những đổi thay của cảm giác,
chỉ nhận thức chúng như chúng là, không ham thích cũng không
chán ghét -- đấy
là
ý nghĩa của Vipassana. Vipassana, là một chữ Pali, dịch sát
nghĩa là "thấy sự vật như nó là" - trong thể tự nhiên của
nó, và tính chất của nó là vô thường (anicca).
Một
người có thể dần dà tập cho tâm trí quan sát những cảm
giác của thân thể-không có nghĩ đây là những cảm giác
của tôi- cũng cách đó mà một người có thể quan sát một
cách bàng quan những ngọn sóng xuất hiện và biến mất nơi
đại dương. Với sự thực tập một cách bàng quan, thái độ
về "hưởng thụ" - một trong những hiện tượng chánh của
cái Tôi- sẽ bị yếu đi.
Trong
lúc có sự phản ứng của thân và tâm, thiền sinh chỉ cần
quan sát tính chất phù du (anicca) của những phản ứng nầy,
nhận ra được tiến trình tự nhiên của thân và tâm. Nhìn
được như thế thì thái độ thanh thản, bình an sẽ hiện
diện và dần dần sự thanh thản sẽ được cũng cố mạnh
thêm theo chu trình thực tập của thiền sinh.
Sau
một thời gian huân tập, thiền sinh sẽ có được sự tập
trung cao độ, và lúc nầy thiền sinh sẽ dễ dàng nhận thức
được những phản ứng của tâm trí. Sự chú tâm cao độ
sẽ giúp thiền sinh nhận rõ những cảm thọ của thân và
tâm; thiền sinh không tự đính chính hay tự kết tội, mà
chỉ nhận xét một cách khách quan những gì xuất hiện và
biến mất. Và như thế, thiền sinh sẽ cảm nhận được một
cách thấu suốt sự vô thường (anicca ) của thân & tâm
.
Kết
quả quan trọng của Vipassana là, sự thực tập nầy giúp cho
tâm trí nghiêng về mục đích giải thoát để đạt giác ngộ.
Đồng thời, nó cũng giúp cho một người trở nên chắc chắn,
tự tin hơn, và như thế họ có thể dễ dàng vượt qua những
chướng ngại gặp phải trên bước đường tu tập.
Vai trò của
Vipassana trong vấn đề giáo dục
Bây
giờ chúng ta hiểu bằng cách nào Vipassana có thể bổ khuyết
cho sự giáo dục tân tiến hiện nay - chẳng hạn, sự tập
luyện về tâm trí, dẫn đến một đời sống huân bình, hạnh
phúc, và có ý nghĩa. Thiền Vipassana, có nhận xét rất khách
quan về những hiện tượng có mặt nơi thế giới sắc dục
nầy,
dưới sự quan sát của một tâm trí bình an, thanh thản. Những
lợi ích của Vipassana được nói đến rất nhiều trong những
buổi hội thảo và đã mở màn cho một cuộc nghiên cứu được
hướng dẫn bởi Hội Nghiên Cưú Vipassana (Igatpuri, India) trong
nhiều phạm vi về đời sống con người.
Nơi
đây, chúng ta chỉ nói đến những khiá cạnh có liên quan
đến sự giáo dục mà thôi.
Thái
độ " chỉ chú ý" ( chỉ nhận biết mà không phản ứng )
làm chậm lại sự chuyển tiếp từ ý nghĩ đến hành động,
để cho người thực tập có thêm thời gian - thời gian nầy
cốt yếu cần thiết để đi đến một quyết định sáng
suốt. Nhờ đó, khuynh hướng nghiêng về bản năng thú tính
cũng bị kềm chế một cách có hiệu quả, và sự suy nghĩ
của chúng ta không bị lệch lạc. Nhờ vậy, ngăn ngừa được
những điểm tiêu cực như sự hấp tấp, tính không khoan dung,
không điều độ, và tính hung hăng nơi giới thanh thiếu niên.
Gần đây với ảnh hưởng thế giới vật chất, giới trẻ
thường có những tính tiêu cực kể trên. Nhưngvới sự giáo
dục như trên, sự liên hệ thầy trò cũng sẽ trở nên tốt
đẹp hơn.
Về
mặt tích cực, sự thực tập Vipassana với cái nhìn khách
quan về mọi vật, cộng thêm sự thấu hiểu sâu sắc về
vô thường (anicca), khả năng của chúng ta sẽ được nâng
cao khi phải đối diện với những thăng trầm của cuộc đời
. Chúng ta sẽ không tìm lối thoát bằng cách dùng thuốc lá,
rượu hay thuốc, mà trong thế giới hiện đại ngày nay, đây
là những lối thoát ta thường thấy. Thái độ thanh thản
nầy làm giảm bớt sự ham muốn vật chất, như vậy những
" cần thiết cao cả" sẽ có chỗ để xuất hiện - như tính
công bình, thành thật, hay giúp đỡ, tình thương, lòng từ,
v...v... Đây là những điểm quan trọng căn bản cho nhu cầu
của con người mà khoa tâm lý học cũng công nhận. Cuộc nghiên
cứu vừa qua cho thấy rằng những người có được những
"cần thiết cao cả" thường có nhiều sáng kiến hơn và họ
chịu đựng giỏi hơn những người mà nhu cầu thiết yếu
chỉ là dục vọng.
Sự
quan sát tâm trí là một dụng cụ mạnh mẻ để ta tự học
tập, nhìn nhận ra những ưu và khuyết điểm của chính mình
mà không làm tổn thương đến lòng tự trọng. Thái độ bỏ
xót khuyết điểm và phóng đại ưu điểm được kiểm soát
. Một người dần dần có được sức mạnh nội tâm, và
thắng được những yếu điểm của mình, mà không cần phải
đè nén, hoặc phải sử dụng toàn lực ý chí của mình. Đè
nén hay dốc sức đều có hại về sau. Sự tự khảo sát sáng
suốt nầy tăng cường sự thành thật đối với bản thân,
gia tăng sự khoan dung đối với người khác, giúp tăng trưởng
sự khiêm cung, từ bi, và làm giảm tính kiêu căng.
Sự
nhận thức đúng kèm theo sự thanh thản rất cần thiết cho
người trí thức cũng như nhà khoa học chân chính. Sự nhận
thức khách quan đối với mọi vật, sẽ giúp làm gia tăng
khả năng phân tách và khả năng phán đoán.
