Quán PHÁP
Giải
thích đề tựa
PHÁP,
là chỉ cho tất cả sự vật từ tinh thần đến vật chất,
từ thứ có hình tướng đến không hình tướng, như ta, người,
thánh, phàm, hữu vi, vô vi, đồ đạc, đất đai, ý niệm,
từ ngữ v.v...
PHÁ
PHÁP là phá đi cái chấp về pháp, không phải là thiêu phá
vạn pháp. Vì sao phải phá? Vì thấy các pháp là thực. Đây
là nhắm vào các vị Nhị thừa. Quả vị tối cùng của các
vị là chứng được nhân vô ngã, trú trong cái lạc của niết
bàn. Các vị chưa nhận ra được thực tướng của vạn pháp,
nên vẫn thấy có sanh tử để ra, niết bàn để vào. Việc
an trụ ấy biểu hiện cho việc chấp pháp. Chấp có pháp niết
bàn để vào, có pháp sanh tử để ra. Còn chấp thì còn chưa
về được cội nguồn chân thật nhất tâm - là chỗ vô trụ,
vô chấp. Vì vậy, Luận chủ luận, hầu phá đi cái chấp
ấy, hiển bày thực tướng của vạn pháp.
Phần
lý luận của phẩm này không nhiều. Phần lớn diễn tả quá
trình tu hành, chỉ ra cái chấp ngã chấp pháp, hiển bày thực
tướng của vạn pháp.
LUẬN
GIẢI TOÀN PHẨM
若我是五陰
Nếu ngã là năm ấm
我即為生滅
Ngã chính là sanh diệt
若我異五陰
Nếu ngã khác năm ấm
則非五陰相
Thì không tướng năm ấm (1)
NGÃ
hiểu nôm na là cái TÔI của mình. Người xưa dùng nó với
ý nghĩa rộng hơn, chỉ cho một chủ thể có tính cách thường
hằng. Các vị cho trong thân 4 đại này có một chủ tể trường
cữu điều khiển. Cái chủ tể ấy gọi là ngã. Tùy theo cách
gọi của từng giáo phái mà nó có tên khác nhau như linh hồn,
bổn trụ v.v... đều là dạng của cái ngã nói đây. Luận
chủ luận để phá cái ngã này, hiển bày nhân vô ngã.
Đoạn
này luận để thấy NGÃ nếu có, thì ngã ấy không phải 5
ấm nhưng không khác 5 ấm. Luận vậy để thấy, ngã nếu
có thì chỉ là pháp duyên khởi với 5 ấm. Duyên khởi thì
không thường trụ như ý nghĩa mà ngã đã mangï.
Nếu
cho ngã chính là 5 ấm, thì khi thân này mất, cái ngã ấy cũng
mất, nên nói NGÃ CHÍNH LÀ SANH DIỆT. Sanh diệt, tức không
trường cửu bất biến, thì không có gì để gọi là ngã.
Nếu
ngã không dính gì đến 5 ấm, thì rõ ràng nó KHÔNG CÓ TƯỚNG
5 ẤM. Không có tướng 5 ấm, thì không chắc nó là chủ tể
của 5 ấm.
Đưa
ra những nghịch lý này để hiển mặt Duyên khởi của ngã
và 5 ấm. Ngã nếu có thì cũng chỉ là pháp Duyên khởi. Duyên
khởi thì không tánh. Không tánh thì không thực hữu, chỉ
như bóng trong gương, trăng đáy nước.
若無有我者
Nếu như không có ngã
何得有我所
Làm sao có ngã sở
滅我我所故
Vì diệt ngã ngã sở
名得無我智
Gọi đắc trí vô ngã (2)
NGÃ
SỞ
: Thứ gì đi kèm với ngã, gọi là ngã sở. Như thân của
tôi, cảm thọ của tôi, thế giới của tôi v.v... thì thân,
cảm thọ hay thế giới ấy gọi là ngã sở. Phụ thuộc theo
ngã nên ngã không thì ngã sở cũng không.
TRÍ
VÔ NGÃ : Cái trí thấy được ngã và ngã sở đều không.
