THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
 
 
.
MƯỜI HAI VẤN ĐỀ XÃ HỘI DƯỚI CÁI NHÌN PHẬT GIÁO
Nguyễn Thị Phương Thanh dịch
(Lược theo Au delà des dogmes)
Trong một cuộc đàm thoại giữa thính chúng thuộc nhiều thành phần xã hội, là nhà truyền thông, nhà giáo dục, chính khách, …Đức Lạt Lai Lạt Ma đã trả lời các câu hỏi về nhiều vấn đề đời sống xã hội tham của người tham dự một cách thẳng thắn và có duyên. Với phong thái gần gũi, chân thật và giản dị, và qua những câu trả lời này, phần nào đó trả lời câu hỏi: tại sao Đức Đạt Lai Lạt Ma được nhiều người, đặc biệt là ở các nước phương Tây yêu mến đến thế.

1. Kính thưa Ngài, khi còn bé Ngài đã tỏ ra phi thường. Những trẻ em lo âu cho tương lai của tinh cầu đã thành lập một hội đoàn. Ngài có  đều gì muốn nói với trẻ em ngày nay? 

Tương lai là cái gì ở trước mặt chúng ta, và vì vậy, nó rất quan trọng. Trẻ em có trách nhiệm về tương lai ấy. Vì rằng bản tính con người căn bản là tốt, nên trẻ em, khi còn rất nhỏ, không phân biệt lắm giữa người  này và người nọ. Các em có một tình thương và lòng nhân tự nhiên. Ví dụ đối với các em, nụ cười của người đối diện quan trọng hơn chủng tộc, quốc tịch hay văn hóa của họ. Điều này, theo tôi rất đáng quý và nó khiến tôi hy vọng ở tương lai. Nhưng mặt khác thì tôi lại thấy hơi lo: trẻ em đương nhiên có tâm hồn cởi mở và tốt bụng, nhưng một vài khía cạnh của nền giáo dục mà các em hấp thụ làm tăng thêm mối chia rẽ giữa các em, điều này chung cục sẽ tạo nên hố ngăn cách giữa trẻ em và những người khác. 

Vì vậy,tôi thấy là song song với giáo dục, điều tối cần là phải phát triển lòng nhân mà bẩm sinh các em vốn có. Nghĩa là giáo dục phải hòa hợp với bản chất nhân hậu của trẻ. Điều chính là nuôi dạy nó trong một môi trường thương yêu và trìu mến. Mặc dù, lý tưởng mà nói rằng, nếu phải lựa chọn nhiều đức tính rất quý khác và lòng nhân, chắc chắn tôi sẽ chọn lòng nhân. 

Thật vậy, giáo dục cùng với trí thông minh bẩm sinh của con người, dù quan trọng cách mấy cũng không đủ để tạo dựng tương lai. Tâm hồn chúng ta phải thấm nhuần đức vị tha, bằng cách cảm nhạn giá trị nhân bản nòng cốt như tình thương đồng loại. Hãy tự tạo cho mình lòng nhân và tinh thần khoan dung; hãy cho trí thông minh của ta phong phú lên nhờ đức tính ấy, và khai thác những đức tính có được giáo dục, để cả chúng ta và xã hội quanh ta đều được mãn nguyện và hạnh phúc. 

2. Tại sao ở phương Tây cha mẹ và con cái lại “thường bất hòa” nhu vậy? 

Tôi cũng chẳng biết nữa. Có nhiều yếu tố và đều kiện như: thói quen, phong tục và tấm gương cho trẻ noi theo. Điều có thể tạo nên xung đột trong gia đình. Dĩ nhiên thật đáng buồn khi mà giữa cha mẹ và con cái, tình thương yêu không còn nữa. Tôi không thể giải thích những mối bất hòa như vậy bằng một nguyên nhân duy nhất nào. Vì có nhiều nguyên nhân, nên khi tìm cách giải quyết văn đề, phải nhận định chúng một cách bao quát, toàn diện.

3. Những quan điểm chính trị và kinh tế của các nước phương Tây đã vận hành tương đối tốt trong thập niên 1960, nhưng mọi sự không ổn trong thập niên này. Người ta không còn thấy bằng lòng nữa. Làm sao chỉnh đốn lại tình thế?

Từ lúc hãy còn rất bé, tôi đã ham thích kỹ thuật. Một số người cho rằng chính việc phát triển kỹ thuật đã không hoàn toàn đáng mong muốn. Tôi thì không nghĩ vậy. Tôi nghĩ rằng tất cả điều do ở thái độ chúng ta, và chúng ta có quyền sử dụng nó và điều tốt hay điều xấu. Vậy nên, tất cả đều tùy thuộc vào động cơ thúc đẩy chúng ta, vào cách chúng ta áp dụng kỹ thuật. Tôi nghĩ hiện nay chúng ta đang chứng kiến một sự tăng gia kiến thức sâu rộng, nhưng người ta lại không quan tâm phát triển lòng tốt, thiện tâm và tình thương yêu đồng loại cho bằng quan tâm đến kiến thức. 

Tuy vậy, tôi nghĩ rằng hiện nay mọi sự đã rất rõ ràng. Con người không phải là sản phẩm của máy óc. cho nên không mong gì có được hạnh phúc thật sự nếu chỉ tùy thuộc vào ngoại cảnh. Dĩ nhiên, chúng ta cần có một tối thiểu tài sản vật chất, nhưng nó không phải là nguyên nhân mang lại hạnh phúc. Những nguyên nhân thật sự để được hài lòng mãn nguyện phải tìm trong nội tâm ta. Tôi nghĩ đều ấy rất rõ. 