Thiền
Vipassana tăng cường về phương diện quan sát một cách rất
khoa học. Mỗi thiền sinh, sau một thời gian dài luyện tập
quan sát các cảm giác- họ cảm nhận được cả thân thể
chỉ là một khối rung động. Kinh nghiệm nầy tương ứng
với sự diễn tả về lượng tử của vật chất. Kinh nghiệm
trực tiếp nầy cung ứng sự hiểu biết về hiện tượng
vật chất, còn rõ ràng hơn cả những giải thích phương trình
toán học được dạy trong lớp.
Một
điều quan trọng khác nữa là sau một thời gian thực tập
theo dõi hơi thở, người thực tập sẽ có khả năng tập
trung cao hơn khi làm một việc nào đó, và điều nầy rất
có ích lợi trong vấn đề học vấn. Như đã trình bày ở
trên, tính chất của sự thực tập nầy là luyện cho tinh
thần sự chú tâm liên tục vào một đối tượng (thí dụ
- hơi thở), và làm giảm thiểu sự phân tán tâm trí, như
mơ mộng, nghĩ ngợi lung tung, những điều nầy là những chướng
ngại bậc nhất cho việc tập trung tư tưởng. Một khi tâm
trí bị phân tán, vọng tưởng xuất hiện (cho dù lúc ta đang
tọa thiền hay làm việc trong ngày), nếu ta dùng những vọng
tưởng nầy làm đề mục cho sự quan sát, thì sau đó ta sẽ
thấy rằng 'chúng' dần dần biến mất. Kết quả là ta lấy
lại được sự tập trung của ban đầu.
Quan
sát mọi vật với một cách khách quan không phản ứng, là
giải thoát chính mình khỏi những ràng buộc, và đây là mục
đích chánh của việc giáo dục về tâm linh. Theo lời của
Ngài Nyanponika Thera :
" Với
sự thực tập, ta dần dần nhận thấy được ai ai cũng đều
có thể đạt được hạnh phúc bằng cách không bám viú vào
vật chất. Điều nầy giúp cho chúng ta một bước đầu tự
tin hơn và một ngày nào đó, chúng ta tin mình có thể bước
ra khỏi thế giới khổ đau nầy. Thực tập giúp chúng ta hiểu
được là có gì đó cao hơn, một sự giải thoát hoàn toàn,
mà hiện tại chúng ta chỉ nghe thấy bằng câu ám thị ' sống
trong cuộc đời mà không dính nơi cuộc đời."
Để
đạt được mục đích, điều kiện quan trọng nhất là phải
làm sao thấu hiểu sâu sắc về những tính chất căn bản
của cuộc đời. Vô thường (anicca) là một tính chất chủ
yếu mà Thiền sinh Vipassana thường phải đối đầu. Một
khi mà kinh nghiệm nầy được thấm nhuần, thì những tính
chất khác-thí dụ như Khổ (dukkha) và Vô Ngã (anattaa)- sẽ
tự động phát triển, dẫn dắt ta đến sự hiểu biết rõ
ràng về ý nghĩa của cuộc đời và cách để đạt mục đích
nầy nằm ngay nơi sự giáo dục về tâm linh.
Kết luận
Rất
rõ ràng, với những giải thích như trên, là Thiền Vipassana
là một phương pháp rất khoa học, một tư tưởng văn hóa
toàn cầu, không bị lệ thuộc bởi tông phái, giáo điều
hay tục lệ. Vipassana cần được mọi giới chấp nhận, ở
đây, được chấp nhận như một phần của sự học vấn.
Những lợi ích thiết thực của Vipassana đã được chứng
thực bởi hàng ngàn người thực tập- từ già đến trẻ,
mọi giới, mọi thành phần xã hội, mọi miền đất nước,
và mọi tôn giáo. Giấc mơ của Vivekananda về sự giáo dục
'mới' có thể trở thành sự thật, khi Vipassana được hội
nhập vào sự giáo dục hiện đại. Đây là lúc mà ta phải
hành động một cách thiết thực ít nhất trên phương diện
thử thách, để đánh gía một cách rất khoa học về những
lợi ích của Vipassana trong một thời gian hạn định.
Những
điểm quan trọng cần được nhắc đến bao gồm :
1.
Làm sao để thúc đẩy học sinh, thầy giáo, và bộ giáo dục
nơi các trường học để giới thiệu anapana và Vipassana, và
giảm thiểu sự chống đối nơi học sinh và thầy giáo.
2.
Một thời gian thực tập cần phải có trước khi các thầy,
cô bắt đầu dạy thực tập thiền cho các học sinh nơi trường
tiểu,trung,và đại học.
3.
Chương trình và thời gian thực tập nơi những trại hè được
thành lập để dạy về thiền Anapana cho giới trẻ, bị ngăn
trở, hạn chế bởi sự ngủ lại đêm.
4.
Làm sao để giữ sự thực tập được liên tục với thời
khóa biểu bận rộn của chương trình học đường.
5.
Có cần phải có một môn học chuyên về Thiền lồng trong
chương trình học của trường tiểu, trung và đại học không
?
6.
Làm sao để đánh giá ảnh hưởng lợi ích của Vipassana nơi
thầy cô giáo, cũng như học sinh và sự truyền đạt kiến
thức nơi học đường.
7.
Làm sao để hội nhập Vipassana với chương trình tham vấn
ý kiến nơi các trường tiểu, trung và đại học.
Một
chương trình thích hợp có thể mở đường cho một giáo dục
thánh thiện đúng nghĩa nếu chương trình được áp dụng
một cách thành khẩn. Những trường học có được chương
trình như trên sẽ góp phần đào tạo những con người hoàn
chỉnh và như vậy một xã hội tốt đẹp hài hòa sẽ không
còn xa nữa.
Lời cảm
tạ
Cảm
ơn Bác sĩ Kishore Chandiramani đã đọc và sửa chữa bản th䯠và
cho những ý kiến đáng giá cho bài viết nầy.
Sách
tham khảo
(1).
Krishnamurti on Education, Krishnamurti Foundation, 1992.
(2).
Swami Vivekananda on Education, compiled by T.S. Avnashilingam, Sri Ramakrishna
Mission Vidyalaya, Coimbatore, 1993.
(3).
"A New Education", all India Magazine, Sri Aurobindo Society, Oct. 1990;
and On Education, All India Magazine, Sri Aurobindo Society, Nov. 1990.
