THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học   Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả
 .....................................
Giảng Giải Kinh.
....
Luận
 ..............................

 
NỘI DUNG
.
MƯỜI TƯ TƯỞNG PHÁP HOA
TRONG ĐỜI SỐNG HÀNG NGÀY
Đương Đạo
Thiện Tri Thức, 2003
Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh

Mở Đầu

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa đưa người ta đến một sự chuyển hóa toàn triệt và toàn diện cuộc đời sanh tử khổ đau manh mún bởi chia cắt, phân biệt, oán ghét và xung đột của mình bằng cái thấy biết chân thật của Phật (tri kiến Phật). Sự chuyển hóa rất mạnh mẽ, bùng nổ, toàn triệt như rất nhiều chữ trong kinh đã nói lên điều đó. Có lẽ vì théá mà kinh được xưng là “vua của các kinh”, với rất nhiều đoạn ca ngợi sự ích lợi, công đức của người thọ trì kinh.

Ví dụ chữ Hoa Sen trong đầu đề kinh. Chữ này khi để nói về con người, nó chỉ cho Phật tánh nơi mỗi chúng sanh, bởi thế khi đức Phật nói “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” có nghĩa là mỗi chúng sanh đều là một hoa sen.

Trong các kinh Nikaya Nam truyền nói rằng vừa sau khi giác ngộ, đức Phật quan sát thế gian : “Ngài nhận thấy chúng sanh như những hoa sen trong đầm đủ màu xanh, đỏ, trắng lẫn lộn. Có hoa sen còn nằm trong bùn, có hoa đã lên trong nước, có hoa đã vươn gần mặt nước và có hoa đã vượt khỏi mặt nước. Thấy thế ngài quyết định truyền bá giáo pháp bằng lời tuyên bố : Cửa Vô Sanh Bất Diệt đã mở cho tất cả chúng sanh. Hãy để cho ai có tâm muốn nghe đặt trọn niềm tin tưởng.” Có lẽ đạo Phật có mặt ở đời vì cái nhìn thấy chúng sanh như những hoa sen này.

Kinh Pháp Hoa được xem là kinh cao quý nhất thuyết vào thời chót trước khi đức Phật nhập diệt là sự triển khai toàn bộ về hoa sen Phật tánh ấy.

Chỉ cần nhìn trong một khía cạnh của kinh Pháp Hoa, tức là thấy tất cả mọi người là hoa sen, thấy được như vậy thì có đầy đủ tất cả giới, định, huệ, đầy đủ từ bi hỷ xả, bố thí, nhẫn nhục cho đến trí huệ ba la mật. Khi thấy người khác là hoa sen, dù còn nằm trong bùn, tin được lời Phật dạy “Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành”, tự nhiên chúng ta không thể sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối..., tự nhiên chúng ta có đủ trân trọng, thương yêu và nhẫn nhục, tự nhiên chúng ta có hạnh Thường Bất Khinh Bồ tát, tự nhiên chúng ta tiếp thông được với nguồn năng lực và niềm vui duy trì và lưu xuất ra mọi hình thái đời sống này.

Như vậy, cái thấy biết “hoa sen” đã chuyển hóa toàn triệt những mối tương quan giữa người với người, với thế giới và với chính mình.

Kinh Pháp Hoa nói về hoa sen, mà gần gũi nhất là hoa sen nơi chính mình, những phẩm tính của hoa sen nơi chính mình. Bí quyết của người đọc tụng, giải nói Pháp Hoa là khai, thị, ngộ, nhập cái hoa sen Phật tánh ấy nơi mình. Hành giả Pháp Hoa là người sống cái hoa sen ấy nơi mình, càng lúc càng làm nó nở lớn hơn, tỏa hương hơn và hỗ trợ làm nở hoa sen nơi người khác.

Điều cốt lõi của kinh Pháp Hoa là Chân Không Diệu Hữu. Nó không nghiêng nhiều về mặt Chân Không, về mặt trí huệ như hệ thống Bát Nhã. Nó là sự hợp nhất của chân lý tương đối (thế đế) và chân lý tuyệt đối (chân đế), của căn bản trí (vô sai biệt trí) và hậu đắc trí (sai biệt trí). Tóm lại, nó là Phật quả.

Pháp Hoa là Chân Không Diệu Hữu. Chân Không là lĩnh vực của Trí Huệ. Diệu Hữu là lĩnh vực của Từ Bi. Chỉ riêng một chữ Diệu trong đề kinh đã nói lên sự hợp nhất của Chân Không và Diệu Hữu, của Trí Huệ và Từ Bi.

Ở đây chúng ta chỉ nói đến mười tư tưởng của Pháp Hoa để ứng dụng trong cuộc sống hàng ngày. Chúng ta nên nhớ trước khi nói kinh Pháp Hoa, đức Phật đã nói kinh Vô Lượng Nghĩa và nhập định Vô Lượng Nghĩa Xứ. Thế nghĩa là kinh Pháp Hoa có vô lượng nghĩa như pháp giới có vô lượng nghĩa. Chúng ta chỉ chọn mười tư tưởng để bước đầu đi vào Pháp Hoa. Và những tư tưởng ấy chỉ được khai triển trong những bước đầu tiên – vì có những điều thâm mật đến nỗi đức Phật cũng không nói thẳng mà chỉ dùng ẩn dụ –, còn phần sâu xa và rộng lớn của kinh Pháp Hoa là do mỗi cá nhân hành giả sống được bao nhiêu với hoa sen Phật tánh ấy nơi mình và nơi chúng sanh và thế giới. Sự thâm nhập Pháp Hoa tùy thuộc vào mức độ nở lớn của hoa sen nơi chính mình. Đó là công trình của mỗi cá nhân trong chốn thâm mật của mình với sự gia hộ của chư Phật chư Bồ tát.

Cuối cùng kinh Diệu Pháp Liên Hoa không chỉ là “vua của các kinh”, mà đối với đạo Phật Việt Nam, nó là một cuốn kinh chính. Kể từ khi có mặt ở Việt Nam vào thế kỷ thứ 2, 3 đến thời kỳ ảnh hưởng mạnh của kinh Pháp Hoa ở hai thời Lý-Trần, chúng ta thấy nhiều Thiền sư đã trì kinh và giảng dạy kinh Pháp Hoa. Cho đến ngày nay, kinh Pháp Hoa vẫn là cuốn kinh được dịch, in nhiều nhất, được đọc tụng nhiều nhất, được giảng dạy nhiều nhất. Có thể có một nhận định rằng kinh Pháp Hoa gắn liền với Phật giáo Việt Nam. Ít nhất, trong mức độ bình thường của chúng ta, việc thọ trì, đọc tụng, rộng nói kinh Pháp Hoa là một việc ảnh hưởng trực tiếp đến gia đình, xã hội, sẽ làm cho cá nhân và xã hội tốt đẹp thêm lên. Đó cũng là ước mong của tất cả chúng ta.

1. Đều Đã Thành Phật Đạo

Trong phẩm Phương Tiện thứ hai có những đoạn sau :

Các Phật diệt độ rồi
Nếu người lòng lành dịu
Các chúng sanh như thế
Đều đã thành Phật đạo.
Các Phật diệt độ rồi
Người cúng dường xá lợi
Dựng muôn ức thứ tháp
Vàng bạc và pha lê
Xà cừ cùng mã não
Ngọc mai khôi, lưu ly
Thanh tịnh rộng nghiêm sức
Trau dồi nơi các tháp,
Hoặc có dựng miếu đá
Chiên đàn và trầm thủy
Gỗ mật cùng gỗ khác
Gạch ngói bùn đất thảy,
Hoặc ở nơi đồng trống
Đắp đất thành chùa tháp
Nhẫn đến trẻ con giỡn
Nhóm cát thành tháp Phật
Những hạng người như thế
Đều đã thành Phật đạo.
Nếu như người vì Phật
Tạo dựng các hình tượng
Chạm trổ thành các tướng
Đều đã thành Phật đạo.
Hoặc dùng bảy báu làm
Thau, đồng trắng, đồng đỏ
Bằng nhôm và chì kẽm
Sắt gỗ cùng với bùn
Hoặc dùng keo sơn vải
Nghiêm sức làm tượng Phật
Những người như thế đó
Đều đã thành Phật đạo.
Vẽ vời làm tượng Phật
Trăm tướng phước trang nghiêm
Tự làm, bảo người làm
Đều đã thành Phật đạo.
Nhẫn đến trẻ con giỡn
Hoặc cỏ cây và bút
Hoặc lấy móng tay mình
Mà vẽ, làm tượng Phật
Những hạng người như thế
Lần lần chứa công đức
Đầy đủ tâm đại bi
Đều đã thành Phật đạo.
……………………………
Nếu người nơi tháp miếu
Tượng báu và tượng vẽ
Dùng hoa, hương, phan, lọng
Lòng cung kính cúng dường
Hoặc khiến người trổi nhạc
Đánh trống, thổi sừng ốc
Tiêu địch, đàn cầm, hầu
Tỳ bà, chiêng bạt đồng
Các tiếng hay như thế
Đem dùng cúng dường hết
Hoặc người lòng vui mừng
Ca ngâm tán thán Phật
Nhẫn đến một tiếng nhỏ
Đều đã thành Phật đạo.
Nếu người lòng tán loạn
Nhẫn đến dùng một bông
Cúng dường nơi tượng vẽ
Dần thấy vô số Phật
Hoặc có người lễ lạy
Hoặc lại chỉ chắp tay
Nhẫn đến giơ một tay
Hoặc lại hơi cúi đầu
Dùng đây cúng dường tượng
Dần gặp vô lượng Phật
Tự thành đạo vô thượng.
……………………………
Nếu người lòng tán loạn
Bước vào trong chùa tháp
Một xưng Nam mô Phật
Đều đã thành Phật đạo.
Nơi các Phật quá khứ
Tại thế hoặc diệt độ
Ai nghe danh pháp này
Đều đã thành Phật đạo.(1)

(1) Những trích dẫn từ kinh Pháp Hoa đều lấy từ bản dịch của Hoà thượng Trí Tịnh hoặc bản dịch của Hoà thượng Trí Quang, có đối chiếu với bản tiếng Hán của ngài Cưu Ma La Thập và một số bản tiếng Anh

Tất cả mọi hành vi, cử chỉ, dù là vô ý thức, đối với Phật và Phật tánh, thì “đều đã thành Phật đạo”. Tại sao như thế ? Tại sai chỉ cần một hành động nhỏ của thân, khẩu, ý hướng đến Phật đều khiến người ta “đều đã thành Phật đạo” ? Cái gì khiến một cử chỉ nhỏ cũng làm người ta tức thời tương ưng với Phật tánh ? Bởi vì mỗi người đã là một hoa sen, đã vốn sẵn Phật tánh, chỉ cần một chút cử động hướng đến Phật, tức thì hoa sen đó bừng nở, tức thì tương ưng được với Phật tánh vốn sẵn nơi mình.