Mặc dù khó giải thích tiêu này, tôi xin cố gắng diễn tả ý nghĩa của lời giải quyết ấy. Trước hết phải nhìn nhận hạnh phúc thể hiện trong tâm hồn chúng ta. Những kẻ chỉ suy nghĩ bằng khoa học kỹ thuật, với chủ trương là có thể giải quyết và hoàn tất mọi chuyện nhờ có tiến bộ, đều là cực đoan. Tôi phải nhìn nhận đâu là giới hạn của một lối nhìn như vậy. Khởi đầu bằng cách định đường ranh này khiến chúng ta khỏi phải ngỡ ngàng khi gặp những trở lực ngoại giới. Theo ý tôi, khi gặp khó khăn chúng ta đừng nên quá gần mà quan sát chúng. Ngược lại, hãy đứng xa ra một chút, nhìn với một tam hồn cởi mở hơn, trong một bối cảnh bao quát hơn; khi ấy chúng ta sẽ tìm ra được giải pháp dễ dàng hơn. Ví dụ chúng ta đang gặp vấn đề nan giải. Nếu cứ đứng thật gần mà nhìn, ta sẽ thấy khổ đến không chịu nỗi, vì vậy cứ phải suy gẫm toàn những mặt tiêu cực. Ngược lại, quan sát vấn đề từ một khoảng cách, biểu lộ một cung cách thoải mái hơn, và xét vấn đề dưới những góc độ khác nhau, thì giúp chúng ta tìm được những khía cạnh tích cực của tình huống. Tôi thấy là cần phải kết hợp trí thông minh tự nhiên của mỗi người với lòng can đảm, để tạo ra niềm tin thật sự. Kinh nghiệm riêng đã dạy tôi rằng nhờ có thái độ này mà ta để đạt đến sự yên tĩnh của tâm hồn. 

4. Các thính tri gia có thể có biện pháp nào để cho người dân được sung sướng hơn? 

Tôi nghĩ vai trò này không chỉ giới hạn cho các chính trị gia mà thôi. Nó liên quan đến mọi người, những nhà giáo dục, khoa học gia, những người thiết lập các lý thuyết chính trị, các nhà tâm lý học, những người chuyên về khoa học tâm linh, những nhà trí thức. Tóm lại, việc tìm kiếm những phương thức cho sự bình an nội tâm là công việc của mỗi người. Ví dụ ngành y khoa ngày càng khám phá thêm nhiêu tương quan giữa sự thanh thản tâm hồn và sự lành mạnh thể xác. Đó là những công trình nghiên cứu đáng được phát triển thêm về chiều sâu. 

Tôi phải nói rằng, quý vị trong hệ thống thông tin báo chí ở thời điểm này đóng vai trò rất quan trọng. Hệ thống thông tin báo chí hiện nay thuộc về một thời đại tân tiến và trong một phương diện, tôi tin ngành báo chí hành động như một nhà giáo dục, như một nhân tố kích thích tâm hồn con người. Như vây quý vị có một vai trò rất đặc biệt. Về điều này, tôi xin trình bày với quý vị một vài ý kiến: Tôi có cảm tưởng là ngành báo chí thông tin chú ý quá nhiều đến mặt xấu của những hoạt động của con người, khiến cho quần chúng có cảm tưởng là bản tính con người hoàn toàn xấu. Khi nghĩ như thế, tự nhiên người ta chán nản và thật sự có nguy cơ mất hết hy vọng. Loài người có bao nhiêu chuyện để đau khổ, dù chỉ trong phạm vi hạn hẹp của gia đình. Dù có muôn vàn vấn đề mà con người gặp phải, vẫn có một tiềm năng để biến đổi: vẫn có thể làm cho hoàn cảnh đó tốt đẹp hơn, vì thương cảm và từ bi ở trong bản tính của chúng ta. Bằng cách liên kết thông minh của con người với một động cơ thúc đẩy tốt lành, chúng ta có thể thay đổi cuộc đời của chúng ta, và cải tạo xã hội. Đối với tôi, đây là điều then chốt. Vì vậy tôi nghĩ rằng khi trình bày những vấn đề có quan hệ đến con nguồn thì quý vị nên trình bày một cách quân bình hơn. Dĩ nhiên tất cả những mặt xấu này của cuộc đời cũng đều quan trọng, chúng cho báo chí những chất liệu tốn nhưng cúng đừng quên đưa ra những mặt tốt của cuộc đời, căn bản trên bản chất con người và trí thông minh của ta. 

Gần đây, trong một số quốc gia người ta bàn cãi nhiều về vai trò của báo chí. Có nên nói hoạch toẹt hết mọi chuyện không? Phải nói cách nào? Chỗ nào trong đời tư, báo chí không được đụng đến? Tôi có vài ý kiến về vấn đề này, nhất là đối với những nhân vật lãnh đạo. Có trường hợp mà một số vị này không cư xử đúng đắn trong cương vị của họ, không tỏ ra có nguyên tắc hay kỷ luật tự giác. Trường hợp này tôi nghĩ rằng chỉ có báo chí mới có quyền năng kiểm điểm, và đưa ra ánh sáng, những cung cách hành động như vậy; do đó, tôi ủng hộ hành động của nhà báo và đánh giá cao khía cạnh lục lọi dò xét. nơi nào cũng xen vào của họ. Không nên có khoảng cách chênh lệch giữa thể thống bên ngoài và đời tư của một người lương thiện. Tôi nghĩ báo chí phải cho công chúng thấy rằng một số khía cạnh hấp dẫn khác hẳn. Chính trong chiều hướng đó mà tôi hơi khuynh về sự can thiệp vào đời tư của người ta, nhưng không phải vì vậy mà quên rằng chủ đích chung của chúng ta là phục vụ con người để kiện toàn xà hội. Đừng hành động sai lạc, do những động cơ xấu thúc đẩy. Tôi tin là, nếu người ta không phơi trần hết thảy những tệ nạn xã hội như nghiện thuốc, giết người, hãm hiếp và lạm dụng trẻ em, thì những kẻ vô tội sẽ cứ hàng ngày chịu khổ. Nếu báo chí giải thích rõ ràng, công chúng rốt cục phải chú ý và tìm ra cách giảm bớt khổ đau. 

