Dùng
Trí để hiển Trí không gì hơn là dùng kinh để hiển kinh.
Pháp
Hoa là Ðại Bát Nhã, là Ðại Niết Bàn, là Hoa Nghiêm, là
Lăng Nghiêm, là Lăng Già, là Duy Thức, là ý Phật, là lời
Tổ...
Một
kinh là nghìn kinh, nghìn kinh vào một dòng, vốn đã tự đầy
đủ.
Pháp
tử thẹn tài hèn, đức mỏng đã không thể diễn bày đến
được
chỗ
tận cùng vốn tự đầy đủ kia.
Muôn
thân con trong bầu pháp giới đồng hư không quy mạng đảnh
lễ mười phương chư Phật, chư Hiền Thánh, nhất tâm sám
hối.
Nam
Mô Pháp Hoa Hội Thượng Phật Bồ Tát.
Từ
Hoa
AUDIO
MP3
Thi
ngâm: Vân Khanh, Bảo Cường, Bích Ngọc,
Phan
Xuân Thy, Ngô Đình Long, Thu Thuỷ
Nhạc
cụ: Thanh Bình, Kim Long, Thuý Hạnh,
Việt Hùng
Đính
Chính
15.
PhẩmTùng Ðịa Dũng Xuất
15.
Phẩm Tùng địa dũng xuất
Lúc
bấy giờ số hằng muôn Bồ Tát
Khắp
mười phương cõi nước chắp hai tay
Liền
bạch rằng: Kính lạy Ðức Như Lai
Xin
được nguyện lời hộ trì chánh tạng
Xin
được nguyện hằng giữ gìn đọc tụng
Vì
chúng sinh đời ác trược nói kinh.
Phật
dạy rằng: Cõi nước chúng hữu tình
Số
Bồ Tát hằng sa và quyến thuộc
Phật
diệt độ, sẽ trùng tuyên, tụng đọc
Cõi
Diêm Phù diệu pháp trổ liên hoa
Nói
dứt lời đất rúng động mở ra
Từ
lòng đất hiện hằng muôn Bồ Tát
Thân
sắc vàng tỏa ngời vô lượng đức
Vô
lượng quang chiếu rạng cõi thinh không
Dưới
đài hoa đảnh lễ nhiễu quanh vòng
Nói
lời kệ nhất niệm tâm tán thán
Non
Linh Thứu không, thời như tịch lặng
Trải
năm mươi tiểu kiếp tựa nửa ngày
Như
vi trần mỗi mỗi đến và đi
Thân
hóa hiện không rời an lập định
Bậc
thượng giác, vô biên, thanh tịnh hạnh
Trí
vô sư không năng, sở biện phân
Một
bầu Không nguyên vẹn thể hư tâm
Tánh
vạn pháp bản lai thường tịch diệt
Niệm
vô niệm vào chân như thực tánh
Biết
vô sinh lục đạo nhập đại thừa
Sáu
căn cùng năm ấm gió mây đưa
Vô
nhất vật, chẳng sinh tâm tức Phật
Rời
động, tịnh, đây, kia là bến giác
Vốn
xưa nay chư Phật chẳng mong cầu
Tánh
thường nhiên ngay tại cõi bể dâu
Thể
thường trụ thức phàm sinh trí thánh.
Chốn
đạo tràng là nơi thuần đạo hạnh
Cõi
tịch nhiên tức chỗ chẳng nhiễm ô
Sự,
lý viên dung vô ngại nhất thừa
Niệm
nối niệm vào ra muôn cảnh giới
Chẳng
làm kẻ mỏi mắt trông vời vợi
Chẳng
làm người cầu pháp lại mê tâm
Chẳng
thực, chẳng hư vạn thể tự đồng
Tánh
của Sắc, tướng của Không đồng vị.
Thiện
nam tử! Hãy phát tâm tùy hỷ
Thuận
chân như tánh tướng tự phô bày
Cát
lẩn vàng, ngọc ẩn đá chẳng hay
Biết
nhận lấy chẳng bao giờ thiếu hụt.
Lúc
bấy giờ hóa thân muôn cõi nước
Có
các hàng Bồ Tát khởi lòng nghi
Phật
dạy rằng: Hãy lắng niệm thọ trì
Ðại
Bồ Tát sẽ vì người thưa hỏi.
Ngài
Di Lặc, vị nhất-sanh-bổ-xứ
Nói
kệ rằng: Kính lạy Ðức Như Lai
Nhân
duyên gì có sự lạ dường nầy
Các
Bồ Tát hiện thân từ lòng đất
Số
đại chúng vô lượng nghìn muôn ức
Ðại
thần thông, trí tuệ chẳng nghĩ bàn
Chí
niệm kia kiên cố khó ai hơn
Trụ
nhẫn nhục một lòng cầu Phật đạo.
Tại
đạo tràng với hằng muôn quyến thuộc
Cùng
hộ trì kinh Diệu Pháp Liên Hoa
Hoặc
ở nơi thanh vắng số hằng sa
Cùng
đi đến dưới đài sen phụng thỉnh
Tâm
an định vững vàng như tuyệt bích
Vẻ
phong tư uy đức ví tịnh châu
Ai
là người giáo hóa khiến quy tâm
Ðâu
tôn chỉ, kinh thọ trì tu tập
Cảm
thần lực, đất bốn phương chấn động
Cõi
nước nào đã ứng hiện nơi đây
Khắp
đạo tràng cùng muốn rõ nguyên lai
Từ
kim khẩu xin một lời giải nói.