ĐẮC
TRÍ VÔ NGÃ : Chứng nghiệm được ngã và ngã sở đều không,
gọi là đắc trí vô ngã.
Theo
lập luận của (P.1) thì ngã không có tính cách trường cửu
mà chỉ là một thứ giả hợp không tánh. Ngã đã giả hợp
thì ngã sở cũng giả hợp. Cái TRÍ chấp nhận được cái
“không ngã và ngã sở” ấy, gọi là TRÍ VÔ NGÃ. Ai sống
được với cái trí ấy, gọi là ĐẮC TRÍ VÔ NGÃ.
得無我智者
Nếu đắc trí vô ngã
是則名實觀
Thì gọi là thực quán
得無我智者
Người đắc trí vô ngã
是人為希有
Người này thật hiếm có (3)
ĐẮC
TRÍ VÔ NGÃ, là phải sống được với cái vô ngã ấy. Không
chỉ bằng lời nói hay sự hiểu biết mà đã thành hành động
cụ thể, nên nói THỰC QUÁN. Cho nên “Nếu đắc trí vô ngã,
thì gọi là thực quán”.
Như
nghe Phật nói thân tâm này không thực. Mình nghe, hiểu và
chấp nhận. Nhưng khi chạm phải những duyên làm tổn hại
đến thân mà mình không bình thản được, thì chưa gọi là
đắc trí vô ngã. Nếu thực thấy thân này không thực, thì
có ai đụng đến nó, mình vẫn bình thường. Sống được
như vậy, gọi là ĐẮC TRÍ VÔ NGÃ. Người làm được điều
đó không nhiều, nên nói HIẾM CÓ.
內外我我所
Trong, ngoài, ngã, ngã sở
盡滅無有故
Vì diệt hết không còn
諸受即為滅
Các thọ ấy đã diệt
受滅則身滅
Thọ diệt tức thân diệt (4)
Cái
tôi đã không thì cái của tôi cũng không. THỌ đây có thể
hiểu là ‘thọ nhận’ cũng có thể hiểu là ‘cảm thọ’.
Một khi đã coi nhẹ được cái tôi, thì những gì bên ngoài
dù tác động vào thân bao nhiêu, mọi thứ vẫn bình thường.
Đó là trạng thái ‘không thọ’ hoặc không bị những cảm
thọ như buồn, vui v.v... làm xao động, nên nói THỌ DIỆT.
Thọ đã không, thì thân dù còn cũng như không, nên nói THỌ
DIỆT TỨC THÂN DIỆT.
Với
Nhị thừa, quả tối cùng của các vị chứng thực được
trạng thái rỗng không trong veo như bầu trời mùa thu, trong
đó hoàn toàn không có gì là thân, là hơi thở, suy nghĩ hay
cảm thọ … Chỗ này gọi là ĐẮC TRÍ VÔ NGÃ.
業煩惱滅故
Vì nghiệp phiền não diệt
名之為解脫
Gọi đó là giải thoát
業煩惱非實
Nghiệp phiền não không thực
入空戲論滅
Nhập không, hý luận diệt (5)
NGHIỆP,
PHIỀN NÃO DIỆT là kết quả tu hành của các vị Nhị thừa.
Nghiệp hữu lậu làm nhân, phiền não làm duyên, chiêu cảm
ra ‘Phần đoạn sanh tử’ của chúng sanh. Quả vị tối cùng
của các vị, ba nghiệp hết, phiền não không còn, thoát ly
được tam giới, nên nói GIẢI THOÁT.
NGHIỆP,
PHIỀN NÃO KHÔNG THỰC là chỗ thấy của chư vị Bồ-tát sau
một quá trình tu hành. Do nhận ra thực tướng của vạn pháp
không sanh cũng không diệt, phiền não và bồ đề không hai,
sanh tử và niết bàn như hoa đốm trên không. Đối với pháp,
không khởi tri kiến cũng không an trụ, nên nói NHẬP KHÔNG
HÍ LUẬN DIỆT.