Tôi cũng nghĩ rằng, khi nói đến luân thường đạo lý thường thì người ta gắn liền với nó với những khái niệm tôn giáo. Theo tôi, tách rời hai khái niệm luân lý và tôn giáo là điều quan trọng. Tôn giáo, lẽ di nhiên giúp chúng ta hiểu được đạo đức theo chiều sâu duy trì và phát triển nó, nhưng khi nói đến lòng vị tha hay tình thương yêu đồng loại chẳng hạn, phải biết tha thứ đạo đức này tự nó mà có. Không phụ thuộc vào tôn giáo, vì nó bắt nguồn từ bản tính thâm sâu của con người, đó là lòng nhân và tình thương yêu. 

5. Ngài có thể nói khái niệm nghiệp tập thể, nghiệp chung của một quốc gia? Nghiệp chung này mô tả cái gì ? 

Nói về nghiệp chung của một quốc gia là một đều dễ hiểu. Tuy nhiên, mặc dù sự chín muồi nghiệp quả của những người trong cùng một nhóm được gánh chịu trong cùng một lúc, điều này không có nghĩa là những nghiệp này được tích lũy trong cùng một thời gian. Tôi không tin là những duyên của một nghiệp chung được tạo ra cùng một lúc, mà chúng được tạo ra trong từng cá thể vào những thời đềm khác nhau. Sức mạnh của những hành động này và nhiều yếu tố khác nữa có thể tạo nên một sự nghiệp chung mà một nhóm người hay cả một nước phải gánh chịu. 

6. Những tội nhân chiến tranh trong phần gương những xứ Âu Châu, Đông âu, và những quốc gia khác tại Á Châu như Cam Bốt và Việt Nam đã không hề được xét xử, và có khi còn được ân xá ngay cả trước khi được xét xử. Ngài nghĩ thế nào về việc này? 

Thật đáng buồn, trong nhiều nước vừa mới thoát khỏi chế độ đàn áp, người ta thường biểu lộ lòng
căm hờn và ý muốn trả thù trong khi đáng lẽ phải biết tha thứ và chấp nhận. Đây không phải là lúc trả thù và thanh toán trong những nước đã được dân chủ này. Ngược lại, đây là lúc tái thiết quốc gia, xã hội. Tôi đã bày tỏ điều này khi được viếng thăm một số trong những nước đó. 

Tôi rất quý trọng và ngưỡng mộ những nghĩa cử của các tổ chức như cơ quan ân xá Quốc tế, họ làm việc một cách chân thành, có hiệu năng và tích cực trong lĩnh vực vi phạm nhân quyền. 

7. Ngài nói đến sự giải giới nội tại mà phải kèm theo giải giới ngoại tại. Xin Ngài nói rõ thêm giải giới nội tại là gì trước thù hận của kẻ địch, trước lòng căm hận của chính mình. Trong tác phẩm Les Voies du Coeur, Ngài cho thấy có thể thành lập trong tương lai mộ đạo quân quốc tế. Vì Ngài chủ trương bất bạo động, thì họ sẽ hoạt đóng cách nào đây? Họ sẽ được vũ trang không? 

Ai cũng biết ràng khả năng chém giết vẫn tồn tại chừng nào người ta còn vung gươm múa kiếm trong những bang giao quốc tế, hay cả trong phạm vi mỗi quốc gia. Mặt khác, phải xét lại vấn đề mua bán vũ khí vì tình thế hiện nay vừa khủng khiếp vừa vô trách nhiệm. Chúng ta suy nghĩ rất nghiêm chỉnh đến vấn đề vũ trang mà, một khi đã phân tích cặn kẽ, cho thấu rõ cơ chế quân đội là yếu tố chính dẫn đến tình trạng suy thoái của tình trạng hiện nay, mà nạn khủng bố là do vũ khí mà có. Vì vậy nguy cơ chiến tranh vẫn còn tồn tại ngày nào mà những cơ chế quân đội vẫn còn, ở phe này cũng như phe kia. Thế nên, cần phải dẹp bỏ quân đội, từ từ thôi. Dĩ nhiên, bắt đầu là giải giới nguyên tử, tiếp theo loại bỏ khí giới hóa học và vũ khí vi trùng, cuối cùng dẹp luôn vũ khí thông thường. Trước hết cần có sự bảo đảm quốc tế cho công cuộc giải giới này, nó cũng kiểm soát việc mua bán vũ khí, mà một số người đại diện là kẻ bất lương. Để giám sát việc giải giới này, có thể đưa vào những lực lượng nho nhỏ giống như một loại cảnh sát quốc tế. Liên Hiệp Quốc đã tham gia rất nhiều trong hành động quân sự để giải phóng; chúng ta có thể một lực lượng đa phương hay quốc tế giám sát một nước đã hoàn toàn giải giới, ý chính tôi muốn đưa ra, là những lực lượng tập thể này sẽ hoạt động như những lực lượng bảo vệ trị an. Lúc ấy mọi người sẽ thành Bồ tátm, chẳng cần vũ trang gì nữa! Nhưng tôi chắc là sẽ khó thực hiện. 

Một số người có lẽ không biết giải giới nội tại là gì? Tôi cho rằng căm hận là kẻ thù độc địa nhất. Đó là kẻ thù của sự thanh thản tâm hồn, tình hữu nghị và sự hòa hợp, ba yếu tố then chốt cho một sự phát triển tích cực để thực hiện một thế giới tốt đẹp hơn. Vậy phải tiết giảm hận thù và phát huy đức từ bi, lòng thương cảm. Đó chính là điều mà tôi gọi là giải giới nội tại.