Phật
dạy rằng: Ra vào muôn ức cõi
Trí
Như Lai chiếu diệu bất tư nghì
Giữ
một lòng trân trọng chẳng hoài nghi
Trụ
nhẫn thiện thấy điều chưa từng thấy
Ðại
Bồ Tát từ trong lòng đất dậy
Như
cánh vàng hé nhụy ngọc mở ra
Như
sen thơm vượt bùn đất đơm hoa
Người
kém phước chẳng thấy là diệu tuyệt
Cỏ
Phì-Nhị bò ăn trên núi Tuyết
Ðủ
phước duyên biến thành sữa đề hồ
Như
non cao bảy báu dựng phù đồ
Trí
tuệ đến từ thất tình phiền não
Ðại
Bồ Tát do Như Lai hóa đạo
Quốc
độ kia thấy hiện giữa hư không
Chẳng
nắm trời, chẳng giữ đất sinh tâm
Chân
không trụ ví như vô sở trụ
Không
chướng ngại, chân tâm làm pháp lữ
Thường
vui nơi lan nhã, giảm tạp duyên
Chẳng
sinh lòng biện bác hí luận kinh
Niệm
niệm khởi cũng không rời chánh niệm
Tâm
cầu đạo một lòng không thối chuyển
Sẽ
tựu thành quả Phật chẳng nghi nan.
Lúc
bấy giờ phủ phục dưới bệ vàng
Ngài
Di Lặc nghĩ: Quyết không hư vọng
Bạch
Thế Tôn! Nhớ ngày rời cung ngọc
Thành
Già Da lấy cỏ kết bồ đài
Ðạo
viên thành tinh vẹn ánh sao mai
Từ
thuở ấy đâu dạn dày năm tháng
Ðại
Bồ Tát có người râu tóc bạc
Nét
uy nghi công đức tạng sâu dày
Số
hằng muôn không tính đếm được thay
Giữ
phạm hạnh trồng gốc lành thanh tịnh.
Nhớ
lời Phật tướng kia như bào ảnh
Phật
tùy nghi nói diệu pháp độ sinh
Trí
thế gian hạn hẹp tất hãi kinh
Không
lường được nhân duyên và quả báo.
*
16.
Phẩm Như Lai Thọ Lượng
16.
Phẩm Như Lai thọ-lượng
Dưới
tòa báu gối quỳ đầu chấm đất
Chư
Thanh Văn, Bồ Tát áo vàng mây
Phật
dạy rằng: Pháp vi diệu cõi nầy
Các
ông hãy lắng tâm mà tin nhận
Lời
Như Lai trước sau đều chân thật.
Phật
ba lần lập lại những lời trên
Chúng
đạo tràng xác quyết một lòng tin
Ba
lần lạy, ba lần xin giảng dạy.
Cõi
trời người chiếc lều cỏ, đài mây
Nước
bốn bể lệ xanh đồng vị mặn
Ði
qua, đi qua đường trần mấy chặng
Thân
rồi thân lấy bỏ đã bao lần
Tiếng
thở dài sương rụng mấy tầng không
Ðường
cô quạnh mưa giăng mù bóng nhỏ
Núi
Diệu Cao mấy lượng cân mà đủ
Nước
tịnh bình bao giọt rót cho đầy.
Phật
lại dạy rằng: Vô lượng Như Lai
Một
thân Phật hiện hằng muôn triệu ức
Tâm
thế gian theo dòng đời xuôi ngược
Cõi
trời, người vẫn tưởng một thân Ta
Vị
Cồ Ðàm thuộc dòng tộc Thích Ca
Ðêm
sương lạnh mở cổng thành từ biệt
Dòng
sông tịnh áo đính châu bỏ lại
Rừng
thâm u kết cỏ trải tòa ngồi
Có
biết rằng thân Phật khắp nơi nơi
Dòng
kinh tuệ rạng ngời bông nắng sớm
Từ
thuở đất chưa trải dài nương ruộng
Từ
thuở sông chưa đắp đổi phù sa
Từ
gió chưa cuồng cuộn dậy phong ba
Và
như thế, thân Ta vô lượng cõi.
Ví
vô tận đại thiên nghiền ra bụi
Có
một người mang số bụi về Ðông
Ði
ngang qua vô lượng cõi thế trần
Mỗi
lần đến hạt bụi hồng rơi lại
Và
như vậy qua hằng muôn kiếp hải
Số
vi trần rơi hết những lần qua
Những
thế giới kia tính đếm được chăng?
Ngài
Di Lặc thưa rằng: Không thể được!
Bạch
Thế Tôn!
Các
cõi nước thật vô biên, vô lượng
Kẻ
thế gian chẳng biết được do tâm
Hàng
Nhị Thừa trí vô lậu siêu phàm
Cũng
chẳng thể tính ra vô số cõi
Hàng
Bồ Tát trụ đất tâm bất thối
Cũng
không hề thông đạt tận cơ duyên
Phật
dạy rằng: Các cõi nước vô biên
Cõi
vướng bụi hoặc cõi không vướng bụi
Nay
có kẻ nghiền ra như đã nói
Lại
ví như mỗi kiếp một vi trần
Vô
lượng kiếp, làm Phật vô lượng lần
Và
như thế, ứng thân vô lượng cảnh
Chẳng
đến, chẳng đi, chẳng thành, chẳng hoại
Một
thân nầy uyên mật nói thành ba
Ví
như người nhìn mặt kính vạn hoa
Thấy
một cảnh đổi ra muôn sai biệt
Như
phương tiện thuyết minh và quyền biến
Phật
đản sinh, Phật nhập diệt Niết Bàn
Hoặc
lâu xưa có Phật hiệu Nhiên Ðăng
Tuyên
diệu dụng bất tư nghì phổ thuyết
Nầy
pháp tử! Tâm chúng sinh hạn hẹp
Phật
tùy nghi ứng hợp thuận căn cơ
Thấy
chúng sinh nương dựa pháp Tiểu Thừa
Phật
liền nói: Ta xuất gia được pháp
Ðiều
Ta nói như nhân duyên tương hợp
Hợp
với người ưa thích pháp hữu vi
Ngôn
ngữ Như Lai diệu dụng tuyệt kỳ
Khi
đóng mở, khi xa gần dẩn dụ
Hoặc
chỉ thân mình, thân người tán tụ
Dùng
bao nhiêu phương thức chuyển pháp luân
Công
đức hải pháp giới vô biên thân
Vô
sinh diệt thị hiện thân sinh diệt
Vô
danh tướng thị hiện thân danh tướng
Sắc
hình như ảnh tượng chẳng đến đi
Biển
âm thinh Bồ Tát khéo thọ trì
Khéo
hội nhập trụ nơi Như Lai địa
Tánh
vốn tự tại, thân là trí huệ
Pháp
làm thân, Pháp Thân đồng hư không
Vì
hạng người đức mỏng lại buông lung
Trí
kém cỏi, tâm nghèo cùng hèn hạ
Chẳng
biết được hoa ưu đàm khó gặp
Ðức
Như Lai khó thấy được vậy thay!