(4).
P.L. Dhar and R.R. Gaur : "Appropriate Enginêring Education", paper presented
at National Workshop on Technology Assessment, a Futuristic Viewpoint,
1IT, Delhi, 1988.
(5).
Report of Education Commission (1964-66) : Education and National Development,
Ministry of Education, Govt. of India, 1966.
(6).
Venerable Nyanaponika Thera., The Heart of Buddhist Meditation, Rider,
London 1962.
(7).
Amadeo Sole-Leris., Tranquility and Insight, Shambala, Boston 1986.
(8).
Sayagyi U Ba Khin Journal, Vipassana Research Institute, Igatpuri, India,
1991.
(9).
Mahaavatipa.t.tha ana Suttam", Vipassana Research Publications, Igatpuri,
India, 1993.
(10).
A. Maslow. Motivation and Personality, New York; Harper Press 1954.
(11).
Pradeep N. Khandwala, "Four Eye: Excellence Through Creativity;" A.H. Wheeler
an 0.1 Allahabad, 1984.
(12).
P.L. Dhar and R.R. Gaur., Science and Humanism

LÒNG
TỪ BI VÀ CON NGƯỜI
Đức
Dalai Lama thứ 14 - Mỹ Thanh dịch
 |
 |
Một
câu hỏi quan trọng nằm chôn vùi dưới kinh nghiệm của chúng
ta, cho dù chúng ta biết đến nó hay không biết, đó là : Cuộc
sống có ý nghĩa gì không?
Tôi
có nghĩ về điều nầy và muốn được chia xẻ với mọi
người những gì tôi nghĩ, với hy vọng là những điều nầy
có thể đem lại ích lợi thiết thực cho những ai đọc qua
bài nầy.
Tôi
tin rằng ý nghĩa của cuộc sống là hạnh phúc. Từ lúc sanh
ra đời, mỗi người trong chúng ta đều muốn hạnh phúc và
tránh đau khổ. Không một điều kiện xã hội hay giáo dục,
hoặc một lý tưởng nào có thể làm lệch lạc sự mong muốn
nầy.
Từ
trong tâm thức của con người chúng ta, tất cả đều muốn
được an vui, hạnh phúc. Tôi không biết vũ trụ với vô số
tinh tú, ngân hà & thế giới có ý nghĩa gì sâu sắc hay
không; nhưng ít nhất, chúng ta cũng thấy rõ rằng con người
sống trên trái đất nầy có nhiệm vụ làm cho cuộc sống
của mình hạnh phúc. Vì vậy, điều quan trọng là khám phá
ra điều gì sẽ mang lại hạnh phúc nhiều nhất.
Làm thế
nào để đạt hạnh phúc
Hãy
bắt đầu chia hạnh phúc và khổ đau làm hai phần chánh :
Tinh thần, và thể xác. Trong hai phần nầy, tinh thần có ảnh
hưỏng nhiều nhất nơi chúng ta.
Trừ
khi chúng ta bệnh nặng hoặc bị đói khát, cơ thể chúng ta
chỉ là phần phụ thuộc trong cuộc sống nầy. Nếu cơ thể
tráng kiện, chúng ta không hề để ý đến nó. Tinh thần thì
khác, nó ghi chú mọi việc, dù nhỏ nhặt đến đâu. Vì vậy
chúng ta phải hết lòng cố gắng làm sao cho tinh thần mình
được an lạc.
Trong
kinh nghiệm giới hạn của tôi, tôi thấy rằng sự an lạc
tột cùng là khi chúng ta làm tăng trưởng tình thương và lòng
từ bi.
Lúc
mà ta lo cho hạnh phúc của mọi người, là lúc mà chính ta
đang hưởng hạnh phúc. Làm tăng trưởng lòng từ một cách
tự động, là làm cho tinh thần được bình an. Điều nầy
giúp ta dẹp sợ hãi và lo lắng, và giúp ta sẵn sàng đối
phó với những trắc trở của cuộc đời. Đây là sự thành
công tối hậu trong cuộc sống.
Khi
mà ta còn sống trong thế giới nầy, là ta vẫn còn có vấn
đề. Trong trường hợp gặp khó khăn, nếu chúng ta đánh mất
hy vọng và trở nên chán nản, thì ý chí phấn đấu của
chúng ta sẽ bị giảm đi. Ngược lại, nếu chúng ta nhớ rằng
mọi người chung quanh đều phải trải qua đau khổ, thì cái
nhìn thực tế nầy sẽ làm tăng ý chí và khả năng của chúng
ta, để chúng ta đối phó với nghịch cảnh.
Thật
ra, với thái độ nầy, mỗi khó khăn gặp phải, được xem
như là một cơ hội ngàn vàng để chúng ta làm tăng trưởng
phần tinh thần của chính mình.
Do
đó, chúng ta phải tranh đấu dần dần để trở nên từ bi
hơn, như vậy chúng ta mới có thể phát triển tình thương
và giúp đỡ những ai đang đau khổ. Kết quả là sức mạnh
nội tâm và sự thanh thản của chúng ta được tăng lên.
Chúng ta cần
Tình thương
Lý
do tại sao tình thương và lòng từ bi được xem như là điều
hạnh phúc nhất, bởi vì trong tâm khảm mỗi chúng ta đều
mong muốn được thương yêu. Tình thương rất cần thiết
cho sự sinh tồn của con người. Đó là mối liên hệ phụ
thuộc lẫn nhau rất sâu sắc giữa con người với con người.
Không cần biết là người đó có khả năng như thế nào và
cho dù người đó có giỏi đến đâu đi nữa, kẻ đó cũng
không thể sống sót nếu chỉ có một mình. Một người có
thể khỏe mạnh, tráng kiện đến mức tối đa trong một khoảng
thời gian nào đó, nhưng một khi ngã bệnh hay lúc quá nhỏ,
hoặc quá già, ta vẫn phải cần sự giúp đỡ của những
người chung quanh
Sự
liên hệ phụ thuộc lẫn nhau là điều căn bản của luật
tạo hóa. Không phải chỉ có loài người , kể cả những
côn trùng nhỏ bé nhất, không có tôn giáo, hay luật lệ, chúng
vẫn phải nương tựa vào nhau để mà được sống còn. Cả
đến hiện tượng vật chất nhỏ bé nhất cũng phải bị
chi phối bởi luật " phụ thuộc lẫn nhau" (interdependence).