8. Giận và ghét khác nhau thế nào? 

Riêng tôi thường phân biệt hai loại tâm lý vẫn đục này như sau. Ghét gắn liền với sự oán hận người khác, không bao giờ có động lực là lòng xót thương. Vậy cần phải hủy diệt nó hoàn toàn. Giận bộc lộ một phản ứng cảm xúc tức thì, mà trong Mật tông, có thể sử dụng được để tu hành. Cũng có khi vì thương mà người ta nổi giận. Ví dụ như để thúc giục kẻ khác phải tiến hành một hành động khẩn trương.

9. Xin Ngài định nghĩa thế nào là một kẻ thù ? 

Khi thấy mình giận ai đến tím mặt, thì biết ngay kẻ thù là gì. Chương bàn về lòng khoan dung và sự kiên nhẫn trong Bồ tát hạnh của Shantideva định nghĩa kẻ thù là người hăm dọa mạng sống ta hay bạn hữu ta, của cải ta hay của cải họ v.v… Bạn của kẻ thù được xem như kẻ thù. Trong pháp môn chuyển hóa tư tưởng (Tạng ngữ Iodjong) có mục quan sát tính bình đẳng giữa mình và người, dẫn đến ý niệm không còn thù hay bạn. Không phải phủ nhận sự hiện hữu của họ: kẻ thù và bạn vẫn còn đó; đúng  hơn, sự tu tập này cho thấy không có lý do nào để giận những kẻ xem mình là thù, hay quyến luyến một số người vì họ là bạn hay bà con ta, nhưng từ một góc độ khác nhau, có thề xem kẻ ấy là bạn, vì đã cho ta cơ hội để tập tính nhẫn nhục, khoan dung. Nếu nhìn ở khía cạnh này thì anh ta không còn là kẻ thù nữa, mà thật hữu ích và có lợi. 

10. Một người Tây Tạng giết chết một con trâu để nuôi sống gia đình có hành động tiêu cực không? Câu hỏi cũng đặt ra nhu vậy đối với những người cận vệ, vì để bảo vệ tính mạng cho Ngài, phải biết giết người? 

Chúng ta phải biết hiểu những trường hợp này như thế nào? Dĩ nhiên đây là những hành động tiêu cực. Cường độ tạo nghiệp của mỗi hành động tùy thuộc vào nhiều yếu tố như ý định thúc đẩy hành động, ngay chính hành động và suy nghĩ tiếp theo sau hành động.

11. Trong lúc theo giáo lý nhà Phật, làm sao sống trong nhũng biến cố tàn bạo như chiến tranh ? 

Điều quan trọng hơn hết phải tránh chém giết: tự cho mình có quyền cướp mạng sống của ai là một điều dứt khoát không bao giờ chúng ta được nghĩ đến.

12. Không bám víu khác với thờ ơ lãnh đạm như thế nào? 

Rất khác: lãnh đạm là hoàn toàn không quan tâm đến đối tượng đang đề cập, trong khi không bám víu hàm ý còn có một liên hệ.

Để sáng tỏ ý tôi nói, hãy xét sự bám víu là gì? Nó có hai loại: loại thứ nhất cần từ bỏ, đó là khi sự bát víu phát sinh do tâm trí bị khuấy động vì nỗi thèm muốn hay do bất kỳ động cơ tâm lý tiêu cực, loại thứ hai là tình cảm hướng đến những đối tượng đáng thương khuynh hướng này không xuất phát từ những xúc động tiêu cực thì phải được đào sâu và tăng trưởng. 

Khi quán tưởng tính Không (vacuité) chúng ta được thúc đẩy phải nới rộng sự bám giữ sai lạc các hiện tượng và sự cố, tưởng rằng chúng có một sự hiện hữu chắc chắn, biệt lập. Buông thả sự bám giữ sai lầm đều thiết yếu, nhưng vẫn phải có ý thức phân biệt cái gì phải vun trồng cái gì nên từ bỏ, và cố gắng phát huy tiềm năng của những đức tính lành mạnh và tích cực đồng thời dẹp bỏ sức mạnh của những khuynh hướng tiêu cực và độc hại. Khả năng phân biệt của ta vẫn còn nguyên vẹn. Trong cùng chiều hướng suy nghĩ đó. Bồ tát phải hủy tận gốc sự kiêu ngạo, tự hào, Tính khiêm cung tự nhiên đặt vị ấy ở sau mọi người. Tuy nhiên, điều này không thể ảnh hưởng đến niềm tin vô song và lòng can đảm tuyệt vời của Bồ tát khi dấn thân giải thoát chúng sinh khỏi khổ ách. Gương từ bi rộng lớn không lẫn bám víu tiêu cực nào, chứng tỏ rằng trọng hạnh phúc người khác hơn hạnh phúc riêng 

Chính nhờ trí tuệ và sự tu tâm luyện tính trong trong phương tiện khéo léo cũng như khả năng sáng tạo của tâm hồn điều cần thiết mà ta có thể thấy sự khác biệt rất vi tế giữa yếu tố nuôi dưỡng bản ngã, tức sự bám víu, và những đức tính tích cực lợi tha. Chỉ có sự kết hợp phương tiện và trí tuệ mới phân biệt đúng được. Tôi thường nói rằng nhắc đến cái "tôi" đương hàm một ý thức mạnh mẽ về tự ngã. Một trong những hình thức biểu lộ bản ngã là không cần để ý đến kẻ khác, không đếm xỉa đến hạnh phúc của họ, thậm chí có thể vì tư lợi mà khai thác bất kỳ điều gì làm cho mình sung sướng. Thái độ tâm lý là rất tiêu cực cần phải đánh đổ. Ngược lại một khía cạnh khác của cái "tôi" có thể biểu thị bằng lòng tự tin rộng lớn, khiến ta có thể nói: "Mình có thể hoàn tất điều này điều nọ. Mình có thể làm việc cho mọi người được sung sướng. Mình sẽ đạt đến toàn giác (eveil parfait) để làm lợi cho chúng sinh”. Cảm thức ấy thì đừng dẹp bỏ mà ngược lại, phát huy nó, tăng cường nó! Trên con đường tu tập, tâm trí ta bề ngoài vẫn thảnh thơi, thoải mái, nhưng tự thẳm sâu trong tâm hồn phải thật minh mẩn tỉnh giác, luôn sử dụng một cách sáng suốt sự phản tỉnh và chú tâm.