Ta
vì người thị hiện nhập Niết Bàn
Thể
tánh Phật có đâu từng xuất, nhập.
Ví
như vị lương y cỏ cây hòa hợp
Tinh
luyện lương dược cứu bệnh nhân gian
Bốn
phương trời bầu thuốc một càn khôn
Khi
gió bể, khi sao rừng nhàn nhã
Hoa
núi tịnh trổ mười phương đất lạ
Ðường
đi qua bước bước tựa mây bồng
Ðất
cũng Không mà trời cũng thật Không
Ai
tương biệt liễu xanh lồng bóng nước.
Ðường
quanh co, đàn con thơ xuôi ngược
Hoa
bướm, sắc hình, trên dưới, trước sau
Vạn
nhân sinh, vạn duyên hiện nối nhau
Phơi
ảnh tượng đậm một mầu hư ảo.
Tâm
mê loạn, trí cuồng si điên đảo
Thấy
cha về lòng khôn xiết bi ai
Quỳ
lạy thưa: Xin cứu khổ, ban vui
Xin
tiên dược mưa xuống đời ai oán.
Người
cha nhìn: Bao giờ dòng lệ cạn
Bao
giờ sông thôi bồi đắp nên non
Ðến
bao giờ mặc nước chảy đá mòn
Dòng
sinh hóa ảo huyền như sóng nắng.
Nầy
con hỡi! Thuốc kia nên vị đắng
Bởi
vì sao? Tham dục rẽ ngược dòng
Ðời
qua đời, thang bắc đáy khe trong
Nắm
sao được nhạn hồng in bóng nước.
Nghe
cha dạy thuốc kia là lương dược
Ðứa
kính tin gìn giữ chẳng rời tay
Ðứa
khôn ngoan nhận uống vượt hiểm nguy
Ðứa
mê muội nghĩ thầm chưa cần vội
Người
cha thấy con mình thân mòn mỏi
Liền
gọi con: Cha để thuốc lại đây
Cha
tuổi già, sống thác cũng có ngày
Nhớ
lời dạy, chớ lo không lành bệnh.
Nói
dứt lời, đi sang miền lân cận
Lại
sai người tìm gặp các con thơ
Nhắn
lời rằng: Cha đã chết bao giờ
Lòng
trẻ dại bơ vơ mong gì gặp.
Nước
hồ chao hay lệ tràn khoé mắt
Gió
rung cây hay tiếng khóc đầu đời
Nhớ
lời cha, uống vị thuốc thơm tươi
Trừ
khí độc, được thân người lành mạnh.
Người
cha biết các con mình khỏi bệnh
Liền
trở về khiến trẻ được mừng vui
Nầy
thiện nam! Ý ngươi nghĩ thế nào
Người
cha ấy có phải là hư dối?
Bạch
Thế Tôn! Chẳng phải là hư vọng.
Phật
dạy rằng: Ta chẳng khác người kia
Ðã
từng khi nói đến hoặc nói về
Tùy
tâm niệm chúng sinh mà tuyên thuyết
Phật
thọ lượng trải A tăng kỳ kiếp
Tòa
Như Lai không có chỗ đến, đi
Pháp
Thân Ta thường trụ ở nơi đây
Dùng
các sức thần thông mà hóa đạo
Lòng
luyến mộ cúng dường thân Xá-lợi
Tăng
trưởng tâm khát ngưỡng thấy Như Lai
Người
thọ trì giữ niệm mỗi phút giây
Nghe
được tiếng Như Lai đang thuyết kệ
Linh
Thứu sơn nhất thời Phật tại thế,
Thì
nơi đâu chẳng phải núi Linh Sơn.
*
17.
Phẩm Phân Biệt Công Ðức
17.
Phẩm Phân biệt công đức
Người
khởi niệm tin Pháp Thân thường trụ
Ðắc
công năng gọi công đức thiện hành
Vô
lượng tâm được Pháp-Nhẫn-Vô-Sinh
Chứng
thực tướng chân như không sinh diệt
Ví
giọt nước cành dương tiêu vạn nghiệp
Trên
báu trì sẽ ngự đóa liên hoa
Tam
muội tổng trì, nầy A-Dật-Ða!
Ðại
Bồ Tát số nghìn lần chứng đắc
Nghe,
tin, hiểu, hiển minh chánh pháp tạng
Số
như vi trần Bồ Tát biện tài
Nhạo
thuyết vô ngại thật tướng Như Lai
Thanh
tịnh, bất thối hoặc một đời thành Phật.
Ca
ngợi đức dung quang dâng nhã nhạc
Tiếng
tơ buông, ngọc chạm vỡ giai âm
Hoa
mạn-đà rải cánh ngát tầng không
Rơi
trên áo Thế Tôn và tháp Phật
Gỗ
chiên-đàn thơm bay vui điệu trống
Như-ý-châu
nạm ngọc chín phương trời
Cõi
Phạm-Thiên tàng lọng nếp mây xuôi.
Ngài
Di-Lặc trịch áo bày vai hữu
Dâng
kệ tán thán Pháp Thân thường trụ
Phật
dạy rằng: Nghe thọ mệnh khai tâm
Hiểu
và tin vô lượng thọ Phật thân
Ðược
công đức hơn tịnh tu hữu tướng.