Nhưng đó chỉ mới là cái thấy biết về phần chúng ta. Mà trong kinh Pháp Hoa, đức Phật muốn khai mở, chỉ bày, làm tỏ ngộ và thâm nhập (khai, thị, ngộ, nhập) cho chúng ta cái thấy biết của Phật (tri kiến Phật), hay chúng ta có thể gọi là cái thấy biết của Pháp Hoa. Với câu “đều đã thành Phật đạo”, kinh muốn giới thiệu cho chúng ta phần nào cái thấy biết đó của Phật, cái thấy biết của Pháp Hoa. Bởi thế, sau khi nghe (Văn), chúng ta phải tư duy (Tư) và thiền định (Tu) để cảm nhận phần nào cái thấy biết Pháp Hoa đó.

Trong cái thấy của Phật, tất cả chúng sanh và thế giới đều cùng một “chất” Phật, tất cả hữu tình vô tình đều đồng một tánh vàng, bởi thế bất cứ một cử chỉ, một động niệm nào cũng nằm trong tánh vàng đó, cũng là tánh vàng đó.

Một hành động nào đó hướng đến Phật, nếu đứng trong không gian và thời gian của chúng sanh chúng ta, hành động đó bị ngăn cách với toàn bộ vũ trụ và bị giới hạn trong một phần đoạn thời gian. Nhưng trong không gian và thời gian của Phật thì khác : về mặt không gian, tất cả đều là Tịnh Độ của Phật, tất cả đều là một ‘chất’ Phật. Thế nên một hành động nào dù nhỏ vẫn khởi từ tánh vàng, vẫn xảy ra và chấm dứt trong tánh vàng, bởi thế, “đều đã thành Phật đạo”. Về mặt thời gian, trong thế giới Pháp Hoa, không có sự ngăn cách giữa một điểm khởi đầu và một điểm cuối, không có sự ngăn cách giữa nhân và quả, tất cả đều thông suốt với nhau trong Phật tánh Nhất Niệm. Nói cách khác, không có thời gian phân đoạn của chúng sanh, bởi thế dầu một việc làm có trải qua a tăng tỳ kiếp mới thành quả vẫn “đều đã thành Phật đạo”, vì nó bắt đầu và chấm dứt trong cùng một ‘chất’ là Phật tánh vô thủy vô chung.

Sự bất hạnh của chúng ta là chúng ta chưa dám tin mình đang sống trong Như Lai tạng, trong biển đại tịch diệt của Như Lai, trong đó mọi hành vi, cử động của chúng ta đều tương ưng và đồng nhất với Như Lai tạng, dù chúng ta có tin điều đó được hay không. Bởi thế sự tu hành của một hành giả Pháp Hoa là nhận thức, đưa tất cả mọi hành động của thân, khẩu, ý về đại dương Phật tánh Như Lai tạng đó, đưa tất cả trở về trong “thật tướng ấn” Pháp Hoa.

Đứng về mặt tâm thức, cái thấy biết Pháp Hoa là toàn thức tức trí, tất cả thức là trí. Một làn sóng thức khởi lên và tan biến là khởi lên và tan biến trong biển trí. Như thế, một làn sóng thức khởi lên nó đã là nước, nó “đều đã thành Phật đạo”.

Tóm lại cái thấy biết Pháp Hoa là cái thấy biết ở trên Quả chứ không ở nơi Nhân. Tu Pháp Hoa là tu trên Quả chứ không phải tu từ Nhân để đi đến Quả. Đây là một phân biệt rất quan trọng để trong kinh có nói rằng Pháp Hoa là “vua của các kinh”. Các kinh Đại thừa vào thời sơ kỳ là lối tu đi từ nhân đến quả, từ các ba la mật trải qua nhiều đời đến Quả Phật. Do đó mà có thể gọi là Thừa Nhân. Còn Pháp Hoa là Thừa Quả, triển khai sự tu hành ngay trên Quả của Phật đã thành, và Quả đó, tức là Phật tánh vốn có sẵn ở nơi mỗi chúng sanh.

Trong cái nhìn ở trên Quả như vậy, khi tất cả đều nằm trong Quả, nếu một nhân khởi lên trong cái toàn thể Quả đó, thì nhân đó đã là Quả.

Chúng ta thấy tư tưởng bổn môn đã hiện diện ở đây. Chúng ta hãy lấy ví dụ về bổn môn và tích môn : đức Phật Thích Ca đứng về mặt bổn môn là đức Bổn Phật, đã thành Phật Quả từ vô thủy đến vô chung, và về mặt tích môn là đức Phật lịch sử xuất hiện nơi thế gian cách đây hơn 2500 năm. Bổn môn là mặt bản thể, tích môn là mặt hiện tượng. Với chúng sanh chúng ta, bổn môn là “mỗi chúng ta vốn có Phật tánh” và tích môn là con đường hiện thời của chúng ta để đi vào Phật tánh đó.

Trong cái nhìn sâu xa của Pháp Hoa, cả hai mặt bổn môn – quả Phật tánh vốn có nơi mỗi chúng sanh – và tích môn – nhân tu hành của mỗi chúng sanh – được hợp nhất, thời gian giữa nhân và quả không còn tồn tại, thế giới hiện tượng và thế giới bản thể là một, khiến khi gặp người nào, chúng ta đều có thể nói : “Đều đã thành Phật đạo.” Sống như vậy tức là sống Pháp Hoa.

Ở trên chỉ là vài lối tiếp cận để chúng ta thể nghiệm “đều đã thành Phật đạo”. Chúng ta có rất nhiều cách tiếp cận khác tùy theo căn tánh mỗi người. Nhưng vấn đề của chúng ta là phải cảm nhận, thể nghiệm cái thấy biết ấy thật sâu rộng và thường trực để đánh bạt những phân biệt, phiền não, khổ đau do tách lìa khỏi cái thấy ấy. Chỉ khi nào cái thấy ấy sâu rộng và thường xuyên nơi chúng ta, chúng ta mới có thể xua tan dần vô minh và chỉ lúc đó mới có hy vọng đi vào Pháp Hoa tam muội (tức là những phẩm tính vốn thường định như vậy của Pháp Hoa).

Chúng ta cần đưa cái thấy biết “đều đã thành Phật đạo” vào đời sống, để nó thành trực tiếp, thành ‘bản năng’. Chỉ cần thấy ai đó đang làm một việc tốt hướng đến Phật tánh, hướng đến Chân Thiện Mỹ, lập tức nơi chúng ta bật ra “đều đã thành Phật đạo” và lập tức chúng ta chia xẻ sự an lạc của cõi Phật Tịnh Độ. Chỉ cần thấy hình tướng của một ai đó, lập tức, “đều đã thành Phật đạo”, lập tức tất cả tướng tức là tánh. Chúng ta đang muốn ghét giận ai đó, chỉ một tư tưởng “đều đã thành Phật đạo” khiến tất cả trở lại thế giới bình đẳng, an lành của Phật. Chúng ta đang tham lam, giận dữ, kiêu mạn, đố kỵ, chia rẽ với những ai đó, chỉ một tư tưởng “đều đã thành Phật đạo” khiến tất cả trở lại một vị bình đẳng, trở lại trong thế giới Pháp Hoa, trong thật tướng ấn của Pháp Hoa. Thậm chí với người đang làm một việc xấu, thay vì sự phê phán, ghét giận làm trầm trọng thêm sự việc, câu nói “đều đã thành Phật đạo” khiến ta không khởi phiền não, khiến ta có thể nhìn nó bằng cặp mắt tha thứ, bằng đôi mắt trí huệ và từ bi (“mắt từ trông chúng sanh” – phẩm Phổ Môn), và chính điều đó mới có thể giúp đỡ người kia, ban phước cho người kia. Quả vậy, “đều đã thành Phật đạo” chính là sự ban phước cho cuộc đời.

Khi thấy biết được hình tướng của một người nào, dù đang rất tệ hại, xấu xa, đầy những tính chất đê tiện, thậm chí gây cho chúng ta tức giận, với hình tướng của người đó trong nhiều a tăng kỳ kiếp nữa sẽ thành Phật dưới cội Bồ đề, là một, không khác, nghĩa là không có khoảng cách thời gian không gian, chúng ta đã triệt hạ, chiến thắng được thời gian, và như thế đã làm nên phép lạ ‘biến mọi thứ của thế giới này thành vàng ròng’. Phép lạ của sự ‘chuyển thức thành Trí’ này đầy dẫy trong kinh Pháp Hoa, kho báu của chính bản tâm chúng ta.

Không thể nói hết được “đều đã thành Phật đạo” là gì. Nó là tất cả từ, bi, hỷ, xả, là sáu ba la mật, là cái Thấy, Con Đường và Quả, mọi hạnh tu hành v.v… Chỉ biết theo kinh Pháp Hoa, nếu người nào “thọ trì, đọc tụng, giải nói, biên chép nhẫn chỉ một câu, những người ấy vị lai sẽ được thành Phật”. Nếu nghe được (Văn), tư duy (Tư), thiền định và thọ trì (Tu) chỉ một câu “đều đã thành Phật đạo”, chúng ta đã rất gần gũi tri kiến Phật vốn là nội dung kinh Pháp Hoa.

Đến đây chúng ta không nói thêm nữa, và mỗi người phải cảm nhận, dù chỉ là những kinh nghiệm nhỏ, chúng sẽ là những dááu ấn trên tâm thức chúng ta khiến chúng ta biến đổi, chuyển hóa hơn là những ý niệm trơn tuột phát xuất từ ngôn ngữ văn tự. Mỗi người phải khám phá cho chính mình thật tướng của các pháp là gì, chúng ta là gì, những người khác là gì và thế giới này là gì. Trên con đường khám phá và thể nghiệm trực tiếp đó, đối với những người sơ học như chúng ta, câu “đều đã thành Phật đạo” có thể nói được là một câu đà la ni, câu “tổng trì” khiến chúng ta dần dần thâm nhập vào thực tại. Câu ấy về một mặt nào có thể xem là một công án mà phá thấu được nó chúng ta sẽ thấy và bước vào một thế giới mới, bình an, tịnh lạc và hằng hằng mới mẻ, thế giới thật tướng Pháp Hoa. Sống được “đều đã thành Phật đạo” là sống kinh Pháp Hoa.