Những
hiện tượng trên trái đất như : mây, biển, rừng, hoa lá
cũng được cấu tạo bởi những năng lượng phụ thuộc lẫn
nhau. Không có những năng lượng nầy, thì chúng tan hoại ngay.
Bởi
vì đời sống của con người là phụ thuộc lẫn nhau, cho
nên đây là một điều tự nhiên khi ai ai cũng cần tình thương.
Vì vậy chúng ta cần ý thức trách nhiệm của mình trong việc
đem lại an vui cho mọi người.
Nên
hiểu rằng những thiếu thốn hay đau khổ của con người
là thuộc về phần tinh thần vì thế chúng không thể giải
quyết được bằng máy móc tinh vi, vì vậy thật là một điều
sai lầm khi ta tìm kiếm hạnh phúc bằng những thứ bên ngoài.
Chúng
ta nên nhìn lại để tìm kiếm cho đúng thứ mà ta cần cho
hạnh phúc.
Nếu
bỏ qua câu hỏi rắc rối về tạo hóa và sự tiến triển
của vũ trụ, chúng ta ít ra cũng đồng ý rằng mỗi chúng
ta là một sản phẩm của cha mẹ chúng ta. Thông thường, mỗi
chúng ta có mặt nơi đây là vì cha mẹ chúng ta muốn nuôi
dưỡng một đứa con cho đến lúc nó trưởng thành và có
thể tự lập. Vì vậy, ngay từ phút đầu thọ thai, tình thương
của cha mẹ dành cho chúng ta bắt nguồn từ lúc đó.
Hơn
nữa chúng ta hoàn toàn nương tựa vào sự săn sóc của mẹ
chúng ta ngay từ lúc ban đầu. Theo các khoa học gia, tinh thần
của người mẹ trong lúc mang thai có ảnh hưởng rất nhiều
đến đứa trẻ trong bụng.
Sự
thể hiện tình thương cũng rất quan trọng lúc đứa trẻ
ra đời. Ngay từ buổi đầu việc đầu tiên chúng ta làm là
tìm vú mẹ, chúng ta tự nhiên thấy gần với mẹ, và mẹ
chúng ta phải cảm nhận được tình thương đó bà mới có
thể lo bú mớm cho chúng ta m ột cách tốt đẹp; nếu bà cảm
thấy tức giận hay bực tức thì sữa sẽ
chảy
không đều.
Kế
đến là lúc tuổi khoảng 3 hay 4, đây là khoảng thời gian
rất quan trọng cho việc phát triển bộ óc; trong lúc nầy,
sự gần gủi săn sóc rất cần cho sự phát triển bình thường
của đứa trẻ. Nếu đứa trẻ không được ôm vào lòng,
không được trìu mến thương yêu thì sự phát triển của
bộ óc đứa trẻ sẽ bị hư hao hoặc kiếm khuyết.
Đứa
trẻ không thể sống sót nếu không có sự chăm nom của người
khác, vì vậy tình thương là món ăn cần thiết để nuôi
dưỡng trẻ. Hạnh phúc của tuổi ấu thơ, đều nhờ vào
tình thương, nhờ có tình thương, mà đứa trẻ dẹp được
những nỗi lo sợ và trưởng thành một cách lành mạnh.
Hiện
tại có bao đứa trẻ lớn lên trong những gia đình không hạnh
phúc. Nếu chúng không được thương yêu trọn vẹn, thì sau
nầy chúng ít khi nào thương được bố mẹ chúng, và thường
thì, những đứa trẻ nầy không hiểu được thế nào là
thương người khác. Thật là đáng điều đáng buồn!
Khi
đứa trẻ lớn lên và đến trường, chúng cần sự nâng đỡ
nơi thầy, cô. Thầy, cô không phải chỉ có truyền đạt kiến
thức mà còn phải chịu trách nhiệm về việc chuẩn bị cho
đứa trẻ bước vào đời. Học sinh phải cảm nhận được
sự tin cậy, và kính trọng, những gì chúng học được nơi
thầy cô sẽ là một dấu ấn khó phai.
Ngược
lại, nếu thầy cô chỉ lo dạy về môn học mà không để
ý gì đến tánh tình, hạnh kiểm của học sinh thì thầy cô
đó khó có thể dạy học lâu dài , họ chỉ có thể dạy
trong một thời gian ngắn thôi .
Cũng
như khi một người bệnh, gặp bác sĩ tận tâm, niềm nở,
nhất là sự mong muốn họ mau khỏi bệnh, nhờ vậy họ cảm
thấy thoải mái với sự ân cần của y sĩ , người nầy sẽ
dễ dàng khỏi bệnh. Ngược lại, nếu bác sĩ giỏi nhưng
không tận tâm, không ân cần, niềm nở, dù thuốc hay, nhưng
vì bệnh nhân không thoải mái nên việc lành bệnh cũng không
mau chóng.
Kể
cả khi chúng ta nói chuyện thường ngày, nếu có người nói
chuyện ân cần, thân mật, thì tức khắc chúng ta cảm thấy
muốn nghe, và muốn tiếp chuyện; câu chuyện sẽ trở nên
hấp dẫn hơn, cho dù đề tài không hay. Ngược lại, nếu
một người nói chuyện lạnh nhạt hay trả lời nhát gừng,
chúng ta sẽ cảm thấy khó chịu và muốn mau mau kết thúc
câu chuyện. Từ việc nhỏ cho đến việc lớn, hạnh phúc
của chúng ta tùy thuộc vào tình cảm và sự quan tâm của
người chung quanh.
Vừa
rồi, tôi có gặp những khoa học gia ở Mỹ, họ bảo là mức
độ về bệnh tâm thần ở đất nước họ đã tăng khoảng
mười hai phần trăm trong dân số. Trong buổi bàn cãi, chúng
tôi nhận ra rằng bệnh tâm thần không phải do thiếu thốn
vật chất mà ra, mà lý do chánh là vì thiếu tình thương,
thiếu tình thân ái giữa con người với con người.
Qua
những gì tôi viết trên đây, một điều chắc chắn rõ ràng
là : cho dù chúng ta có nhận thức được hay không về điều
nầy, sự cần thiết tình thương đã nằm sẵn trong huyết
quản của chúng ta ngay từ buổi ban đầu. Người lớn và
trẻ em đều hướng đến tình thương, cho dù tình thương
đó được mang đến từ một con vật hay từ một người
mà bình thường ta vẫn xem như là thù địch.