Biện
ra đây để thấy sự khác nhau giữa cái nhìn của Nhị thừa
và Bồ-tát. Nhị thừa vẫn thấy nghiệp và phiền não là
thực, nên diệt để có niết bàn. Bồ-tát thì nhận ra được
tánh thực của nghiệp và phiền não, dừng hí luận mà có
niết bàn. Có chỗ khác nhau này, là do cái không của Nhị
thừa chỉ mới diệt ‘thọ’ và ‘tưởng’ mà không. Các
vị chỉ mới đoạn được phần ‘khởi phiền não’ mà
‘tập phiền não’ chưa đoạn được. Dòng chủng tử này
như dòng thác chảy xiết, trông thì lặng lẽ nhưng chưa thực
tịch diệt như các vị nghĩ. Nó là chỗ dựa cho tất cả
các loại phiền não khác sanh khởi, là một loại nhiễm ô
vi tế chỉ có các vị ‘Pháp thân Bồ-tát’ mới từng phần
đoạn, Bồ-tát Thập nhất địa vẫn còn phần sở tri vi tế
ngu. Chỉ có Phật mới sạch hoàn toàn. Tuy chưa được hoàn
toàn như Phật, nhưng do đã từng thấy được cội nguồn
chân thật nhất tâm, nên các vị nhận ra được thực tướng
của vạn pháp - trong đó có nghiệp và phiền não - chỉ là
tướng huyễn mộng. Nói huyễn mộng bởi không có thứ gì
lìa tâm mà có. Nguồn tâm chân thật chính là tánh của các
pháp. Luận Đại Thừa Khởi Tín nói “Tất cả pháp như bóng
trong gương, không có cái thể có thể nắm bắt, duy tâm, hư
vọng. Tâm sanh thì mọi thứ pháp sanh. Tâm diệt thì mọi thứ
pháp diệt”. Không như các vị Nhị thừa vẫn thấy mọi
thứ là thực, vì chưa thấu được cội nguồn nhất tâm.
諸佛或說我
Chư Phật hoặc nói ngã
或說於無我
Hoặc là nói vô ngã
諸法實相中
Trong thực tướng các pháp
無我無非我
Không ngã không vô ngã (6)
Hỏi
: Nếu ngã và vô ngã không phải là thực tướng của pháp,
vì sao đặt ra ngã và vô ngã?
Đáp
: Ngã và vô ngã là hai mặt duyên khởi của một cái
“không ngã không vô ngã”. Chúng là phương tiện dùng để
dẫn dắt chúng sanh. Gọi là phương tiện vì đó chưa phải
là chỗ rốt ráo, chỉ tùy tâm thức chúng sanh mà lập để
phá, không phải tự dưng đặt ra.
Mục
đích của Phật pháp là làm vơi đi nỗi khổ cho chúng sanh.
Chúng sanh khổ, là do có cái nhìn không phù hợp với thực
tướng của thế gian, của vạn pháp. Từ cái nhìn lầm lẫn
đó mà thành hành động, tạo nghiệp luân chuyển. Cái nhìn
đó gọi là kiến chấp. Người tu cũng vì những kiến chấp
đó mà không đạt được chỗ rốt ráo cần đạt. Vì thế,
đức Phật phải dùng nhiều phương tiện để phá đi những
kiến chấp không đúng này. Như có người đi trên một đường
hẹp, hai bên là hố sâu. Nếu người ấy đi lệch qua bên
trái hay bên phải, thì đều có nguy cơ lọt hố. Vì thế,
khi người nào đi lệch qua bên trái, thì đức Phật nói ‘về
bên phải’. Người nào đi lệch qua bên phải, đức Phật
nói ‘về bên trái’. Cứ vậy mà nói, miễn sao để tất
cả mọi người không lọt hầm, lọt hố là được.
Như
vậy, bên trái hay bên phải không dứt khoát phải cố định,
chỉ tùy tình trạng của người đi mà lúc nói bên trái, lúc
nói bên phải. Trái hay phải không phải là cốt lõi của vấn
đề, cái chính là làm sao để mọi người không lọt hố.
Không hiểu điều này, mà cho phải hay trái là chân lý, rồi
cắm đầu đi mãi, thì không thoát khỏi tai họa. Ngã và vô
ngã cũng vậy. Chỉ là phương tiện để dẫn dắt chúng sanh.