Cảm thấu được “Đều đã thành Phật đạo”, chúng ta cảm thấu được một niềm tin và một sự lạc quan vô cùng vĩ đại, vô cùng tích cực (niềm tin và lạc quan của Quả). Niềm tin yêu đó xuyên suốt vũ trụ, xuyên suốt thời gian không gian, làm cho thời gian không gian của sanh tử không còn ý nghĩa, để nhường chỗ cho thế giới Pháp Hoa, một thế giới của Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Đó là sống trong niềm tin Pháp Hoa.

2. Thọ Ký

Chỉ riêng những tựa đề các phẩm có chữ Thọ Ký đã chiếm hết ba phẩm trong hai mươi tám phẩm của kinh Pháp Hoa : phẩm Thọ Ký thứ sáu, phẩm năm trăm Đệ Tử Được Thọ Ký thứ tám và phẩm Thọ Ký Các Vị Vô Học Và Hữu Học thứ chín.

Trước hết, ngay trong phẩm Thí Dụ thứ ba, đức Phật đã thọ ký cho ngài Xá Lợi Phất “sẽ thành Phật hiệu là Hoa Quang Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn, nước tên Ly Cấu, kiếp tên Đại Bửu Trang Nghiêm…” Tiếp theo trong phẩm Thọ Ký thứ sáu, ngài Ma Ha Ca Diếp được thọ ký thành Phật rồi đến các đệ tử, đến tất cả các vị A La Hán Vô học cho đến các vị còn trong bậc tu học. Rồi đến phẩm Trì thứ mười ba, các vị Tỳ kheo ni cũng được thọ ký sẽ thành Phật. Như thế, đức Phật đã “tổng nói tất cả Thanh Văn đều đã được thọ ký”.

Trong phẩm Thường Bất Khinh Bồ tát – tiền thân của đức Thích Ca Mâu Ni – với những người mắng nhiếc, đánh đập, ném gậy đá vào mình, ngài chạy tránh đi “mà vẫn to tiếng xướng rằng : Tôi chẳng dám khinh các ngài, vì các ngài đều sẽ thành Phật.” Đây là sự thọ ký rộng rãi cho bốn chúng.

Đặc biệt trong phẩm Đề Bà Đạt Đa thứ mười hai, đức Phật đã thọ ký cho Đề Bà Đạt Đa, người được xem là cực ác vì phá hoại Phật đệ nhất, sẽ thành Phật. Cũng trong phẩm đó, Long Nữ, chúng sanh không phải loài người lại là thân nữ đã thành Phật trước tất cả chúng hội.

Trong phẩm Pháp Sư thứ mười, “Phật bảo Dược Vương : Sau khi Phật nhập diệt nếu có người nào nghe kinh Diệu Pháp Liên Hoa, nhẫn đến một bài kệ, một câu đủ nghĩa, hay nhẫn đến chỉ có được một niệm tùy hỷ mà thôi, Như Lai cũng thọ ký cho tất cả sẽ được thành Phật.”

Qua những điều trên, chúng ta thấy tất cả mọi người, mọi chúng sanh, không phân biệt cấp bậc tu hành, không phân biệt nam nữ, không phân biệt nghiệp báo, không phân biệt trí hay ngu, không phân biệt các loài đều được thọ ký thành Phật. Với việc thọ ký cho tất cả đều được thành Phật, chúng ta đã loáng thoáng thấy được ý nghĩa Nhất Thừa là gì, và sự vĩ đại của Nhất Thừa là thế nào.

Bây giờ mỗi một chúng ta nghĩ gì, cảm nhận gì khi biết đức Phật đã thọ ký làm Phật cho mỗi chúng ta – dù trực tiếp (biết đâu trong chúng ta chẳng có người đã từng gặp những tiền thân của Phật như Bồ tát Thường Bất Khinh) hay gián tiếp (tức là qua kinh Pháp Hoa chúng ta đang học tập, đọc tụng). Chúng ta có tin rằng mình là một Diệu Pháp Liên Hoa, một thực thể vốn đã là hoa sen Phật tánh và công việc ở đời của nó chỉ là việc triển nở hoa sen đó, nghĩa là sống tâm mình là tâm Pháp Hoa, khẩu mình là khẩu Pháp Hoa và thân mình là thân Pháp Hoa.

Sống một cuộc đời đã được thọ ký có nghĩa là sống được Phật tánh nền tảng của cuộc đời mình và những đức hạnh biểu lộ của Phật tánh đó, tức là từ bi, hỷ xả, nhẫn nhục ba la mật, rộng lượng, lòng tốt, khoan dung v.v…

Trước hết, chúng ta tin chắc Phật tánh hiện diện ở nơi thân tâm và dần dần chúng ta nhận ra sự hiện diện thường hằng của nó. Bằng đức tin, bằng trí huệ phân biệt, bằng thiền định hoặc bằng những khả năng khác của thân tâm hoặc bằng sự khai thị của một vị thầy, chúng ta nhận ra ở trong tận đáy sâu thẳm của hiện thể mình một cái gì không biến đổi, không sanh diệt, có bản chất là ánh sáng (nói theo ngôn ngữ kinh điển là trí huệ), tỏa hương thơm của tình thương (là từ bi), luôn luôn trẻ trung, tươi mát và mới mẻ, tịch lặng không bờ, bình an không bến. Ở giữa sự xao động của thân tâm, của cảnh vật, của đến đi, có một cái gì hằng hằng bất động, một nền tảng bất động của tất cả mọi sự. Tham thiền chính là nhận ra, an trụ và sống toàn diện trong nền tảng đó. Rồi chúng ta thấy cái thực tại quý báu và thân yêu đó nơi sự vật, nơi cây cối, nơi bầu trời, nơi gương mặt của mỗi người, bất cứ chốn nào, lúc nào. Đó là bước khởi đầu cho đời sống Pháp Hoa.

Rồi dần dần, chính đó là giới luật, thiền định, trí huệ và từ bi của chúng ta. Giới nghĩa là cái gì làm cho mờ đi, mất đi cái thấy về cái đó, điều ấy chúng ta không làm. Chúng ta luôn luôn tiếp thông, giữ gìn cái đó, như vậy là giới. Định là chúng ta luôn luôn thiền định, luôn luôn nối kết và an trụ trong cái đó. Huệ là luôn luôn thấy cái đó ở bất cứ nơi đâu, bất cứ thời gian nào… Ngoài cái đó ra chúng ta không thể tìm được sự giải thoát cho những phiền não của mình ở một nơi nào khác. Cái đó là nguồn an ủi thật sự, là nguồn chữa lành cho mọi khổ đau, là giải pháp và giải đáp cho mọi vấn nạn từ thấp nhất đến cao nhất có thể có của cuộc sống chúng ta. Khi nào chúng ta khủng hoảng, chán nản, khổ đau… chỉ cần tương thông, nối kết lại với nền tảng của mình, cái nền tảng mà nhờ đó đức Phật đã thọ ký cho mình. Cuộc đời của một hành giả Pháp Hoa là sống một cách cụ thể với cái đó, nghĩa là tiếp xúc, trò chuyện, thỉnh ý kiến, làm quen, thân cận và trở thành một với cái đó – bởi vì cái đó là vị đạo sư bên trong, đức Phật bên trong của mỗi người.

Tóm lại, nền tảng cho sự thọ ký là nền tảng bất sanh bất diệt, cái Phật tánh nền tảng vốn sẵn nơi mỗi chúng ta. Và nếu chúng ta tin vào đạo Phật thì cuộc đời chúng ta chẳng bao giờ lìa ngoài nền tảng Phật tánh ấy, từ chập chững, sai sót, hở sót cho đến thuần nhất một vị trong Phật tánh ấy. Con đường của sự thọ ký là cuộc đời thế phàm của chúng ta, làm sao để ‘nước’ Phật tánh ấy tắm gội, thấm sâu đến tận ngóc ngách của thân tâm, toàn bộ những phương diện của đời sống chúng ta. Quả của sự thọ ký là đứa con cùng tử đã hoàn toàn trở về nhà, nhận lấy vương quốc của cha mình, nhận lấy sự tự do vô tận và quyền lực vô tận nơi cha mình, và sống cuộc đời mình với cha là một.

Cho nên sống đời Pháp Hoa là khéo léo phối hợp cuộc đời thế phàm của mình với Phật tánh và muôn hạnh muôn đức của nó. Sự phối hợp đó phải nhuần nhuyễn như nhồi bột với nước. Còn “khéo” (thiện) là một chữ hay dùng trong kinh điển Đại thừa để chỉ cho đời sống và công việc của Bồ tát. Chúng ta sẽ còn học mãi chữ “khéo” này.

Sống được trong nền tảng, trong bản tánh của toàn bộ tâm thức mình, dần dần chúng ta biết được cái vị của đời sống, cái một vị của toàn bộ Phật pháp. Điểm cốt yếu là chúng ta biết được Cái Đó, khai thị ngộ nhập vào cái đó. Cái đó là cái để quy y : tự quy y Phật, tự quy Pháp, tự quy y Tăng. Cái đó chính là Tam Bảo thường trực ở nơi chúng ta.

Trong từng giây phút của cuộc sống này, Phật đã thọ ký cho chúng ta cái đó. Mỗi giây phút của cuộc đời chúng ta là mỗi giây phút được ban phước trong sự thọ ký ấy. Thế thì hãy sống cuộc đời được ban phước trong từng niệm niệm được thọ ký để thấy cuộc đời mình, từ thể, tướng, dụng đều là Pháp Hoa.

Khi thấy một người nào, thậm chí là người đối địch với chúng ta, chúng ta nghĩ gì khi biết đức Phật đã thọ ký cho họ ? Có phải là sự phân biệt, thương ghét đều tiêu tan mất, chỉ còn một niềm lạc quan vô tận giữa ta và người đó ? Sự làm tiêu tan những chướng ngại, những kết bế tắc nghẽn giữa chúng ta và người khác sẽ tạo thành một khoảng trống không gian đầy tiềm năng, đó là tác dụng của Trí Huệ. Và sự lấp đầy khoảng trống ấy, một trường tương thông giữa chúng ta và người khác, đó là tác dụng của Từ Bi. Với Trí Huệ và Từ Bi, chúng ta có thể đi vào thế giới Pháp Hoa.


