Dùng
Trí để hiển Trí không gì hơn là dùng kinh để hiển kinh.
Pháp
Hoa là Ðại Bát Nhã, là Ðại Niết Bàn, là Hoa Nghiêm, là
Lăng Nghiêm, là Lăng Già, là Duy Thức, là ý Phật, là lời
Tổ...
Một
kinh là nghìn kinh, nghìn kinh vào một dòng, vốn đã tự đầy
đủ.
Pháp
tử thẹn tài hèn, đức mỏng đã không thể diễn bày đến
được
chỗ
tận cùng vốn tự đầy đủ kia.
Muôn
thân con trong bầu pháp giới đồng hư không quy mạng đảnh
lễ mười phương chư Phật, chư Hiền Thánh, nhất tâm sám
hối.
Nam
Mô Pháp Hoa Hội Thượng Phật Bồ Tát.
Từ
Hoa
AUDIO
MP3
Thi
ngâm: Vân Khanh,
Bảo Cường, Bích Ngọc,
Phan
Xuân Thy, Ngô Đình Long, Thu Thuỷ
Nhạc
cụ: Thanh
Bình, Kim Long, Thuý Hạnh, Việt Hùng.
Đính
Chính
1.
Phẩm Tựa
1.
Phẩm Tựa
Thành
Vương Xá đất vui mừng chấn động
Trời
mưa hoa sen báu trải non xanh
Tướng
bạch hào suốt sáu nẻo vô minh
Chư
Bồ tát, thiên, nhân quỳ dưới bệ.
Nhập
tam muội trang nghiêm Vô Lượng Nghĩa
Diệu
pháp âm vang động đến muôn loài
Thấy
hằng muôn chư Phật cõi trời, người
Hiện
thân tướng đắp y vàng chuyển pháp
Lại
thị hiện Niết Bàn, xây bảo tháp
Như
ngàn xưa và mãi đến ngàn sau
Nước
một dòng xuôi chảy chẳng về đâu
Nhất
pháp giới - diệu tâm bình đẳng trí
Chỉ
một Tâm, cách chia vô tận ý
Vạn
trùng ba, động tịnh thánh khác phàm
Thể
chung đồng, lưu chuyển một dòng tâm
Thoắt
nhìn lại, dưới chân là đất Phật.
Lòng
chiêm ngưỡng Thế Tôn, ngài Di Lặc
Cũng
như lòng đại chúng khởi sinh nghi
Lại
nghĩ rằng: quá khứ đã từng khi
Pháp
Vương Tử cúng dường vô số Phật
Liền
nói kệ: Ðại-Văn-Thù-Sư-Lợi
Xin
lời ngài hóa giải mối nghi nan
Gió
đưa hương, cây ướp nụ chiên đàn
Hoa
trổ ngọc, thơm vàng từng sớ đất
Hào
quang hiện như hằng muôn ức Phật
Muôn
chúng sinh từ cõi nước A Tỳ
Trên
cõi trời hữu đảnh đến và đi
Sống
và chết cùng nghiệp duyên lành dữ
Ðấng
Thánh Chúa - tiếng trầm hùng sư tử
Diễn
pháp âm tuyên nói nghĩa nhân duyên
Dùng
hằng muôn phương tiện dạy nhân, thiên
Chư
thánh chúng, Thanh Văn và Duyên Giác
Tôi
lại thấy như hằng sa Bồ Tát
Cầu
Phật thừa bố thí cả châu thân
Quên
vợ con, ngôi báu, ngọc nghìn cân
Bỏ
râu tóc, mặc pháp y cầu đạo
Thấy
Bồ Tát một mình vui lan nhã
Hoặc
núi sâu, rừng vắng thọ trì kinh
Hoặc
thấy người ly dục bỏ trọng khinh
Vào
thiền định đắc ngũ thông như ý
Tôi
lại thấy lại nghe muôn pháp vị
Dòng
kinh thơ xưng tụng đấng Pháp Vương
Tay
sen hồng nở búp lạy mười phương
Trí
nhật nguyệt, lòng Từ như biển rộng
Vui
nói pháp, lời kinh vang điệu trống
Lực
đại hùng phá dẹp lũ ma quân
Hoặc
tọa thiền, cung kính những Trời, Rồng
Vào
địa ngục phóng hào quang đưa lối
Tôi
lại thấy người uy nghi tịnh giới
Ðang
kinh hành chậm rải, lá hoa tươi
Lòng
thênh thang trên mỗi bước chân vui
Trí
nhẫn nhục hằng cầu vô thượng đạo
Thấy
người trí như muôn vàn trân bảo
Luôn
cúng dường, gần gủi, nhiếp tâm tu
Lòng
xa lìa vướng bận oán ân sâu
Từ
muôn ức nghìn năm không loạn động
Tôi
lại thấy người cúng dường y phục
Hoặc
giường nằm, nhà báu gỗ chiên đàn
Cây
bốn mùa kết trái cúng dường Tăng
Suối
thơm mát, ao hồ xanh nước tịnh
Như
tiếng chạm của muôn vàn ngọc bích
Như
âm vang cùng tiếng gió đưa theo
Trên
lá kinh vi diệu, bậc tỳ khiêu
Ðang
thuyết giảng mở khai lòng sanh chúng
Tôi
lại thấy người chứng như-thật-tướng
Pháp-không-hai,
nghìn thế giới cũng đồng
Trí
vô biên, muôn pháp một trời Không
Xa
mê đắm, cầu pháp vô thượng ý
Dựng
tháp báu, màn châu buông lụa quý
Trời
dâng hoa, người tấu nhạc cúng dường
Kết
tinh anh xá lợi, dấu Từ Tôn
Như
đóa ngọc trên mâm vàng cung kính
Thấy
cõi nước như hoa trời mở cánh
Xanh
mầm cây, Phật lực phóng hào quang
Ngài
Văn Thù! Xin giải mối nghi nan
Pháp
vi diệu hay là lời thọ ký?
Ngài
Văn Thù: Như chỗ ta xét nghĩ
Ðã
từng phen chư Phật phóng hào quang
Ðã
từng phen như mưa pháp đưa sang
Như
vô lượng A tăng kỳ thiện kiếp
Như
mưa pháp đến đi mà chẳng mất
Như
trống trời vang cõi nước vô thinh
Phật
hiệu là Ðức Nhật Nguyệt Ðăng Minh
Thuyết
chánh pháp y sở cầu tùy thuận
Nói
tứ đế vì Thanh Văn thánh chúng
Nói
nhân duyên vì Duyên Giác Bích Chi
Bồ
Tát thừa, nói lục độ diệu vi
Một
pháp giới, một phổ-quang-như-trí
Và
như vậy, đến hai muôn đức Phật
Cũng
đồng tên là Nhật Nguyệt Ðăng Minh
Ðầy
đủ mười Phật hiệu, tướng tịnh thanh
Pháp
chư Phật trước sau đồng một vị.
Tám
vương tử thông minh và tài trí
Uy
đức cao, cùng thống lĩnh bốn châu
Nghe
vua cha thực chứng pháp thâm sâu
Bỏ
ngôi báu, vui xuất gia cầu đạo
Giữ
phạm hạnh làm pháp sư thuyết giáo
Tự
nghìn xưa từng gìn giữ căn lành
Chuyển
mê tình, thân, ý, bỏ đua tranh
Ví
đất mới ươm trồng hoa trái Phật
Ðức
Thế Tôn nói kinh Vô Lượng Nghĩa
Liền
nhập vào chánh định tĩnh thân tâm
Ðất
reo vui, sen báu ngát hư không
Các
đại chúng chắp tay hồng chiêm ngưỡng
Tướng
bạch hào phóng quang nghìn cõi nước
Khắp
mười phương tánh, tướng cũng chung đồng
Cõi
trời người thể, dụng nghĩa viên dung.
Trong
pháp hội có Diệu Quang Bồ Tát
Căn
bản trí, rạng ngời như ánh sáng
Phật
vì ngài thuyết Diệu Pháp Liên Hoa
Suốt
sáu mươi tiểu kiếp một bửu tòa
Tri
kiến Phật, không và thời dung nhiếp.
Ngài
Ðức Tạng đủ đầy muôn sai biệt
Ðức
vẹn toàn lợi lạc khắp nhân quần
Sẽ
tựu thành Phật quả hiệu Tịnh Thân
Phật
thọ ký, và nửa đêm nhập diệt.
Diệu
Pháp Hoa thọ trì hằng tiểu kiếp
Ngài
Diệu Quang giáo hóa tám người con
Vị
sau cùng là Phật hiệu Nhiên Ðăng
Thắp
đuốc pháp chuyển Thức sang Thánh Trí
Cũng
như vậy, tám trăm người đệ tử
Có
một người pháp hiệu gọi Cầu Danh
Bởi
tham mê danh lợi, chẳng trì kinh
Thường
như Ý, duỗi rong lòng gió bụi.
Ngài
Di Lặc! xưa Diệu Quang Bồ Tát
Chẳng
người nào xa lạ, chính là Ta
Người
cầu danh, chìm đắm giữa trần sa
Qua
nhiều kiếp chuyển tâm là ngài vậy!
Ta
quán xét việc xưa, lòng hoan hỹ
Ðức
Thế Tôn lại sẽ thuyết diệu kinh !
*
2.
Phẩm Phương Tiện
2.
Phẩm Phương tiện
Xá
Lợi Phất! Từ Ta thành Phật đến nay
Dùng
phương tiện chỉ bày tri kiến Phật
Ðức
thiền định, giải thoát vô ngại lực
Trí
cao siêu vi diệu khó nghĩ bàn
Bậc
nhị thừa, Duyên Giác hoặc Thanh Văn
Chỗ
chứng ngộ đều không đồng chư Phật
Một
pháp giới- tánh tướng đồng Như Thật
Tâm
nhất như nên cảnh cũng không hai
Nhân
và duyên, thể, tác, dụng không ngoài
Một
thật tướng- trước sau là Như Vậy.
Các
trời, người, chúng sinh hằng thế giới
Không
một ai lường được trí Như Lai
Không
ngôn từ, tướng mạo để chỉ bày
Chỉ
tâm Phật mới tỏ tường trí Phật
Các
Bồ Tát với lòng tin sâu chắc
Hoặc
môn đồ kiết sử đã trọn xong
Thọ
một thân sau cuối cõi trần hồng
Cũng
không thể đủ sức am hiểu Phật
Người
thế gian tất cả đồng chung sức
Như
hằng muôn Xá Lợi Phất luận suy
Hoặc
đến như mười cõi nước phương nầy
Cũng
chẳng thể suy lường ra trí thánh
Bậc
Duyên Giác, số đông như rừng hạnh
Sơ
phát tâm Bồ Tát số hằng muôn
Như
lúa mè, lau sậy khắp mười phương
Cũng
chẳng thể suy lường ra trí Phật
Trụ
bát địa bất thối tâm Bồ Tát
Ðông
đầy như số lượng cát sông Hằng
Cùng
chung đồng luận giải hoặc biện phân
Cũng
chẳng thể hiểu tận tường Phật trí
Xá
Lợi Phất! Pháp nhất thừa khó nghĩ
Phật
mười phương phương tiện nói thành ba
Phá
chấp mê, biển ái khéo đưa qua
Khiến
thoát khổ, gọi Niết Bàn chứng đắc.
Trong
chúng hội chư Thanh Văn, Duyên Giác
Chư
tăng nhân, cư sĩ khởi lòng nghi
Phương
tiện kia, lời Phật khó luận suy
Niết
Bàn được chẳng phải là chẳng được?
Ðấng
Ðại Thánh! Trí ngài như mặt nhật
Gì
là nhân, là phương tiện, là duyên
Tự
khai bày thực chứng pháp vô biên
Con
từ trước chưa từng nghe hoặc thấy.
Tuệ
đệ nhất, con được lời Phật dạy
Con
cũng từ nơi kim khẩu Phật sinh
Nay
lòng nghi, không tin cậy trí mình
Khắp
đại chúng đồng chắp tay cung kính
Chuyển
Luân Vương dưới chân ngài cung thỉnh
Bậc
trời, người, chư Bồ Tát, Thanh Văn
Chư
tỳ khiêu, cư sĩ, quỷ và thần
Cùng
yên lặng một lòng nhìn Thánh Chúa.
Xá
Lợi Phất! Thôi chẳng nên nói nữa
Khắp
trời người, tất cả sẽ kinh nghi
Pháp
mười phương chư Phật bất tư nghì
Kẻ
chẳng nhận sẽ sa vào lỗi lớn!
Bạch
Thế Tôn, con là trưởng tử Phật
Người
như con số lượng đến hằng muôn
Ðời
đời theo tham học đấng Từ Tôn
Cầu
lợi ích được nghe vi diệu pháp.
Ba
lần thỉnh, Ta vì ông giải đáp
Khéo
lắng nghe, suy nghĩ nghĩa cao siêu.
Trong
đạo tràng, năm ngàn vị tỳ khiêu
Cùng
cư sĩ, từ chỗ ngồi đứng dậy
Ðãnh
lễ Phật lui về không trở lại
Ðức
Thế Tôn yên lặng chẳng cản ngăn.
Phật
dạy rằng: Còn lại những hạt mầm
Hãy
nghe kỹ, Ta vì người giảng nói
Pháp
khó gặp ví như hoa linh thoại
Ðúng
thời cơ mới trổ nụ, đơm bông
Bao
ngàn năm xuất hiện chỉ một lần
Lời
chư Phật nói ra không hư dối.
