Phá THỜI
GIAN
Giải
thích đề tựa
Luận
Đại Trí Độ ghi : “Có người nói, thời gian là nguyên nhân
không thay đổi, là thực hữu, là vi tế không thể thấy,
không thể biết, chỉ do kết quả của hoa trái mà biết có
thời gian. Thành tuy thời gian không thể thấy mà biết chắc
có thời gian, vì nhìn quả biết nhân ... Thời gian không biến
hoại, nên thường”. Cái thấy này tương đương với cái
thấy của Newton trước đây “Ông xem không gian và thời gian
là hai yếu tố tuyệt đối, vật chất thì vận động trong
không gian và thời gian. Vật chất đối với ông là vật chất
có khối lượng. Ta thử một thí dụ, đối với Newton, thời
gian và không gian như một sân khấu, còn vật chất vận động
là những diễn viên trên sân khấu đó. Diễn viên không có,
thì sân khấu vẫn tồn tại”. [28]
Do
người đời CHẤP thời gian là thường, là không biến hoại
v.v… nên Luận chủ luận để phá đi cái chấp này. Nếu
thấy thời gian chỉ là pháp duyên khởi không tánh, thì không
cần phá. Song nếu thấy duyên khởi mà vẫn cho thời gian là
thực (tức có tánh) thì vẫn phá. Phá để hiển bày thực
tánh của thời gian.
LUẬN
GIẢI TOÀN PHẨM
若因過去時
Nếu nhơn thời quá khứ
有未來現在
Có vị lai hiện tại
未來及現在
Vị lai và hiện tại
應在過去時
Nên ở thời quá khứ (1)
若過去時中
Nếu trong thời quá khứ
無未來現在
Không vị lai hiện tại
未來現在時
Thời vị lai hiện tại
云何因過去
Làm sao nhơn quá khứ (2)
不因過去時
Không nhơn thời quá khứ
則無未來時
Ắt không có vị lai
亦無現在時
Cũng không thời hiện tại
是故無二時
Cho nên không hai thời (3)
Đây
là lý luận để phá thời gian.
Thời
gian được biểu trưng bằng 3 thời là quá khứ hiện tại
và vị lai. So sánh với cái đã qua, mà nói là HIỆN TẠI và
VỊ LAI. Tức QUÁ KHỨ là nhân của HIỆN TẠI và VỊ LAI. Là
nhân thì HIỆN TẠI và VỊ LAI không lìa QUÁ KHỨ. Không lìa
thì HIỆN TẠI và VỊ LAI đều ở thời QUÁ KHỨ. Nên nói
“Vị lai và hiện tại, nên ở thời quá khứ”.
Nhưng
nếu VỊ LAI và HIỆN TẠI cũng ở QUÁ KHỨ, thì chúng là QUÁ
KHỨ, không còn là VỊ LAI và HIỆN TẠI. Vì vậy QUÁ KHỨ
không thể là nhân của VỊ LAI và HIỆN TẠI. Không nhân thì
không quả. Tức HIỆN TẠI và VỊ LAI cũng không. Đây là ý
nghĩa của (P.2) và (P.3).
Không
VỊ LAI, HIỆN TẠI thì QUÁ KHỨ cũng không. Ba thời không thì
thời gian cũng không.
以如是義故
Bởi do nghĩa như vậy
則知餘二時
Thì biết hai thời khác
上中下一異
Thượng trung hạ nhất dị
是等法皆無
Các pháp ấy đều không (4)
BỞI
DO NGHĨA NHƯ VẬY, là nói về kết quả đã luận ở phần
trên. Từ kết quả đó mà biết, nên nói THÌ BIẾT.
HAI
THỜI KHÁC là chỉ cho hiện tại và vị lai. Trên lấy quá
khứ làm nhân để biện. Tương tự vậy mà biện với cái
nhân là hiện tại, vị lai, và tất cả các pháp tương đãi
khác. Trong đó có pháp THƯỢNG - TRUNG - HẠ, là chỉ cho trên
- giữa - dưới, NHẤT - DỊ là chỉ cho một và khác.
CÁC
PHÁP ẤY ĐỀU KHÔNG là nói về tánh của các pháp đó. Pháp
duyên khởi thì tánh chúng là không. Tức tướng thì có, nhưng
chỉ như trăng dưới nước, bóng trong gương, không có chất
thực.
時住不可得
Thời gian trụ không thể
時去亦叵得
Thời gian đi không thể
時若不可得
Thời, nếu bất khả đắc
云何說時相
Làm sao nói tướng thời? (5)
Đây
là nêu bày thực tướng của thời gian : KHÔNG TRỤ CŨNG KHÔNG
CHUYỂN. Đó là ý của hai câu đầu. Không trụ không chuyển,
tức thời gian không phải là thứ có thể nắm bắt. BẤT
KHẢ ĐẮC là không thể nắm bắt. Không thể nắm bắt thì
thời gian không có tướng để nói. Đó là ý của hai câu
sau.