Do chúng sanh có bệnh chấp, mà xuất hiện thuốc là ngã hay
vô ngã, không phải tự Phật nêu bày. Phương tiện, thì chỉ
có giá trị tùy thời điểm, tùy đối tượng, không phải
là chân lý cho vạn sự vật ở thế gian.
Như
đối với người tại gia, tâm còn bị lệ thuộc nơi quả
báo ở lục đạo, thì đức Phật nói có ngã, có pháp. Người
tại gia nói đây, là người không muốn tu giải thoát, vẫn
còn mong cầu hạnh phúc thế gian, vẫn thấy mọi thứ là thực.
Vì cái thấy thực này mà nói “Tâm còn bị lệ thuộc vào
quả báo ở lục đạo”. Kinh Báo Pháp thuộc trường A-hàm
nói “Nhân quả không mất nên nói hữu. Vì thân, khẩu, ý
gây nhân thiện ác nên cảm quả sanh tử trong sáu đường,
nhân quả tương tục, nên nói 7 hữu. Đó là địa ngục hữu,
súc sanh hữu, ngạ quỉ hữu, thiên hữu, nhân hữu, nghiệp
hữu, trung hữu”. Trí phân biệt còn mạnh, thì địa ngục
không phải là niết bàn. Nếu nói các pháp là không, người
đời sẽ nghĩ không có tội phúc, không có địa ngục. Giới
luật và phước thiện sẽ bị buông tuồng. Nhân xấu thì
quả khổ không tránh khỏi. Vì thế, dù tánh các pháp là không,
nhưng một khi tâm chưa THẤU ĐƯỢC CÁI KHÔNG ẤY, vẫn còn
bị ràng buộc trong nghiệp thức chúng sanh, thì không thể
nói không ngã, không pháp mà phải nói là có ngã, có pháp.
Có ngã, có pháp tức có niết bàn, có địa ngục, có lục
đạo, có hạnh phúc và đau khổ. Có vậy, họ mới chịu giữ
giới, gieo nhân phước thiện, không buông trôi theo tham dục
và sân hận mà gây nghiệp bất thiện. Đây là THỂ không,
nhưng do duyên cảm có sai khác, mà thành hữu SỰ.
Đối
với người xuất gia lấy niết bàn làm chỗ đến, thì Phật
nói không ngã, không pháp. Vì các vị đã nhận ra được sự
chi phối của vô thường, tâm không còn thích thú với phước
báu thế gian, chỉ hướng về niết bàn an lạc, nên Phật
chỉ thẳng chỗ niết bàn ấy. Tùy căn cơ mà lúc thì nói
không ngã, lúc thì nói không pháp. Với Nhị thừa, Phật nói
không ngã. Với Bồ-tát, Phật nói pháp cũng không, chỉ ra
cội nguồn nhất tâm.
Đối
với người rơi vào đoạn kiến, thì nói có ngã chịu tội
phước quả báo đời sau. ĐOẠN KIẾN, là quan niệm cho rằng
“Vạn pháp một khi đã diệt là mất hẳn”. Nói RƠI, là
bị quan niệm đó chi phối đến hành động của mình. Ai nghĩ
“chết là hết”, rồi tha hồ sống bê tha, coi thường giới
luật, là đang bị cái kiến đoạn diệt đây chi phối.
Thực
tế, không phải chết là hết. Tùy tội phước của kiếp
này và tùy vào tâm thức lúc sắp chết, mà ta có đời sống
kế tiếp : Có thể, vẫn ở cõi người hay cõi trời. Có thể,
trong thân tướng ngã quỉ, súc sanh hay ở địa ngục. Có thể
đầu thai thành người Việt Nam, mà không chừng sang tận Irak.
Đó là tùy nghiệp lực mà có thân và thế giới, tức y và
chánh báo, cho kiếp kế cận.