Ví
như kẻ dày công cầu pháp Phật
Na-do-tha
kiếp số chẳng buông lung
Bố
thí cúng dường báu vật mười phương
Vườn
lan nhã cây trầm làm tinh xá
Trì
cấm giới, điều tâm tu nhẫn nhục
Lời
khen chê như gió thoảng, mây đưa
Hạnh
giản duyên, thân, khẩu, ý ngăn ngừa
Lòng
trong lặng như nước hồ tín thủy
Chí
tinh tiến, ý không ngoài đạo vị
Thường
ưa nơi thanh vắng nhiếp tâm tu
Hoặc
đứng, hoặc ngồi, sức định thâm sâu
Muôn
ức kiếp trụ tâm không tạp niệm
Tịnh
tâm sinh phước, thiện duyên trùng điệp
Không
sánh bằng người tin nhận Pháp Thân
Người
thọ trì, giải nói rộng đức ân
Trí
thâm tín có thể sinh Phật tuệ
Nhất
thiết chủng trí hội nhập vào đại thể
Thấy
Như Lai huyền nhiệm đỉnh Linh Sơn
Diệu
pháp âm lay động phiến kinh thơm
Ngời
tâm tuệ sáng hai hàng đuốc thắp
Thấy
cõi đất Diêm Phù châu kết lọng
Lá
lưu ly, cây ngọc trổ trái vàng
Bồ
Tát hiện thân, đất hóa đạo tràng
Chiếc
cung bạc treo lưng trời Xá Vệ
Cánh
sao nở lửa thiêng soi dòng kệ
Nghìn
ngày sau ai kẻ chép tờ kinh
Thấy
tâm mình là Phật chẳng còn nghi
Dấu
hài cũ mải đi, bao giờ đến!
Ai
ngồi kết tháng năm thành một chuỗi
Ai
đem đời cột trói những vu vơ
Hai
cõi thánh, phàm ngăn cách đường tơ
Một
niệm khởi chia hai trời và đất
Ðịnh
thì tâm diệt, vô minh sinh giác
Phật
là Tâm đâu nhọc sức van cầu
Ðường
thênh thang mặc bể với mặc dâu
Tâm
thanh tịnh phải đâu là vô ký.
Miệng
nhả ngọc trên dòng kinh pháp vị
Tay
trầm hương đất dậy tiếng thần chung
Tháp
báu là thân đảnh lễ mười phương
Trí
tịch chiếu thần minh khai tuyệt lộ.
Lại
thêm kẻ thường phụng hành lục độ
Công
đức sâu dày, sự lý viên dung
Cội
Bồ Ðề hoa rải trụ hư không.
*
18.
Phẩm Tùy Hỷ Công Ðức
18.
Phẩm Tùy-hỷ công đức
Lúc
bấy giờ Ngài Di Lặc Bồ Tát
Bạch
Phật rằng: Kính lạy bậc thiên tôn
Nghìn
năm sau thiện nam tử, nữ nhân
Tịnh
tâm ý nghe Liên Hoa Diệu Pháp
Sinh
tùy hỷ kính tin tri kiến Phật
Biết
Như Lai không phải chỗ tìm cầu
Tin
tâm nầy và Phật khác chi nhau
Người
như vậy được bao nhiêu phước đức?
Tâm
chẳng tìm Tâm, Phật không cầu Phật
Sản
nghiệp kia tự có chẳng ai hơn
Cũng
chẳng hao mòn tánh đức, thiên chân
Tự
đầy đủ, rộn ràng chi lấy, bỏ.
Nương
giông bão rồng thiêng cuồng cuộn gió
Kẻ
không tin chẳng lượng được sức rồng.
Phật
dạy rằng: Tâm tùy hỷ tin sâu
Nghe
được pháp lại cùng người giải nói
Hoặc
thành ấp, xóm làng và pháp hội
Người
dạy người, pháp nối pháp reo vui
Chuyển
vần xoay cho đến thứ năm mươi
Nầy
A-Dật-Ða!
Ðức
tùy hỷ của người khôn lường được
Bốn
trăm muôn ức hằng sa thế giới
Bốn
chủng loài trong sinh tử sáu đường
Loài
không chân cho đến giống nhiều chân
Loài
có tưởng hoặc loài không tư tưởng
Ví
có người bố thí lầu vàng, gác phượng
Hoặc
đủ đầy vật dụng chỗ bày phô
Ngọc
lưu ly, voi, ngựa cõi Diêm Phù
Hằng
bố thí tám mươi năm như vậy.
Lúc
bấy giờ người ấy nhìn, tự nghĩ
Những
kẻ kia tuổi tác đã già nua
Trọn
một đời bận rộn chỗ thích ưa
Chánh
pháp tạng chưa một lần tụng đọc.
Liền
tuyên thuyết nghìn lời châu, ý ngọc
Ðưa
dắt người vượt thoát bể trầm luân
Dứt
tam đồ, đạt bốn quả Thanh Văn
Sức
thiền định và tám môn giải thoát.
Nói
dứt lời, Phật hỏi Ngài Di Lặc
A-Dật-Ða!
Ý ông nghĩ thế nào
Công
đức kia tính đếm được nhiều chăng?
Liền
bạch Phật: Ðức vô biên, vô lượng
Bạch
Thế Tôn!
Việc
tài thí đã hằng vô số phước
Lại
vì người mê đắm thí đại ân.
Trang
thánh thư chìm nổi một dòng tâm
Cửa
địa ngục mở ra nghìn phước hạnh.
Giãi
trần cấu buộc ràng cơn ấm, lạnh
Lối
mê đồ quanh quẩn nẻo u minh.
Phật
dạy rằng: Người tùy hỷ lời kinh
Tin
Phật trí và Phật thân thọ mệnh
Công
đức kia cách muôn trùng hạnh nguyện.
Về
đời sau có kẻ đến vì kinh
Chốn
già lam hoặc đầu suối, cuối ghềnh
Dáng
thấp thoáng bên tờ kinh thần diệu
Nghe
câu kệ vỡ tung nghìn âm điệu
Tin
Tâm mình là Phật chẳng còn nghi
Biết
nhân duyên huyễn hoặc đến rồi đi
Sao
đành làm kẻ tù đồ miền thế tục.