THỜI
GIAN TRUï, là cho thời gian đứng yên một chỗ. Với cái nhìn
của mình hiện nay, thời gian không đứng yên. Vì nếu nó
đứng yên thì không có quá khứ, hiện tại và vị lai, tức
không có thời gian.
THỜI
GIAN ĐI là cho thời gian trôi chuyển. Đây là cái thấy của
tất cả chúng ta trong thế giới vĩ mô này, cũng chính là
loại thời gian tâm lý mà giáo sư Trịnh Xuân Thuận nói trong
Giai Điệu Bí Ẩn “Chúng ta hình dung thời gian như nước
trong một dòng sông chảy, như những gợn sóng trên mặt sông
đi qua. Trên con tàu thả neo đứng bất động trong hiện
tại, chúng ta nhìn dòng sông thời gian trôi qua, những con sóng
quá khứ lùi xa và những con sóng tương lai xô tới. Chúng
ta thừa nhận cho thời gian một chiều không gian và chính sự
biểu diễn như thế sự chuyển động của thời gian đối
với chúng ta trong không gian, cho chúng ta cảm giác về quá
khứ, hiện tại và tương lai ... Cái thời gian chủ quan hay
thời gian tâm lý ấy, tất cả chúng ta phải gánh chịu. Sự
phân biệt như thế giữa ba thời chi phối cuộc sống của
chúng ta …”. Nếu lấy cái tướng trôi đi đó, cho là thực
tướng của thời gian, thì Bồ-tát Long Thọ nói THỜI GIAN
ĐI KHÔNG THỂ. Các nhà vật lý hiện đại cũng có cái nhìn
tương tự. “Quan niệm như thế về thời gian, không phù hợp
lắm với các nhà vật lý hiện đại. Vì nếu thời gian có
chuyển động thì vận tốc của nó là bao nhiêu? Một câu
hỏi quá ư vô lý. Mặt khác, quan điểm cho rằng chỉ có hiện
tại là tồn tại, chỉ có nó là thực tại, lại không tương
thích với sự phá bỏ thời gian cứng nhắc và tuyệt đối
bởi thuyết tương đối … Sự phân biệt giữa quá khứ,
hiện tại và tương lai, từ nay không còn hữu dụng. Tất
cả mọi thời điểm đều có giá trị như nhau ... Vì các
khái niệm của quá khứ, hiện tại và tương lai bị loại
bỏ, nên thời gian không cần chuyển động nữa. Nó không
trôi nữa …”. [29] Thời gian không trôi nữa, nhưng không
có nghĩa là nó đứng yên. Nếu có đứng yên, chỉ là tướng
tùy duyên của thời gian, không phải là thực tướng của
thời gian. Vì sao? Vì Long Thọ nói THỜI GIAN TRỤ KHÔNG THỂ.
Vậy
thực tướng của thời gian là gì? Tướng thực của thời
gian thì không tướng để nắm bắt. Nói theo Trung Luận, thời
gian KHÔNG DỪNG TRỤ CŨNG KHÔNG TRÔI ĐI. Trôi đi hay dừng trụ
chỉ là tướng theo duyên. Nó không mang tính tuyệt đối phổ
quát. Các nhà vật lý hiện đại cũng nói “Thời gian duy
nhất và phổ quát trong vũ trụ Newton bây giờ đã được
thay thế bằng nhiều thời gian riêng, hoàn toàn khác nhau trong
vũ trụ Einstein ... Một giây đối với người ngoài trái đất,
có thể sẽ là vĩnh viễn đối với chúng ta. Một giây cũng
có thể thành một giờ, một năm, một thế kỷ … tùy thuộc
vào vận tốc bỏ chạy của các thiên hà. Nghĩa là, thời
gian đã mất đi tính phổ quát của nó. Cũng như không gian,
thời gian trở nên đàn hồi. Nó dài ra hay ngắn lại tùy theo
chuyển động của người đo nó”. [30]
Sau
là kết luận vì sao nói thời gian không đi cũng không dừng.