Nguyễn Thị Phương Thanh dịch
(Lược theo Au de là des dogmes)
(Văn Hóa Phật Giáo – Số 48)

NHỮNG CÔNG ÁN CỦA LƯƠNG TRI
Huỳnh Ngọc Chiến
Tôi thực sự thấy sốc khi nhận những bức ảnh từ 1 một người bạn, qua mạng Internet. Đó là một Tập tin  file) dạng Powerpoint Show có tên We are so lucky-food and water.pss (chúng ta may mắn biết bao, với thức ăn và nước) tả cái đói kinh hoàng và thảm khốc ở Châu Phi. Tập tin này mang theo thông tiệp gồm nhiều câu văn ngôn cho từng slide. Tôi xin phép trích một vài câu: 

“My great friends, let this not come to you as a surprise, but it’s real. Have them living around us and in our neibourghood today. We can change it with prayers, and always lend a help to those in need. Don’t keep this email to yourself. Forward it to your friends, so our friends and all people will thank NATURE for good and water that they already have”.

(Tạm dịch: Hỡi những người bạn lớn, đừng xem những bức ảnh này là điều kỳ lạ khiến bạn phải ngạc nhiên, mà đây là sự thực. Họ đang sống chung quanh chúng ta và trong khu vực láng giềng lân cận với chúng ta. Chúng ta có thể làm thay đổi điều này bằng những lời cầu nguyện, và bằng cách luôn sẵn sàng đưa tay ra để giúp đỡ những người khốn khó. Xin đừng giữ lá điện thư cho riêng bạn mà hãy gởi nó đến những người bạn của mình để những người bạn đó và tất cả mọi người đều sẽ cảm tạ về thức ăn và nước
uống mà Thiên Nhiên đã ban phát cho họ lâu nay). 

Thực hiện lời kêu gọi của thông điệp, người viết xin chuyển tiếp những hình ảnh này, thông qua báo nguyệt san Văn Hóa Phật Giáo, với hy vọng thông điệp sẽ đến được với nhiều người hơn nữa. Không phải chỉ để người đọc cảm tạ thiên nhiên hay tri ân cuộc đời đã không để mình lâm vào cảnh khốn cùng mà còn cầu mong nội dung thông điệp này sẽ còn mang đến nhiều ý nghĩa sâu xa hơn nữa. 

Năm 19941, cả thế giới hầu như bị chấn động bởi một bức ảnh của nhiếp ảnh gia Kelvin Carter nói về nạn đói ở Sudan. Bức ảnh được giải thưởng Pulitzerl, mô tả lại hình ảnh một đứa bé kiệt sức vì đội đang cố gắng bò lê đến một lán trại của lực lượng Liền Hiệp Quốc cách đó nhiều cây số để kiếm thức ăn. Đằng sau đứa bé là một con kên kên đang thản nhiên chờ đến khi đứa bé ngã gục xuống để bắt đầu bữa ăn cho nó. Cảnh tượng đau lòng này gợi ta nhớ một phần cảnh tượng nhân vật Bill đang kiệt sức vì đói khát phải chiến đấu một cách tuyệt vọng và hãi hùng đề giành sự sống trước một con sói cũng đang đói, trong câu truyện Love of life (Khát vọng sống) của nhà văn Jack London. Song nội dung bức ảnh còn thê thảm và lạnh lùng hơn rất nhiều vì đây là đời thực. 

Trong câu truyện của Jack London, nhân vật Bill cuối cùng đã được cứu sống. Những người đồng loại đã kịp đưa cánh tay ra cho Billl khi anh vừa ngã xuống. Còn đứa bé, nhân vật thực bằng xương bằng thịt trong bức ảnh, thì không ai biết số phận nó ra sao kể cả tác giả bức ảnh là Kelvin Carter. Sau khi chụp hình xong. ông cũng rời nơi đó mà đi. Ba tháng sau ông tự tử. Có lẽ vì tuyệt vọng, vì sự bất lực của một người trí thức trước những nỗi đau thương của đồng loại và có lẽ cả vì phải chứng kiến những bất công còn tồn tại mãi mãi giữa nhân gian. Cái tâm của một nhiếp ảnh gia phương Tây đáng để cho chúng ta thắp những nén hương trân trọng. 

Những bức ảnh tả cảnh đói khổ của con người này đều như những gáo nước lạnh tạt vào mặt tất cả nền văn minh, vào tất cả những danh từ sáo rỗng về tiến bộ về văn hóa, về cuộc sống tâm linh và tinh thần trên toàn thế giới. Đằng sau những cảnh phù hoa xán lạn của nền văn minh, đằng sau những ngôn ngữ khoa trương về lòng bác ái và lòng nhân đạo, phải chăng đây là chân tướng của cõi đời? 

Trong kinh Phật có nói về cảnh giới của loài ngạ quỷ (quỷ đói). Nhưng những kẻ trong các bức ảnh này còn sống dưới cả cảnh giới của loài ngạ quỷ. Dù họ là đồng loại của chúng ta, cùng chung sống giữa “Cõi người ta”, trong Dục giới! Loài ngạ quỷ được nói đến trong kinh dù sao cũng còn có sức để kêu gào vì đói khát, còn những người trong bức ảnh hầu như không còn một chút sức lực nào, kể cả việc mở miệng để nhận thức ăn. 