3. Nhất Thừa

Khi tất cả đều được thọ ký thành Phật, thì tất cả ở trong một thừa, gọi là Nhất Thừa.

Kinh Pháp Hoa được gọi là “Diệu Pháp Liên Hoa Giáo Bồ Tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm”, nghĩa là Diệu Pháp Liên Hoa, Pháp dạy cho Bồ tát, được Phật hộ niệm. Phẩm Phương Tiện nói : “Đức Phật bảo Xá Lợi Phất : Các đức Phật Như Lai chỉ giáo hóa Bồ tát, những điều làm ra thường vì một việc : duy chỉ đem tri kiến Phật chỉ cho chúng sanh tỏ ngộ thôi. Xá Lợi Phất ! Như Lai chỉ dùng một Phật thừa mà vì chúng sanh nói pháp, không có các thừa thứ hai thứ ba nào khác. Xá Lợi Phất ! Pháp của tất cả các đức Phật ở mười phương cũng như thế…

Trong cõi phật mười phương
Chỉ có một thừa pháp
Không hai cũng không ba
Trừ Phật phương tiện nói
……………………………
Vì nói trí huệ Phật
Các Phật ra nơi đời
Chỉ một việc này thật
Hai thứ chẳng phải chơn
………………………………
Ta dùng tướng trang nghiêm
Ánh sáng soi trong đời
Đấng vô lượng chúng trọng
Vì nói thiệt tướng ấn.”

Nhất Thừa đó không chỉ là gom Thanh Văn thừa (xe dê), Duyên Giác thừa (xe hươu) và Đại thừa (xe trâu) thành “cỗ xe trâu trắng lớn, vật báu trang nghiêm, an ổn thứ nhất”, tức là Phật thừa. Nhất thừa không phải là giai đoạn cuối cùng của con đường Phật đạo sau khi trải qua ba thừa trước theo như lối tư duy học giả kinh viện. Nhất thừa là cái bao trùm vũ trụ và tất cả đều ở trong đó. Nhất thừa đó đã được đức Phật hiển bày trong phẩm Tựa thứ nhất trước khi bắt đầu thuyết kinh Pháp Hoa : “đức Phật từ nơi tướng lông trắng giữa chặng mày phóng ra luồng hào quang chiếu khắp cả một muôn tám nghìn cõi ở phương Đông, tất cả thông suốt với nhau, đều thấy cõi nước trang nghiêm của các đức Phật”. Toàn bộ kinh Pháp Hoa, đức Phật đã ba lần làm như vậy. Nhất thừa là cái Một hiển bày trong tất cả, và tất cả không ở ngoài cái Một.

Tất cả cái mà chúng ta gọi là sinh hoạt Phật giáo, đời sống Phật giáo đều diễn ra trong ánh sáng Nhất thừa đó :

Ánh sáng giữa chặng này
Soi suốt thẳng phương Đông
Một muôn tám nghìn cõi
Đều như ánh sắc vàng.
Từ địa ngục A Tỳ
Đến tới trời Hữu Đảnh
Trong các thế giới đó
Cả sáu nẻo chúng sanh
Sanh đây chết đến kia
Nghiệp duyên lành cùng dữ
Thọ báo có tốt xấu
Tại đây đều thấy rõ.
Lại thấy các đức Phật
Đấng Thánh Chúa Sư Tử
Diễn nói các kinh điển
Nhiệm mầu vi diệu nhất.
Tiếng các ngài thanh tịnh
Giọng nói ra êm dịu
Dạy bảo các Bồ tát
Vô số ức muôn người
Tiếng phạm âm sâu diệu
Khiến người đều ưa nghe.
……………………………
Ngài Văn Thù Sư Lợi !
Tôi ở tại nơi đây
Thấy nghe dường thế đó
Và ngàn ức việc khác
Thấy rất nhiều như thế
Nay sẽ lược nói ra :
Tôi thấy ở cõi kia
Có hằng sa Bồ tát
Dùng các món nhân duyên
Mà cầu chứng Phật đạo.
Hoặc có vị bố thí
Vàng bạc, ngọc, san hô,
Chơn châu, ngọc như ý,
Ngọc xà cừ, mã não,
Kim cương các trân bửu
Cùng tôi tớ, xe cộ
Kiệu cáng chưng châu báu
Vui vẻ đem bố thí
Hồi hướng về Phật đạo.
…………………………
Lại thấy có Bồ tát
Bố thí cả vợ con
Thân thịt cùng tay chân
Để cầu đạo vô thượng
Lại thấy có Bồ tát
Đầu, mắt và thân thể
Đều ưa vui thí cho
Để cầu trí huệ Phật.
Ngài Văn Thù Sư Lợi !
Tôi thấy các quốc vương
Qua đến chỗ của Phật
Thưa hỏi đạo vô thượng
Bèn vui vẻ bỏ nước
Cung điện cả thần thiếp
Cạo sạch râu và tóc
Mà mặc y pháp phục.
Hoặc lại thấy Bồ tát
Mà hiện làm tỳ kheo
Một mình ở vắng vẻ
Ưa vui tụng kinh điển.
Cũng thấy có Bồ tát
Dõng mãnh và tinh tấn
Vào ở trong núi sâu
Suy xét mối Phật đạo.
Và thấy bậc lìa dục
Thường ở chốn không nhàn
Tu sâu các thiền định
Được năm món thần thông.
Và thấy có Bồ tát
Chắp tay trụ thiền định
Dùng ngàn muôn bài kệ
Ca ngợi các Pháp Vương.
Lại thấy có Bồ tát
Trí sâu chí bền chắc
Thường hỏi các đức Phật
Nghe rồi đều thọ trì.
Lại thấy hàng Phật tử
Định-huệ đều tròn đủ
Dùng vô lượng tỷ dụ
Vì chúng mà giảng pháp.
……………………………
Cùng thấy vị Bồ tát
Vắng bặt yên lặng ngồi
Trời, rồng đều cung kính
Chẳng lấy đó làm mừng.
Và thấy có Bồ tát
Ở rừng phóng hào quang
Cứu khổ chốn địa ngục
Khiến đều vào Phật đạo.
Lại thấy hàng Phật tử
Kinh hành ở trong rừng
Siêng năng cầu Phật đạo
Cũng thấy đủ giới đức
Oai nghi không thiếu sót
Lòng sạch như bửu châu
Để cầu chứng Phật đạo.
Và thấy hàng Phật tử
Trụ vào sức nhẫn nhục
Bị kẻ tăng thượng mạn
Mắng chửi cùng đánh đập
Thảy đều hay nhẫn được
Để cầu chứng Phật đạo.
Lại thấy có Bồ tát
Xa rời sự chơi cười
Và quyến thuộc vô minh
Ưa gần gũi người trí
Chuyên tâm trừ loạn động
Nhiếp niệm ở núi rừng
Trải ức nghìn muôn năm
Để cầu được Phật đạo.
Lại thấy có Bồ tát
Đồ ăn uống ngọt ngon
Cùng trăm món thuốc thang
Đem cúng Phật và tăng.
Áo tốt đồ thượng hạng
Giá đáng đến nghìn muôn
Hoặc là áo vô giá
Đem cúng Phật và tăng
Dùng nghìn muôn ức thứ
Nhà báu bằng chiên đàn
……………………………
Rừng vườn rất thanh tịnh
Cúng dường Phật và Tăng
Vui vẻ không hề nhàm
Để cầu đạo vô thượng.
Lại có vị Bồ tát
Giảng nói pháp tịch diệt
Dùng các lời chỉ bày
Dạy vô số chúng sanh
Hoặc thấy vị Bồ tát
Quán sát tánh các pháp
Đều không có hai tướng
Cũng đồng như hư không
Lại thấy hàng Phật tử
Tâm không chỗ vướng trệ
Dùng huệ vi diệu này
Mà cầu đạo vô thượng.
Ngài Văn Thù Sư Lợi !
Lại có vị Bồ tát
Sau khi Phật diệt độ
Cúng dường xá lợi Phật
Lại thấy hàng Phật tử
Xây dựng các chùa tháp
Nhiều vô số hằng sa
Nghiêm sức khắp cõi nước.
………………………………
Phật phóng một luồng ánh sáng
Tôi cùng cả chúng hội
Thấy nơi cõi nước này
Đủ tất cả vẻ đẹp
Những thần lực của Phật
Trí huệ lực hy hữu
Phóng một luồng tịnh quang
Soi khắp vô lượng cõi
Chúng ta thấy sự này
Được điều chưa từng có.

Cho nên công việc của chúng ta là phải thấy mình ở trong Nhất thừa đó, phải sống được cái Nhất thừa đó, chứ không ở trong sự phân cách, chia lìa của cuộc đời sanh tử. Sống trong nhất thừa đó thì tất cả đều tu chung với nhau trong một hội Pháp Hoa vẫn tiếp diễn mãi trong thời gian vô cùng và không gian vô tận. Tu trong Nhất thừa đó thì một người tu là tất cả cùng tu, và tất cả cùng tu cho nên có một người tu.

Sống trong nhất thừa đó thì tất cả đều Sống trong nhất thừa đó thì tất cả đều chẳng cách hở nhau một mảy lông, đó là Trí Huệ Phật, Từ Bi Phật, và đó cũng là giải pháp tối hậu cho tất cả mọi vấn nạn, mọi phiền não khổ đau của thế gian. Niềm tin của Pháp Hoa là tin rằng chúng ta luôn luôn ở trong Nhất thừa của Phật, điều này có trong tất cả các phẩm của kinh Pháp Hoa. Khi thấy một con chim, một cội cây, một dòng nước, một con người, một tiếng thằn lằn trên cây dừa, một tiếng leng keng đâu đó, chúng ta phải thấy biết tất cả ở trong Nhất thừa. Thấy hiểu như vậy là chúng ta thật sự đi vào kinh Pháp Hoa, đang sống thế giới Pháp Hoa, đang thọ trì đọc tụng Pháp Hoa.

Thấy tất cả sắc là Pháp Hoa, nghe tất cả âm thanh là Pháp Hoa, thấy tất cả chúng sanh là Bồ tát trong Nhất thừa, đó là “thật tướng ấn” được đức Phật nói đến trong đoạn kinh trên.