Tôi
tin rằng không một ai sanh ra mà không cần tình thương. Vài
trường Triết đã công nhận rằng con người không phải chỉ
thuần là thể xác. Tinh thần là chủ động trong việc cảm
nhận được cái đẹp, cái quý giá, làm cho chúng ta có thể
thương yêu.
Phát triển
lòng từ
Vài
người bạn của tôi nói rằng, tình thương và lòng từ bi
rất tốt đẹp và kỳ diệu, nhưng chúng không có chỗ đứng
trong thế giới của chúng ta, nơi mà lòng sân hận và thù
hằn là một phần của con người, và như vậy chúng ta luôn
bị sân hận làm chủ. Điều nầy tôi không đồng ý.
Con
người chúng ta hiện hữu với hình hài nầy trong khoảng gần
một trăm ngàn năm. Tôi tin rằng trong khoảng thời gian đó
nếu tinh thần chúng ta bị sân hận làm chủ thì dân số của
con người đáng lý phải bị giảm đi. Nhưng cho đến hôm
nay, dù có những trận chiến, dân số con người vẫn gia tăng
hơn bao giờ hết.
Điều
nầy chứng tỏ rằng, tình thương và lòng từ vẫn chiếm
ưu thế. Vì vậy, những việc không hay là"tin tức", những
việc làm từ bi trong đời sống hàng ngày bị coi như là điều
tất nhiên, và phần lớn bị lờ đi.
Theo
kinh nghiệm của riêng tôi, thì sự thăng bằng về mặt tinh
thần và cơ thể mạnh khỏe có liên hệ mật thiết. Sự khích
động và tức giận dễ làm chúng ta nhiễm bệnh . Ngược
lại, nếu tinh thần yên tịnh và tràn đầy những ý nghĩ
tốt lành thì cơ thể ít có cơ hội bị bệnh hoạn tấn công.
Muốn
được hạnh phúc chân thật thì cần phải có một tinh thần
an lạc, và để được tinh thần an lạc, cần phải có lòng
từ bi, làm sao để chúng ta phát triển được lòng từ ? Chỉ
nghĩ đến lòng từ bi thôi cũng chưa đủ, chúng ta phải làm
sao để chuyển hóa tâm niệm và hành động của mình trong
đời sống hàng ngày .
Trước
hết, chúng ta phải biết rõ từ bi nghĩa là gì. Lòng từ cũng
có nhiều hình thức và lắm lúc lẫn lộn với bám víu và
ham muốn. Chẳng hạn, tình thương của cha mẹ dành cho con
cái thường có liên quan đến những nhu cầu tình cảm của
riêng họ, vì vậy tình thương không được hoàn toàn từ
bi. Cũng vậy trong hôn nhân, tình thương giữa hai vợ chồng--nhất
là lúc ban đầu, lúc mà cả hai chưa rõ những cá tánh sâu
sắc của nhau--tình thương dựa vào bám víu hơn là đơn thuần
thương yêu. Vì dục vọng của chúng ta quá mạnh nên người
hôn phối dù có tánh xấu, dưới mắt ta lúc bấy giờ người
ấy thật là hoàn hảo. Hơn nữa, ta lại có khuynh hướng khuếch
trương những điều tốt nho nhỏ. Do đó, khi mà tánh tình
một trong hai người thay đổi thì người kia cảm thấy thất
vọng vì chính tánh tình họ cũng có đổi thay. Đây là điều
cho ta thấy tình yêu được thúc đẩy bởi những nhu cầu
của cá nhân hơn là vì thương yêu kẻ khác.
Lòng
từ bi chân thật không phải là một thứ tình thương có qua
có lại, mà là một sự cam kết chắc chắn dựa trên lý trí.
Vì vậy, cho dù kẻ thọ nhận cư xử không tốt, một hành
động từ bi thật sự sẽ không hề thay đổi .
Dĩ
nhiên là phát triển lòng từ bi chân thật sẽ không phải
là một việc dễ dàng. Lúc bắt đầu thực tập, chúng ta
nên nhìn vào những điểm sau đây :
Dù
người đẹp hay người xấu, người dễ thương hay kẻ phá
hoại, chúng ta đều là con người như nhau cả. Và vì là con
người nên chúng ta đều muốn hạnh phúc và không muốn đau
khổ. Hơn nữa, mỗi người có quyền tự do riêng để tránh
đau khổ và hưởng sung sướng. Bây giờ bạn chấp nhận là
tất cả chúng ta đều muốn hạnh phúc, và vì vậy bạn sẽ
tự dưng cảm thông được với mọi người và cảm thấy
gần gủi họ hơn. Thực tập điều nầy sẽ làm cho tinh thần
bạn cảm nhận được tình vị tha, và bạn sẽ phát triển
được lòng tôn kính nơi mọi người chung quanh : muốn giúp
họ bớt khổ đau. Vì là con người nên ai ai cũng phải trải
qua những kinh nghiệm vui, buồn, sung sướng và đau khổ, vì
vậy không lý do gì bạn lại không thương được những người
có những hành động ích kỷ.
Trong
khả năng của chúng ta, để thực tập lòng từ bi, chúng ta
phải cần có kiên nhẫn và thời gian. Tận trong tiềm thức
của chúng ta, lúc nào cái "Tôi" cũng chiếm ưu thế, và vì
cái "Tôi" đó mà lòng từ bị giới hạn. Thật ra lòng từ
bi chân thật chỉ được thể hiện khi mà cái "Tôi" bị diệt
bỏ. Nói như thế không có nghĩa là chúng ta không làm chi được,
cái gì cũng có bắt đầu, thực tập và tiến triển là điều
có thể làm được.
Làm thế
nào để bắt đầu
Để
bắt đầu, chúng ta phải loại bỏ sân hận. Như chúng ta đã
biết, sân hận là những năng lực tình cảm rất mạnh, chúng
có thể hoàn toàn áp đảo tinh thần chúng ta. Nhưng chúng ta
có thể làm chủ được chúng. Nếu không, chúng sẽ làm cho
ta bị điêu đứng và việc tìm kiếm hạnh phúc với một
tinh thần thương yêu sẽ khó mà thực hiện được.