Xác thân con người từ thượng lưu trí thức đến kẻ bần cùng đều yếu đuối như nhau khi đối diện với cái đói và cái khát. Sự đói khát không chỉ đánh quỵ thân xác mà còn đánh quỵ cả tinh thần con người nữa. Cho dẫu đó là những kẻ đã từng một thời đứng ở đỉnh cao quyền lực và được bao phủ bởi những hào quang danh vọng. Hay kể cả những bậc khổ hạnh chân tu, chính Đức Phật khi còn là ẩn sĩ khổ hạnh cũng phải nhận một tô sữa bò của nàng Sujata mới có thể tiếp tục tu hành, thiền định và giác ngộ. 

Tôi vẫn cho rằng địa ngục rốt cuộc cũng chỉ là sự hoảng loạn của tâm thức khi ta đối diện với cái chết trong nỗi hãi hùng. Còn cõi Cực lạc hay Niết bàn là sự thanh thản khi ta đón nhận cái chết bằng tâm thức an nhiên theo lẽ “Bất muội nhân quả” của Tổ Bách Trượng. Bản thân cái chết không đáng sợ bằng nổi ám ảnh về nó. Nhất là cái chết từ từ vì đói khát. Đó có lẽ là một trong những đều kinh khủng và thê thảm nhất trần gian. Kinh điển Phật giáo, bằng vô lượng phương tiện thiện xảo, giúp ta đi vào tâm đạo bằng cách quán tưởng về bản chất bình đẳng của vạn phẩm bằng cách “hành thâm Bát-nhã-ba-la-mật". “Chiếu kiến ngũ uẩn giai không" để vượt thoát mọi khổ ách trong cuộc đời. Tất cả những điều đó theo tôi, chỉ là sự chuẩn bị cho một tâm thức bình yên khi đối mặt với cái chết. 

Kinh Lăng Già dạy chúng ta có thể hưng khởi tâm đại bi (hưng đại bi tâm) bằng cách quán tưởng thế gian như hoa đốm giữa trời. Như huyễn và như mộng, vượt ngoài các khái niệm "Đoạn" hay 'Thường". 

Thế nhưng các cảnh tượng đói khát đày đọa con người xuống dưới cả hàng ngũ quỷ này là “Thưòng" hay "Đoạn"? Đó là thực tại làm tan nát lòng người hay chỉ là “hoa đốm giữa hư không”, là cảnh tượng “Như huyễn", “như mộng"? Liệu có cần phải quán tưởng thế gian “Hư không hoa”, như kinh đã dạy, chúng ta mới “hưng đại bi tâm”? Hay chỉ cần nhìn những bức ảnh này, chúng ta cũng cảm nhận được nỗi đau của đồng loại mà rũ bỏ bớt tính ích kỷ, lòng tham dục và mở rộng cõi lòng ra?

Những bức ảnh làm tan nát lòng người kia giống như một cú đập khủng khiếp. làm lung lay tận gốc rễ mọi niềm tin của chúng ta vào những gì thiêng liêng nhất trên cõi đời này. Để làm gì với thi ca và triết học? Để làm gì với những học thuyết đầy ắp những khái niệm siêu hình? Để làm gì với lý luận tôn giáo cùng những kiến giải thâm huyền? Để làm gì với những kiến thức uyên bác về Đại tạng kinh, với những ngôn ngữ “ly tứ cú tuyệt bách phi"? Tất cả những thứ đó còn có một chút giá trị nào chăng, khi chúng ta đứng nhìn một cách bất lực trước cảnh đói thảm khốc đã đày đọa những người đồng loại chúng ta xuống thấp hơn cả loài súc vật? Đây mới chính là một loại “công án” đầy cay đắng cho lương tri, mà không một cuốn ngữ lục Thiền tông nào có thể nêu ra nổi! Có bao giờ chúng ta tự hỏi chúng ta lấy quyền gì để được sung sướng trong khi quanh ta, còn có biết bao nhiêu đồng loại còn sống trong cảnh địa ngục trần gian? Kinh ghi chép rằng chư Phật trong quá khứ sẵn sàng xả bỏ không tiếc thân mạng để cầu Chánh pháp hoặc để cứu đói cho cả loài vật theo tinh thần Bố thí Ba-la-mật. Còn chúng ta cứ suốt đời nghiên cứu nghiền ngẫm lời Phật dạy không thôi, rốt cuộc chúng ta có thể làm được những gì? 

Mà một khi chưa giải quyết được tận gốc rễ những cảnh địa ngục trần gian vì sự đói khát của nhân gian thì có phải chăng mọi tôn giáo, triết học, mọi chủ nghĩa, nếu chỉ dừng ở lý luận, đều là những trò hý luận phù phiếm và vô nghĩa? 