Chư
Phật hiện nơi đời, khai pháp hội
Giáo
hóa hàng Bồ Tát - chỉ Phật tâm
Thấy
thậm thâm Phật Trí giữa trầm luân
Nhập
tri kiến, vượt qua bờ sinh tử.
Thuở
quá khứ, nhất thừa phân bỉ, thử
Cũng
là dùng phương tiện dạy nhân, thiên
Cũng
là nương thí dụ, dựa nhân duyên
Ðưa
thế trí chứng nhập vào Phật trí.
Phật
hiện tại, vị lai đồng một vị
Người
chuyên tu Duyên Giác hoặc Thanh Văn
Trí
nhị thừa chứng được tự an tâm
Không
quyết chí cầu trí Vô Thượng Giác
Kẻ
như vậy thuộc hàng tăng thượng mạn
Bởi
vì sao? Nếu thực chứng thâm sâu
Ví
như người La Hán thọ thân sau
Không
tin nhận lời Ta, không lẽ ấy.
Xá
Lợi Phất! Các ông suy gẫm kỹ
Cõi
mười phương thế giới ví hằng sa
Hai
thừa còn không có, huống chi ba!
Chín
tạng pháp vì chúng sinh tạm nói.
Giả
danh tự, dần đưa người lạc lối
Trụ
Phật thừa, định, huệ, lực trang nghiêm
Ðộ
chúng sinh thật-tướng-ấn làm nền
Chứng
vô thượng, pháp đại thừa bình đẳng.
Như
tiểu trí ví vẫn còn hữu hạn
Ðộ
một người Ta cũng đọa tham sân
Kẻ
chân tu trì giới giữ tịnh tâm
Nghe
pháp Phật dù chỉ trong bài kệ
Ðều
thành Phật không nghi như nguyện thệ
Như
Ta xưa đã nguyện độ muôn loài
Kẻ
trí hèn không nhận chỗ lầm sai
Ta
biết rõ chưa từng tu cội phúc
Là
những kẻ còn đắm mê ngũ dục
Si
cuồng trong sáu nẻo chịu lầm than
Sa
vào ba đường dữ phải trôi lăn
Người
đức mõng vui trong rừng tà kiến
Hoặc
chấp có, chấp không, mê giả huyễn
Pháp
vọng hư giữ chặt chẳng xa lìa
Tâm
cống cao, ngã mạn nối đường mê
Nghìn
ức kiếp chẳng từng nghe danh Phật
Nghìn
ức kiếp chẳng từng nghe chánh pháp
Niết
Bàn kia chưa phải thực Niết Bàn
Ta
vì người phương tiện nói xa gần
Tánh
các pháp từ bản lai, rỗng lặng!
Người
hành đạo đời sau thành quả Phật
Chỉ
một thừa - phương tiện nói thành ba
Như
ngàn xưa, vô lượng kiếp đã qua
Bậc
đại thánh biết thế gian mê đắm
Dùng
phương tiện nương lòng người dẫn pháp
Nghĩa
nhất thừa, độ vô lượng quần sinh
Ví
như người tu phước tuệ đồng hành
Ðều
cũng đã trọn tựu thành Phật đạo
Muôn
châu ngọc, xa cừ và mã não
Ngọc
mai khôi nghiêm sức tháp lưu ly
Hoặc
đến như gạch ngói, đất bùn lầy
Hoặc
đồng tử chơi đùa xây tháp cát
Cùng
như kẻ tạc hình dùng bảy báu
Hoặc
đồng, thau, chì, kẽm trộn bùn đen
Dựng
tượng hình, chạm trổ nét trang nghiêm
Tự
làm lấy hoặc bảo người làm lấy
Như
đồng tử trên đồng hoang chạy nhảy
Lấy
cỏ cây làm bút vẽ dung quang
Hoặc
như người dâng phướn lọng, tràng phan
Tấu
pháp nhạc với một lòng cung kính
Ví
như kẻ si mê tâm tán loạn
Cúng
dường nơi tượng vẽ một cành hoa
Hoặc
nghiêng đầu làm dấu lễ từ xa
Cũng
thấy được hằng muôn nghìn đức Phật
Cũng
thành tựu Như Lai Vô Thượng Giác
Ðộ
chúng sinh vô số nhập Niết Bàn
Như
lửa kia cháy hết củi tro tàn
Nam
Mô Phật tiếng vang từ tháp miếu
Phật
quá, hiện, vị lai đồng âm điệu
Một
Phật thừa, tức thành Phật, không hai
Pháp
duyên sinh, phương tiện giả lập bày
Thể
tánh Phật, ba thừa qui về một.
Như
núi lớn làm quách thành rường cột
Cá
hóa rồng nơi mỗi bước chân đi
Pháp
Như Lai rỗng lặng vượt thị phi
Có
hình tướng tất đồng như giả tướng.
Kẻ
mê chấp nghèo cùng luôn tham đắm
Vạn
ngã đường trôi dạt quẩn rồi quanh
Khổ
nối theo với khổ, sắc cùng danh
Như
trâu mến chiếc đuôi mang bùn đất
Không
lìa được vũng sình lầy ngũ dục
Ðắm
mê trong bể ái tưởng là vui
Như
kẻ mù không thấy được mặt trời
Không
phước tuệ, thọ sinh rồi thọ tử.
Trời
Ðế Thích, Phạm Vương và thiên sứ
Cùng
hàng hàng quyến thuộc Tứ Thiên Vương
Các
cõi trời Tự Tại đến nghìn muôn
Ðồng
cung kính chắp tay cầu chuyển pháp
Ta
tự biết pháp nhất thừa khó gặp
Lại
nhớ mười phương Phật tự nghìn xưa
Ðã
tùy nghi phương tiện nói ba thừa
‘Nam
Mô Phật’, tiếng nhiệm mầu tĩnh lặng
Chư
Phật hiện khắp mười phương tán thán
Biết
hiện đời trược ác phải tùy duyên
Liền
đến thành Ba Nại gặp tỳ khiêu
Dùng
trí lực lần đầu tiên chuyển pháp.
Nay
thời tiết nhân duyên đà hòa hợp
Khai
tam thừa để hiển lý nhất thừa
Người
chậm căn, nhỏ trí, kẻ mạn nghi
Khó
tin nhận Phật thừa vi diệu pháp.
Ðạo
vô thượng Ta dạy hàng Bồ Tát
Hàng
Thanh Văn sẽ thành Phật không nghi.
Ưu
Bát La trổ nụ đúng hạn kỳ
Vô
lượng kiếp khó một lần được gặp.
Vui
nghe pháp tức cúng dường chư Phật
Ngỏ
lời khen càng lại khó lắm thay!
Kẻ
trí kia ít thấy hiện cõi nầy
Hoa
khó nở, người lại càng khó gặp.
Ðạo
nhất thừa, Ta là vua các pháp
Ðã
nói lời chân thật, chớ hồ nghi.
Phải
biết rằng vi diệu pháp môn nầy
Là
bí yếu của ba đời chư Phật.
*
3.
Phẩm Thí Dụ
3.
Phẩm Thí dụ
Lúc
bấy giờ tôn sư Xá Lợi Phất
Chắp
hai tay chiêm ngưỡng đấng Từ Tôn
Lại
bạch rằng: Khi tĩnh tọa ven rừng
Hoặc
dốc suối lúc kinh hành tự vấn
Ðồng
pháp tính, chúng sinh tâm rỗng lặng
Duyên
cớ gì Phật độ pháp Tiểu Thừa
Con
từng theo thọ pháp thuở lâu xưa
Ðã
chẳng được sánh cùng hàng Bồ Tát
Không
tự biết Phật cơ nghi nói pháp
Tự
trách mình dùng tiểu trí tiếp thông
Thân
Như Lai sáng đẹp sắc vàng ròng
Pháp
giải thoát, bất cộng và lực trí
Nhớ
xưa kia con làm thầy Phạm Chí
Phật
vì con diễn nói pháp Niết Bàn
Dứt
lòng mê thấy được pháp tức Không
Chấp
chỗ thấy- tự cho là chứng đắc
Nay
mới rõ Niết Bàn kia không thật
Giải
thoát môn chỉ một pháp - không hai
Lại
nghe rằng sẽ thành Phật vị lai
Nghe
tiếng Phật, ngỡ là ma giả nói
Tâm
an dịnh nghe Thế Tôn thuyết giải
Dùng
bao nhiêu thí dụ nghĩa phơi bày
Tiếng
Như Lai như lòng biển sớm mai
Như
vô lượng Thế Tôn dùng phương tiện
Vì
trí cạn chúng sinh mà quyền biến
Dẫn
dụ từ hữu thể đến hư vô
Một
nhất-chân-pháp-giới, một Phật Thừa
Con
nghe Phật, lưới nghi liền dứt bặt
Lời
của Phật, thiên ma không nói được
Lẽ
sâu xa, pháp vi diệu nhiệm mầu
Biết
tự mình sẽ thành Phật mai sau
Bánh
xe pháp nát nghiền bao thống khổ
Cõi
trời người pháp luân vô lượng độ.
Phật
dạy rằng: Nơi hai muôn ức Phật
Ta
xưa dùng phương tiện dắt dìu ông
Từng
theo Ta thọ pháp, nguyện vô cùng
Ðã
quên mất, tự nói là diệt độ
Nay
Ta muốn nhắc cho ông nghĩ nhớ
Ðạo
hạnh xưa và chí nguyện hóa hoằng
Cùng
như hàng Duyên Giác với Thanh Văn
Nên
thuyết giảng kinh Liên Hoa Diệu Pháp
Xá
Lợi Tử! Mai sau ông thành Phật
Trải
hằng muôn nghìn ức kiếp phụng trì
Hạnh
Bồ Ðề vô lượng kiếp đến đi
Cõi
nước Phật có tên là Ly Cấu
Ngọc
lưu ly trải đường, cây bảy báu
Lưới
dây vàng nghiêm sức đất vô ưu
Tám
con đường giải thoát trí gồm thu
Tâm
chuyển động đại hòa cùng vạn hữu
Số
Bồ Tát hằng sa làm đại bửu
Nên
kiếp tên là Ðại-Bửu-Trang-Nghiêm
Mỗi
lần đi hoa đỡ bước chân êm
Sức
thần biến đủ đầy muôn pháp hạnh
Hoa-Quang
Phật thọ mười hai tiểu kiếp
Và
nhân dân tám tiểu kiếp không ngoài
Phật
về sau thọ ký bậc tỳ khiêu
Ngài
Kiên-Mãn, Phật hiệu là Hoa-Túc
Pháp
trụ đời ba mươi hai tiểu kiếp
Lưỡng
Túc Tôn tối thượng khó ai bằng
Phật
là ông, nên phải tự vui mừng.
Lúc
bấy giờ cõi trời người tán thán
Lụa
trời bay, nhạc trổi điệu an vui
Hoa
cõi trời, sen báu lại đơm tươi
Liền
nói kệ: Xưa thành Ba La Nại
Chuyển
pháp luân lần đầu tiên diễn giải
Lần
nầy đây Phật chuyển đại pháp luân
Pháp
thâm sâu ít kẻ được tận cùng
Vô
thượng pháp nghe từ kim khẩu Phật.
Bậc
đại trí như ngài Xá Lợi Phất
Sẽ
tựu thành chánh pháp tạng Như Lai
Tất
chúng tôi tùy hỷ sẽ như ngài
Hướng
công đức được nghe và thấy Phật
Về
vô thượng chánh đẳng và chánh giác.
Áo
bày vai, gối hữu quỳ sát đất
Bậc
tôn sư Xá Lợi Phất bạch rằng:
Tự
thân con nay chẳng chút nghi lầm
Phật
chuyển pháp lìa sinh, già, bệnh, chết
Rời
chấp ngã, có, không, sinh và diệt
Chư
thánh tăng nghe pháp chửa từng nghe
Ắt
lòng nghi quả vị chứng được kia
Sánh
diệu pháp hôm nay dường có khác?
Phật
dạy rằng: Ta trước đâu chẳng nói
Các
Như Lai dùng thiện xảo quyền thừa
Pháp
nói ra dạy Bồ Tát đó ư?
Vô
lượng pháp triển khai đồng một vị.
Xá
Lợi Tử!
Ví
người cha có vàng ròng, ngọc quý
Nhiều
ruộng vườn, tôi tớ kẻ vào ra
Ðám
trẻ thơ chơi giỡn ở trong nhà
Nhà
tuy rộng nhưng cột rường xiêu đổ
Nền
móng đã từ lâu xưa nát rã
Vách
phên đều xấu xí đất bùn rơi
Tranh
lợp nhà tán loạn rách tả tơi
Chim
lót tổ, thứu, điêu nằm ngang dọc
Thêm
rắn rết, loài ngoan xà nọc độc
Phẩn,
giải, đàm bất tịnh chảy tràn lan
Ruồi
nhặng bu, cáo, sói với dã can
Cắn
nhai nuốt thây người hay đồng loại
Máu
loang đỏ, thịt xương tha bừa bãi
Chó
ốm nằm sợ mất giựt giành ăn
Tiếng
khóc than, gào thét chẳng khi dừng
Loài
quỉ mị, dạ xoa nhai nuốt trẻ
Khi
no dạ lòng lại thêm hung dữ
Cấu
xé nhau hoặc khủng bố làm vui
Ðạp
trên đầu trên cổ vật và người
Thân
quỉ dữ trần truồng da đen đúa
Hoặc
có quỉ hình đầu trâu, mặt ngựa
Tóc
rối tung, đói khát, cổ bằng kim
Các
chim muông, ác thú cũng rình tìm
Uống
máu đỏ, ăn thịt hồng đồng loại
Như
bãi chiến cốt được, thua, phải, trái
Mải
tranh giành cho máu đổ, thịt rơi
Tiếng
rên than chết lịm, tiếng reo cười
Nước
mắt nhỏ chảy xuôi vào bốn biển
Chốn
điêu tàn sinh ra rồi lại chết
Chết
rồi sinh tiếp nối mãi không thôi
Bóng
đêm che, mây phủ kín mặt trời
Cảnh
đổ nát bốc mịt mù ám khí
Ðại
trưởng giả đứng nhìn rồi bổng thấy
Bốn
hướng nhà cùng một ngọn lửa cao
Nhà
rộng kia chỉ một cửa ra vào
Các
giống dữ chạy tìm nơi ẩn núp
Rường
cột gẫy, tiếng kêu la hoảng hốt
Lòng
hải kinh không biết chỗ thoát thân
Phước
đức kia quá mỏng lấy chi cân
Cảnh
hỗn độn lòng lại thêm hỗn độn
Lại
tranh đoạt, lại giựt giành ăn nuốt
Khói
tanh bay mù mịt một vùng trời
Trưởng
lão nhìn dường địa ngục. Than ôi!