Trước
hết, hãy khám xét xem cái giận có tốt không. Đôi lúc, khi
chúng ta chán nản vì một hoàn cảnh nào đó, cái giận dường
như giúp chúng ta mạnh hơn, tự tin hơn và có quyết tâm. Lúc
nầy, chúng ta phải kiểm điểm trạng thái tinh thần của
mình một cách cẩn trọng. Thật sự cái giận cho ta thêm năng
lực, nếu chúng ta khảo sát tỉ mỉ năng lượng của cái
giận, ta khám phá ra rằng năng lượng nầy rất là mù quáng
: chúng ta không biết được kết quả của nó sẽ là tốt
hay xấu.
Bởi
vì cái giận che lấp đi phần duy lý của bộ óc. Vì vậy
năng lượng của cái giận không thể được tín nhiệm. Nó
có sức hủy hoại rất lớn và tạo nên nhiều hành động
đáng tiếc. Hơn nữa, nếu cái giận tăng lên đến mức tối
đa, thì một người sẽ trở nên điên loạn, làm những việc
có hại cho mình và cho người.
Tuy
nhiên, chúng ta có thể phát triển một năng lượng khác cũng
mạnh nhưng kiềm chế được để mà thích ứng với hoàn
cảnh khó khăn.
Năng
lượng nầy có được phát xuất từ cách cư xử với lòng
từ bi, sự kiên nhẫn và lý trí. Đây là những thuốc giải
hiệu nghiệm cho việc chữa trị cái giận. Đáng tiếc thay,
bao người hiểu nhầm về những điều nầy, và cho đấy là
biểu tượng của sự hèn nhát, yếu đuối. Tôi thì nghĩ ngược
lại : chúng chính là những dấu hiệu cho một sức mạnh nội
tâm. Trạng thái tự nhiên của lòng từ bi là sự dịu dàng,
hòa nhã, mềm mỏng, nhưng có năng lượng rất mạnh mẻ. Những
kẻ dễ tức giận là những người thiếu kiên nhẫn, dễ
bất an và không ổn định. Do đó, đối với tôi, sự tức
giận là một dấu hiệu của yếu đuối.
Vì
vậy, khi vấn đề xuất hiện, nên cố gắng giữ bình tĩnh,
với một hành động chân thành cho kết quả được công bằng.
Dĩ nhiên là sẽ có những kẻ lợi dụng bạn, khi bạn giữ
không bám víu, và hành vi nầy chỉ khuyến khích họ thêm hung
hăng, thì bạn phải lên tiếng cho họ biết quan điểm của
mình, và nếu cần thì tìm biện pháp để đối phó, nhưng
tuyệt nhiên hành động không có sự tức giận hay ác ý ẩn
bên trong.
Bạn
nên hiểu rằng, cho dù kẻ đối nghịch đang hảm hại bạn,
cuối cùng thì hành động nầy cũng chỉ gây hại cho chính
họ thôi. Để kiểm soát sự trả đũa của bạn vì íck kỷ,
bạn cần phải kêu gọi đến lòng mong muốn thực tập hạnh
từ bi, và nhờ đó mà cố gằng giúp đỡ kẻ kia khỏi bị
khổ não do chính hành động không hay của họ gây ra.
Hành
động trả đũa thường dựa trên năng lực giận dữ với
sự mù quáng cho nên sẽ không có kết quả tốt. Vì thế,
khi bạn chọn lựa cách đối phó một cách từ tốn, có ích
lợi cho cả đôi bên thì kết quả sẽ chính xác, có hiệu
lực hơn.
Bạn và kẻ
thù
Tôi
muốn nhấn mạnh rằng chỉ suy nghĩ về : lòng từ, sự kiên
nhẫn sẽ không ích lợi gì nếu bạn không thực tập chúng.
Muốn thực tập những điều nầy thì hay nhất là những lúc
khó khăn xuất hiện, hãy thử thực tập chúng.
Và
ai là người cho ta những cơ hội khó khăn để thực tập?
Dĩ nhiên là không phải bạn chúng ta, mà là kẻ thù của chúng
ta. Họ là những người gây cho ta nhiều khó khăn nhất. Và
nếu ta thật sự muốn học hỏi thì hãy xem kẻ thù như là
những người thầy giỏi nhất!
Người
thực tập hạnh từ bi và tình thương, cần phải thực tập
luôn sự khoan dung, và như vậy thì , kẻ thù không thể thiếu
được. Chúng ta phải cảm ơn kẻ thù, vì nhờ họ mà chúng
ta phát triển được sự an bình của tinh thần. Thêm nữa,
trong những trường hợp thuộc cá nhân hay công cộng có một
thay đổi, kẻ thù cũng có thể trở thành bạn.
Sân
hận rất có hại, chúng ta cần phải thực tập để làm giảm
bớt năng lực của chúng nơi phần tinh thần, nếu không chúng
sẽ tiếp tục làm phiền và gây khó khăn cho ta trong việc
thực tập sự an lạc. Sân, Hận là kẻ thù thật sự của
chúng ta. Đây là những năng lực mà chúng ta cần phải đối
phó.
Thật
là tự nhiên khi chúng ta ai ai cũng muốn có bạn. Tôi hay nói
đùa là nếu bạn thật sự muốn ích kỷ, thì bạn cần phải
nên vị tha. Bạn cần phải giúp đỡ, săn sóc mọi người,
lo cho họ, làm bạn với họ, mang lại nụ cười cho họ. Kết
quả ?
Khi
mà cần sự giúp đỡ, bạn sẽ tìm thấy bao là người sẵn
sàng! Ngược lại nếu bạn không lo gì đến hạnh phúc của
kẻ khác, sau nầy bạn sẽ là kẻ thua thiệt.
Có
người nói tình bạn hay mang đến cãi vã, giận dữ, ganh tyﬠvà
tranh dành ? Tôi không đồng ý về điểm nầy. Tôi nhận thấy
chỉ có tình thương mới mang lại cho chúng ta những người
bạn thân đúng nghĩa.
Trong
xã hội vật chất hiện nay, nếu bạn có tiền và có địa
vị, thì dường như bạn có rất nhiều bạn. Nhưng họ đâu
phải là bạn của bạn, họ là bạn của tiền và địa vị
của bạn. Khi mà bạn trắng tay, mất hết quyền lực thì
không còn tìm ra những người bạn nầy nữa, họ biến mất
.