Một lần nữa, Nhất thừa là thế giới Chân Không Diệu Hữu. Chân Không là thế giới của Trí Huệ, Diệu Hữu là thế giới của Từ Bi. Trí Huệ và Từ Bi hợp nhất là thế giới Chân Không Diệu Hữu, tức Nhất thừa :

Chư Phật Lưỡng Túc Tôn
Biết pháp thường vô tánh
Phật chủng theo duyên khởi
Thế nên nói Nhất thừa.
Pháp đó trụ vị pháp
Thế gian tướng thường trụ
Nơi đạo tràng thấu rõ
Đạo sư phương tiện nói.

Chính vì Nhất thừa mà trong đạo Phật, không có sự phân biệt giữa vị tăng ni xây chùa với vị tăng ni thuyết pháp, không có sự phân biệt giữa vị tăng ni làm việc thiện và vị tăng ni dịch kinh, không có sự ngăn cách giữa một lối sống, việc làm Phật sự này với một lối sống, việc làm Phật sự khác, không có sự tranh chấp của các tông phái phát triển trong đạo Phật, nhất là trong thời đại cách xa Phật này. Nhìn rộng hơn nữa, trong Nhất thừa không có sự khác biệt nhất định giữa nhà nghệ thuật và nhà chính trị, không có sự khác biệt thực sự giữa nhà khoa học và nhà nhạc sĩ hay nhà thơ, không có sự khác biệt thực sự giữa người xuất gia và người tại gia, giữa người giàu và người nghèo, giữa người phương Đông và người phương Tây… Và hơn nữa, trong Nhất thừa không có ai là tôn giáo khác, không có ai là ngoại đạo. Nhất thừa xóa sạch mọi tranh chấp, mọi xung đột, mọi sự tự khẳng định thế này thế nọ của thời đại đầy dẫy khủng hoảng tranh đấu này. Nhất thừa là tột đỉnh của Trí Huệ và Từ Bi và cũng là hòa bình của thế giới.

Trong thế giới đầy dẫy phân tranh loạn lạc này, câu nói của Thường Bất Khinh Bồ tát : “Tôi không dám khinh thường các người, vì các người sẽ thành Phật” có lẽ là giải pháp duy nhất để đem lại tình huynh đệ thật sự cho loài người. Đó không chỉ là một câu nói mà là một bài ca, hát lên cho sự ngợi ca loài người. Bài ca đó không chỉ giải quyết cho những xung đột khổ đau đang tràn lan trên thế giới mà còn là niềm an vui lạc quan không thể diễn tả của người đã được sống trong Nhất thừa hay Phật thừa, trong niềm vui hợp nhất của vũ trụ chúng sanh vốn đồng nhất trong Phật tánh.

4. Hiện Bảo Tháp

“Tháp bảy báu từ dưới đất nổi lên trụ giữa hư không”, “trong tháp bảy báu này có toàn thân Như Lai”, đó là khi tâm thức chúng sanh trống rỗng vô tận như hư không, bấy giờ tháp báu xuất hiện. Trong tâm thức của chúng sanh, trong đất tâm (từ dưới đất) vốn có Phật tánh (tháp bảy báu chứa toàn thân Như Lai), nhưng chỉ khi nào đất tâm ấy trống trải như hư không, Phật tánh ấy mới hiển lộ. Phật tánh ấy không lệ thuộc vào nhân duyên nào cả : trụ ở giữa hư không, không nương nhờ vào một cái gì cả. Phật tánh gồm cả Pháp thân, “toàn thân Như Lai”, Báo thân, “bảy báu” và Hóa thân, “tháp”. Tháp bảy báu để hiển bày cái Chân Không Diệu Hữu của Phật tánh. Tháp báu “cao năm trăm do tuần” cho ta thấy chính thân tâm năm uẩn này chính là tháp báu, một khi cái nhìn của chúng ta đã thanh tịnh, đã thành cái thấy biết của Phật.

Để cho đại chúng thấy rõ ràng đức Phật Đa Bảo và Phật Thích Ca cùng ngồi trên tòa ngồi trong tháp báu, đức Phật đưa tất cả đại chúng lên giữa hư không, đây là điều mà người xưa gọi là “hội không trung thuyết pháp”. Nói theo ngôn ngữ thông thường, một khi tâm thức chúng ta rỗng rang như hư không, bấy giờ thực tại hiển lộ cho chúng ta vừa bản tánh của nó vừa chân tướng của nó. Bất cứ khi nào tâm ta trống không, thực tại bèn hiển lộ, bất cứ khi nào tâm ta ở được trong hư không, tháp Đa Bảo liền lộ dạng.

Những việc làm của chư Phật, cho đến những sự biểu hiện thần lực biến hóa, đều có mục đích chứng minh tiến trình khai thị ngộ nhập vốn có sẵn nơi mỗi chúng sanh. Đức Phật hiện thần biến để chỉ ra rằng mỗi chúng ta đều có thể làm được như vậy, tất cả chúng ta đều có thể bước vào hội thuyết pháp giữa hư không để thấy toàn thân Đa Bảo Như Lai. Vậy ở đây đức Phật chỉ ra như thế nào chúng ta có thể thấy, tiếp xúc với Phật tánh vốn có sẵn nơi đất tâm mình để bất kỳ lúc nào cũng có thể “từ dưới đất nổi lên trụ giữa hư không ?”

Bất kỳ khi nào tâm thức chúng ta rỗng rang, không trụ vào bất cứ cái gì, như hư không, thì tháp báu xuất hiện ngay ở đó. Chúng ta có thể thấy tháp báu ở bất cứ chỗ nào mắt mình hướng đến, trong bất cứ thời gian nào, không gian nào, vì tháp báu Đa Bảo vốn thường trụ giữa hư không. Cái sự “nổi lên” của tháp báu chỉ là dẹp sạch mọi ngăn chướng trong tâm thức, để tâm thức là không gian cho tháp báu hiển lộ.

Đưa tâm thức trở về bản tánh rỗng rang như hư không của nó, tức thì thực tại hiển lộ cho chúng ta bản chất thật của nó : chân tướng của nó (tháp), vẻ đẹp trang nghiêm của nó (bảy báu) và tính thường trụ của nó (Pháp thân Như Lai).

Đây là điều những kinh điển Đại thừa đều nói đến, mọi con đường Phật giáo đều hướng đến, là kinh nghiệm mà chư Phật đã chứng ngộ hoàn toàn và chư Bồ tát đã chứng nghiệm phần lớn. Có điều chúng ta với nghiệp thức của mình không đủ niềm tin để làm rỗng không tâm thức cho tháp báu đầy mắt rỡ ràng xuất hiện (đầy mắt vì năm trăm do tuần là cao 12000 cây số). Chúng ta không đủ đức tin nên cứ bôn chôn chạy theo tướng và tưởng, chúng ta thích những hoa đốm lộn xộn của sanh tử hơn là đưa tâm thức trở về bản tánh như hư không của nó để thấy được thực tại của chư Phật ba đời (toàn thân Phật quá khứ Đa Bảo và Phật hiện tại Thích Ca). Không những không đủ niềm tin, chúng ta còn không ham thích và đam mê sự thật (thật tướng của các pháp), và cứ thế chúng ta bỏ qua tháp báu trong từng phút giây của đời mình. Có đủ niềm tin và khát khao thấy cho được tháp báu, tâm thức chúng ta sẽ tự động trở lại trạng thái như hư không của nó, tức thì thực tại “vô lượng nghĩa” liền hiện toàn thân. Đây là sự khai thị mà chúng ta phải làm cho chính mình, và điều đó phải được làm trong mỗi Hoa. phút giây để chúng ta thường trực được thấy Pháp

Nói một cách khác, khi nào chúng ta biết tham thiền, biết sử dụng tâm thức của chúng ta, biết đưa tâm thức trở về cội nguồn vô trụ của nó, khi đó thực tại vẫn hiện tiền trước mắt chúng ta. Với một tâm thức như vậy, chúng ta bắt đầu khám phá ý nghĩa thật sự của đời sống.

Nhưng đó chỉ mới là thấy bảo tháp, trong bảo tháp ấy còn có “toàn thân Như Lai không rã, như đang nhập thiền định”. Mà “nếu đức Phật nào muốn đem đem toàn thân Đa Bảo Như Lai chỉ cho bốn chúng, thì các vị Phật phân thân của đức Phật ấy đang nói pháp trong mười phương quốc độ đều phải quy tụ về một chỗ, bấy giờ toàn thân Như Lai mới xuất hiện”.

Một lần nữa, sự thị hiện của đức Phật để mở tháp báu là để cho mỗi chúng ta tự mình mở tháp báu ở cấp độ sơ đẳng của chúng ta. Ở mức độ tầm thường của mình, chúng ta là tiềm năng của một vị Phật, chúng ta cũng có những vị Phật phân thân chưa thành của chúng ta, và để lờ mờ thấy được thân Như Lai, để mở hé tháp báu, chúng ta phải làm như đức Phật, “quy tụ về một chỗ tất cả Phật phân thân của mình”.

Ở cấp độ đức Phật, Pháp thân là tâm vô biên như hư không, không hình tướng, không tư tưởng, như đại dương tịch diệt không chút sóng, như vậy vô thủy đến vô chung. Báo thân Phật là những đức hạnh của Pháp thân, như Thường, Lạc, Ngã, Tịnh, Đại Từ, Đại Bi v.v… Hóa thân Phật là những hình tướng Phật hóa hiện ra từ hai thân trên, như sóng là hóa thân của đại dương tịch diệt. Ở cấp độ Phật, cả ba thân đó là một, tự do vô ngại. Lấy ví dụ như Phật cũng có tư tưởng (Hóa thân), nhưng những tư tưởng đó là một với cái không có tư tưởng (Pháp thân), niệm là vô niệm, thức là Trí, sóng là đại dương. Chúng ta có thể thấy như vậy thì niệm, thức, sóng không còn là những cái gì hạn hẹp và chướng ngại.

Ở cấp độ của chúng ta, Pháp thân tức là tâm không vô niệm, cái bản tánh của tâm thức, nhưng hiện giờ ta chưa tiếp thông được, cùng lắm là chỉ nhận thấy lờ mờ. Báo thân là những công đức của Pháp thân, chúng ta cũng chỉ nhận ra lờ mờ, khi có khi không. Còn Hóa thân ở cấp độ chúng ta là những niệm, những tư tưởng của chúng ta. Và cũng chính những tư tưởng này, không kiểm soát được, dẫn ta đi lang thang lưu lạc không dứt trong luân hồi sanh tử. Hóa thân Phật thì biểu lộ từ Pháp thân tịch diệt như hư không, có năng lực là đại từ đại bi, nên có thể ứng hiện mà làm lợi lạc cho vô số chúng sanh. Hóa thân của chúng ta tức là những tư tưởng, những “ý sanh thân”, thì lộn xộn, mang nặng các độc (tham, sân, si, kiêu mạn, đố kỵ) nên chỉ có thể làm chúng ta “hóa thân” trong ba cõi sanh tử khổ đau.