因物故有時
Nhơn vật nên có thời
離物何有時
Lìa vật sao có thời
物尚無所有
Vật còn không thể có
何況當有時
Hà huống là có thời (6)
Chúng
ta nhận ra thời gian không phải vì nó có một tướng xác
định của riêng nó mà NHỜ vào vật. Như thấy cây sanh trưởng
từ nhỏ đến lớn mà ta nói có thời gian. Hoặc thấy quá
trình hình thành và hoại diệt của một vật mà ta nói có
thời gian. Như đất là thời quá khứ của bình. Bình là thời
hiện tại. Bình hoại là thời vị lai của bình. Không thể
nhận biết có thời gian ngoài cái bình. Tức không có thời
gian độc lập ngoài không gian. Thời gian không phải là một
thứ sẵn thường, để những thứ khác nương đó mà hình
thành hay hoại diệt.
VẬT
CÒN KHÔNG THỂ CÓ, là nói vật không có tự tánh. Vì vạn
pháp chỉ là duyên hợp. Duyên hợp thì không tánh (Đã phá
ở phẩm Phá Nhân Duyên). Vì vạn pháp chỉ do THỨC biến,
nên không có tự tánh.
Vật
không, thì thời gian cũng không.
Chú
Thích:
1
Nhân Duyên được triển khai thành Nhân Quả.
2
Ðiều này được xem là tính chất chính của Nhân Duyên, dùng
lập luận phá tự tánh.
3
Vô sanh, không, như như, pháp tánh v.v... đều dùng để chỉ
cho thực tánh của vạn pháp. Danh khác mà thể đồng.
4
Phần thức nói trong kinh Ðại thừa, không phải Tiểu thừa.
5
Kinh Thủ Lăng Nghiêm.
6
Trích trong T.Ð Phật Học Hán Việt. Có chỗ cho ÁI LUẬN là
ngôn luận của tâm chấp thủ đắm trước các pháp. Nếu
ái luận cũng là một loại ngôn luận, thì niết bàn của
Nhị thừa thuộc Bát Bất. Song niết bàn đó chỉ có không
sanh mà không có không diệt. Trong khi Trung Luận Sớ ghi ÁI
LUẬN là chỉ cho tâm thủ trước các pháp. Nhị thừa có tâm
thủ trước niết bàn. Phá hí luận là phá cái tâm nêu ra
sự hiểu biết đối với các pháp, cũng phá luôn tâm thủ
trước niết bàn của Nhị thừa. Nên đây lấy theo định
nghĩa của Trung Luận Sớ.
7
Triết Học Marx Lenin – Nhà Xuất Bản Giáo Dục.
8
Triết Học Marx Lenin – Nhà Xuất Bản Giáo Dục.
9
Ðây là phần ngài Hàm Thị giải thích câu đức Phật nói
“Thấy ngoại tánh phi tánh”. “Thấy ngoại tánh phi tánh”
là thấy tánh của các pháp bên ngoài là không tánh.
10
Bởi tánh vốn không tánh, nên không thể tự giữ mà có bất
giác.
11
Cũng là duyên hợp giữa căn - trần - thức nhưng THƯÙC bây
giờ đã có phần TÌNH trong đó. Sát na đầu ấy qua quá nhanh,
nên người đời chỉ sống được với phần thức tình chứ
không sống được với phần thức hiện lượng. Hiện lượng
là khái niệm diễn tả cho tình trạng “Vật thế nào ta nhìn
chúng đúng như thế ấy”, không bị ràng buộc bởi quan niệm
tình cảm của riêng mình để vật trở thành xấu hay tốt.
12
Hành ấm, thức ấm là những khái niệm không thể thay thế
bằng những khái niệm bình thường cho dễ hiểu. Nên đành
phải ghi nguyên những khái niệm này ra mà không giải thích.
13
Sự khác nhau này bắt nguồn từ sự huân tập tu hành trước
đây của các thiền giả. Như cảnh giới tu chứng của Thanh
văn khác cảnh giới của Bích Chi Phật, khác cảnh giới của
ngoại đạo. Ðược phân biện rõ trong phần “Ngũ ấm ma”
của kinh Lăng Nghiêm.
14
Ðây là cái chấp SANH VÔ SANH thuộc phần thức ấm trong kinh
Thủ Lăng Nghiêm Trực Chỉ của ngài Hàm Thị. Các bạn có
thể nghiên cứu bản dịch của TT Thích Phước Hảo.
15
Chấp QUI VÔ QUI thuộc Thức Ấm.
16
Chấp TRI VÔ TRI thuộc Thức Ấm. Thủ Lăng Nghiêm Trực Chỉ
của Hàm Thị. Có thể nghiên cứu bản dịch của TT Thích
Phước Hảo.
17
Tức chúng không ở trong trường hợp “không một cũng không
khác” mà hoặc là rơi vào MỘT hoặc là rơi vào KHÁC.
18
Còn SANH là năng sanh.