Ðàn
trẻ dại mải mê không sợ sệt
Chân
lỡ bước dạo chơi vào cõi chết
Lòng
đắm mê nào biết khổ là bao
Tâm
xót thương liền gọi: Hãy ra mau!
Các
con dại nhìn cha rồi chạy giỡn.
Lúc
bấy giờ người cha liền nghĩ tưởng
Riêng
thân ta có thể thoát ra ngoài
Nhưng
các con thơ dại mải đùa vui
Nay
ta phải đặt bày ra phương tiện
Cứu
con trẻ đắm vùi trong lửa biển.
Lại
biết con trân quí các đồ chơi
Liền
gọi rằng: Con trẻ hãy nghe lời
Cha
có đủ các xe tùy ý thích
Xe
trâu trắng, dê vàng, hươu kéo ách
Cha
vì con mà sắm các xe nầy
Ðủ
sắc màu, hình dạng đẹp lạ thay
Hãy
ra lấy kẻo về sau ân hận.
Bầy
trẻ dại nghe tiếng cha từ mẫn
Liền
mau chân chen lấn chạy ra ngoài
Nhìn
các con lòng trưởng giả mừng vui
Tâm
an ổn đến ngồi tòa sư tử.
Trẻ
liền thưa: Như lời cha hứa giữ
Xin
ban cho đủ các loại xe kia.
Xá
Lợi Tử !
Trưởng
giả giầu vô lượng, tiếc gì xe
Nào
gấm vóc, lụa là thêm trân bảo
Ngọc
xa cừ, lưu ly và mã não
Bạch
ngưu xa giăng lưới kết chân châu
Hoa
nở hồng cánh phượng ngọc tiên lầu
Lụa
trải bước chân hiền vui núi hạc.
Ðược
của báu lòng trẻ thơ an lạc
Tay
cầm cương dong ruỗi bốn phương trời
Cuối
đường mây trăng nở một vầng tươi
Ðầu
non biếc bóng dương hồng dấu ngọc
Vàng
phiến lá mầm cây xanh mạch sống
Tím
hoàng hôn chim ngủ đợi mặt trời
Vẫn
nghìn năm suối chảy một dòng xuôi
Tờ
nước biếc vẽ hình trang vân cẩu.
Xá
Lợi Tử!
Người
trưởng lão có phải đà hư vọng
Cho
các con đồng một cỗ xe kia?’
Bạch
Thế Tôn, không!
Ví
như dùng phương tiện chỉ đường về
Người
trưởng lão quyết là không hư dối.
Phật
dạy rằng: Ðúng như lời ông nói
Phật
là cha của tất cả thế gian
Ðại
thần thông, trí lực khó nghĩ bàn
Vì
bi nguyện ứng thân vào tam giới
Nơi
cõi dục ngu si và tăm tối
Lòng
tham mê, đeo đuổi với tìm cầu
Thọ
thân người cùng khổ có gì vui
Mải
mê đắm lòng không hề kinh sợ
Trí
hèn kém biết đâu là bể khổ
Nếu
Như Lai dùng trí tuệ, thần thông
Tán
dương và khen ngợi pháp thậm thâm
Mười
trí lực cùng bốn vô sở úy
Tâm
chúng sinh biết đâu là Phật trí
Bởi
trong vòng bức não của thế gian
Ta
như người có sức mạnh vạn năng
Chẳng
dùng được, phải dùng lời khuyến dỗ.
Cánh
rừng hiểm chim khôn không làm tổ
Bến
sông mê người trí chẳng dừng chân
Cõi
thế gian mù mịt thiếu tuệ tâm
Pháp
vi diệu không thể liền lãnh hội.
Phật
phương tiện khiến chán lìa ba cõi
Hạnh
chuyên cần được đầy đủ tam minh
Ðắc
lục thông vô ngại một lòng tin
Dùng
căn, lực, giác chi vào thánh đạo
Ðược
thuyền định, giải thoát môn vô lậu.
Xá
Lợi Tử!
Pháp
chư Phật, trước và sau không khác
Ta
vì người bảo nhiệm chẳng vọng hư.
Các
ông từ nhiều số kiếp có dư
Chìm
biển lửa hết sinh rồi lại tử
Làm
người khách phong trần quên bản xứ
Ðến
rồi đi ai đếm được dấu hài
Ta
vì người chuyển pháp độ trần ai
Vượt
ba cõi, đoạn tuyệt đường sinh tử
Gọi
diệt độ mà chẳng là tịch diệt
Ta
vì người mê đắm sắc, danh thô
Nhắc
cùng người biển khổ chớ nằm mơ
Nguồn
cội khổ đến từ lòng tham dục
Dứt
vọng dục tức chặt cành, đốn gốc
Khổ
từ đâu mà có chỗ dựa nương
Ðạo
tu hành không vọng tưởng, vấn vương
Gọi
giải thoát mà chẳng là tịch diệt
Vượt
tam giới, Thanh Văn thừa chứng đắc
Ngồi
xe dê là kẻ quyết tâm tu
Tịnh
sắc thân, giới hạnh sáng làu làu
Niết
Bàn mở chẳng lìa nơi định, huệ.
Hoặc
như kẻ mến ưa A lan nhã
Bầu
tiêu dao trăng sớm với sao khuya
Vẽ
đường mây tan hợp bởi nhân duyên
Cầu
trí-tuệ-tự-nhiên, tâm vắng lặng
Quả
chứng được gọi đó là Duyên Giác
Ví
như người cầu được chiếc xe hươu.
Người
đại bi cầu trí tuệ Như Lai
Tâm
quảng đại bày khai vô thượng giác
Vì
chúng sinh cõi trời, người độ thoát
Sắc
và Tâm nào có chỗ đến, đi!
Một
bầu Không- tất cả thế gian nầy
Là
Bồ Tát Ðại Thừa Ma-ha-tát.
Xá
Lợi Tử!
Pháp
chư Phật cũng đồng là một tướng
Một
Phật thừa - một Phật trí vô biên
Pháp
tạng kia, các đấng Thánh ngợi khen
Là
chánh pháp chư Phật thường hộ niệm
Pháp
diệt độ đưa người vào tri kiến
Nhập
Phật thừa vào đại trí Như Lai
Ðấng
Pháp vương tự tại hóa thân nầy
Vì
an ổn chúng sinh mà ứng hiện.
Người
tùy hỷ kính tin không thối chuyển
Thời
đã từng vô lượng kiếp cúng dường
Thời
đã nghe, đã gặp đấng Từ Tôn
Trong
quá khứ một lòng cầu thượng đạo
Ta
vì kẻ trí sâu mà thuyết giáo
Nói
đại thừa kinh Diệu Pháp Liên Hoa
Ví
như người tiểu trí chẳng nhìn ra
Hàng
Duyên Giác, Thanh Văn không hiểu được
Sức
mẫn tuệ, như ông, Xá Lợi Phất!
Nương
tín tâm mà thấy pháp Như Lai
Bậc
nhị thừa tin kính Phật thuận lời.
Xá
Lợi Tử!
Với
kẻ lòng kiêu mạn lẩn biếng lười
Trí
ảo vọng, thân so đo chấp ngã
Hoặc
mê đắm buộc ràng trong ngũ dục
Chớ
vì ai mà diễn nói kinh nầy
Nếu
đem lòng khinh hủy với chê bai
Tất
đoạn tuyệt cả cội mầm Phật chủng
Kẻ
thấy người chép biên hay trì tụng
Lại
sinh lòng khinh tiện hoặc ghét ghen
Tội
báo kia ông hãy khéo lắng nghe
Khi
mãn kiếp sa vào A tỳ ngục
Vô
số kiếp lại ra vào lục súc
Ðọa
làm thân chó ốm hoặc dã can
Bệnh
tật thêm đói khổ sống lang thang
Người
ghét bỏ gớm ghê cho đến chết
Vì
tội báo hoặc sinh làm lừa, ngựa
Hoặc
lạc đà thân mang kéo nặng nề
Dưới
lằn roi dù cực nhọc đi, về
Thân
đói khát, nhớ gì hơn cỏ, nước
Vì
tội báo hoặc đọa làm thân rắn
Thân
thể dài trườn bụng để bò thôi
Bị
các loài trùng nhỏ rúc máu tươi
Ðau
đớn cả ngày đêm không ngừng nghỉ
Vì
tội báo sinh làm người thiếu trí
Sáu
căn đều ám độn lại lưng gù
Chân
lệch què, đui điếc, miệng tanh hôi
Bị
quỷ mị dựa vào thêm tật bệnh
Không
thuốc chữa, không một ai lưu ý
Biết
điều gì, chốc lát lại quên ngay
Tội
báo kia, hết họa gởi, tai bay
Phật
trụ thế cũng không hề được thấy.
Tai
thì điếc lại thêm tâm tà vạy
Thường
sinh ra chỗ biên địa, nạn tai
Trải
qua nghìn số kiếp sống lưu đày
Cõi
địa ngục đến thường như nhà ở
Hay
hờn giận vì ngã kia chấp chặt
Thân
hôi dơ, ghẻ lác lại tật nguyền
Tình
hẫy hừng dâm dục chẳng chừa kiêng
Những
tội báo kể bao giờ hết được.
Xá
Lợi Tử!
Vì
lẽ đó, đối với người vô trí
Chẳng
bao giờ nên diễn nói kinh nầy
Bởi
nhân kia quả đó rõ ràng thay.
Chỉ
nói pháp với những người trí tuệ
Lòng
cầu đạo, đức lành như sông bể
Ðại
từ tâm nào biết tiếc chi thân
Vui
núi rừng xa lánh đám phàm nhân
Lòng
một đạo, trí bao la khiêm hạ.
Giữa
chợ đời biết vàng, thau, ngọc, đá
Một
tri âm là kinh pháp đại thừa.
Xá
Lợi Tử!
Trong
đại chúng lại có hàng Phật tử
Hoặc
tỳ khiêu vì trí tuệ khẩn cầu
Chắp
tay hằng cung thỉnh pháp thâm sâu
Chẳng
đại pháp, một lời không tụng đọc.
Kinh
đại thừa khác chi xá lợi Phật
Người
cầu kinh tức cầu Phật không xa
Nên
vì người nói Diệu Pháp Liên Hoa.
*
4.
Phẩm Tín Giải
4.
Phẩm Tín giải
Lúc
bấy giờ chúng hội lòng hoan hỷ
Hàng
Thanh Văn hớn hở chắp tay sen
Ngài
Tu Bồ Ðề, Ca Diếp, Mục Kiền Liên
Ðồng
đứng dậy, gối quỳ, đầu chấm đất
Lòng
cung kính ngước nhìn chiêm ngưỡng Phật
Lại
bạch rằng: Từ thuở nhiếp tâm tu
Tuổi
già nua mỏi mệt chỉ mong cầu
Tam
giải thoát, Niết Bàn là tự độ
Pháp
du hí thần thông nghìn cõi nước
Phật
dạy hàng Bồ Tát, chẳng để tâm
Phật
hôm nay thọ ký bậc Thanh Văn
Sẽ
thành tựu đỉnh cao vô thượng giác
Như
châu báu không tìm mà lại được
Như
pháp lành chẳng thấy, tự bày khai.
Ví
như người cùng tử sống lạc loài
Từ
thuở bỏ quê cha, mòn chân dạo
Thân
khốn khổ chỉ tìm cầu cơm áo
Bổng
một ngày trở bước lại quê xưa
Mây
muôn phương tan hợp tự bao giờ
Nước
sông cũ nghìn năm trôi chảy mải
Thương
con dại lòng cha hằng mong đợi
Tìm
khắp nơi chẳng thấy được con thơ
Nào
bạc vàng, châu ngọc chất đầy kho
Nào
gấm dệt, lụa thêu ai thừa hưởng
Khách
qua lại người đến từ muôn hướng
Dấu
ngựa xe, tôi tớ kẻ ra vào
Ðường
biệt ly đâu chắn lối, ngăn rào
Mắt
dõi bóng nhạn thưa về tổ cũ.
Một
ngày nọ quá bước dừng bên cửa
Thấy
cha ngồi giường báu, ghế đỡ chân
Chuỗi
ngọc châu giá nghìn vạn nghiêm thân
Màn
lụa quý, lọng phan tàn gấm rủ
Hoa
trải lối, nước thơm dùng rưới đất
Bà
La Môn, Sát Ðế Lợi bao quanh
Gã
nghèo cùng lo sợ rảo chân nhanh
Lòng
thầm nghĩ: Hẳn là vua, quan lớn
Chẳng
phải chỗ ta làm thuê, giúp mướn
Ðổi
áo quần cơm hẩm với dưa rau!