Vậy thì để mở tháp báu ở cấp độ thấp kém của chúng ta, chúng ta phải “quy tụ về một chỗ”, phải gom lại những tư tưởng “hóa thân” của mình, gom lại tất cả những công đức của mình. Tùy mức độ gom lại được bao nhiêu, an định được bao nhiêu thì tháp báu mở ra đến đó.

Thật ra tất cả tư tưởng phóng dật của chúng ta đều lưu xuất từ Chân Tâm vô niệm, như sóng nào cũng phải lưu xuất từ đại dương, nhưng vì mãi trôi lăn theo những tư tưởng, mãi chạy theo sóng, chúng ta quên mất đến độ không hề biết Chân Tâm vô niệm đó, đại dương tịch diệt đó. Khi nói “Ba cõi duy Tâm, vạn pháp duy thức”, nếu tư duy thiền định sâu xa, chúng ta sẽ nhận ra đâu là thức đâu là Tâm, đâu là hóa thân đâu là pháp thân. Và một khi đưa tất cả các thức về cội nguồn Tâm của chúng, chúng ta sẽ hiểu đầy đủ các mặt của câu nói trên. Chúng ta sẽ hiểu tất cả ba cõi đều do tự tâm hiển hiện. Tất cả mọi hóa hiện của ba cõi đều duy chỉ Nhất Tâm. Đó là sự khám phá Ba Thân là Một, tức là công trình “mở tháp báu”. (Chúng ta cũng nên tham cứu sự mở cửa Lầu Các của Bồ tát Di Lặc cho đồng tử Thiện Tài trong phẩm Nhập Pháp Giới của kinh Hoa Nghiêm.)

Chúng ta sẽ sống thế nào khi biết rằng mọi tư tưởng của chúng ta, dù tốt dù xấu, đều không thể nào ra ngoài Pháp thân Phật tánh của chúng ta, như những làn sóng dù chuyển động kiểu nào cũng không thể ra ngoài đại dương ? Đó là đời sống chân thật mà chúng ta học được từ một phần của phẩm Hiện Bảo Tháp này vậy.

5. Tùng Địa Dũng Xuất

Khi “Các vị Đại Bồ tát ở cõi nước phương khác đông hơn số cát của tám sông Hằng xin Phật cho ở tại quốc độ Ta Bà này sau khi Phật nhập diệt để rộng nói kinh Pháp Hoa”, đức Phật nói rằng “cõi Ta Bà của Như Lai có chúng Đại Bồ tát đông bằng số cát của sáu vạn sông Hằng, mỗi vị có sáu vạn hằng hà sa quyến thuộc sau khi ta diệt độ sẽ hộ trì đọc tụng kinh này”.

“Lúc đức Phật nói lời đó, đất của toàn thể đại thiên cõi Ta Bà đều chấn động, nứt ra và từ đó có vô lượng nghìn muôn ức vị Đại Bồ tát đồng thời vọt lên. Các vị ấy toàn thân màu hoàng kim, đủ ba mươi hai tướng tốt cùng vô lượng ánh sáng. Các vị cùng ở trong không gian phía dưới quốc độ Ta Bà này, nghe tiếng đức Thế Tôn nói như vậy nên từ đó dũng xuất (vọt lên)…”

Điều thứ nhất chúng ta chú ý là số Đại Bồ tát ở cõi Ta Bà này đông hơn rất nhiều (số cát của sáu vạn sông Hằng) so với Đại Bồ tát ở các cõi khác (số cát của tám sông Hằng). Điều thứ hai là số Đại Bồ tát và các quyến thuộc chắc chắn đông hơn số chúng sanh ở cõi Ta Bà này (“Hàng bốn chúng nhờ thần lực của Phật thấy các Bồ tát như thế đầy khắp không gian của quốc độ Ta Bà mà lúc bấy giờ quang cảnh tựa như không gian của vô lượng quốc độ”). Điều này có vẻ trái với cảm quan thông thường của chúng ta : chẳng lẽ nơi thế giới này Đại Bồ tát lại đông hơn chúng sanh đang đau khổ, tối tăm này ? Nếu thế thì thế giới này đã thành Tịnh độ rồi còn gì ?

Một trong những giải thích phù hợp với người đang thực hành như chúng ta là vô số Đại Bồ tát ấy là vô số những đức tính, những phẩm tính của Phật tánh vốn có ở nơi mỗi chúng ta. “Các Bồ tát ấy thân sắc vàng, có đủ ba mươi hai tướng tốt cùng vô lượng ánh sáng, trước đây đều ở dưới cõi Ta Bà này, khi đất rung nứt bèn vọt lên” : khi đất tâm của chúng ta rúng nứt, những phẩm tính của Phật tánh của chúng ta liền dũng xuất, vọt mạnh lên. Những phẩm tính càng dũng xuất bao nhiêu thì cuộc đời chúng ta càng chan hòa ánh sáng và tình thương của Phật tánh đến đó.

Trong đời sống hàng ngày, chúng ta phải thường trực nhận biết rằng, dưới mảnh đất tâm thức của chúng ta, hiện đang có vô số đức tính của Phật tánh (vô số Đại Bồ tát con của Phật), chỉ cần một hành động nhỏ của thân khẩu ý là những đức tính ấy vọt mạnh lên. Mà không phải dũng xuất một vài vị Đại Bồ tát, “vô lượng vị Đại Bồ tát đồng thời vọt ra” : bằng sự thâm sâu và khéo léo, bằng sự làm rúng nứt mảnh đất tâm, bằng sự làm cho dũng xuất mạnh mẽ của mình, chúng ta có thể làm cho “tất cả Đại Bồ tát đồng thời dũng xuất”, tức là toàn bộ Phật tánh dũng xuất, hiển lộ hoàn toàn trên bề mặt cuộc đời nghèo nàn hạn hẹp của chúng ta.

Đời sống của một người thọ trì Pháp Hoa là luôn luôn làm rúng nứt tâm thức mình, làm vọt lên liên tục ánh sáng của trí huệ, thương yêu của từ bi, sự rỗng rang để mở rộng bao trùm, lòng khoan dung nhẫn nhục, sự kính trọng khiêm hạ và thương yêu tất cả, lòng tốt cho tất cả những cái đang hiện hữu… vô số đức tính vốn tiềm ẩn nơi mỗi chúng ta. Mảnh đất tâm thức của chúng ta càng rúng nứt, mọi “đệ tử của Phật” ấy càng vọt mạnh, tuôn trào, đến độ mảnh đất Ta Bà này hoàn toàn sụp đổ, tiêu tán để tất cả Phật tánh đồng thời dũng xuất, hiển lộ trọn vẹn, để Con (các Đại Bồ tát đầy đủ ba mươi hai tướng tốt) và Cha (đức Phật) là một. Chỉ có Con và Cha là Một, ngoài ra không có cái ta nào cả, một nghiệp riêng nào cả, một Ta Bà nào cả. Mọi rào cản đều biến mất trong sự dũng xuất đồng thời, thường trực và liên tục này.

Kinh nói tiếp : “Trong chúng Bồ tát (Tùng địa dũng xuất) ấy có bốn vị đạo sư là thượng thủ là Thượng Hạnh, Vô Biên Hạnh, Tịnh Hạnh và An Lập Hạnh”. Hạnh có nghĩa là việc làm, ở đây là việc làm “dũng xuất” tất cả những công đức của Phật tánh trong sâu thẳm của tự tâm chúng ta. Tùy theo thiện căn của mỗi người, chúng ta có thể hiểu ý nghĩa các Hạnh trên theo sự sai biệt của nghiệp riêng từng người. Điều đó là tốt cho cho việc thực hành dũng xuất. Ở đây chúng ta chỉ nói đến một ý niệm chung chung. Thượng Hạnh là hạnh hướng thượng để Con gặp gỡ Cha và thành một với Cha. Đây là sự nối kết tương ưng giữa Con và Cha, sự nối kết tương ưng này là ý nghĩa thực sự của Vô Biên Hạnh. Cha thì vô biên nên Con cũng có vô biên hạnh để trở về hợp nhất với Cha. Tịnh Hạnh là sự làm cho mình thanh tịnh của Con để có thể hưởng toàn bộ những gia tài của Cha. An Lập Hạnh là sự tin hiểu trụ vững trong Pháp Hoa, tức trong “trí huệ và từ bi của các đức Phật”.

Tóm lại cuộc đời của một người thọ trì Pháp Hoa là sự dũng xuất liên tục trong từng niệm niệm những phẩm tính của Phật tánh như ánh sáng, từ bi, rộng lượng, nhẫn nhục… để đứa con cùng tử trở về với Cha mình, để cuối cùng Con là một với Cha. Trong tiến trình dũng xuất những đức tánh của Phật tánh tự tâm đó, thế giới sẽ tràn đầy ánh sáng và tình thương, đó là công việc “Tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sanh” của người bồ tát.

Đến cuối chương, một nghi vấn khởi lên trong đại chúng : tại sao đức Phật còn trẻ mà lại có những đệ tử, những Đại Bồ tát đã tu hành từ lâu xa như vậy, tại sao cha trẻ mà con già ?

Thí như người trẻ mạnh
Tuổi mới hai mươi lăm
Chỉ người già trăm tuổi
Tóc bạc và da nhăn :
Đây những con tôi sanh.
Những người già cũng nói
Người trẻ này là cha
Cha trẻ mà con già
Đời ai tin cho được.

Giải đáp cho nghi vấn cha trẻ con già này, đức Phật giảng phẩm sau, Như Lai Thọ Lượng.

Ở đây chúng ta chú ý đến tương quan Cha và Con. Trong kinh Pháp Hoa, chúng ta thấy nhiều lần nói đến mối liên hệ Cha Con này. Sau đây chúng ta chỉ tư duy thiền định về một điểm trong liên hệ Cha Con đó, tức là liên hệ Nhân Quả.

Khi thấy các đệ tử Đại Bồ tát đã tu hành lâu xa, đã già, thông thường chúng ta nghĩ đó là cha. Còn người trẻ kia phải là con. Cái gì có trước phải là cha, cái gì có sau phải là con. Trong tu hành cũng vậy, những kết quả, những chứng ngộ phát lộ ra sau một quá trình tu nhân, những kết quả đó phải có sau quá trình tu hành theo những nhân. Quả Phật chỉ có thể có sau sự tu hành (tức là nhân) để thành Phật. Nhưng ở đây Pháp Hoa nói đến một tri kiến rất khác lạ, gây rúng động, sụp đổ đối với cái thấy biết thông thường : Quả đã có trước Nhân.