Khoảng
năm 1996, cô em tôi bị tiêu chảy phải vào bịnh viện Sài
gòn cấp cứu. Bên cạnh là giường của một cô gái còn rất
trẻ. Cô này bị ‘oan hồn’ của người vừa chết tại
giường ấy nhập vào hành xác, lúc thì lấy tấm drap xiết
quanh cổ, lúc thì tự đánh vào thân ... Nghe đâu bà mẹ gõ
chuông lạy Phật gì, ‘oan hồn’ ấy cũng chẳng sợ. Bà
khóc lóc van xin nhưng ‘oan hồn’ kia nhất định không buông
tha, cô ta đấm vào ngực mình nói “Cái nóng bức đau đớn
hiện tại tôi đang chịu đây, bà có giải quyết được cho
tôi không mà bà muốn tôi buông tha con bà”. Vì đau khổ và
uất ức gia đình bà mà cô đã tự tử, rồi nhập vào con
gái bà và lao ra đường cho xe đụng để dẫn vào nằm đúng
cái giường ấy. Cái chết đau đớn do tự tử kia vẫn đeo
đuổi cô trong thân kiếp hiện tại. Việc xảy ra đáng buồn
như vậy, là do quan niệm đoạn kiến mà ra : Tưởng chết
là chấm dứt được mọi chuyện. Thực ra không có thứ gì
chấm dứt một khi nghiệp lực chúng sanh vẫn còn. Để phá
bỏ những suy nghĩ sai lầm ấy, Phật nói ‘Có ngã chịu tội
phước đời sau’. Chết chưa hẵn là hết. Sẽ tùy nghiệp
nhân đã gieo trong đời và tâm thức lúc sắp chết, mà có
thân tướng và hoàn cảnh kế tiếp.
Đối
với người rơi vào thường kiến thì nói không ngã, không
người làm, không người thọ, 5 ấm giả danh không có gì
thực hữu. THƯỜNG KIẾN là quan niệm cho rằng con người
có phần bất diệt, dù hiện tại sống thế nào thì sau khi
chết cũng được an lạc vĩnh viễn ở thiên đàng hay vẫn
trở lại làm người. Đây là một loại chấp thô, biện ra
để tạm hiểu về cái chấp thường kiến. Còn phần này,
Phật phá cho những vị tu thiền định, đã đạt đến phần
thức ấm trùm khắp, thấy từ đó sanh ra mọi thứ, nhưng
vì chưa nhận được cội nguồn nhất tâm, nên không biết
đó là thức ấm, tưởng có một cội nguồn chân thật ngoài
mình, nên cho phần thức ấy là chủ tể bất diệt tạo ra
thân 5 uẩn. Thực ra, mọi thứ chỉ là bóng dáng của tự
tâm, không thường, không có chủ tể … Vì thế, Phật nói
“Không ngã, không người làm, không người thọ, 5 ấm giả
danh không thực” để phá đi loại chấp ngã này. ‘Không
ngã, không người làm’ là chỉ cho thức ấm, ‘không người
thọ’, chỉ cho thân 5 uẩn.
Đối
với người hiểu nghĩa Phật pháp thì nói có ngã. Đối với
người không hiểu nghĩa Phật pháp thì nói vô ngã. NGÃ nói
đây là chỉ cho Phật tánh. NGƯỜI HIỂU NGHĨA là chỉ cho
người tin ‘tức tâm tức Phật’, là người đã phân định
được ngã đây không phải là ngã của phàm phu, không phải
là cảnh giới vô ngã của Nhị thừa. Tuy nói ngã, nhưng ngã
này không ngã cũng không vô ngã. NGƯỜI KHÔNG HIỂU NGHĨA là
chỉ cho người chưa biết gì về Phật tánh.
Phần
in nghiêng trên được trích trong luận Đại Trí Độ để
ta hiểu Phật nói ‘ngã - vô ngã’ là thế nào. Như vậy,
tùy tâm trạng của chúng sanh mà lúc Phật nói thế này, lúc
Phật nói thế kia. Tức tùy duyên mà có ngã hay vô ngã. Còn
thực tướng của pháp thì KHÔNG NGÃ CŨNG KHÔNG VÔ NGÃ. Nhờ
“không ngã không vô ngã” mà tùy duyên mới có thể nói
ngã hay vô ngã. Như ly nước trong - không phải nước đường
hay nước muối - thì tùy duyên đường hay muối, mình mới
có thể làm thành nước đường hay nước muối.