Càng
nghĩ càng hoảng sợ cuống chân mau
Chạy
xa đến xóm nghèo cầu ăn mặc
Ông
Trưởng giả thấy con, mừng được gặp:
Ðã
từ lâu mong mỏi đứa con nầy
Vàng
bạc và châu báu đó gia tài
Ta
hằng muốn gặp con trao truyền lại.
Liền
sai người đuổi gấp theo áp tải
Gã
nghèo cùng kinh hoảng vội kêu lên:
‘Tôi
không hề xúc phạm đến người trên’.
Lòng
sợ sệt ngã xuống chân chết ngất.
Người
cha biết con mình tâm hạ liệt
Sự
bần cùng bức bách biết chi hơn
Vẻ
sang giàu làm khiếp sợ lòng con
Nên
lặng lẽ nghĩ tìm ra phương tiện
Liền
bảo rằng: Không cần người đưa đến
Ðể
mặc tình tùy ý nó ngược xuôi!
Gã
nghèo cùng mừng rỡ được như lời
Vội
đứng dậy chạy qua thôn xóm vắng
Người
cha liền sai hai người hầu cận
Một
người lùn, một người chột đi theo
Gã
nghèo cùng tìm đến một thôn nghèo
Lân
la hỏi người gánh thuê, vác mướn
Áo
rách vai, đói nghèo đâu sức lực
Chỉ
còn đem ra bán chút hơi tàn
Cầu
cơm ăn, áo mặc cốt nuôi thân
Khổ
bức não lòng biết cầu chi khác.
Thân
chìm nổi biết đâu là địa ngục
Bốn
phương trời đâu rồi cũng lênh đênh
Như
cánh bèo trôi dạt kiếp bồng bềnh
Dòng
nước lũ xóa nhòa bao dấu vết.
Hai
người hầu đuổi theo liền bắt kịp
Nói
với người cùng tử: Nếu theo ta
Có
nơi làm, ăn ở cũng không xa
Chỉ
mỗi việc hốt phân, tiền gấp bội!
Gã
cùng tử tức thời quay trở lại
Trước
hỏi người giá cả việc hốt phân
Người
cha vừa thương xót, nửa lạ lùng
Từ
xa đứng nhìn con thân tiều tụy.
Cởi
chuỗi ngọc, đổi áo tơ vàng quý
Khoác
lên người chiếc áo vải thô sơ
Tay
cầm đồ nặng nhọc hốt phân dơ
Ðến
gần chỗ người con và tôi tớ
Làm
dáng vẻ nghiêm trang cho người sợ
Lại
bảo rằng: ‘ Các ngươi phải siêng năng!’
Dùng
cách nầy để đến được gần con.
Biết
con dại ưa việc làm hèn kém
Chẳng
tin mình có trí tuệ như ta
Bảo
con rằng: ‘Ngươi chớ có đi xa
Ta
sẽ trả cho ngươi tiền công hậu
Các
vật dụng như bồn, thau, muối, gạo...
Tự
nhiên dùng tùy ý chớ ngại nghi
Hoặc
khi cần người giúp đở tùy khi
Ta
có thể vì ngươi cung cấp đủ
Ta
thấy ngươi việc làm không trể nãi
Không
nói lời oán thán hoặc bê tha
Ta
đã già, tuổi tác cũng như cha
Ngươi
còn trẻ, giống như con ta vậy.’
Nói
dứt lời, đặt tên cho cùng tử
Và
tức thời gọi người ấy là con.
Hai
mươi năm thường quét lau, dẹp dọn
Hốt
phân dơ, giữ phận kẻ cùng đinh
Xong
việc rồi về lại mái nhà tranh
Các
tài vật không tự mình dám lấy.
Người
cha già một ngày kia có bệnh
Gọi
người con: ‘Tất cả của kho nầy
Chỗ
bạc vàng, châu ngọc chứa tràn đầy
Ngươi
phải biết rõ ràng như ta biết
Bởi
vì sao? Ta cùng ngươi không khác
Gắng
dụng tâm, chớ sơ sót mảy may!.
Gã
nghèo cùng nhận quản trị trong, ngoài
Tự
giữ phận nghèo hèn, tâm hạ liệt
Chỗ
kho báu, ngọc vàng đều rõ biết
Lòng
không hề dám nghĩ của riêng ta
Thời
gian dài gần gủi cạnh người cha
Tâm
trí gã dần trở nên thông suốt
Gã
cùng tử tự chê tâm ngày trước
Biết
rằng mình quản lãnh được kho tàng
Ðến
một ngày Trưởng lão hội họ hàng
Giờ
sắp chết, tuyên nói cùng đại chúng:
‘Chư
liệt vị! Các ngài nên tỏ rõ
Người
nầy đây vốn chính thật con ta
Thuở
ấu thơ bỏ trốn khỏi quê cha
Thân
trôi nổi năm mươi năm không gặp.
Nơi
thành nầy nhân duyên tan lại hợp
Ta
gặp con giao phó lại gia tài’.
Người
con nghe cha nói rất mừng vui
Lòng
tự nghĩ không mong cầu mà được.
Bạch
Thế Tôn!
Ông
Trưởng lão đó chính là Ðức Phật
Còn
chúng con là con của Như Lai
Lòng
tham mê chìm đắm bể trần ai
Tâm
ưa thích pháp Tiểu Thừa dụng lực
Nên
Phật dạy chúng con vô lậu đức
Dọn
phân dơ tức thanh tịnh thân tâm
Ðức
Như Lai dùng phương tiện đến gần
Tâm
điều phục rồi mở bày đại trí.
Niết
Bàn chứng, chỉ một ngày giá trị
Mà
lại cho là đủ, chẳng cầu thêm
Tuổi
già nua, Bồ Tát pháp không kham
Không
ưa thích nhập Như Lai tri kiến
Trụ
pháp Không, chuyên cần như hạnh nguyện
Ðắc
Niết bàn, tự biết hữu dư y
Thân
sau cùng, phiền não đã viễn ly
Như
đã thoát nạn tai từ ba cõi.
Như
của báu không cầu mà lại được
Như
kho tàng chẳng thấy lại vào tay
Nhân
giữ gìn tịnh giới hưởng quả nầy
Nay
mới thật là một A La Hán.
Nhớ
khi xưa Thế Tôn thường chê trách
Rằng
Thanh Văn ham thích pháp Tiểu Thừa
Cõi
thế gian như mộng há ghét, ưa
Tâm
vốn sạch có chi là chứng đắc?.
Lòng
đại bi trải hằng vô lượng kiếp
Ai
là người có thể đã đáp đền
Ðức
vô biên độ thoát khắp quần sinh
Trí
vô thượng là vua trong các pháp.
Kẻ
thế gian biết đâu thân tướng Phật
Tâm
đại từ hóa hiện tướng phàm phu
Biết
rõ ràng căn tánh, sức tiếp thu
Ðã
thành thục hay là chưa thành thục
Pháp
thế gian cũng không ngoài pháp Phật
Vì
cơ nghi phương tiện nói thành ba.
*
5.
Phẩm Dược Thảo Dụ
5.
Phẩm Dược thảo dụ
Lúc
bấy giờ Phật bảo ngài Ca Diếp
Công
đức kia khéo nói được, hay thay!
Như
vô biên công đức tạng Như Lai
Muôn
ức kiếp không tận cùng nói hết
Nầy
Ca Diếp! Các ông nên rõ biết
Ðức
Như Lai là đấng Ðại Pháp Vương
Trí
sâu xa dùng phương tiện xiển dương
Nhất
thiết trí là lời chư Phật nói.
Ta
là bậc không trụ nơi các cõi
Vì
nhân duyên hiện thân tướng hữu tình
Biết
cội nguồn, tâm ý của chúng sinh
Biết
pháp tánh như lòng tay mở, nắm.
Ví
cõi nước đại tam thiên muôn dặm
Từ
đất sinh muôn dược thảo diệu kỳ
Lá
hoa tươi lả ngọn đóa tường vi
Cỏ
xanh mướt tận chân trời trải gấm
Mây
giăng mắc tuôn mưa nhuần tưới khắp
Tánh
tướng mưa như-thật, chẳng phân chia
Màn
nước như thiên võng trắng sơn khê
Cây
mở lá, cỏ vươn mầm sống dậy
Ðất
mềm nở sớ vàng ươm nhánh mới
Hoa
nghiêng tà rơi xuống hạt thiên châu.
Tâm
đại từ mưa pháp thấm ân sâu
Trổi
trống pháp vang rền ba cõi nước
Người
chưa độ thời làm cho được độ
Người
chưa an thời dạy pháp được an
Nhẩn
đến làm chứng đắc được Niết Bàn
Chưa
tỏ ngộ thời làm cho tỏ ngộ
Nhất-thiết-kiến
là bậc như-thật kiến
Là
bậc tri, khai, thuyết đạo nhất thừa
Trí
gồm thâu trời đất kết nhân duyên
Pháp
giải thoát cam lồ đồng một vị.
Tâm
bình đẳng không sinh lòng thử, bỉ
Cũng
không tâm yêu ghét hoặc đắm tham
Vượt
ngoài vòng ràng buộc bởi ngại ngăn
Tuôn
mưa pháp tùy căn duyên lãnh thọ
Cõi
trời người Phạm Thiên Và Ðế Thích
Chuyển
Luân Vương, ví dược thảo hạ căn
Chứng
Niết Bàn, khởi sáu pháp thần thông
Ðắc
vô lậu, tam minh, tu thuyền định
Khi
đầu núi, khi ngang dòng suối tịnh
Khi
hài văn, khi gậy trúc vịnh ngâm
Pháp
nhị thừa Duyên Giác hoặc Thanh Văn
Ví
dược thảo bậc trung căn huyền nhiệm
Cầu
Thế Tôn như thái dương sáng đẹp
Một
lòng tin thành Phật quả không sai
Khép
tâm tu tinh tấn định trong ngoài
Ví
dược thảo bậc thượng căn siêu thoát
Hàng
Phật tử chuyên tâm nơi Phật đạo
Hạnh
Bồ Ðề cũng là hạnh từ bi
Tự
biết mình là Phật chẳng còn nghi
Ví
tâm ấy như loài cây thuốc nhỏ.
Chuyển
thần thông, pháp luân vô lượng độ
Bất
thối tâm Bồ Tát cõi hằng muôn
Thường
vào ra, đi lại hóa nghìn thân
Ví
công đức như loài cây thuốc lớn.
Lời
chư Phật như nước mưa một vị
Tâm
chúng sinh tùy căn tính tiếp thâu
Ví
như cây lớn, nhỏ sức cạn, sâu
Mà
hấp thụ nước mưa đều sai khác
Pháp
chư Phật một tướng là giải thoát
Tướng
xa lìa, tướng vọng dục viễn ly
Y
như lời tu tập và hành trì
Ðược
công đức tự mình không hay biết.
Như
Lai rõ tâm chúng sinh sai biệt
Như
cây kia không tự biết chính mình
Ðức
Như Lai dùng phương tiện thuyết minh
Pháp
ứng hợp tâm chúng sinh hóa độ
Nay
chính vì các ông Ta chỉ rõ
Bậc
nhị thừa Duyên Giác hoặc Thanh Văn
Chỗ
tu hành cứu cánh quả và nhân
Là
hạnh nghiệp của đại thừa Bồ Tát
Là
hạnh nguyện nhất chân- tu thành Phật.
*
6.
Phẩm Thọ Ký
6.
Phẩm Thọ ký
Một
sớm sương tan nắng bạc bên trời
Linh
Thứu sơn mây dừng lại lặng im
Trong
tịch mặc Phật nhìn ngài Ca-Diếp
Dạy
lời rằng:
Trải
hằng muôn ức kiếp thọ trì kinh
Luôn
cúng dường chuyển đại pháp độ sinh
Thân
sau cuối là thân Quang Minh Phật
Kiếp
Ðại Trang Nghiêm, nước tên Quang Ðức
Thọ
mười hai tiểu kiếp trụ nhân gian
Ðất
lưu ly, cây bảy báu thẳng hàng
Cõi
nước tịnh, dây vàng giăng lọng phướn
Chư
Bồ Tát số đông muôn nghìn ức
Gió
thơm hương, hoa trải đất vui mừng
Hàng
Thanh Văn vương tử số vô chừng
Dùng
thiên nhãn đếm cũng không cùng tận
Pháp
trụ thế đúng hai mươi tiểu kiếp
Ðổi
qua thời tượng pháp cũng hai mươi
Pháp
tánh kia là Phật ở trong người
Nương
pháp tướng phát huy đồng pháp tính
Liên
kinh hội nở vàng hoa thanh tịnh
Cá
hóa rồng vượt thoát cửa long môn
Ngọc
ly châu rồng ngậm dưới cửu trùng
Sen
báu trổ đóa hồng tươi lầu nguyệt.
Nét
ngọc rạng dung quang ngời diễm tuyệt
Sợi
khói trầm thoang thoảng nếp minh y
Vòng
nguyệt luân gợn sóng nước phượng trì
Chư
thánh chúng đồng chắp tay chiêm ngưỡng
Liền
nói kệ: Lòng từ như biển lớn
Ðấng
Pháp Vương trong dòng Thích Cồ Ðàm
Nối
lời châu, kết ý ngọc thành âm
Xin
thấu rõ lòng con cầu quả Phật
Ðược
thọ ký như tắm dòng suối mát
Như
kẻ nghèo được dự tiệc cung vua
Chưa
dám tin ngồi được ghế Phật thừa
Lòng
mong đợi Phật ban lời quyết định.