Trong cái nhìn thông thường chỉ giới hạn vào đời hiện tại này thì người trẻ (quả) là con cháu của người già (nhân), và người trẻ phải có sau người già, quả có sau nhân. Phật quả có sau hạnh Bồ tát. Đó là cái nhìn của hầu hết tất cả chúng ta. Ở đây kinh Pháp Hoa lại nói rằng người trẻ này, (Phật quả này) đã có trước các người già (hạnh Bồ tát), và các người già thật ra là con cháu của người trẻ kia. Các hạnh Bồ tát thật ra chỉ lưu xuất từ Phật quả kia.

Người trẻ kia (quả) tưởng là con của người già, có sau người già nhưng đó chỉ là do vô minh mà tưởng ra thế. Người kia dầu còn trẻ nhưng thật ra là Cha, đã cửu viễn thành Phật, đã có trước quá đỗi lâu xa. Về mặt tu hành, những kết quả của sự tu hành không phải có sau sự tu hành, chúng đã có trước, đã có sẵn (như những Đại Bồ tát tùng địa dũng xuất đã có sẵn dưới cõi Ta Bà) và sự tu hành chỉ là làm vọt lên những cái đã có sẵn đó mà thôi. Nói rộng ra, sự tu hành của chúng ta không phải là để tạo ra Quả Phật, mà chỉ là sự triển khai trên cái Quả mà đức Phật đã thành tựu, đã thành Phật lâu xa.

Tất cả thế giới quan, tất cả phương pháp luận của kinh Pháp Hoa đều nằm ở nơi Quả Phật vốn đã thành tựu lâu xa này : dù chúng ta có làm gì, tiến lên, sa xuống, có tu hành, có thành Phật, có hóa độ chúng sanh, hay là chỉ đi đứng nằm ngồi bình thường, tất cả mọi sinh hoạt của chúng ta đều xảy ra trong Quả Phật vốn đã “cửu viễn thật thành” này, trong cái “Thành Phật Đã Lâu Xa” này, trong cái “Đều đã thành Phật đạo” này, trong cái Vốn Đã Thành Phật Của Tất Cả này.

Bởi thế sự tu hành của hành giả Pháp Hoa là sự tu hành trên Quả, chứ không phải là tạo nhân để thành ra quả. Không phải tu sáu ba la mật để thành tựu Phật quả, mà chính là trên Phật quả mà tu hành, triển khai, làm dũng xuất sáu ba la mật. Sáu ba la mật là sự biểu lộ, sự dũng xuất của Phật quả đã vốn có từ lâu xa mà thôi. Bởi thế dù có tu ba a tăng tỳ kiếp để đạt đến giác ngộ, để thành Phật, thì ba a tăng tỳ kiếp ấy chỉ diễn ra trong Phật, trong Phật quả vốn đã thành tựu lâu xa. Bởi thế mà trong phẩm Tùng Địa Dũng Xuất này, “Từ lúc các vị Bồ tát tùng địa dũng xuất vọt lên lễ lạy Phật, đi quanh bên mặt ba vòng, chắp tay cung kính, ngợi ca Phật, rồi đứng qua một bên, ưa vui chiêm ngưỡng hai đức Thế Tôn, thời gian đã trải qua năm mươi tiểu kiếp mà hàng đại chúng thấy là như nửa ngày”. Thời gian năm mươi tiểu kiếp mà chỉ như nửa ngày bởi vì thời gian đó xảy ra trong Quả Phật, trong cái “cửu viễn thành Phật”.

Sự khác biệt của Nhân thừa (thừa tu trên nhân) và Quả thừa (thừa tu trên quả) đưa đến một sự khác biệt trong việc tu hành ; với hành giả Pháp Hoa, thường trực ở ngay trên tâm địa “vốn thành Phật đã lâu xa” của mình mà dũng xuất tất cả những đức tính của Phật (tức là các hạnh của Bồ tát). Như vậy đời sống luôn luôn là cơ hội cho sự dũng xuất những phẩm tính tốt đẹp nhất vốn tiềm ẩn nơi mình. Những phẩm tính tốt đẹp ấy được dũng xuất càng nhiều, thì đời sống của hành giả Pháp Hoa ngày càng tràn đầy an lạc, chúng trang nghiêm cho cuộc sống hàng ngày thành thế giới Pháp Hoa.

Ở mức độ bình thường của đa số chúng ta, thế giới quan Pháp Hoa cho chúng ta một cảm thức về tính thiêng liêng của tất cả mọi sự. Đó là tính tích cực vô cùng của đời sống, điều này các vị ngày xưa khi giảng Pháp Hoa thường hay có câu : “Tư sanh sự nghiệp đều là Thật Tướng”.

Chúng ta không khai triển thêm nữa, nhưng chắc chắn tính thiêng liêng tích cực này đã và đang là động cơ cho mọi sinh hoạt của xã hội Đại thừa, luôn luôn đưa những đất nước chịu ảnh hưởng của kinh Pháp Hoa đến những tầm cao của thời đại, xưa cũng như nay.

6. Như Lai Thọ Lượng

Để trả lời cho sự nghi nan của đại chúng ở phẩm trước, tại sao đức Phật mới giác ngộ được mấy mươi năm lại có vô số đệ tử là các Đại Bồ tát tùng địa dũng xuất đã tu hành lâu xa như vậy, tại sao cha trẻ mà con già, trong phẩm Như Lai Thọ Lượng, đức Phật nói rằng :

“Thật sự, Như Lai thành Phật đến nay đã vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức trăm triệu kiếp. Ví như trăm nghìn muôn ức trăm triệu vô số cõi tam thiên đại thiên, giả sử có người đem nghiền thành bụi nhỏ, đi về hướng đông, cách khoảng năm trăm nghìn muôn ức trăm triệu vô số cõi nước mới bỏ xuống một hạt bụi nhỏ ấy. Cứ đi mãi về hướng đông bỏ xuống như thế cho đến hết tất cả số bụi nhỏ đó. Các thiện nam tử ! Ý các ông nghĩ sao ? Các thế giới đó có thể suy nghĩ tính đếm được số lượng chăng ?”

Di Lặc Bồ tát và đại chúng đồng bạch Phật là không thể. Bấy giờ Phật bảo đại chúng Bồ tát : “Các thiện nam tử ! Nay ta sẽ tuyên nói rõ ràng cho các ông. Bao nhiêu cõi nước đó, có được bỏ hạt bụi xuống hay không, đều đem cả hết nghiền thành bụi nhỏ, cứ một hạt bụi là một kiếp, thì Như Lai thành Phật đến nay, còn lâu hơn số đó trăm nghìn muôn ức trăm triệu vô số kiếp. Từ đó đến nay, Như Lai thường ở cõi Ta Bà này mà thuyết pháp giáo hóa, cũng ở trong trăm nghìn muôn ức trăm triệu vô số cõi nước khác, dẫn dắt lợi lạc cho chúng sanh. Trong thời gian ấy và trong những quốc độ ấy, Như Lai tự nói đến các đức Như Lai khác, như Phật Nhiên Đăng, lại nói đến sự nhập diệt của các đức Như Lai ấy…”

Đây là sự thành Phật lâu xa (cửu viễn thành Phật) hay là Thọ Lượng của Như Lai. Sự thành Phật lâu xa đó được đức Phật lấy một thí dụ để chúng ta hiểu được rằng đức Phật đã thành Phật từ thời gian vô thủy. Trong quá khứ từ thuở vũ trụ mới tạo thành, chưa từng có một sát na thời gian nào mà Như Lai chưa từng thành Phật. Và hơn nữa cái thời gian lâu xa ấy được diễn tả bằng hình thức không gian là vô số hạt bụi nhỏ, số hạt bụi nhỏ ấy còn nhiều hơn số hạt bụi có thật trong vũ trụ của chúng ta, đến độ chúng ta hiểu được rằng về mặt không gian, không có một hạt bụi nào của vũ trụ này không có sự thành Phật lâu xa của Như Lai. Tất cả những phần tử nhỏ nhất của vũ trụ này đều nằm trong sự thành Phật lâu xa của Như Lai, trong Thọ Lượng của Như Lai.

Nói một cách khác, không có một sát na nào của thời gian, không có một vi trần (hạt bụi nhỏ) nào của không gian mà không đầy ắp sự thành Phật đã lâu xa của Như Lai, không đầy ắp ánh sáng giác ngộ và lòng từ bi vô lượng của Như Lai. Tất cả những phầøn tử nhỏ nhất của thời gian và không gian, tất cả vốn đã tự viên thành, vốn đã hoàn thiện, vốn là Đại Toàn Thiện, vốn là Phổ Hiền (Samanta-bhadra – dịch đúng nghĩa là Tất Cả Toàn Thiện, All Good).

Chúng ta không nói thêm nữa ở đây, mà mỗi người tùy theo căn tánh, khuynh hướng mình phải Tin Hiểu (Tín Giải) cho được phần nào Thọ Lượng Như Lai. Các vị tổ ngày xưa lấy kinh Pháp Hoa để lập tông phái như ngài Thiên Thai Trí Giả ở Trung Hoa, ngài Nhật Liên ở Nhật Bản và các vị khác ở các tông phái khác đều cho rằng phẩm Như Lai Thọ Lượng là phẩm quan trọng nhất của Pháp Hoa, cũng là phần chính hiển bày Bổn Phật trong phần Bổn môn. Người nào tin hiểu được việc thành Phật lâu xa này, người ấy dự phần vào thọ mạng vô thủy vô chung của Phật. Người ấy thấy biết rằng đời sống mình nở bừng tràn lan khắp vũ trụ, không còn bị giới hạn bởi thời gian, không gian, mạng sống mình là vô thủy vô chung, mỗi cuộc đời của mình chỉ là một bọt nước trên đại dương vĩnh cửu, do đại dương ấy ứng hóa ra. Người ấy có chỗ an trụ vĩnh cửu, chỗ quy y thường trụ, an lập thời gian sanh tử của mình ở trong Phật, trong sự thành Phật lâu xa của Phật, trong Thọ Lượng của Như Lai, như một giọt nước vĩnh viễn an toàn trong đại dương.