Đó
cũng là lý do để ta hiểu vì sao những câu trả lời của
các vị Thiền sư đối với từng người, trên cùng một vấn
đề có khi trái hẳn nhau. Chẳng qua là tùy thuộc vào tâm
trạng của từng người khi họ đến tham vấn mà trả lời,
còn pháp vốn không tánh, chỉ là một loại phương tiện được
dùng để gở đinh tháo chốt, khiến người thoát được các
kiến chấp đang vướng của chính mình. Phương tiện thì không
phải chân lý. Nó biến đổi theo không - thời gian sao cho phù
hợp với căn cơ của từng người, miễn sao phương tiện
ấy không ra ngoài lý đạo là được. Phương tiện mà rời
lý là ma nói, không phải Phật nói.
Cho
nên, với Phật pháp cần nhớ một điều : Mọi kinh luận
của Phật Tổ chủ yếu là để phá chấp. Chấp hết thì
mọi thứ liền không. Có cái DUYÊN là tâm bệnh của chúng
sanh, mới có kinh luận của Phật Tổ SANH khởi. Pháp duyên
sanh là như vậy. Cái này có nên cái kia có, cái này không
thì cái kia cũng không. Không phải chỉ riêng trong môi trường
Phật pháp, mà tất cả pháp ở thế gian đều như vậy.
Chư
Phật Tổ cũng như các bậc Thiện tri thức KHÔNG TỰ DỰNG
LẬP bất cứ thứ gì, dù đó là tánh không. Có chấp mới
có dựng để phá. Không chấp thì không tồn tại bất cứ
sự dựng lập nào. Bởi các pháp không tánh, chỉ tùy duyên
hiển tướng.
Như
cuốn luận đây, vì người đời chấp CÓ NHÂN DUYÊN, có tướng
sanh, nên chư Tổ mới nói KHÔNG NHÂN DUYÊN, không tướng sanh.
Nếu người đời không chấp như vậy, thì luận này cũng
không lập. Ngược lại, nếu người chấp KHÔNG CÓ NHÂN DUYÊN,
thì chư Tổ sẽ có bài pháp phá cái không nhân duyên ấy,
và nói CÓ NHÂN DUYÊN. Trên thực tế, có nhân duyên hay không?
KHÔNG CÓ CŨNG KHÔNG KHÔNG, tùy duyên mà lập có hay không. Có
hay không chỉ tùy duyên, nên không thể lập cái có cái không
ấy làm chân lý cho vạn sự vạn vật.
Kinh
Niết Bàn ghi Khi phạm chí Tiên Ni đến hỏi “Thưa Cù Đàm,
Cù Đàm có ngã không?”. Đức Như Lai im lặng. Tiên Ni lại
hỏi “Thưa Cù Đàm, Cù Đàm không ngã ư?”. Đức Như Lai
cũng im lặng. Tiên Ni hỏi mấy lần như vậy, đức Phật đều
im lặng. Im lặng vì ở đó không có gì có thể dựng lập.
Song nếu mình dựng có ngã, thì Phật sẽ có lý luận để
mình thấy có vô ngã. Nếu mình chấp có vô ngã thì Phật
sẽ đưa ra bằng chứng để mình thấy có ngã. Đó là do pháp
không tánh, nhưng đủ duyên thì hiện tướng. Vì duyên khởi
nên cái tướng đó luôn có mặt đối đãi của nó. Đã thấy
có xấu, một ngày đẹp trời nào đó sẽ thấy có đẹp.
Thực và không thực, hạnh phúc và đau khổ v.v… Chỉ tùy
duyên mà hiện hay ẩn, nên mình không thấy được một lần
tướng đối đãi của nó. Song nếu mình dựng lập, tức mình
lấy một trong hai tướng ấy làm chân lý, thì khi đủ duyên
tướng còn lại xuất hiện, chân lý sẽ bị phá vỡ. Đây
là tình trạng hiện nay của các nhà Vật lý hiện đại. Hạt
cơ bản không có điểm mút cuối cùng. Thấy hạt, thì lại
thấy phản hạt v.v… Sẽ chẳng bao giờ tìm thấy nền tảng
duy nhất của vạn pháp khi còn đặt nó trên những thứ có
hình có tướng. Nói cách khác, chẳng bao giờ có thể tìm
thấy nền tảng duy nhất của vạn pháp, khi nó còn là đối
tượng của tri thức. Những gì còn là đối tượng của tri
thức, đều là tướng duyên khởi. Duyên khởi thì không độc
lập, duy nhất và thường trụ.