Phật
dạy rằng: Một trời Không thanh tịnh
Tu-Bồ-Ðề
sẽ thành Phật mai sau
Trải
hằng muôn nghìn ức kiếp thỉnh cầu
Bồ
đề hạnh đủ đầy dòng Bồ Tát
Tu
Bồ Ðề thân cuối sau là Phật
Phật
hiệu là Ðức Danh Tướng Như Lai
Làm
việc làm của Phật tức của người
Trí
Bồ Tát dùng trang nghiêm nước Phật
Cõi
nước tịnh nở bừng hoa chánh giác
Ðất
lưu ly lầu gác lọng tàng che
Chuyển
pháp luân bất thối độ người mê
Tám
giải thoát, sáu thần thông như ý.
Phật
thuyết pháp, hàng trời, người hoan hỷ
Lắng
tâm nghe lời Phật đắc tam minh
Kiếp
tên là Hữu Bửu, nước Bửu Sinh
Phật
thọ lượng đúng mười hai tiểu kiếp
Chánh
pháp tạng trụ hai mươi tiểu kiếp
Ðổi
qua thời tượng pháp cũng hai mươi.
Dựng
tháp vàng chạm trổ ngọc mai khôi
Lòng
cung kính cúng dường muôn ức Phật
Ðệ
tử Ta là Ca Chiên Diên Tử
Thân
sau cùng thành Phật hiệu Kim Quang
Ðại
biện tài, độ vô số thiên, nhân
Trí
tuệ Phật như ánh vàng tỏa rạng
Mười
cõi nước hằng hà sa Bồ Tát
Bậc
Thanh Văn vô lượng số trang nghiêm
Ðệ
tử Ta là Ðại Mục Kiền Liên
Bỏ
thân cuối gặp nghìn muôn ức Phật
Dựng
tháp báu, muôn lòng hòa pháp nhạc
Nhất
tâm cầu Phật đạo nở hoa thơm
Như
chiên đàn quyện gió pháp mười phương
Cõi
nước Phật có tên là Ý Lạc.
Ðất
pha lê, cây vàng tươi phượng các
Vì
trời, người chuyển pháp dẹp mê đồ
Hàng
Thanh Văn, Bồ Tát đếm hằng muôn
Bốn
vạn kiếp pháp trụ nơi trần thế
Thời
tượng pháp cũng bốn mươi tiểu kiếp.
Nầy
hỡi các thiện nam và thiện nữ!
Năm
trăm người đệ tử của Thế Tôn
Ðã
nhiều đời cùng Phật đạo gieo duyên
Ta
đều sẽ thọ ký lời thành Phật.
*
7.
Phẩm Hóa Thành Dụ
7.
Phẩm Hóa thành dụ
Lúc
bấy giờ Phật dạy hàng tăng chúng
Bất
tư nghì vô lượng kiếp xưa kia
Ví
như nghiền thành bụi đại tam thiên
Mỗi
một kiếp ví như từng hạt bụi
Nước
Hảo Thành, kiếp tên là Ðại Tướng
Ðức
Ðại Thông Trí Thắng Lưỡng Túc Tôn
Thuở
lâu xưa diệt độ đếm hằng muôn
Ta
thấy suốt thời gian không chướng ngại
Phật
thọ mạng hằng sa vô lượng kiếp
Trải
tòa ngồi nhập định phá quân ma
Pháp
Phật mười tiểu kiếp chẳng hiện ra
Thân
bất động, tâm chìm sâu thiền định.
Trời
Ðao Lợi cúng dường tòa gấm dệt
Rải
hoa trời mười tiểu kiếp thơm tươi
Ðiệu
trống trời trổi pháp nhạc hòa vui
Tri
kiến Phật dung thông vào thế giới
Vi
diệu lý, sự trùng trùng vô ngại
Thõng
đôi tay đi vào giữa chợ đời
Trăng
nghiêng vành, chim bỏ núi về chơi
Ðóa
nhật nguyệt nở hoa vô thượng giác.
Sáu
cõi đất, mười phương trời chấn động
Mười
sáu người vương tử bỏ cung vua
Trăm
đại thần bái phục dưới bửu tòa
Nói
lời kệ: Thế Tôn uy đức lớn
Mười
tiểu kiếp nguyện lành, thân vô lượng
Cõi
trời người quy mạng đấng pháp vương
Tâm
phước điền như đại bửu trang nghiêm
Trí
vô thượng nguyện vì đời nói pháp
Kiếp
bèo nổi, cỏ bồng thân trôi dạt
Ví
mây xuôi bàng bạc gió bao mùa
Chân
non cao nước chảy đã xuân thu
Cuộc
chìm nổi, mấy cho vừa sức sóng.
Lúc
bấy giờ cõi Phạm Thiên rúng động
Ánh
vàng bay tỏa rạng mặt trời đông
Người
thấy người, hoa thấy lá cùng chung
Cứu-Nhất-Thiết
Phạm Vương liền nói kệ:
Ánh
sáng lạ ví chân nhân giáng thế
Hoặc
là trời đại đức đã sinh ra
Hoặc
pháp vương hóa hiện cõi Sa Bà
Duyên
tướng lạ vốn xưa chưa từng có
Các
vị trời hứng hoa tươi đầy giỏ
Tìm
theo đường ánh sáng đến phương tây
Thấy
trên tòa Ðức Trí Thắng Như Lai
Thấy
thánh chúng búp tay hồng chiêm ngưỡng
Lại
thấy cả mười sáu người vương tử
Nhiễu
quanh vòng thỉnh Phật chuyển pháp luân
Thấy
cõi trời các vị Phạm Thiên Vương
Ðầu
đảnh lễ, hoa rải trên thân Phật
Tâm
cung kính nguyện cúng dường vương thất
Ðức
Thế Tôn vô lượng đức trang nghiêm
Cõi
vô thường đà khó gặp thiện duyên
Thấy
được Phật, nương bóng từ tìm đến.
Trải
muôn kiếp bỏ tâm vui thiền định
Bỏ
tâm cầu an trụ cõi không hư
Cung
ngọc kia từ phước báu có dư
Nay
cung kính xin Thế Tôn thọ nạp.
Và
như vậy, các vua trời cầu pháp
Phật
ba lần tự tại chuyển pháp luân
Khổ
là đây, kiếp nối kiếp không dừng
Ðây
khổ tập, đã đời đời giữ nắm
Ðây
khổ diệt, dứt tham, sân, si đắm
Ðây
là đường thoát khổ được an vui
Ðây
nhân duyên tan hợp ngược rồi xuôi
Nhân
không thực, duyên kia nào có thực
Vô
minh khởi, dụng công và dụng lực
Sáu
ngã đường lưu lạc một lần đi
Ngó
sen xanh vướng vít sợi biệt ly
Tâm
vọng dục chia đôi bờ mong ngóng
Tự
nguyên lai, cảnh, tâm là hư vọng
Không
một người, không một vật ở trong
Như
băng tan, nắng nhỏ giọt sương hồng
Không
đến cũng không đi vì không thật
Tâm
rỗng lặng không buộc ràng một pháp
Ðắc
tam minh, đầy đủ cả lục thông
Chư
Thanh Văn, thánh chúng số hằng muôn
Tám
giải thoát, sức định thiền vô ngại.
Lúc
bấy giờ, mười sáu người vương tử
Cùng
xuất gia làm những bậc sa di
Hằng
muôn người tùy hạnh nguyện quy y
Hai
vạn kiếp Phật thuyết kinh Diệu Pháp
Bậc
Thanh Văn và sa di Bồ Tát
Nghe
lời kinh tâm tương ứng thọ trì
Người
hằng muôn vạn ức khởi lòng nghi
Pháp
vi diệu khó một lần lãnh hội.
Tám
nghìn kiếp như mặt trời mở lối
Như
mây tan nguyệt chiếu một trời Không
Ðã
mở bày tri kiến Phật nhất chân
Ðại
thừa nghĩa vô thừa đại chánh giác.
Tất
cả pháp trước sau đều đồng nhất
Do
nhân duyên danh tự giả lập bày
Hư
vọng vì từ tác ý mở khai
Tánh
các pháp cũng đồng như Phật pháp.
Chẳng
thật có, lấy vật gì nắm bắt,
Chẳng
thật không, vì giả hợp giả tan.
Muốn
phá trừ, tiêu diệt - nhọc công tu
Ðây
chấp thiện, kia chấp là chẳng thiện.
Chấp
pháp Phật mà cho là giải thoát
Tạo
quách thành giam giữ bởi mê tâm
Bồ
đề không là vật, lấy chi cầm
Lấy
chi giữ mà cho là chứng đắc.
Tâm
đại bi tức không sinh niệm ác
Tâm
đại từ tức thấy một, không hai
Một
tấm lòng không chấp chặt trong, ngoài
Thiền:
vô ngã. Ðịnh tức là vô trụ.
Lúc
bấy giờ Thế Tôn vào tam muội
Trong
tám muôn bốn nghìn kiếp định thiền
Như
việc làm sau cuối đã trọn xong
Nhân
duyên Phật ra đời nay đã nói.
Mười
sáu vị sa di khai pháp hội
Cũng
đồng thời thuyết Diệu Pháp Liên Hoa
Chúng
sinh muôn vạn ức ví hằng sa
Ðược
lợi ích, phát tâm vô thượng giác.
Từ
tam muội, Phật Ðại Thông Trí Thắng
Ngự
trên tòa dạy khắp các thiên, nhân
Các
sa di Bồ Tát tịnh thân tâm
Thuở
quá khứ cúng dường vô số Phật
Hạnh
thanh tịnh, thọ trì tri kiến Phật
Vì
tâm từ ứng hiện dạy chúng sinh
Hàng
Thanh Văn, Bồ Tát phát tâm tin
Nên
gần gủi, kính tin như kính Phật
Người
tin nhận sẽ tựu thành chánh giác
Hội
nhập vào được trí huệ Như Lai.
Ðức
Thích Ca lại bảo các tỳ khiêu
Mười
sáu vị sa di nay là Phật
Nước
Diệu Hỉ, Phật hiệu là A Súc
Hơn
một nghìn cõi nước ở phương đông.
A
Di Ðà, Phật ngự cõi trời tây
Vị
mười sáu, Thích Ca Mâu Ni Phật.
Chẳng
quá, hiện, vị lai làm chỗ lập
Với
xứ và không xứ chớ sinh tâm
Nhân
duyên kia, tự tánh cũng là Không
Bồ
Ðề Phật, không cảnh và không tướng.
Chính
vì vậy, trải hằng muôn cõi nước
Ta
lại làm Ðức Phật khác tánh danh
Cũng
có người trước đã chẳng nghe kinh
Nay
gặp Phật, khởi cầu Như Lai trí.
Mở
đường Phật- đó gọi là đại thí
Ví
như người chỉ chỗ dấu kho tàng
Chốn
hoang vu, gió cát cũng lầm than
Sức
mòn mỏi, chân buông đường vạn dặm.
Thân
cùng khổ, hang sâu và hố thẳm
Trí
hoang mang, lòng đã muốn quay chân
Người
đưa đường ngẫm nghĩ chạnh lòng thương
Liền
đưa đến một tòa thành dừng nghỉ.
Người
mỏi mệt thấy quách thành vừa ý
Vào
trong thành an ổn chẳng muốn ra
Biết
nơi chôn châu ngọc hãy còn xa
Người
đưa lối giục đoàn người thức dậy.
Các
tỳ khiêu! Ðức Như Lai cũng vậy
Biết
chúng sinh tâm khiếp sợ đường dài
Lòng
mến ưa pháp nhỏ với tầm tay
Chí
hạn hẹp, khởi công liền muốn được.
Khi
ném bát giữa dòng trôi nước ngược
Nước
chảy xuôi thì khó nhọc chi công
Niết
Bàn kia, phương tiện dạy tùy tâm
Chớ
nắm giữ mà cho là đã đủ.
*
8
& 9 Phẩm Ngũ Bá Ðệ Tử Thọ Ký,
Thọ
Học Vô Học Nhân Ký
8+9.
Phẩm Ngũ bá đệ tử thọ ký
Mãn-Từ-Tử,
bậc biện tài đệ nhất
Lắng
nghe từ kim khẩu Ðức Như Lai
Nhân
duyên kia muôn kiếp cũng là đây
Tự
mình tạo rồi tự mình thọ nhận.
Ðảnh
lễ Phật, gối quỳ, đầu chấm đất
Mắt
chẳng rời chiêm ngưỡng nét dung nghi
Lòng
nghĩ rằng: Hy hữu! Hy hữu thay!
Trí
thánh chúa vì chúng sinh quyền biến.
Công
đức Phật mở bày ra phương tiện
Tùy
thuận theo chủng tính của thiên, nhân
Chiếc
lá dương vàng úa, tưởng vàng cân
Trí
huệ Phật không ngôn từ diễn nói.
Phật
dạy rằng: Người biểu dương chánh pháp
Ðạt
ngôn từ vô ngại thuở lâu xưa
Phú-Lâu-Na,
trì tụng pháp nhị thừa
Như
phương tiện độ hằng muôn thánh chúng.
Trụ
pháp Không, được tứ vô sở úy
Hạnh
Bồ Ðề đầy đủ bậc thần thông
Giáo
hóa người làm đại bửu nghiêm thân
Tịnh
cõi Phật, tức tịnh tâm người vậy.