19
Nói đến tánh thì phải là tánh không. Duyên khởi chỉ là
mặt hiện tượng biểu hiện cho cái không tánh ấy, chứ Duyên
khởi không phải là bản thể của vạn pháp.
20
Nên hiểu, nhân nói đây bao gồm luôn cả việc đủ duyên.
21
Không phải là câu thứ tư của tứ cú.
22
Ðây là nói đến thân dư báo của Phật, là hóa thân Phật
(mặt thị hiện của Phật pháp thân). Ðứng trên mặt pháp
thân mà nói thì Phật không có quả báo hay không có không
quả báo. Nhưng trên mặt hóa thân, một khi đã có nhân (nếu
thuộc định nghiệp) thì nhất định sẽ có quả.
23
Thiền sư Hàm Thị – Lăng Già Tâm Ấn. H.T Thanh Từ dịch.
24
Tướng ban đầu : Tức là tướng sơ trong luận Ðại Thừa
Khởi Tín. Luận ghi “Lại tâm khởi không có tướng sơ có
thể biết mà nói biết tướng sơ, chính là vô niệm”.
25
HUÂN là xông ướp, TẬP là lặp đi lặp lại. HUÂN TẬP là
chỉ cho thói quen của mình. Có thói quen về suy nghĩ, có thói
quen về hành động. Thứ gì làm hoài thành thói quen, sẽ thành
những dấu ấn không mất trong mỗi người. Ðó là quá trình
huân tập. Kinh luận gọi những dấu ấn ấy là chủng tử.
Nghĩ ác làm ác hoài thì sẽ có chủng tử ác trong thức tạng.
(Thức tạng chính là tâm chân thật của mình. Nhưng do đã
có vọng động, không còn được thanh tịnh như dạng nguyên
thể ban đầu nên gọi là thức tạng). Nghĩ thiện, làm thiện
hoài thì có những chủng tử thiện trong thức tạng. Chủng
tử ác đủ duyên sẽ biến hiện thành những cảnh giới khổ
đau. Chủng tử thiện đủ duyên sẽ biến thành những cảnh
giới sung sướng. Cho nên, niết bàn hay địa ngục không lìa
tâm mà có. Ðối với người có sẵn chủng tử địa ngục
trong thức tạng, khi đủ duyên địa ngục là có. Với người
không có chủng địa ngục thì địa ngục là hoàn toàn không.
Thành ra, thể tánh KHÔNG thanh tịnh chân thật thì ai cũng có,
nó là nền tảng để mọi cảnh giới hiện hữu. Nhưng cảnh
giới mà mỗi người đang thọ nhận thì tùy thuộc vào chủng
thiện ác mà mình đã huân tập trong quá khứ. Ðây là lý
do vì sao không thể khẳng định địa ngục là có hay là không.
26
Tánh là chỉ cho sự không đổi.
27
Tánh không và chân không diệu hữu không khác nhưng không một.
KHÔNG KHÁC vì tánh không chính là chân không diệu hữu. KHÔNG
MỘT vì tánh không là mới nói đến mặt THỂ của vạn pháp,
chân không diệu hữu là muốn nói cái THỂ ấy giờ đã hiển
đủ TƯỚNG và DỤNG. Như vậy không khác là nói ở mặt LÝ.
Không một là nói luôn ở mặt SỰ.
28
Trích “Khi vật lý gõ cửa bản thể học” của T.S Ng. Tường
Bách
29
Giai Ðiệu Bí Ẩn –Trịnh Xuân Thuận.
30
Giai Ðiệu Bí Ẩn - Trịnh Xuân Thuận.
13
PHẨM TRUNG QUÁN
Chân
Hiền Tâm
*
Chịu
trách nhiệm xuất bản
TRẦN
ĐÌNH VIỆT
Biên
tập : Châu Anh Kỳ
Sửa
bản in : Hồng Nguyên
Trình
bày : Chân Hiền Tâm
Bìa
:
*
NHÀ
XUẤT BẢN TỔNG HỢP TP. HỒ CHÍ MINH
62
Nguyễn Thị Minh Khai Q.1
ĐT
: 8225340 – 8296713 - 8296764 – 8223637- 8222726 - 8220405 –
8221917 - 8250616 - 8277326
Fax
: 84.8.8222726 - Email : nxbtphcm@bdvn.vnd.net
Thực
hiện : Chân Hiền Tâm 8443138
Email
: chanhientam@yahoo.com.vn
In
1000 cuốn. Khổ 14.5x20.5cm tại Cty TNHH In Khuyến Học Phía Nam
Q.3
TP. HCM. GPXB số : 807-07/52-54 ngày 3/10/2007.
In
xong nộp lưu chiểu tháng 12 năm 2007.