Thực
tế thì khi mọi việc hanh thông, chúng ta cảm thấy tự tin
và có thể tự lo, chúng ta cảm thấy mình không cần bạn;
nhưng khi địa vị và sức khỏe suy dần, thì chúng ta mới
biết là mình lầm. Lúc ấy, ta sẽ biết được ai hữu dụng
và ai vô dụng. Và để chuẩn bị cho lúc ấy, để cho có
được những bạn tốt, ta cần phải thực tập tình vị tha
ngay từ bây giờ.
Tôi
hay nói là tôi lúc nào cũng cần bạn, càng nhiều càng tốt,
và mọi người hay cười tôi về điều nầy. Tôi yêu những
nụ cười. Có rất nhiều nụ cười, nụ cười mai mỉa, nụ
cười gỉa tạo, nụ cười ngoại giao. Có những nụ cười
không làm chúng ta hài lòng, mà đôi lúc còn làm ta sợ hãi,
nghi ngờ, phải không nào ? Nhưng một nụ cười chân thật
mang lại cho chúng ta bao là sự vui tươi, và tôi tin là, đây
là đặc điểm của con người. Nếu đây là nụ cười mà
ta mong muốn thì chính chúng ta phải làm sao để cho chúng được
hiện diện.
Lòng từ
bi và thế giới
Để
kết luận, tôi muốn nói thêm như sau : hạnh phúc cá nhân
cũng góp phần không nhỏ trong việc làm cho xã hội con người
tốt đẹp hơn.
Bởi
vì tất cả chúng ta đều cần tình thương, vì thế khi gặp
một người , dù trong trường hợp nào, chúng ta cũng có thể
coi người đó như là anh, chị em của ta.
Cho
dù đấy là một khuôn mặt mới, cách cư xử, cách ăn mặc
cho dù có khác biệt, thật ra không có gì cách biệt giữa
ta và người. Những nhu cầu căn bản tự nhiên của mọi người
đều giống nhau. Vì vậy thật là điên rồ khi mà chỉ bám
vào những khác biệt bên ngoài.
Cuối
cùng thì con người chỉ là một và trái đất nhỏ bé nầy
là nhà của chúng ta.
Để
bảo vệ căn nhà của chúng ta, thì mỗi một người trong chúng
ta cần phải kinh nghiệm được ý nghĩa của lòng vị tha.
Lòng
ích kỷ làm cho ta chỉ biết lừa dối và bạc đãi người
khác, muốn diệt trừ tính ích kỷ thì chỉ có cách phát triển
tình vị tha. Nếu bạn thành thật và có tấm lòng rộng mở,
tự nhiên bạn sẽ cảm nhận được niềm tự tin, hiểu rõ
giá trị của chính mình và sẽ không còn sợ hãi nữa.
Tôi
tin rằng mỗi giai cấp xã hội -- bình dân, bộ lạc, quốc
gia, và ngoại quốc --chìa khóa cho một thế giới hạnh phúc,
an lạc là phát triển lòng từ bi. Chúng ta không cần phải
theo một tôn giáo nào, hay phải tin vào một lý tưởng gì,
chỉ cần mỗi một người trong chúng ta phát triển hết những
đức tính tốt của con người là đủ.
Tôi
cố gắng cư xử với những người tôi gặp như một người
bạn lâu năm. Điều nầy mang lại cho tôi một niềm vui chân
chất. Và đây là lúc để chúng ta tạo một thế giới hạnh
phúc hơn, an lạc hơn.

THIỀN
ĐỊNH
Ajahn
Chah; Mỹ Thanh dịch
 |
 |
Những
người tìm đến Chân,Thiện, Mỹ, đã tập hợp ở đây, xin
hãy lắng nghe. Lắng nghe Pháp một cách bình an-- hãy chú tâm
lắng nghe.
Lắng
nghe Pháp là một lợi ích thiết thực. Trong khi nghe Pháp, chúng
ta tập trung sự chú tâm từ tinh thần cho đến thể xác. Trong
lúc Bụt còn tại thế, bao người nghe Pháp thoại, và với
sự sáng suốt của tinh thần, họ đã thấu hiểu lời dạy
và một số đã giác ngộ trong khi nghe Pháp thoại.
Nơi
nầy rất thích hợp cho việc thực tập thiền định. Bên
ngoài thì cần một chỗ rất yên tịnh và bên trong thì cần
bình lặng tâm trí. Vì vậy tôi yêu cầu quý vị hãy chú ý
lắng nghe.
Tại
sao các vị lại tụ hợp nơi đây để thực tập thiền ?
Bởi
vì tâm trí các vị không hiểu được điều mà quý vị cần
phải hiểu. Nói khác đi, các vị không thật hiểu những gì
đang xảy ra chung quanh mình. Cái gì đúng, cái gì sai, cái gì
đã làm cho các vị khổ tâm và sanh nghi ngờ. Lý do các vị
đến đây là để làm cho tâm trí mình bớt giao động, bớt
căng thẳng. Tâm trí các vị luôn nghi ngờ, đầy giao động,
bất an. Vì vậy hôm nay các vị đến đây để nghe Pháp thoại.
Tôi
mong quý vị hãy chú ý và lắng nghe những gì tôi nói. Trong
buổi Pháp thoại nầy tôi xin quý vị cho tôi được phép nói
thẳng. Xin hiểu rằng khi mà tôi nói một điều gì đó có
vẻ như ra lệnh, hoặc nói lớn tiếng, ấy cũng chỉ vì tôi
muốn tốt cho các vị thôi. Tôi xin quý vị hãy tha thứ cho
tôi khi tôi nói điều gì có vẻ xúc phạm đến các vị.
Thật
ra, nói năng một cách mạnh bạo, lớn tiếng cũng tốt vì
nó đánh thức những người nào đang mơ màng ngủ gục, đồng
thời nó giúp cho họ thức tỉnh để tìm hiểu giáo pháp.
Dường
như có rất nhiều phương pháp để thực tập, nhưng thật
ra chỉ có một cách mà thôi. Như chúng ta có thể chiết cây
để có trái ăn liền trong thời gian ngắn, nhưng cây sẽ không
mạnh, thiếu sức chịu đựng lâu dài. Ngược lại ta có thể
trồng một cây từ hạt giống, sự kết trái sẽ lâu hơn,
nhưng cây sẽ có sức chịu đựng mạnh hơn.