Kiếp
Bửu Minh, nước tên là Thiện Tịnh
Hạnh
viên thành, Phật hiệu Ðức Pháp Minh
Cõi
nước kia vô lượng đại tam thiên
Cây
bảy báu, ngọc châu làm lầu các.
Ðường
trần-thế bụi hồng pha áo bạc
Lối
thiên-tiên cỏ biếc điểm hài xuân
Ðất
ngó trời, sông núi giải phù vân
Thân
tùy ý thọ sinh như biến hóa.
Vui
nghe pháp, tâm an trăng thiền tọa
Bậc
Thanh Văn, Bồ Tát số khôn cùng
Chốn
già lam lại tùy hạnh làm Tăng
Pháp
trụ thế trải hằng vô lượng kiếp.
Kiều-Trần-Như,
khi xưa vườn Lộc Uyển
Ngộ
khách trần chứng được quả Thanh Văn
Ðã
nhiều đời nghe pháp, ứng hóa thân
Lìa
sắc tướng là tịnh tu phạm hạnh
Không
tham tiếc tâm an vui thiền định
Không
chán lìa sinh tử gọi chân tăng
Không
thế tình, không ngã cũng không nhân
Ðắc
vô ngã, thân tức là đạo vậy!.
Chánh
trì giới là trì vô trụ giới
Thân
đã không thì tất cả cũng không
Quán
tánh Như của sắc, thấy Phật thân
Chẳng
chấp sắc đó gọi là bố thí.
Ðệ
tử Ta- một nghìn hai trăm vị
Sẽ
tựu thành Phật quả, hiệu Phổ Minh
Lúc
bấy giờ các vị đại tỳ khiêu
Tâm
hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy
Áo
bày vai, gối quỳ, đầu mặt lạy
Tự
trách rằng: Chẳng khác gã say kia,
Ðêm
rượu tàn, châu buộc áo mang về
Thân
khổ nhọc, chân mòn đường gió bụi.
Ngày
gặp lại, người bạn nhìn tự hỏi
Ngọc
xưa trong vạt áo vẫn còn đây
Trân
bảo kia vốn có, chẳng rời tay
Không
tự biết, chọn sống đời du tử.
Phật
trong thân - như đá kia dấu ngọc
Như
sen vàng khép cánh dưới bùn đen
Như
tượng vương tiếng rống động tam thiên
Như
sư tử cuộn mình, chân dõng dạc
Cổng
rừng thiền ai cài liềm trăng bạc
Am
tranh xưa ai đóng cửa thành băng
Ân
lão bà, ngọn đuốc hóa Phật đăng
Pháp
thân hiện ánh vàng tươi biển lửa
Thọ
sinh thân, đại ân và đại nghĩa
Ðại
tâm từ kiên cố độ chúng sinh
Năng,
sở không- chẳng tử cũng chẳng sinh
Không
sinh tử, hỏi ai lìa sinh tử.
Lúc
bấy giờ người trong dòng Thích tử
Ngài
A-Nan là thị giả xưa nay
La-Hầu-La
là pháp tử Như Lai
Cùng
đứng dậy dưới chân quỳ đảnh lễ
Liền
bạch rằng: Quen lời kinh, tiếng kệ
Pháp
Như Lai trì niệm thuộc nằm lòng
Một
lần nghi bảy chỗ hỏi tìm Tâm
Xót
trí cạn dạy Lăng-Nghiêm-tam-muội
Ngày
gặp Phật giữa bụi vàng trần giới
Thấy
báu thân thanh tịnh tựa lưu ly
Nương
bóng từ, lìa ái dục quy y
Nay
dưới bệ mong chờ lời thọ ký.
Lúc
bấy giờ hai nghìn người đệ tử
Ðồng
chắp tay chiêm ngưỡng đấng Thế Tôn
Phật
dạy rằng: Sơn-Hải-Tuệ-Tự-Tại-Thông-Vương
Là
Phật hiệu sau nhiều đời thọ pháp
Phật
thọ lượng muôn A tăng kỳ kiếp
Chánh
pháp và tượng pháp cũng hằng muôn
Cõi
Phật tên là Thường-Lập-Thắng-Phan
Kiếp
được gọi là Diệu-Âm-Biến-Mãn
Phật
mười phương ngợi khen công đức tạng
Thương
chúng sinh nên thọ mạng dài lâu
Gieo
nhân duyên Phật đạo, đất thành châu
Lưu
ly trải chân người theo dấu Phật.
Quỳ
dưới bệ, sơ-phát-tâm Bồ Tát
Tám
nghìn người nghe Phật khởi lòng nghi
Lại
nghĩ rằng pháp Phật bất tư nghì
Nhân
duyên lạ, Thanh Văn nay thành Phật.
Phật
dạy rằng: Ta siêng tu chánh pháp
Thuở
lâu xưa thời Ðức Phật Thông-Vương
A-Nan
ưa học rộng, thích cú chương
Thông
pháp tạng của ba đời chư Phật
Do
bản nguyện giáo hóa hàng Bồ Tát
Nguyện
lực thành Phật lực cũng do Tâm!.
Ngài
A-Nan nghe Phật khởi vui mừng
Lòng
chợt nhớ nghìn muôn đời quá khứ
Từng
theo Phật, từng hộ trì chánh pháp
Ứng
thân làm thị giả của Như Lai.
Lại
dạy rằng: Vô lượng kiếp vị lai
Làm
pháp tử của hằng muôn chư Phật
Lòng
cầu đạo sẽ tựu thành chánh giác
Phật
hiệu là Ðức Ðạo-Thất-Bảo-Hoa
Chí
tâm tu, hạnh kín La-Hầu-La
Người
trần thế khó lòng nhìn rõ được.
Cõi
trang nghiêm là quả vô lượng đức
Chánh
pháp và tượng pháp cũng vô biên.
Lúc
bấy giờ Phật lại bảo A-Nan
Nghìn
Phật tử hữu học và vô học
Sẽ
thành Phật, thọ mạng đồng một kiếp
Ðồng
hiệu là Phật Bảo-Tướng Như Lai
Sức
thần thông phương tiện độ muôn loài
Mười
phương Phật đồng diệu âm viên mãn.
*
10.
Phẩm Pháp Sư
10.
Phẩm Pháp sư
Lúc
bấy giờ ngài Dược Vương Bồ Tát
Mắt
không rời chiêm ngưỡng đấng Pháp Vương
Linh
Thứu sơn xanh bóng lá cành dương
Áo
thánh chúng nhuộm hường tia nắng sớm
Phật
dạy rằng: Nầy Dược Vương Bồ Tát!
Cõi
trời, người và vô lượng thiên, nhân
Vua
cõi trời, thần biển, chúa loài rồng
Kẻ
phạm hạnh tại gia và tăng sĩ
Càn
thát bà, A tu la, ngạ quỷ
Hoặc
Bích Chi, Duyên Giác và Thanh Văn
Lắng
lòng nghe dòng kệ chẳng kinh tâm
Sinh
một niệm kính tin và tùy hỷ
Ðạo
vô thượng Ta vì người thọ ký
Sẽ
tựu thành Phật quả, chẳng nên nghi
Người
ngày sau trong hải hội liên trì
Cho
đến kẻ nhiều đời không gặp Phật
Người
trì tụng, soạn biên dày công đức
Bút
thơm hương, phiến lá chép kinh hoa
Phải
biết rằng vô lượng kiếp lâu xa
Ðã
gặp Phật và đã nghe diệu pháp
Muôn
nghìn kiếp cúng dường vô số Phật
Ngôi
cõi trời đổi mấy dặm nhân gian
Nếu
có lời nhắn hỏi: Phật xa, gần?
Thì
phải biết những người kia là Phật
Nguyện
Bồ Tát viên dung vô lượng đức
Tùy
hạnh duyên làm thiên sứ Như Lai
Sinh
vào đời để rộng nói kinh nầy
Bỏ
nghiệp báo thọ sinh nơi đất tịnh
Cõi
trần lụy được trời, người cung kính
Lòng
trì kinh như châu báu nghiêm thân
Ví
như người trí cạn lại mê tâm
Trước
mặt Phật thường buông lời vô lễ
Ðọa
ác đạo, song tội chưa đáng kể
Sánh
với người khinh thị kẻ trì kinh
Phải
biết rằng người tham dục, vô minh
Không
hiểu được chỉ một dòng kinh nói
Bởi
vì sao?
Nơi
ngũ uẩn lại chấp làm nguồn cội
Nương
vào dòng sắc, thọ, khởi sinh tâm
Ví
như người nghe diệu pháp cao thâm
Ở
trước Phật thường chắp tay hoan hỷ
Lời
tán tụng như vàng ròng, ngọc quý
Sẽ
kết thành phước báu cõi mai sau
Sánh
với người khen ngợi chỉ một câu
Kẻ
trì niệm kinh Liên-Hoa-Diệu-Pháp
Ðược
phước báu muôn nghìn lần sai khác
Lại
dạy rằng: Lời Phật nói xưa nay
Kinh
Pháp Hoa là mật ngữ Như Lai
Kẻ
phàm tánh khó tin và khó nhận
Phật
tại thế- kẻ tham sân si hận
Còn
đem lòng oán ghét nghĩa kinh nầy
Huống
chi rằng như hạt đọng sương mai
Giọt
tinh túy đất trời ai biết quý
Vào
biển pháp uống dòng cam lồ vị
Phải
biết rằng sâu, cạn chẳng do kinh
Cõi
không hư cao, thấp cũng tự mình
Con
ngỗng chúa biết gạn dòng sữa ngọt
Chán
sinh tử cầu Niết Bàn giải thoát
Diệt
tham sân chấp thanh tịnh Bồ Ðề
Chia
hai đường bến tỉnh khác sông mê
Lòng
tơ tưởng bên kia là bỉ ngạn
Trí
bát nhã đâu xa vô thượng giác
Tâm
đại từ người có khác chi ta
Thấy
người mê như cánh khép nhụy hoa
Tri
kiến Phật trước sau đồng một vị
Nầy
Dược Vương! Sau Như Lai diệt độ
Người
hành trì, ghi nhớ Pháp Hoa kinh
Hoa
trên tòa sen bát ngát lá xanh
Phật
và Thánh ngự chung ai người rõ
Vầng
nhật nguyệt châu trời soi lối ngõ
Hộ
niệm người như khoác chiếc minh y
Nếu
có người đọc tụng hoặc hành trì
Chợt
thấy được tờ kinh vi diệu pháp
Ðó
là chỗ nên xây lầu, dựng tháp
Cúng
dường kinh bằng bảy báu trong tâm
Nên
hiểu rằng kinh pháp chính Phật thân
Ðâu
bận trí tìm cầu thêm xá lợi
Người
cầu đạo Pháp Hoa kinh mở lối
Cũng
là đường trực chỉ đến Phật tâm
Người
chưa từng trì tụng luống uổng công
Nếu
tự nhận tu hành Bồ Tát đạo
Bởi
vì sao?
Pháp
quyền thừa, kinh là phương tiện xảo
Ví
như người đào giếng đất khô cằn
Phải
gắng công trì chí đến được gần
Lớp
đất ướt rồi đến dần mạch nước
Cũng
không khác, người tu hành kém phước
Chưa
từng nghe kinh Diệu-Pháp-Liên-Hoa
Phải
biết rằng chánh đạo hãy còn xa
Chân-thật-tướng
trải tòa vô thượng giác.
Pháp
vi diệu Phật dạy hàng Bồ Tát
Khi
nghe qua lòng kinh sợ, nghi nan
Nếu
là người tu pháp hạnh Thanh Văn
Phải
nên biết là kẻ tăng-thượng-mạn.
Nếu
là bậc sơ phát tâm Bồ Tát
Cũng
sinh lòng sợ sệt lẫn kinh nghi
Lại
dạy rằng: Về những kiếp sau nầy
Ai
người sẽ nói Liên-Hoa-Diệu-Pháp?
Nầy
Dược Vương!
Người
thiện hạnh lòng từ không khác Phật
Vô-sở-y
nhưng y ở từ tâm
Không
tông môn nhưng bi, trí làm nhân
Vô-sở-trụ
nhưng trụ tâm chư Phật
Tâm
Phật ấy cũng gọi là nước Phật
Nhà
Như Lai là rường cột đại bi
Người
thuyết kinh nhẫn lực phải thuần trì
Một
chữ Nhẫn mười phương chư Phật hiện.
Là
áo pháp đại hòa nghìn thế giới
Từ
hữu vi cho đến bậc vô sinh
Từ
tam hiền đến cùng khắp thánh nhân
Ðạt
nhẫn địa tức khoác y của Phật
Ðoạn
sinh tử, cảnh, tâm không có thật
Cộng-phàm-phu-như-thật-đà-la-ni
Sắc
rỗng không, tịch tĩnh chẳng đến, đi
Thân,
sợi khói trên đỉnh trầm nghi ngút
Không
chấp pháp, nhân duyên là giả lập
Không
chấp danh vì tánh, tướng dung thông
Pháp
phàm phu và Phật pháp đều Không
Nói
Thường tức như hư không bình đẳng.
Chẳng
ngã cũng chẳng nhân là chánh mạng
Giác
tánh Không tức tòa báu Bồ Ðề
Tòa
Như Lai không giác cũng không mê
Thắng-nghĩa-đế
không có gì để được.
Lại
dạy rằng: Nầy Dược Vương Bồ Tát!
Người
đời sau thuyết Diệu-Pháp-Liên-Hoa
Thấy
hóa-nhân các cõi dưới pháp tòa
Tin
nhận pháp do uy thần Phật lực
Thấy
được Phật hiện thân muôn cõi nước
Thấy
trời, rồng cung kính chắp tay nghe
Chim
nhớ rừng, mây nhớ núi xuôi về
Vầng
nguyệt xuống lồng dưới khe róc rách.