Lòng
tĩnh lặng phát sinh muôn công đức
Khi
chuyển thân thọ phước báu thiên cung
Lại
như người chia nửa chỗ ngồi cùng
Nơi
pháp hội khuyến mời nghe diệu pháp
Khi
chuyển thân được ngồi tòa Ðế Thích
Tòa
Phạm Vương hoặc ngôi bậc Thánh Vương
Cùng
Ðà-La-Ni Bồ Tát thọ sinh thân
Ngời
trí tuệ, sắc thân như tượng ngọc
Ðời
đời thọ thân được nghe, thấy Phật
Ðược
hộ trì diệu pháp tạng Như Lai
Phước
báu kia như trí lực hòa hài.
*
19.
Phẩm Pháp Sư Công Ðức
19.
Phẩm Pháp-sư công-đức
Tay
thắp đuốc mong soi dòng phù thế
Tay
chép tờ kinh mực đọng như sương.
Thực
tướng Pháp Hoa - không sắc, không hương
Chẳng
tại, chẳng ly, bất đồng, bất dị.
Bất
hữu, bất vô, phi nhị, phi bất nhị
Không
tướng Bồ Ðề, cũng chẳng tướng thế nhân
Chẳng
xã phàm phu, chẳng thủ thánh thần
Chúng
sanh giới tướng như chư Phật giới.
Không
thấy tịnh thanh, thấy đâu buộc trói
Nhập
pháp Không là A-Nậu-Ða-La
Pháp
ấn Như Lai- thực tướng Pháp Hoa
Không
một pháp, không một người, một vật
Ai
người khai ân, ai người thọ nhận
Cũng
là thân mà cũng chẳng là thân
Pháp
thuyết ra đồng một vị xuất trần
Vị
giải thoát, vị viễn ly, tịch diệt.
Quán
chiếu Pháp Hoa - tam-bình-đẳng-giác :
Thân
chúng sinh đồng tánh với Phật thân
Thân
vô biên, thanh tịnh, thể là Không
Không
tự nhận, đắm chìm trong ngã, pháp.
Chuyển
nghiệp lực hóa thân làm Bồ Tát
Chuyển
tàn thân, vạt cỏ hóa đài hoa
Áo
lụa xanh xuân hạ hóa cà-sa
Chiếc
hài rách vương bụi vàng cõi tịnh.
Tâm
đồng thể rỗng rang không loạn, định
Một
tâm nầy nào khác với Phật tâm
Vô
minh kia bổn tánh cũng là Không
Nhập
vô trụ hạnh Bồ Ðề Tát Ðỏa
Như-thật-trí
biết pháp từ Không hóa
Muốn
gặp Như Lai, đi đường Phật thường đi
Biết
chúng sinh như huyễn, khởi tâm bi
Biết
ngã tịnh tức chúng sinh cũng tịnh.
Dấu
chân người có đâu ngoài bước Phật
Rừng
dâu xanh rụng lá cội Bồ Ðề
Pháp
giới nhất chân không chỗ đến, chỗ về
Nhập
Phật độ không tướng và không cảnh.
Nước
hồ tĩnh lặng soi viền trăng lạnh
Viền
trăng kia nào lựa chỗ, chọn hình
Ngã
đã Không, xứ, giới, chỗ nào sinh
Mười
phương Phật thương chúng sinh huyễn hiện.
Nên
thường tịch, nên thường quang huyền biến
Tánh
là Không nên Tướng cũng là Không
Như
hằng sa Phật quốc cõi trời Ðông
Ai
lường được pháp môn vô lượng nghĩa.
Văn
tự Pháp Hoa - lời là phương tiện
Kẻ
tri âm đạt lý bỏ quên lời
Trắng
tờ kinh danh tự hóa ra Người
Ai
về rải hoa trời thơm cõi tục.
Tụng
dòng kinh ví cưỡi rồng trên sóng nước
Ðoạt
ngọc long-châu chớ lấy chút vảy rồng.
Lúc
bấy giờ chư Bồ Tát, Thanh Văn
Quỳ
dưới bệ trí rạng ngời huệ giác
Tâm
tùy hỷ thơm hương sen Ưu-Bát
Linh
Thứu sơn bạch hạc múa cung tiên
Chiếc
bồ đoàn hóa tòa báu Phạm Thiên
Gió
ru lá, xanh đôi cành thiên điểu.
Phật
dạy rằng: Trang nghiêm thân vi diệu
Giải
lời kinh hoặc đọc tụng, thọ trì
Mắt
huệ quang thấu suốt ngục A-tỳ
Vượt
cõi Sắc lên đến trời Hữu-Ðỉnh
Tám
trăm công đức nhãn căn thanh tịnh
Thấy
trời, người, thấy nghiệp quả đến, đi
Núi
Diệu-Cao vời vợi ngọn Thiết-Vi
Không
thiên nhãn đã diệu kỳ thần biến.
Thấy
Sắc rỗng không, vô trụ nên vô ngại
Thấy
pháp thế gian biến dạng gọi là sinh
Thấy
Bồ Ðề không tướng cũng không danh
Thấy
địa ngục, thiên đường trong năm uẩn
Thấy
giải thoát trong lòng tay mở, nắm
Thấy
tham cầu chánh pháp hóa ra tà
Thấy
không người, không cảnh cũng không ta
Thấy
vạn pháp trên dòng mây phù lãng
Thấy
Vô-Tướng như hư không bình đẳng
Thấy
Pháp-Thân trên thập giá bao phen
Công
đức sinh từ cái thấy gọi là thiền
Không
nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân và ý.
Và
sáu căn cũng thấy đồng Như-Vậy
Mở
một căn là mở cả sáu căn
Một
cửa vào thấy sáu thức, sáu trần
Mười
tám giới tánh nhiệm mầu thanh tịnh.