Thực
tập Thiền cũng vậy.
Lúc
tôi bắt đầu thực tập, tôi không hiểu gì hết. Ngồi thiền
giống như làm việc nhà, không một chút hứng thú, đôi lúc
tôi đã khóc khi phải tọa thiền. Đôi lúc mục đích của
tôi nhắm cao quá, thấp quá, mà không bao giờ được quân
bình.
Thực
tập một cách an lạc là làm sao giữ được trạng thái quân
bình.
Tôi
biết là quý vị đang cảm thấy lộn xộn, vì đã thực tập
với nhiều vị thầy với những phương cách khác nhau. Vì
vậy chắc chắn quý vị có nhiều nghi hoặc. Quý vị đang
tự hỏi không rõ phương thức thực tập nào là đúng nhất.
Quý vị đừng nên nghĩ ngợi nhiều. Nếu có suy nghĩ thì nên
suy nghĩ với chánh niệm. Khi biết, thì đâu cần suy nghĩ,
chánh niệm tự nó đã có mặt, với chánh niệm, chúng ta sẽ
từ từ có trí tuệ (pađđa). Cái suy nghĩ thường ngày thì
không có mục đích, nó lăng xăng lộn xộn. Cái suy nghĩ nầy
không phải là trí tuệ.
Trong
lúc nầy, quý vị không cần phải suy nghĩ. Quý vị đã suy
nghĩ rất nhiều ở nhà rồi, phải không nào ? Sự suy nghĩ
chỉ làm quý vị rối lòng thêm. Quý vị cần sự trợ lực
của chánh niệm. Chạy theo sự suy nghĩ mông lung không đưa
quý vị đến chân lý. Bụt là một người đã giác ngộ,
Ngài đã biết dừng bặt sự suy nghĩ. Cũng như vậy, quý vị
thực tập ở đây để dừng bặt suy nghĩ, và để được
an lạc.
Một
khi quý vị an trú trong yên tịnh, thì sự giác ngộ, sự sáng
suốt, cái mà được gọi là trí tuệ sẽ hiện diện.
Thực
tập thiền là huấn luyện tâm trí cho thanh tịnh. Đừng để
tâm trí lôi cuốn chúng ta chạy bên phải, bên trái, đằng
trước, đằng sau, bên trên và bên dưới. Bổn phận của
chúng ta hiện giờ là thực tập theo dõi hơi thở.
Chú
tâm nơi đầu, rồi đến khắp thân thể cho đến những ngón
chân, và rồi đi ngược trở về nơi đỉnh đầu. Đưa chánh
niệm xuống thân, quan sát với tất cả sự sáng suốt. Chúng
ta làm như thế để hiểu rõ về thân nầy. Lúc đầu hành
thiền thì chúng ta chỉ quan sát hơi thở vào, hơi thở ra.
Đừng ép hơi thở cho dài hoặc ngắn hơn, cứ thở như thường
lệ, chỉ cần chú ý và để hơi thở ra vô theo chu kỳ của
nó. Để hơi thở luân chuyển đều đặn, để hơi thở ra
vô một cách tự nhiên.
Bạn
cần phải hiểu rằng trong lúc theo dõi hơi thở, bạn cần
phải tập buông bỏ, nhưng với chánh niệm. Bạn phải giữ
chánh niệm trong lúc để hơi thở vô, ra đều đặn. Lúc nầy
là lúc mà tất cả trách nhiệm, lo âu phải được dẹp sang
một bên. Những ý nghĩ sẽ xuất hiện, nhưng đừng chạy
theo chúng, cứ để chúng đến và đi.
Lúc
đang hành thiền, bạn không cần phải chú ý đến những cảm
thọ. Tâm trí dễ bị những cảm giác làm giao động, vì vậy
lúc có cảm giác dù cho như thế nào đi nữa, dù tốt, dù
xấu,chỉ buông bỏ , hãy để chúng đi qua. Giữ sự chú tâm
nơi hơi thở. Quan sát hơi thở, đừng bám víu.
Hãy
để cho hơi thở tiếp tục theo chu trình của nó, dần dà
tâm trí sẽ trở nên yên tịnh. Khi bạn tiếp tục thực tập
thì dần dần tâm trí bắt đầu được 'nghỉ ngơi', lúc nầy
hơi thở sẽ trở nên nhẹ nhàng đến độ tưởng chừng như
là hơi thở vắng mặt. Lúc nầy cơ thể và tâm trí cũng trở
nên nhẹ nhàng và đầy sinh lực. Bạn có thể nói tâm trí
đã có sự chuyển biến và đã được phần nào yên tịnh.
Nếu
tâm trí giao động, hãy chú tâm và hít vào thật sâu và thở
hết ra cho đến khi không còn gì ở trong. Làm chừng hai hoặc
ba lần là bạn có thể trở lại với sự chú tâm ban đầu.
Tâm trí trở nên yên bình. Nếu có những cảm giác làm giao
động tâm trí, thì cũng thực tập như trên. Khi thiền hành,
nếu tâm trí giao động, hãy dừng bước, đem sự chú tâm
về một đề mục thiền và tiếp tục đi thiền hành. Tọa
thiền hay thiền hành đều có mục đích như nhau, chỉ khác
ở chỗ tư thế mà thôi.
Đôi
lúc có những nghi hoặc, nhưng bạn cần phải có 'sati', 'cái
biết' nầy giúp bạn tiếp tục theo dõi và quan sát sự lăng
xăng của tâm trí. Sati coi chừng và lo lắng cho tâm trí. Không
cần thiết tâm trí đang ở trong trạng thái nào. Bạn cần
phải có 'cái biết' nầy, và không nên để tâm trí lơi lỏng,
đi lang thang.
Điểm
hay là có sati, để sati làm chủ và trông coi tâm trí. Khi mà
tâm trí có sati thì có một sự sáng suốt hiện ra, cái mà
gọi là chánh niệm có mặt. Tâm trí lúc nầy có được sự
yên tịnh, và sự yên tịnh làm tâm trí không còn giao động,
giống như đàn gà ở trong chuồng vậy. Gà có thể đi tới
lui, nhưng không thể chạy ra ngoài, vì có chuồng. Cũng vậy
Chánh niệm nầy có mặt khi mà tâm trí đã yên tịnh và do
đó sẽ không gây ra vấn đề gì. Những cảm giác, cảm thọ
dù |