Sự tin hiểu này đưa người thọ trì kinh Pháp Hoa thấy được Như Lai Thọ Lượng tức là Quả của Phật. Công đức của việc tin hiểu ấy được nói đến trong phẩm sau, tức phẩm Phân Biệt Công Đức thứ mười bảy như sau :

“Lúc bấy giờ trong đại hội nghe đức Phật nói thọ mạng kiếp số dài lâu như thế, vô lượng, vô biên, vô số chúng sanh được lợi ích lớn : có sáu trăm tám muôn ức trăm triệu hằng hà sa chúng sanh được Vô sanh pháp nhẫn. Lại có Đại Bồ tát nghìn lần gấp bội được môn Văn trì đà la ni… Lại có một tứ thiên hạ vi trần số Đại Bồ tát một đời sẽ được vô thượng chánh đẳng chánh giác. Lại có tám thế giới vi trần số chúng sanh đều phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác”. (Tất cả gồm mười hai công đức thứ bậc.)

Rồi phẩm Phân Biệt Công Đức kết thúc như vầy :

Kính giữ Pháp Hoa
và làm như vậy
công đức người ấy
không thể lượng định
………………………
Vì chỗ con Phật
cư trú như vậy
cũng chính là chỗ
Như Lai sử dụng
thường xuyên cư trú
kinh hành, nằm ngồi.

Một người tin hiểu Như Lai Thọ Lượng thì chỗ cư trú sinh hoạt của người đó chính là chỗ cư trú và sinh hoạt của Phật. Người đó vĩnh viễn có Phật ở với mình.

Dầu chỉ một niệm tin hiểu sự vĩnh cửu của thọ mạng Như Lai, tin hiểu rằng chúng ta đang sống trong thọ mạng vĩnh cửu của Phật, rằng tất cả “đều đã thành Phật đạo”, sự tin hiểu đó đưa người ấy vào biển đại an lạc, đại tịch diệt của Như Lai, cũng tức là Phật Tánh Tự Tâm mình.

Một đặc sắc của kinh Pháp Hoa không chỉ là chỉ bày cho chúng ta Bổn Phật có tính cách Pháp thân như thế, mà với “thần lực cực kỳ siêu việt”, Phật thường hiện khắp thế gian cho các chúng sanh. Ở đây Bổn và Tích là một. Sự tin hiểu vào Bổn Phật (Pháp thân) khiến cho chúng ta thấy Tích Phật (Hóa thân) cũng thường trụ nơi thế gian :

Nhưng thật Như Lai
không có nhập diệt
mà thường ở đây
thuyết pháp giáo hóa.
Như Lai thường ở
tại quốc độ này
nhưng vì thần lực
cực kỳ siêu việt
nên mọi chúng sanh
điên đảo vọng tưởng
Như Lai bên cạnh
mà vẫn không thấy
……………………
Khi họ tin tưởng
chân thành, ôn nhu
thiết tha muốn được
nhìn thấy Như Lai
mà không tiếc nuối
đến cả tính mạng
bấy giờ Như Lai
cùng với Tăng chúng
đồng xuất hiện ra
tại Linh Sơn này
……………………
Thần lực Như Lai
là như thế ấy
thường ở Linh Sơn
cùng với bao nhiêu
chỗ ở khác nữa.
Chúng sanh nhìn thấy
thì thấy hoại kiếp
lửa dữ đốt cháy
cả quốc độ này.
Nhưng chính lúc ấy
quốc độ Như Lai
vẫn thường an ổn
chư thiên nhân loại
vẫn thường tràn đầy
trong quốc độ ấy.

Tóm lại, Bổn ở đâu thì Tích ở đó, Bổn ở khắp tất cả thời gian tất cả không gian thì Tích cũng ở khắp tất cả thời gian tất cả không gian. Nơi nào có Thọ Mạng của Như Lai thì nơi đó có hiện thân của Như Lai, nơi nào là Thọ Mạng của Như Lai thì nơi đó là hiện thân của Như Lai. Ở đâu có nước (tâm thanh tịnh) ở đó có mặt trăng hiện hình.

Một trong những cái Diệu của kinh Pháp Hoa là không tách biệt hẳn hòi giữa Pháp thân, Báo thân và Hóa thân – không phải như các nhà học giả nghiên cứu bằng trí thức nghĩ rằng Pháp Hoa là một trong những kinh Đại thừa xuất hiện trước tiên, nên chưa phân biệt rõ ràng Pháp, Báo và Hóa thân. Ở đây chỉ có sự tin hiểu mới có thể cảm nhận được cả ba thân vô ngại với nhau, cả ba là một. Chỉ có đức tin mới thấy được rằng tất cả chúng sanh chúng ta đang sống trong một thế giới trùng trùng vô tận Phật trong cả ba cấp độ Pháp thân, Báo thân và Hóa thân.

Cũng trong phẩm Như Lai Thọ Lượng này có đoạn nói về cái thấy biết như thật của Phật, cái thấy biết trong Pháp thân và cả Báo thân, Hóa thân :

“Vì Như Lai đúng như thật thấy biết tướng của ba cõi mà thấy ba cõi không sanh không tử, không biến mất không hiện ra, không tồn tại không nhập diệt, không thật không giả, không như nhau không khác nhau. Chẳng phải như cách ba cõi nhìn thấy ba cõi, Như Lai thấy rõ những thứ ấy như thế, không chút sai lầm”.

Chúng ta nhớ lại đoạn nói về thật tướng của các pháp trong phẩm Phương Tiện thứ hai :

“Chỉ có Phật với Phật mới có thể thấu tột thật tướng của các pháp, nghĩa là các pháp : tướng như vậy, tánh như vậy, thể như vậy, lực như vậy, tác như vậy, nhơn như vậy, duyên như vậy, quả như vậy, báo như vậy, cả thảy trước sau đầu cuối rốt ráo như vậy”.

“Không sanh không tử, không biến mất không hiện ra, không tồn tại không nhập diệt…” và “cả thảy trước sau đầu cuối rốt ráo như vậy” bởi vì tất cả các pháp được đóng dấu bởi cái ấn “thành Phật lâu xa”, “Như Lai Thọ Lượng”. Ở đây tư tưởng “Đều đã thành Phật đạo” được hiểu lại trên một cấp độ mới, tột rộng và tột sâu, ở cấp độ pháp giới. “Đều đã thành Phật đạo” bởi vì đã thành Phật lâu xa, bởi vì đều nằm trong Như Lai Thọ Lượng.

Phẩm Như Lai Thọ Lượng nói riêng và kinh Pháp Hoa nói chung trình bày cho chúng ta Quả Phật thay vì Nhân để thành Phật. Bởi thế kinh ít nói đến sáu ba la mật, những nhân để tu hành thành Phật. Pháp Hoa là cái Quả đức Phật đã thành từ lâu xa và khai thị ngộ nhập cho chúng ta để chúng ta thấy xưa nay mình vẫn ở trong Quả Phật đó. Nói một cách thế phàm, Pháp Hoa là Quả để chúng ta tin hiểu và thọ dụng, chứ không phải bắt đầu công phu gieo trồng vun bón gì cả. Tất cả mọi sự đã được đức Phật làm xong rồi, chúng ta không cần phải làm gì nữa cả. Cái khiến Pháp Hoa được xem là cao quý nhất là ở chỗ đó : hành giả ở trong Quả và hưởng thụ Quả chứ không bắt đầu gieo nhân. Và đại sự nhân duyên của Phật ra đời cũng chính là ở chỗ đó : khai thị ngộ nhập cái Quả mà Phật đã “cửu viễn thật thành”, (nếu không thế thì Phật không cần ra đời, mà các vị Bồ tát giáo hóa về các nhân để tu hành là đủ).

Nhưng cũng chính trong phẩm Như Lai Thọ Lượng này, đức Phật nói : “Các thiện nam tử ! Ta xưa tu hành đạo Bồ Tát, cảm thành thọ mạng, nay vẫn chưa hết, lại còn hơn số trên…” Nghĩa là trong khai thị ngộ nhập Quả nhưng vẫn không quên nói đến nhân (hạnh Bồ Tát), tuy nói đến tánh đức vẫn không lơ là với tu đức. Nói về Bồ Đề tâm tuyệt đối vẫn không bỏ qua Bồ Đề tâm tương đối, hiển bày chân lý tuyệt đối vẫn không coi thường chân lý tương đối. Bởi thế tuy Pháp Hoa triển khai từ Quả, mà không bỏ nhân, bởi thế từ sau phẩm này, Pháp Hoa nói về Hạnh, từ những hạnh của người thọ trì giảng nói Pháp Hoa cho đến hạnh của các Đại Bồ tát như Quán Thế Âm, Dược Vương v.v… và chấm dứt bằng chương Phổ Hiền Bồ tát (tức là Bồ tát của Đại Hạnh).

Nói theo ngôn ngữ Pháp Hoa, Bổn phải phối hợp với Tích, Quả phải được triển khai thấu suốt để hợp nhất với nhân, căn bản trí phải nối kết với hậu đắc trí hay sai biệt trí. Đó là điều chúng ta cần nhớ trong chương này, để đi vào các chương sau nói về Hạnh.
 


7. Như Lai Thần Lực

Lúc bấy giờ các Đại Bồ tát “tùng địa dũng xuất” chắp tay, chiêm ngưỡng mà bạch với Phật : “Sau khi ngài nhập diệt chúng con sẽ ở trong bao nhiêu quốc độ phân thân của ngài đã ở và sẽ nhập diệt để diễn giảng rộng rãi Pháp Hoa”. “Bấy giờ trước tất cả đại chúng đức Thế Tôn biểu hiện thần lực vĩ đại, bày tướng lưỡi rộng dài lên đến trời Phạm thế, tất cả lỗ chân lông phóng ra vô lượng vô số ánh sáng có màu sắc soi khắp cả cõi nước mười phương. Chư Phật phân thân của ngài ngồi trên tòa sư tử dưới các cây báu cũng làm như vậy…”

“Sau đó đức Thích Ca Mâu Ni cùng các chư Phật phân thân đằng hắng và búng ngón tay, đất của các cõi Phật rung động sáu cách, và nhờ thần lực của đức Phật và chư Phật phân thân, tất cả chúng sanh đều thấy vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức các đức Phật phân thân ngồi trên tòa sư tử dưới các cây báu và thấy đức Thích Ca Mâu Ni Phật cùng đức Đa Bảo Như Lai ngồi trên tòa sư tử trên tháp báu… Các chúng sanh chắp tay hướng về cõi Ta Bà nói “Nam mô Thích Ca