Lại
dạy rằng: Lắng nghe Thường-Tinh-Tiến!
Người
thiện nam, thiện nữ thọ trì kinh
Một
nghìn hai trăm công đức nhĩ căn
Tiếng
khắp cõi tam thiên không sai lạc.
Nghìn
âm điệu mở ra lời Như Thật
Một
lần nghe là nghe lại chân tâm
Cầu
đoạn trường qua mấy nhịp dư âm
Tiếng
rời rã của hoang tàn, ảo tượng
Tiếng
đành đoạn một dòng tâm mê loạn
Tiếng
thét gào máu pha lệ lầm than
Tiếng
Bích Chi, Duyên Giác, tiếng Thanh Văn
Tiếng
Hữu Ðỉnh, Quang Âm và Biến Tịnh
Tiếng
giáo pháp của các hàng đại thánh
Tiếng
Như Lai thâm áo nghĩa thiên chân
Tiếng
hoa rơi phô dáng vẻ vô thường
Tiếng
suối chảy khen lời vi diệu pháp
Công
đức sinh từ nhĩ căn vô-sở-đắc
Dòng
khe xanh cá nghe được lời kinh
Chim
vườn xuân im tiếng hót nghiêng mình
Tàu
lá mới chen cành nghe mật ngữ.
Người
trì kinh, thiện nam và thiện nữ
Ðược
tám trăm công đức tại tỷ căn
Một
làn hơi dài, ngắn, cõi thế trần
Hoặc
thanh tịnh ngữi hương trời các cõi
Hoa
chiên đàn, mạn thù sa, trầm thủy
Hương
trầm thơm thân chư vị thiên vương
Áo
thanh đồng, thiên nữ, lụa bay hương
Thơm
chuỗi ngọc tịnh châu ngời thánh thể
Cành
thiên hương nở thơm hoa hồng quế
Mây
khánh tường năm sắc dấu hài tiên
Núi
Thiết Vi, biển Kiềm Hải bao quanh
Tiểu
thế giới như vi trần ẩn, hiện
Người
trì kinh biết thiên ma ngọc điện
Gió
thiên cung động các vị con trời
Khi
tham sân, lúc phóng dật dạo chơi
Biết
tâm niệm, biết thân nam, thân nữ
Chốn
hoang vu, núi dựng thành hiểm trở
Biết
giang san mãnh hổ chúa sơn lâm
Sư
tử vương tiếng rống động núi rừng
Bờ
suối vắng in dấu chân bạch tượng
Cửa
thạch động dạ minh châu thắp đuốc
Vườn
tàn xuân rơi nửa cánh phù dung
Kệ
đôi dòng phóng bút của người tu
Phiến
lá quỳ bức tiên-hoa đậm nét.
Hoa
phước báu ai rụng tàn cung nguyệt
Hạt
thiện tâm nẩy lộc cửa thiên đình
Trời
Quang Âm, Hữu Ðỉnh, Biến Tịnh thiên
Xuất
nhập định cung thiền trời Phạm Thế.
Hoặc
lều cỏ vách đề đôi câu kệ
Hoặc
cầu mây thanh thoát lối kinh hành
Hoặc
ven rừng, dốc suối, tụng dòng kinh
Hoặc
nghiêm tịnh tọa thiền nơi thảo dã.
Hội
Linh Sơn, lời Thế Tôn giáo hóa
Như
nghìn năm chưa dứt khói trầm bay
Như
nghìn năm sáo ngọc trổi đất nầy
Áo
chư thánh bày vai, quỳ gối hữu.
Người
trì kinh nhất vị đồng tánh giác
Một
nghìn hai trăm công đức thiệt căn
Lưỡi
sen hồng cánh ngọc vỡ nhất âm
Từ
tâm xuất miệng thơm lời vô thượng
Thuyền
duyệt thực nuôi thân, tâm tăng trưởng
Pháp
Như Lai làm hoa trái, dưa rau
Lời
nguyện giữa trời đối diện trăng sao
Niệm
danh Phật làm khẩu xưng tam muội
Niệm
chân như là Niết Bàn giải thoát
Ngôn
ngữ hợp hòa, chính, thực, thuận nhu
Như
sương mai trên nhánh lá nghìn thu
Như
suối mát tuôn giọt châu như-ý
Khi
cần mở miệng, nói lời thượng trí
Môi
hồng thơm pháp vị uống trăng thanh
Tạo
nhân duyên ngôn giáo dẩn chúng sinh
Cõi
trời, người đồng chắp tay cung kính
Trang
sách ngọc tụng câu kinh viên diệu
Ðất
hộ trì, trời che chở giữ gìn
Phật
hiện thân khiến tăng trưởng lòng tin
Lời
như-thực viên âm làm công đức.
Vô
lượng thân hóa muôn thiên bách ức
Ðại
từ tâm viên mật Phật hóa người
Bỏ
lại trầm luân, đời bỏ lại đời
Người
hóa Phật cũng đồng tâm, đồng cảnh.
Ánh
sáng trên thân rạng ngời nguyệt bạch
Như
dòng trong phai nhạt dấu lục phàm
Một
thân nầy thâu lại đại tam thiên
Mở
trời đất, dựng thiên đường, địa ngục.
Trận
cuồng lưu đổ tràn trên sức sóng
Giọt
sương hồng có mặt giữa đại dương
Thân
rồi thân hóa hiện cõi vô thường
Hạnh
thanh tịnh được tám trăm công đức.
Người
trì kinh mắt huệ đồng tánh giác
Biết
danh ngôn, văn tự tánh là Không
Dùng
ý căn tịnh huệ thọ trì kinh
Không
nắm giữ tức hộ trì chánh tạng
Ý
không ý tức không ngoài pháp ý
Một
dòng kinh thấu suốt tánh vô biên
Ðạt
biện tài giải nói nghĩa thâm huyền
Vô
lượng nghĩa sinh ra từ một pháp.