Cho
nên, trong kinh Lăng Già, dù dạy rất rõ “Vô Sanh là sanh mà
không có tánh sanh”, Phật vẫn dặn chư vị Bồ-tát “Nói
vô sanh nhưng không lập tông vô sanh”. Dựng là vì duyên,
không phải tự nhiên mà lập. Hết duyên thì không dựng cũng
không lập. Cho nên, tuy dựng lập mà không hề dựng lập,
tuy nói pháp 49 năm, nhưng cuối cùng “Ta chưa hề nói một
chữ”. Duyên khởi là vậy. Đủ duyên thì có, hết duyên
liền không. Nên ngay khi duyên hiện hình, tánh chúng vẫn không.
諸法實相者
Thực tướng các pháp đó
心行言語斷
Tâm hành ngôn ngữ đoạn
無生亦無滅
Không sanh cũng không diệt
寂滅如涅槃
Tịch diệt như niết bàn (7)
Đây
là nêu bày điều kiện để nhận ra thực tướng của vạn
pháp : TÂM HÀNH NGÔN NGỮ ĐOẠN. Tâm hành là chỉ cho tâm sanh
diệt. ĐOẠN là cắt đứt, dứt bỏ, ngừng. Thực hiện được
việc đó, thì ta thâm nhập được thực tướng của vạn
pháp. Thực tướng vạn pháp mà dính líu đến TÂM HÀNH NGÔN
NGỮ ĐOẠN vì “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”. Vì
DUY TÂM nên phải thấu được cội nguồn chân thật nhất
tâm thì thực tướng của vạn pháp mới hiển bày. Muốn thấu
được cội nguồn này thì tâm hành và ngôn ngữ phải đoạn.
Vì thế, tuy nói duy tâm, nhưng khi CHỨNG được tánh thể đó
mới thấy nó không thuộc tâm cũng không thuộc vật, không
thuộc thấy hay không thấy. KHÔNG THUỘC TÂM bởi tâm hành
phải đoạn, tánh thể ấy mới xuất hiện. KHÔNG THUỘC VẬT,
vì nó không phải là đối tượng nhận biết của tâm thức.
Nêu bày BÁT BẤT là vì đó.
NGÔN
NGỮ, là chỉ cho miệng lưỡi ồn náo của mình. TÂM HÀNH
là chỉ cho tâm sanh diệt. Tâm sanh diệt là chỉ chung cho những
cảm thọ như vui, buồn, đau khổ, và những niệm tưởng hiện
lên không dứt trong đầu, cũng chỉ luôn cho những dao động
không hình tướng rõ rệt trong tâm. Niệm này hiện lên rồi
mất, nhường chỗ cho niệm khác hiện lên rồi mất, nên nói
SANH DIỆT. Sanh là chỉ cho sự xuất hiện. Diệt là chỉ cho
sự mất đi. Sanh và diệt này đều có thô và tế.
Theo
luận Đại Thừa Khởi Tín, TÂM HÀNH được chia thành 4 giai
đoạn là sanh - trụ - dị - diệt. TRỤ và DỊ là chỉ cho
sự nối tiếp từ tướng SANH đến tướng DIỆT. Trong quá
trình tu hành ngược dòng hoàn tịnh, lấy 4 tướng GIÁC phá
dần 4 tướng này, thì được TÂM HÀNH NGÔN NGỮ ĐOẠN nói
đây. Nhị thừa mới đoạn được phần tâm hành thô, qua
được 2 tướng DIỆT và DỊ, nhưng vẫn còn phần tâm hành
tế là TRỤ và SANH. Tu Đại thừa, phá tiếp 2 tướng còn
lại đó. Phá được 4 tướng từ DIỆT đến SANH thì trở
về được bản tâm, nên nói KHÔNG SANH CŨNG KHÔNG DIỆT. Thể
ấy vốn không, nên nói TỊCH DIỆT. Tịch diệt thì thường
- lạc - ngã - tịnh, nên nói NHƯ NIẾT BÀN. Đây là mượn
ngôn từ để hiển bày thực tướng của vạn pháp, là nêu
bày TÁNH THỂ KHÔNG của vạn pháp.