*
11.
Phẩm Hiện Bảo Tháp
11.
Phẩm Hiện Bửu tháp
Sớ
đất vỡ chia hai bờ hư thực
Ngọn
tháp thiêng lòng đất nứt hiện ra
Trụ
giữa trời, hương trầm ngát đưa xa
Tàng
lọng kết chân châu thơm mã não
Cung
Ðao-Lợi rải hoa tươi bảy báu
Nhạc
cõi trời tấu nhã điệu reo vui
Tuyệt
ly ngôn diệu lý ứng nên lời
Từ
tháp báu chuyển viên âm tán thán
Hy
hữu thay! Thích Ca Mâu Ni Phật!
Thánh
trí kia bình đẳng giọt mưa sa
Vì
trời, người thuyết Diệu Pháp Liên Hoa
Lời
chư Phật trước, sau đều chân thật.
Quỳ
gối hữu, Ðại-Nhạo-Thuyết Bồ Tát
Bạch
Thế Tôn! Xin Ngài nói nhân duyên
Nguyên
do gì tháp hiện trụ thanh thiên
Tiếng
vi diệu vọng vang từ bảo tháp?
Phật
dạy rằng: Hỡi nầy, Ðại Bồ Tát
Thuở
lâu xưa nghìn cõi nước Ðông phương
Có
nước tên Bảo Tịnh - đấng pháp vương
Phật
Ða-Bảo, đã phát lời thệ nguyện
Tháp
bảy báu tán dương công đức hiện
Chứng
minh lời kinh Diệu Pháp Liên Hoa
Thân
Như Lai đồng thấy ngự bửu tòa
Nghe
chánh pháp khắp mười phương tùy hỷ.
Ðại-Nhạo-Thuyết
! Thật như ông đã thấy
Cùng
đã nghe lời tán thán diệu kinh
Liền
bạch rằng: Nay cung kính cầu xin
Khiến
chúng hội được nhìn thân cổ Phật
Phật
lại dạy: Nguyện lời xưa sâu nặng
Rằng:
Người sau muốn thấy được thân Ta
Các
phân thân vị Phật thuyết Pháp Hoa
Khắp
các cõi đồng hồi quy một chỗ.
Ðại-Nhạo-Thuyết
!
Thân
phân hóa ở mười phương Phật độ
Sẽ
như lời hội nhập một thân Ta
Nói
dứt lời, từ tam muội phóng ra
Vầng
ánh sáng giữa chặng mày trí tuệ.
Rừng
thêm lá, mây xuôi về bốn bể
Cõi
trời Ðông, nghìn cõi nước hiện ra
Ðóa
tường vân về lại kết bửu tòa
Tiếng
pháp nhạc gần xa lồng bóng nắng
Sợi
tơ bay, lụa trời phơi sắc thắm
Ðất
pha lê, hoa kết ngọc làm đèn
Vô
số hàng Bồ Tát cõi nhân, thiên
Thuyết
chánh pháp phương Ðông, Tây, Nam, Bắc.
Lúc
bấy giờ khắp mười phương hóa Phật
Phóng
hào quang về cõi nước Diêm Phù
Rừng
thơm hoa, suối nước chảy như reo
Ðào
chen mặt đất, gió theo áo người
Sao
về dự hội ven trời lại nở
Ðại
tam thiên hội nhập một ứng thân
Là
đại hòa - thân, cảnh với Phật tâm
Là
cùng khắp - tam thân quy về Một.
Cõi
thuần
tịnh, không thiên đường, địa ngục
Tạng
hư không, Tánh và Tướng tương đồng
Ngọn
Diệu Cao, nhìn lại một bầu Không
Tam
thế giới, cũng trong vầng mây bạc.
Nước
sông xanh bản lai nguyên diện mục
Chiếc
lá vàng, vạn thủy hóa thiên sơn
Sao
giữa trời, hạt ngọc nở cành dương
Vầng
trăng bạc, hồ trường xanh nước tịnh.
Cõi
nước Phật hư không đồng một vị
Tâm
Bồ Ðề lìa tất cả sở duyên
Không
nhiễm ô tức gọi tánh Tịnh thuyền
Trụ
Vô Tướng là hư không thực tướng
Ðức
Thích Ca từ chỗ ngồi đứng dậy
Phóng
hào quang thân trụ giữa không hư
Ðưa
cánh tay hoàng ngọc ấn đại từ
Mở
cửa tháp- Pháp Thân Ða-Bảo Phật
Như
tiếng động mở trời và dựng đất
Như
cung huyền uyên mặc gợn âm thinh
Như
tiếng vang tháo mở cổng đại thành
Như
sóng vỡ reo vui dòng xuân thủy
Cửa
tháp báu mở tuôn ân đại trí
Thấy
toàn thân Ðức Ða-Bảo Như Lai
Ðã
như từ vạn kỷ hiện thân nầy
Áo
bách- nạp trầm hương đưa gió thoảng
Ðức
Ða-Bảo phát diệu âm tán thán
Hy
hữu ! Hy hữu thay ! Ðức Thích Ca !
Ta
vì nghe kinh Diệu Pháp Liên Hoa
Từ
kim khẩu thuyết ra mà ứng hiện.
Vầng
trăng ngọc nghiêng vành như tàng nguyệt
Phấn
xuân bay dìu dịu rải hoa thơm
Chia
nửa tòa, chư Phật ngự trời không
Ba
thân Phật- một sắc thân hội tụ.
Như
tự tánh, ai người không gồm đủ
Tự
thân nầy- tam Phật ngự bên trong
Tự
tâm nầy- tam Phật một dòng chân
Thể
tánh Phật không từ ngoài cầu được.
Ðức
Ða-Bảo, Pháp-Thân-Thanh-Tịnh-Phật
Muôn
pháp từ nơi tự tánh hóa sinh
Như
triêu dương lồ lộ bóng ngọc quỳnh
Như
vòng nguyệt băng tâm ngời trí tuệ.
Vọng
niệm khởi ví thay hình, đổi thể
Tà
tâm sinh thì pháp Phật chẳng sinh.
Quy
y tự tâm giác lưỡng túc tôn
Phật
là Giác, lìa sắc, tài - lưỡng túc.
Pháp
là chánh, xa lìa tâm ái dục
Tịnh
là Tăng, không sinh khởi nhiễm ô
Tam
quy y tức tam bảo tự tâm
Về
tự tánh là quy y chơn Phật.
Niệm
niệm sinh chia ngã đường thiện, ác
Tướng
là hai mà thể tánh là Không
Tánh
toàn chân, pháp pháp tự chung đồng
Thể
toàn tịnh, tức báo thân viên mãn.
Nơi
thân nầy hóa ra thiên bách ức
Một
niệm sinh tức hóa hiện một thân
Tấm
lòng trong, hoa nở nụ thiên cung
Tà
ý khởi, hóa thân làm quỷ dữ.
Vô
phân biệt niệm chân như thường trụ
Biết
vô sinh tức nhập tánh Di Ðà
Ðá
hóa vàng, phàm hóa thánh đâu xa
Quy
niệm giác, trí sinh, thân ứng hóa.
Nương
thánh trí thấy tâm nào xa lạ
Trí
và tâm, tâm trí cũng không hai
Dòng
phân lưu biển rộng gặp sông dài
Tâm
tạp niệm trí hóa ra phàm trí.
Lúc
bấy giờ chúng hội lòng hoan hỷ
Nhìn
Như Lai ứng hiện giữa hư không
Lòng
ước mong Phật dụng lực thần thông
Ðưa
thánh chúng lên ngồi tòa sư tử
Tâm
khởi niệm nguyện được liền như ý
Lời
Thế Tôn phó chúc cõi Sa bà
Ai
là người tuyên diệu nghĩa Pháp Hoa
Nay
đúng lúc chuyển pháp âm tối thượng.
Ðấng
Thánh Chúa diệt độ hằng vô lượng
Nay
hiện thân hy hữu cõi nhân gian
Người
trì kinh tức niệm niệm cúng dàng
Tam
thân Phật một dòng kinh kỳ diệu.
Ví
như người thuyết muôn kinh bất liễu
Hoặc
đưa tay dời đổi ngọn Tu Di
Dùng
ngón chân khuấy động cõi Ðại Thiên
Thuyết
ngàn pháp trên cõi trời hữu đỉnh
Tay
nắm hư không lên đèo, xuống vịnh
Quả
đất nầy để trên một ngón chân
Cất
thân bay đến tận cõi Phạm Thiên
Cũng
không phải là việc làm khó được
Gánh
cỏ khô đi vào trong biển lửa
Ðược
an toàn cũng chẳng phải khó thay
Hoặc
như người trì tụng pháp Như Lai
Các
tạng pháp vì độ người diễn nói
Người
nghe pháp được thần thông vô ngại
Ðắc
ngã không chứng thánh quả không nghi
Không
khó bằng người có thể phụng trì
Pháp
Hoa tạng sau khi Ta diệt độ.
Nầy
hỡi các thiện nam và thiện nữ!
Nếu
các ngươi có chí nguyện hành trì
Hãy
nói lời thuần thiện trước Như Lai
Kẻ
như vậy thật là người trì giới
Là
mắt tuệ bỏ đường mê, ngõ tối
Ðuốc
soi đường cho khắp cõi thiên, nhân
Ðược
trời, người lòng cung kính tri ân
Dòng
mưa pháp thấm nhuần tươi ba cõi.
*
12.
Phẩm Ðề Bà Ðạt Ða
12.
Phẩm Đề-Bà-Đạt-Đa
Giọt
sương rơi tan vỡ giấc mơ xuân
Phiến
mây nổi phiêu dao dòng ảo cảnh
Ðêm
tàn mộng nguyệt treo đầu song lạnh
Một
trời thu man mác cõi sầu trường
Phấn
hương bay hiu hắt lối nghiêm cung
Viền
núi tím đâu dấu chân dã hạc.
Ðánh
trống lệnh vang vang lời cầu pháp
Bỏ
ngôi vua đổi manh áo người tu
Nguyện
giữa trời nghe được pháp thâm sâu
Dùng
thân mạng cúng dường dù lao khổ
Lúc
bấy giờ có người tiên Trường Thọ
Lên
tiếng rằng: Ta có pháp Ðại Thừa
Sẽ
y lời cung thỉnh của nhà vua
Thuyết
chánh tạng kinh Liên Hoa Diệu Pháp.
Vua
vui mừng biết lấy chi đền đáp
Liền
đi theo vào tận chốn rừng sâu
Ðêm
trải màn, ngày bửa củi, hái rau
Lòng
cung kính phụng thờ không mỏi mệt
Một
nghìn năm tinh cần trì diệu pháp
Ðược
sắc thân rạng rỡ tựa hoàng kim
Ðắc
Từ tâm tam muội, đức vô biên
Bốn
nhiếp pháp, bốn tâm vô sở úy
Mười
tám pháp bất cộng và lực trí
Ðạo
viên thành rộng độ khắp thiên, nhân
Kiếp
lâu xưa, Ta - vua ấy tiền thân
Ðề
Bà thuở ấy - tiên nhân Trường Thọ
Trải
hằng muôn pháp ân vô lượng độ
Sẽ
tựu thành Phật quả, hiệu Thiên Vương
Cõi
nước tên Thiên Ðạo, Phật Thế Tôn
Trụ
trần thế đúng hai mươi trung kiếp
Cõi
trời người dâng ngọc châu xây tháp
Rải
hoa trời thơm bảy báu cúng dàng
Người
đời sau tin nhận chẳng nghi nan
Ðược
phước báu xa lìa ba ác đạo
Mười
phương Phật thuyết pháp âm vi diệu
Cõi
sinh thân tai thường được nghe kinh
Trên
sen vàng thân bích ngọc hóa sinh
Biết
cảnh huyễn, tâm dung hòa thiện, ác.
Lúc
bấy giờ Ðức Trí Tích Bồ Tát
Cõi
hạ phương khởi niệm muốn quay về
Phật
dạy rằng: Dừng ý, lắng tâm nghe
Quy
thân mạng dưới đài sen lãnh hội
Ðại
Bồ Tát hiệu Văn Thù Sư Lợi
Sẽ
ứng thân tuyên nói nghĩa viên thông
Nói
dứt lời bát ngát giữa trời không
Ðại
Bồ Tát ngự sen vàng nghìn cánh
Biển
nước xanh phóng hào quang đại định
Rời
chỗ ngồi đảnh lễ Ðức Như Lai
Thân
và Tâm phủ phục trước bửu đài
Ngài
Trí Tích cũng vừa lên tiếng hỏi:
Từng
lên xuống hóa hoằng muôn ức cõi
Nơi
cung Rồng hóa độ được bao nhiêu?
Rằng:
Phải đâu khẩu, ý lượng ít, nhiều?
Trong
nhất niệm sẽ tự mình chứng biết!
Vừa
dứt lời giữa trời Không tịch diệt
Ngọn
long kỳ phất phới đỉnh Linh Sơn
Trên
tòa sen số Bồ Tát hằng muôn
Trụ
Không tướng hằng trang nghiêm Phật quốc
Chư
Bồ Tát như hoa trời tuệ nhật
Tự
tánh Không, đâu là chỗ sở cầu
Cõi
nước xanh, Linh Thứu khác gì nhau
Bồ
Ðề tướng đồng hư không vô tướng.