Biết
thế pháp tánh đồng như Phật pháp
Thánh
trí từ năm ấm mở bày ra
Như
cây khô một sớm nở hồng hoa
Tàn
sương gió trải bao mùa ấm lạnh.
Lìa
thân, cảnh, không, thời là chánh định
Một
nghìn hai trăm công đức ý căn.
*
20.
Phẩm Thường-Bất-Khinh Bồ Tát
20.
Phẩm Thường-Bất-Khinh Bồ-Tát
Phật
dạy cùng Ðắc-Ðại-Thế Bồ Tát
Công
đức sinh từ trí hạnh trì kinh
Nếu
có người mắng nhiếc hoặc chê khinh
Gieo
mầm ác sẽ có ngày kết trái.
Thuở
lâu xưa quá vô biên kiếp hải
Hiệu
Ly-Suy, nước tên gọi Ðại-Thành
Có
Ðức Uy-Âm-Vương Phật Thế Tôn
Ứng
căn tánh muôn loài tuyên diệu pháp
Phật
thọ mệnh muôn A-tăng-kỳ kiếp
Chánh
pháp trụ đời vô lượng vi trần
Phật
diệt độ rồi lại Phật ứng thân
Ðồng
Phật hiệu trải hằng hai muôn ức
Chánh
pháp diệt qua đến thời tượng pháp
Hàng
tỳ khiêu tăng-thượng-mạn số đông
Khoác
cà-sa qua lại chốn già lam
Chấp
chỗ đắc tự cho là đã đủ
Tâm
ngạo mạn không lòng cầu quả Phật
Kiêu
khí hẫy hừng nhận lễ lạy thập phương
Trí
kém hèn, chút phước báu còn vương
Chẳng
tự biết như bụi đường trầm muội
Có
từng bao giờ ngồi hỏi lại đời
Lấy
câu trường mộng, lấy lời vô sinh.
Bấy
giờ có Bồ Tát Thường-Bất-Khinh
Thường
đảnh lễ các tăng nhân, cư sĩ
Nói
lời rằng: Tôi một lòng kính quý
Bởi
tu trì Bồ Tát hạnh vô cầu
Nên
các ngài sẽ là Phật mai sau.
Hàng
tứ chúng cho là lời hư ngụy
Liền
mắng rằng: Ông tỳ khiêu vô trí!
Ta
chẳng nhận lời thọ ký dối hư kia.
Kẻ
ác tâm ném đá đánh đuổi đi
Trải
năm tháng chẳng sinh lòng hờn giận.
Pháp
Như Lai ngũ uẩn là hạt giống
Ðóa
sen thơm trổ cánh cõi mê trầm
Chiếc
tàn y che mưa nắng Pháp Thân
Lòng
vọng dục ươm hạt mầm diệu tuệ
Thập
bất thiện bắc cầu miền Phật địa
Hồn
mê hoang gõ cửa lối thiên đường
Vườn
điêu tàn mai nở ngát hương xuân
Ðêm
trường tịch gió ru vời âm điệu.
Ngời
thánh tuệ động hồi chuông thoát kiếp
Giữa
tầng không, nghe Phật thuyết lời kinh
Như
âm xưa nghìn kiếp chửa từng quên
Ân
pháp-nhũ sương bay ngàn cây cỏ
Sáu
căn thanh tịnh, thân vô lượng thọ
Phật
là Tâm, đồng một hiệu, một tên
Thuyết
pháp biện tài cứu độ nhân, thiên
Ðến
lúc bỏ tàn thân liền thấy Phật
Hai
nghìn ức Nhật Nguyệt Ðăng Minh Phật
Hội
đạo tràng thuyết Diệu Pháp Liên Hoa
Và
Phật hiệu là Văn-Tự-Tại-Ðăng-Vương
Cũng
đồng thuyết Pháp Hoa kinh hải hội.
Hạt
giống Phật phá trừ tâm hôn muội
Một
tờ kinh thuyết lại đã bao lần
Linh
Thứu sơn vằng vặc một mầu trăng
Thân
hóa hiện ẩn tàng vô lượng độ.
Ðắc-Ðại-Thế!
Người tỳ khiêu thuở đó
Phải
ai người xa lạ, cũng thân Ta!
Ðời
qua đời thuyết Diệu Pháp Liên Hoa
Ðạo
vô thượng khiến người mau thành tựu
Hàng
tứ chúng xưa kia sinh niệm ác
Ðã
nhiều đời không thấy được Như Lai
Ngục
A-Tỳ qua lại bạc gót hài
Sau
nghìn kiếp tái sinh nghe diệu pháp
Và
gặp lại Thường Bất Khinh Bồ Tát
Các
tăng nhân, cư sĩ pháp hội nầy
Không
nhân duyên đâu dễ gặp nơi đây
Trụ
bất thối sẽ thành vô thượng đạo.
Ðắc-Ðại-Thế!
Phải
biết rằng Liên-Hoa kinh thâm áo
Là
nguồn tâm, là thực tướng vô sinh
Người
chân tu niệm niệm hóa thành kinh
Hồ
nước tịnh sen xanh lồng sắc áo.
*
21.
Phẩm Như Lai Thần Lực
21.
Phẩm Như Lai thần-lực
Ðại
tam thiên số vi trần thế giới
Bồ
Tát từ lòng đất hiện toàn thân
Chắp
hai tay cung bái giữa thinh không
Ðồng
bạch lời xin hộ trì chánh tạng
Thân
ẩn, hiện, không, thời, như điệp mộng
Gió
muôn phương ai biết dấu mà tìm
Ðôi
tờ kinh để lại mở thiện duyên
Suối
nước mắt chúng sinh thay dòng mực.