Văn Hóa Phật Giáo – Số 48
 

SỐNG THEO HẠNH PHẬT
Hạnh Phật (Buddha-cariyà) rất cao quý và rất an ổn mà bất cứ người nào phát nguyện theo đuổi thì đều trở nên thanh cao và hưởng được phúc lạc lớn. Bởi lẽ hạnh của Phật là những việc chân thật, hướng thiện, lợi mình, lợi người, là Thánh hạnh (Ariya-cariyà), thiện hạnh (Kusala- cariyà), chỉ manh đến an lạc quyết không đưa đến khổ đau. Theo được một hạnh thì thanh cao một bậc, cùng lúc hưởng được một phúc lạc lớn tưởng như không có gì sánh bằng. Càng nổ lực theo đuổi thì nhân phẩm và phúc lạc càng lớn hơn, bởi hạnh của Phật là sự thể hiện trọn vẹn và sinh động nhất nếp sống chân-thiện-mỹ…

Phật đến với đời mang hạnh nguyện lớn cứu độ hết thảy chúng sinh. Phật hiểu mình và thương
người thể hiện qua nếp sống trí tuệ và từ bi của bậc giác ngộ, muôn đời không sát sanh không lấy của không cho, không tà hạnh trong các dục, không nói dối, không uống rượu... và hết lòng khuyên dạy người khác sống nếp sống như Phật. Bởi hạnh Phật cao quý và an ổn như vậy nên người nào nỗ lực sống theo hạnh của Phật thì được gọi là Thánh giả (Ariya) và nhất định hưởng được phúc lạc lớn và lâu dài. Tùy theo (điều kiện và hoàn cảnh cụ thề mà Phật chỉ dạy mọi người sống theo hạnh của Phật. Chư vị xuất gia nguyện trọn đời theo hạnh của Phật thì Phật dạy phải theo đuổi trọn vẹn các Thánh hạnh của bậc xuất gia sống tự lợi và lợi tha. Những vị tại gia cư sĩ còn bận rộn với đời sống gia đình thì Phật khuyên nên nỗ lực noi gương và thực hành được chừng nào quý chừng ấy các Thánh hạnh cao quý của bậc xuất thế. Bởi hạnh của Phật là nếp sống đạo đức, giác ngộ, hướng thiện lợi mình, lợi người, nên càng chuyên tâm thực hành thì lợi ích an lạc đạt được càng lớn. Sống được một giây thì hưởng an lạc giải thoát một giây. Sống trọn một ngày thì được tự do an lạc một ngày. Sau đây Chúng ta thử chiêm nghiệm tám Thánh hạnh căn bản của các bậc xuất gia mà Phật đã khuyên những người tại gia cư sĩ nên noi gương thực tập trong một ngày đêm và thử hình dung mức độ giải thoát an lạc thực sự của nếp sống ấy: 

- Này Visàkhà, Thánh đệ tử suy tư như sau: cho đến trọn đời, các vị A la hán từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc của tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Cũng vậy, đêm nay và ngày nay, ta sống từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quí, có lòng từ, sống thương sót đến hạnh phúc của cả chúng sanh và loài hữu tình. Về chi phần này, ta theo gương các vị A la hán và ta sẽ thực hành trai giới”.

Cho đến trọn đời, các vị A la hán tử bỏ lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp. Cũng vậy, đêm nay và ngày nay, ta sống tử bỏ lấy của không, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp. Về chi phần này, ta theo gương các vị A la hán, và ta sẽ thực hành trai giới”.

Cho đến trọn đời, các vị A la hán từ bỏ tà hạnh, tịnh tu Phạm hạnh, sống giải thoát, tử bỏ dâm dục hèn hạ. Cũng vậy, đêm nay và ngày nay, ta sống từ bỏ và tịnh tu Phạm hạnh sống giải thoát, từ bỏ dâm dục hèn hạ. Về chi phần này, ta theo gương các vị A la hán sẽ thực hành trai giới”.

Cho đến trọn đời, các vị A la hán từ bỏ nói láo. Tránh xa nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ nơi sự thật chính chắn, đáng tin cậy, không lừa gạt, không phản lại lời hứa đối với đời. Cũng vậy, đêm nay và ngày nay, ta sống từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo, nói những lời chân thật chỉ nơi sự thật chắc chắn, đáng tin cậy, không lừa gạt, không phản lại lời hứa đối với đời. Về chi phần này, ta theo gương các vị A la hán và ta sẽ thực hành trai giới”.

Cho đến trọn đời, các vị A la hán từ bỏ rượu men, rượu nấu làm cho đắm say, tránh xa rượu men,  rượu nấu làm cho đắm say. Cũng vậy, đêm nay và ngày nay, ta sẽ bỏ men rượu, rượu nấu làm cho đắm say, tránh xa nen, rượu nấu làm cho đắm say. Về chi phần này, theo gương các vị A la hán và ta sẽ thực hành trai giới”.

Cho đến trọn đời, các vị A la hán ăn một ngày một bữa, không ăn ban đêm, không ăn phi thời. Cũng vậy, đêm nay và ngày nay, ta sống ăn một ngày một bữa, không ăn ban đêm, không ăn phi thời. Về chi phần này, ta theo gương các vị A la hán và ta sẽ thực hành trai giới”.

Cho đến trọn đời, các vị A la hán tránh xa, không xem múa, hát, nhạc diễn kịch, không trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa và các thời trang. Cũng vậy, đêm nay và ngày nay, ta sống tránh xa không xem hát nhạc diễn kịch, không trang sức bằng vòng hoa hương liệu, dầu thoa và các thời trang. Về chi phần này, ta theo gương các vị A la hán và ta sẽ thực hành trai giới”.

Cho đến trọn đầu các vị A la hán từ bỏ giường cao, giường lớn, tránh xa giường cao, giường lớn. Các vị ấy nằm trên giường thấp, trên thường nhỏ hay trên đệm cỏ. Cũng vậy, đêm nay và ngày nay, ta từ bỏ giường cao, giường lớn, tránh xa giường cao giường lớn, nằm  giường thấp, trên giường nhỏ hay trên đệm cỏ. Về chi phần này, ta theo gương các vị A la hán và ta sẽ thực hành trai giới”.

- Như vậy, này Visàkhà, là Thánh trai giới. Thực hành Thánh trai giới, này Visàkhà, có quả lớn, có lợi ích lớn, có chói sáng lớn, có ánh sáng lớn. (Kinh Các Lễ Uposatha, Tăng Chi Bộ). 