Lòng
tán thán Ngài Trí Tích Bồ Tát
Nói
kệ rằng: Thực tướng nghĩa vô biên
Pháp
nhất thừa vô lượng nghĩa nhân duyên
Ðại
thánh trí nay tôi đều đã thấy.
Ngài
Văn Thù: Ta ở nơi đại hải
Chỉ
trùng tuyên kinh Diệu Pháp Liên Hoa
Lại
hỏi rằng: Pháp vi diệu sâu xa
Ai
là kẻ sớm tựu thành Phật quả?
Ngài
Văn Thù: Ta-Kiệt-La tiểu nữ
Ðược
tổng trì, trí tuệ một vầng trăng
Thường
vào ra tánh tướng pháp nhất chân
Các
yếu tạng Như Lai đều trì được
Sơ
phát tâm liền vào nơi bất thối
Mở
ngôn từ hiện vô ngại biện tài
Tâm
đại từ thương xót khắp muôn loài
Thân
thọ mệnh vào ra muôn triệu ức
Ngôn
cùng hạnh tương ưng, bi, trí đức
Tâm
khiêm cung, ý hòa nhã bao la
Quả
Bồ Ðề trổ ngát ngón chân hoa
Phá
hình tướng để hiển dương thật Tánh.
Ngài
Trí Tích nói rằng: Muôn pháp hạnh
Không
nơi nào Từ Phụ chẳng trải thân
Ðại
tam thiên thế giới đến vi trần
Mỗi
mỗi chỗ đều chứa thân của Phật
Hạnh
khó làm, Ðạo dễ chi cầu được
Tôi
chẳng tin người nữ đắc Bồ Ðề
Huống
chi rằng chỉ một phút rời mê
Mà
chứng được đại tâm vô thượng giác.
Vừa
dứt lời bổng hiện ra trước Phật
Dáng
khoan thai con gái của Long Vương
Dưới
tòa vàng đảnh lễ đấng Từ Tôn
Nói
dòng kệ tán dương công đức Phật
Tịnh
vi diệu Pháp thân ngời tuệ nhật
Thái
dương kia chiếu sáng khắp mười phương
Sắc
thân vàng ròng nghiêm tịnh Pháp Vương
Cõi
trời người đồng phát tâm quy ngưỡng
Con
nay nói pháp nhất thừa tối thượng
Ðộ
thoát người trên bể khổ chơi vơi
Ý
từ tâm, tâm ý thốt nên lời
Riêng
trí Phật mới chứng tâm đồng Phật.
Lúc
bấy giờ tôn sư Xá Lợi Phất
Ứng
tiếng rằng: Lời nói khó tin thay!
Bởi
vì sao? Phật đạo quãng đường dài
Nào
lục độ, nào góp gom công hạnh.
Lại
thân nữ có năm điều khó tránh
Từ
thiên vương, Ðế Thích đến vua ma
Thân
uế nhơ còn chẳng được huống là
Thân
Rồng nữ lại ngồi tòa chư Phật?
Mở
lòng tay rạng ngời viên mai ngọc
Như
sao trời ba cõi đại tam thiên
Tiểu
nữ vương đảnh lễ đấng Thế Tôn
Quỳ
gối hữu, hai tay dâng ngọc quý.
Ðức
Như Lai liền đưa tay nhận lấy
Con
vua Rồng lại hỏi các chư Tăng:
Châu
báu kia dâng hiến đấng Từ Tôn
Ngài
nạp thọ, chẳng hay mau hoặc chậm?
Liền
đáp lời: Rất mau, trong khoảnh khắc!
Tiểu
nữ vương liền nói: Hãy chú tâm!
Dụng
sức thần của tất cả các ông
Sẽ
thấy được tôi hóa thân thành Phật
Lại
còn mau hơn Thế Tôn nhận ngọc!
Nói
dứt lời tướng nữ biến thành nam
Hạnh
Bồ Ðề tỏa rạng ánh huệ quang
Cõi
Vô Cấu ứng thân ngồi tòa báu
Bậc
chánh giác đủ tám mươi vẻ đẹp
Khắp
mười phương tuyên diệu pháp độ sinh
Ðất
vui mừng chấn động diệu âm thinh
Chư
Bồ Tát, Thanh Văn quỳ dưới bệ
Chim
hót điệu reo vui đôi dòng kệ
Lời
kinh trăng đá tụng dưới khe xanh
Tấm
mây trời gấm trải giải thiên thanh
Giọt
mưa rụng đôi cành theo bóng gió
Biển
sớm âm ba trùng trùng vạn cổ
Nghiêng
chân chạm đất, ngữa tay gặp trời
Chẳng
thực chẳng hư một cõi luân hồi
Nước
tịnh thủy lệ tràn khuôn mặt tượng
Tâm
mê chấp vì không lìa được tướng
Trí
Bồ Ðề an trụ tướng hư không
Hình
tướng kia vô ngã, nghĩa tùy tâm
Sáu
căn tịnh, cầu Tâm không cầu Phật.
*
13.
Phẩm Trì
13.
Phẩm Trì
Vọng
dấy khởi tâm ngăn rào dựng vách
Ðã
từ Không sao chẳng lại về Không
Nét
họa thần tình muôn cảnh vạn duyên
Một
chiếc cọ vẽ thiên đường, địa ngục
Cánh
tay duỗi tìm được đâu đất Phật
Bước
chân qua đại đạo nở hài xanh
Nghĩa
trì kinh là niệm Sắc tức Không
Vào
trí Phật đồng chân như thường trụ
Tâm
mê chấp cuốn trôi dòng thác lũ
Ngày
nối đêm, mộng nối mộng không thôi
Ôm
dòng kinh tờ lá cũ ngậm ngùi
Ai
tìm Phật, ai người không là Phật?
Lúc
bấy giờ Ngài Dược Vương Bồ Tát
Phát
thệ rằng: Lời nguyện trước Như Lai
Ðổi
đài châu, tòa báu lấy bồ đài
Trong
đời ác chúng sinh vô lượng độ
Nhẫn
đến kẻ tà tâm hằng sa số
Nghe
lời kinh sinh trí hẹp chê bai
Cho
đến người tham lợi dưỡng, sắc tài
Một
dòng kệ nguyện vì người thường đọc
Ôi
như kẻ hữu tâm và hữu học
Tâm
sinh tình, học lìa trí thế gian
Huyễn
duyên sinh, huyễn cảnh lại buộc ràng
Tội
như huyễn, phước kia cùng như huyễn
Ai
người giác, lấy vật gì để giác
Ngã
đã Không thì Pháp cũng là Không
Ngã
pháp kia chỉ Một - có đâu hai
Thân
giả huyễn số nhiều như cát bụi
Xin
đảnh lễ dưới chân người đại trí
Một
dòng xanh có thấy lại bao giờ!
Chỉ
một Tâm sao ở cả hai bờ
Tịnh
Tâm ấy tức trì kinh chư Phật.
Dưới
đài báu năm trăm A La Hán
Cùng
tám nghìn Thích tử phát thiện tâm
Xin
ở nơi an tịnh, ít tham sân
Chúng
con nguyện mang kinh nầy giảng dạy
Người
trong cõi Diêm Phù nhiều tà vạy
Tâm
thị phi, đức mỏng, dễ giận hờn
Vì
ôm lòng chấp ngã tựa băng sơn
Trí
hạn hẹp khó sinh tâm thọ pháp.
Ðại-Ái-Ðạo
tỳ khiêu ni nhìn Phật
Và
sáu nghìn ni chúng chắp tay hoa
Phật
dạy rằng: Vô lượng kiếp lại qua
Ứng
thân hiện làm Pháp sư thuyết đạo
Hạnh
Bồ Tát, trí đại bi thâm áo
Sẽ
tựu thành Phật quả, đức đủ đầy
Nhất-Thiết-Chúng-Sinh-Hỷ-Kiến
Như Lai
Là
Phật hiệu khiến trời người ứng cúng.
Lúc
bấy giờ Bà Gia-Du bái vọng
Lòng
nghĩ thầm: Phật chẳng nhắc tên tôi.
Mắt
hồ xuân lay động khóe môi tươi
Tâm
khao khát được nhận lời thọ ký
Phật
dạy rằng: Thấm nhuần muôn pháp vị
Hội
đạo tràng làm vị đại Pháp sư
Hạnh
Bồ Ðề viên mãn, đức ân dư
Thành
chánh quả, Phật hiệu là Cụ Túc
Phật
trụ thế dài lâu vô lượng kiếp
Cõi
nước tên Thiện Quốc, độ trời, người.
Ðược
như lời, đại ni chúng mừng vui
Nói
dòng kệ nguyền xiển dương Diệu Pháp.
Phật
từ mẫn nhìn xuống chư Bồ Tát
Bậc
chánh tâm được các pháp tổng trì
Ðức
sâu dày, nguyện lực trụ vô y
Bất
thối chuyển đến, đi trong tam giới
Chư
Bồ Tát từ chỗ ngồi đứng dậy
Cùng
chắp tay chờ lời dạy phụng trì
Nét
xuất phàm nghiêm tịnh vẻ phong nghi
Phật
yên lặng. Liền nói lời thệ nguyện:
Diệu
pháp tạng thấm sâu lòng tuế nguyệt
Ngọn
đuốc thiêng ngời ánh tuệ quang minh
Nguyện
giữa trời thọ muôn vạn thân sinh
Như
huyễn trụ tùy duyên khai chánh đạo
Tướng
vô tướng sinh thân tùy thuận tướng
Tâm
vô tâm vào sáu nẻo luân hồi.
Muôn
pháp sinh nào khác tuyết hoa rơi
Khi
thức, ngủ vẽ vời mê đồ trận
Cảnh
chẳng thực, lòng xuân say túy mộng
Biết
Tâm nầy, vào yếu tạng Như Lai
Chẳng
giữ Tâm lại cầu pháp bên ngoài
Ðường
vạn dặm chỉ hoài công cầu pháp.
*
14.
Phẩm An Lạc Hạnh
14.
Phẩm An-lạc hạnh
Lúc
bấy giờ Ngài Văn Thù Sư Lợi
Tán
thán rằng: Hy hữu! Bạch Thế Tôn
Thệ
nguyện kia như đổi bể, dời non
Lòng
thế tục, dòng trường lưu đại mộng
Sinh
đời ác, muốn hộ trì chánh tạng
Làm
thế nào có thể nói kinh nầy?
Phật
dạy rằng: Thấy thực tướng không hai
Trụ
nhẫn địa, đó gọi là hành xứ.
Hạnh
kiên cố, Tánh Không là pháp lữ
Lời
khen chê, tiếng thuận nghịch gió bay
Tịnh
chẳng cầu, động cũng tựa áng mây
Quán
các pháp nhân duyên là Như Vậy
Giữ
đại tâm, chẳng gần người tiểu trí
Một
Tâm nầy tức đồng với Phật tâm
Ðành
lòng sao, làm nhơ nhuốc tông môn
Giòng
giống Phật, hạt mầm ươm đại địa
Vọng
niệm khởi, Tâm thay hình, đổi thể
Khi
đồng tâm với những kẻ bạo quyền
Hoặc
thấy mình bổng như kẻ mơ duyên
Tà
sen rụng tưởng cánh thuyền du tử
Cũng
lại chẳng sinh tâm gần người nữ
Màu
phấn hoa há xiêu được lòng tu
Phải
trì tâm như mặt nước hồ thu
Giữ
tâm ấy như giữ lòng chư Phật
Trụ
thuyền định, nhiếp tâm lìa lục tặc
Tâm
trì tâm, nhất niệm chẳng buông lung
Ví
như người tuổi dại chẳng cùng chung
Trì
giới hạnh tức giữ tâm đạo vậy.
Thả
phước báu theo dòng xuôi nước chảy
Thả
sắc tài trên tận đỉnh mây trôi
Trả
xác thân về nấm đất nông vùi
Tâm
đứng vững như cây rừng đại thọ.
Tâm
an lạc xuôi chèo trên sóng bủa
Thấy
tâm mình, chẳng thấy lỗi thế gian
Khởi
lòng thương kẻ chẳng hiểu kinh vàng
Kẻ
kém phước chưa một lần được đọc
Kẻ
như vậy thích nói lời thô độc
Khi
chê người thường ngụ ý tự khen
Trải
từ bi với muôn vạn chúng sinh
Cảm
ân đức tạo nhân duyên thành Phật
Người
chân tu ngữ ngôn đồng tánh giác
Ðóa
sen thơm vô lượng đức nở hoa
Ngón
tay vàng chỉ nước Phật đâu xa
Trụ
như huyễn tức ngồi tòa chư Phật
Chỗ
xa lìa cũng không sinh niệm ác
Bỏ
ghét, ưa lòng đố kỵ thế gian
Thanh
tịnh tâm, sinh tử tức Niết Bàn
Chánh
trì giới là lìa tâm tam giới
Lại
thêm nữa! Nầy Văn Thù Sư Lợi!
Ví
kho tàng có vô số bảo châu
Từ
ngựa xe, thành ấp đến gác lầu
Vua
ban thưởng kẻ dày công khó nhọc
Chỉ
riêng ngọc minh châu trong búi tóc
Dành
ban cho vị tướng thắng vạn quân
Pháp
Như Lai tám vạn bốn nghìn môn
Tùy
căn nghiệp chúng sinh mà hóa độ
Dạy
nhẫn nhục, tinh cần và thiền tọa
Dạy
tịnh tâm, chánh niệm, chánh tư duy
Riêng
Pháp Hoa yếu tạng bất tư nghì
Là
diệu pháp Phật dạy hàng Bồ Tát
Là
diệu tạng dạy chúng sinh thành Phật.
*
Xem
Tiếp Trang 2