Lúc
bấy giờ giữa hằng muôn triệu ức
Chư
tăng nhân pháp tử cõi trời, người
Phật
hiện thần thông tướng lưỡi rộng dài
Quang
minh chiếu rạng mười phương quốc độ
Muôn
chư Phật ngự trên tòa sư tử
Ðồng
hiện thần thông vô lượng hào quang
Mười
phương vô ngại pháp giới nhất chân
Một
Phật hiện muôn phương đồng ứng hợp
Mãn
nghìn năm nghìn năm muôn cõi nước
Nhiếp
thần thông tịch lặng chuyển pháp luân
Bặt
ngôn từ diệu dụng ứng thinh âm
Ngón
tay động, như thuyết dòng vô tự
Giữa
trời không vọng vang lời thiên sứ:
Cõi
Sa Bà Phật thuyết Pháp Hoa kinh
Pháp
Ðại thừa dạy Bồ Tát nhân, thiên
Niệm
quy niệm, tâm quy tâm đảnh lễ
Mưa
trút lưới châu trang nghiêm Phật địa
Hương
trầm thơm tàng lọng kết hoa trời.
Pháp
giới dung thông Phật hiện cõi người
Ðồng
tâm thể, đồng không thời, tịch tịnh.
Không
phân cách hiện toàn chân thể tánh
Sắc
tướng tinh ròng ảnh hiện lung linh
Hạt
bụi hồng dung chứa đại tam thiên
Giọt
sương mỏng hiện muôn nghìn đại hải
Sợi
nắng rụng chiều đi đêm về lại
Vòng
trăng xanh dấu nửa mặt trời hồng
Tâm
đại hòa thấu suốt vạn nhân duyên
Lúc
ẩn hiện, khi mặc tình lấy bỏ
Dòng
thu gợn cuốn tràn muôn sức gió
Cọng
rêu xanh đi suốt cõi trời, người
Lưới
đế châu trùng điệp chiếu rạng ngời
Khôn
cùng tận khi một lần có mặt
Lòng
tay mở thuyết lời vô sở đắc
Dấu
hài qua ai nhớ đã bao lần
Chuỗi
thời gian kết lại mấy thu xuân
Ngày
dựng đất, tạo trời đâu từng thiếu
Nhất
niệm viên minh nghìn kinh nhập diệu.
Lúc
bấy giờ Phật dạy hàng Bồ Tát
Thần
lực Như Lai bất khả tư nghì
Chấn
động trời, rung chuyển đất mỗi uy nghi
Nếu
Ta nói hết ra không cùng tận
Vô
lượng vô biên nghìn muôn ức kiếp
Không
ngôn từ nói công đức kinh hoa
Lời
lời kinh tuyên thuyết pháp Ðại thừa
Mật
yếu tạng đời đời chư Phật nói
Sắc
thanh tịnh trang nghiêm vô lượng cõi
Tâm
như như không chỗ đến, chỗ đi
Thành
tựu vô ngại đại lực trí, bi
Các
ông phải hằng thọ trì tụng đọc.
Pháp
chư Phật rạng lời châu, ý ngọc
Thân
vô biên, sắc tướng khó nghĩ lường
Như
hư không thị hiện bóng lồng gương
Người
trì niệm lời kinh như thấy Phật
Ðó
là chỗ nên xây đền, dựng tháp
Bởi
vì sao? Nơi đó chính đạo tràng
Ðó
là nơi chư Phật chuyển pháp luân
Nơi
chư Phật ở đây mà nhập diệt.
*
22.
Phẩm Ðà-La-Ni
22.
Phẩm Đà-La-Ni
Lúc
bấy giờ Ðức Bồ Tát Dược Vương
Quỳ
gối hữu, áo bày vai, bạch Phật
Bạch
Thế Tôn! Bậc thiện nhân trì tụng
Cúng
dường kinh được phước báu nhiều chăng?
Phật
dạy rằng: Thiện nam tử, nữ nhân
Hằng
đảnh lễ na-do-tha chư Phật
Ý
ông nghĩ sao?
Người
như vậy được bao nhiêu phước đức?
Bạch
Thế Tôn! Vô lượng đức nghiêm thân!.
Thật
như lời! Nếu có bậc thiện nhân
Tâm
thanh tịnh thọ trì đôi dòng kệ
Vì
chúng sinh nói câu kinh liễu nghĩa
Công
đức trên dù vậy chẳng phần hơn.
Dưới
bệ vàng, Ðức Bồ Tát Dược Vương
Liền
bạch Phật xin nói lời thần chú
Ðà-la-ni,
nghìn muôn chư Phật nói
Lời
hộ trì, gìn giữ kẻ chân tu.
Liền
nói chú rằng:
An
nhĩ, mạn nhĩ, ma nễ, ma ma nễ, chỉ lệ,
già
lê đệ, xa mế, xa lý đa vĩ, chuyên đế,
mục
đế mục đa lý, ta lý, a vĩ ta lý, tang lý,
ta
lý xoa duệ, a xoa duệ, a kỳ nhị chuyên đế xa lý,
đà
la ni, a lư dà bà kỵ đá tỳ xoa nhị,
nễ
tỳ thế, a tiện đa la nễ lý thế,
a
đàn dá ba lệ thâu địa, âu cứu lệ, mâu cứu lệ,
a
la lệ, ba la lệ, thủ ca sai, a tam ma tam lý,
Phật
đà tỳ kiết lợi diệt đế đạt ma ba lợi sai đế,
tăng
già niết cù sa nễ bà xá bà xá thâu địa,
mạn
đá lã, mạn đá lã xoa dạ đa,
bưu
lâu đá, bưu lâu đá kiêu xá lược,
ác
xoa lã, ác xoa dã đa dã, a bà lư,
a
ma nhã na đa dạ.
Phật
khen rằng: Hy hữu! Hy hữu thay!
Lời
hộ pháp vì người ban phước báu.
Lúc
bấy giờ ngài Dũng Thí Bồ Tát
Bạch
Phật rằng: Con xin được hộ trì
Vì
pháp sư nói chú Ðà-la-ni
Lời
chư Phật bảo toàn người trì pháp
Liền
nói chú rằng:
Toa
lệ, ma ha toa lệ, úc chỉ, mục chỉ,
a
lệ, a la bà đệ, niết lệ đệ, niết lệ đa bà đệ,
y
trí