Kinh tạng Phủ nói cho chúng ta biết các bậc A la hán, trước lúc xuất gia nguyện trọn đời theo hạnh của Phật, đã có nhận thức như vậy: Đời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi. Đời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật rất khó cho một người sống ở gia đình có thể sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

Ngẫm kỹ lại thì chư vị Thánh giả xưa nêu nhận xét rất xác đáng. Ai vướng vào nợ trần rồi thì mới thấy thanh thoát cao quý chừng nào nếp sống ly trần thoát tục. Phần lớn người cư sĩ duyên trần chưa dứt. Đời sống còn nhiều vướng lụy, chưa thể theo đuổi hạnh của Phật như các Thánh giả xuất gia, chỉ mong theo gương các vị thực hành Ngũ giới hoặc tu học trọn một ngày đêm tám hạnh căn bản và đơn giản nhất của các bậc A la hán. Nhưng hãy thử hình dung tám Thánh hạnh trên sẽ đưa đến thanh cao an lạc thế nào khi được chấp trì một cách đầy đủ và nghiêm mật. Chỉ một hạnh thôi đã cao quý và an lạc lắm rồi, huống nữa là tám! Kính lễ Đức Thế Tôn, hạnh của Ngài đẹp mà an lạc lắm vậy.

Văn Hóa Phật Giáo – Số 48

QUẢ BÁO NHÃN TI ỀN
Đan Tâm
Chuyện kể rằng, lúc Thế Tôn cùng các Tỳ kheo ở tại tịnh xá Trúc Lâm, cách đó không xa, có đồ tể Cunda sống bằng nghề mổ heo. Mỗi lần giết heo, ông ta trói heo thật chặt vào cột và nện nó bằng một cây chày vuông. Rồi banh hàm và rót nước nóng vào họng, kế đến đổ nước nóng lên lưng heo, làm tuột lớp ba đen và thui lớp lông cứng bằng một bó đuốc. Cuối cùng ông cắt đầu heo bằng một thanh kiếm nhọn rồi xẻ thịt lột da... Và Cunda đã sinh sống bằng nghề mổ heo và bán thịt như thế gần năm mươi năm. Dù Thế Tôn ở tịnh xá cách đó không xa mà chẳng khi nào Cunda cúng dường Ngài, dù là một cành hoa hay một nắm cơm, cũng không làm một việc công đức nào cả. 

Một hôm ông mắc bệnh, và dù ông ta vẫn còn sống nhưng lửa của địa ngục A tỳ đã bốc cháy trước mặt. Khi cực hình địa ngục giáng xuống đồ tể Cunda, ông ta bắt đầu kêu eng éc và bò bằng tay và đầu gối. Người nhà rất kinh khiếp tìm mọi cách bịt miệng ông ta, chặn các cửa và nhốt ông ở trong nhà. Suốt bảy ngày, chịu sự đau khổ cùng cực của địa ngục, ông luôn mồm rống eng éc như heo. Vài Tỳ kheo đi ngang qua cửa nhà ông, nghe tiếng heo kêu eng êc ồn ào khi về tịnh xá, bạch với Thế Tôn: Bạch Thế Tôn, trong bảy ngày qua cửa nhà đồ tể Cunda đóng kín và ông ấy vẫn tiếp tục giết heo. Thể Tôn nghĩ xem, biết bao nhiêu heo bị giết. Thật từ trước tới nay chưa thấy ai độc ác và dã man như thế. Đức Thể Tôn nói: 

- Này các Tỳ kheo! Ông ta không giết heo trong bảy ngày qua. Sự trừng phạt phù hợp với việc làm ác đã xảy đến đối với ông ta. Ngay khi ra ngục A tỳ đã hiển hiện. Vì cực hình này, ông ta bò tới bò lui trong nhà, kêu la eng éc như một con heo suốt bảy ngày. Hôm nay ông ta đã chết và bị đưa vào địa ngục A tỳ. Nói xong, Thể Tôn đọc Pháp cú : 

Nay sầu, đời sau sầu
Kẻ ác hai đời sầu
Nó sầu, nó ưu não
Thấy nghiệp uế mình làm
(Kể theo Tích truyện Pháp cú)

Bài học đạo lý: 

Ác giả ác báo, làm ác tất phải gặp quả báo ác là một sự thật, luôn xảy ra trong cuộc sống quanh ta. Dễ thấy nhất là những người hành nghề đâm thuê chém mướn, đao phủ, đồ tể, đầu trộm đuôi cướp .v.v… sớm muộn rồi cũng bị trả báo đền mạng, oán thù chồng chất, vào tù ra tội. Nếu không thì cuối đời họ cũng phải đối diện với cận tử nghiệp kinh hoàng, những việc ác đã làm sẽ hiển hiện trước mắt, họ vẫy vùng giãy giụa trong tuyệt vọng và rơi vào địa ngục.

Nhất là những ai nặng nghiệp giết hại thì những oan hồn của các sinh linh vô tội oán hận ngập trời luôn đoanh vây, chờ chực đòi mạng và chắc chắn là phải chờ đợi những quả báo bất an. Không riêng gì Cunda, trước khi chết hiện nguyên hình con heo đang bị giết hại, vùng vẫy kêu la thãm thiết mà những người khác cũng chịu quả báo tương tự.

Những việc ác mà chúng ta đã làm trước đây vẫn còn đó, không mất. Trừ khi người ấy biết phục thiện, làm nhiều hạnh lành may ra mới chuyển hóa được phần nào. Vì thế, hãy chọn cho mình một nghề mưu sinh lương thiện, tránh xa các điều ác để hiện đời được bình an và đời sau nhẹ nhàng, thăng hoa hơn.

Đan Tâm
(Mục chuyện đạo đời - Báo Giác Ngộ số 413)

 
01-31-2008 11:23:55
 

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap
Xx
Xx