Song
chỉ có cái THỂ không ấy, mà không có mặt DUYÊN KHỞI thì
cái không ấy sẽ thành tánh. ‘Không’ mà có tánh thì ‘không’
là thường trụ. Không mà thường trụ thì vạn pháp không
thể xuất hiện như hiện nay. Nhưng vạn pháp đã sanh khởi
từ vô thủy, thì biết cái không ấy không phải là tánh của
cái thể ấy. Vì thế, trong luận Đại Thừa Khởi Tín, chân
như không phải chỉ có KHÔNG mà còn có BẤT KHÔNG, không phải
chỉ có THỂ mà còn có TƯỚNG và DỤNG. Phần dưới là nêu
bày mặt DUYÊN KHỞI của pháp.
一切實非實
Tất cả thực không thực
亦實亦非實
Vừa thực vừa không thực
非實非非實
Không thực không không thực
是名諸佛法
Ấy gọi chư Phật pháp (8)
THỰC,
KHÔNG THỰC … là nói về tính chất thực hay không thực của
vạn pháp ở thế gian. Đây là những khái niệm được dùng
rất phổ biến trong luận lý Phật giáo, gọi là TỨ CÚ. Tứ
cú, nếu chấp vào đó, liền thành luận thuyết của ngoại
đạo. Không chấp, chính là Phật pháp.
CỦA
NGOẠI ĐẠO, khi ta nhìn vạn pháp xuất hiện CỐ ĐỊNH với
1 trong 4 khái niệm trên. Nhìn vạn pháp xuất hiện cố định,
là gắn cho pháp ở thế gian một tánh nhất định nào đó.
Như thấy thế gian này là thực. Hoặc cho thế gian này hoàn
toàn không thực v.v... Thấy thế gian này với một mặt cố
định như thế, là ta đã gắn lên mình hai chữ ngoại đạo.
Nói ngoại đạo, vì cái nhìn của ta đã ra ngoài qui luật
chi phối thế giới này. Thế gian này vốn không phải là thực,
cũng không phải không thực. Thấy THỰC hay không THỰC, là
tùy nghiệp lực của từng người mà thấy, không phải thế
gian vốn vậy. Tình trạng này giống như người đi trong
sa mạc, khát quá mà thấy nước. Hoặc do chóng mặt, liền
thấy hoa trời lốm đốm trên hư không. Nước là do ảo giác
mà có. Hoa đốm là do chóng mặt mà ra. Chỉ là cái thấy của
từng chủ thể đã bị điều kiện hóa bởi những trạng
thái không bình thường của thân tâm. Mọi thứ ở thế gian
này cũng vậy. Chỉ do mê hay tỉnh mà thấy cảnh giới thế
gian có khác nhau. Thô chút nữa, chỉ do quan niệm của mỗi
người mỗi khác mà cảnh giới thành khác nhau. “Người buồn,
cảnh có vui đâu bao giờ”, nói lên tình trạng ngoại cảnh
bị chi phối bởi nghiệp thức của ta rất nhiều. Lệ thuộc
vào duyên, nên những thứ ấy không có tánh thực. Cái không
tánh thực ấy được biểu hiện qua tình trạng vô thường
của vạn pháp. Trước vốn không, do sự không bình thường
của thân tâm mà thành có. Khi thân tâm bình thường trở lại,
thì mọi thứ hiện nguyên hình là không. Cái KHÔNG này cũng
không cố định. Vì nếu rơi vào các điều kiện trên, mọi
thứ lại xuất hiện như có. Vì thế, CÓ cũng không tánh,
KHÔNG cũng không tánh. Luận sơ để ta hình dung cái gọi là
KHÔNG TÁNH của vạn pháp.
Vốn
chỉ là một thể chân tâm diệu minh nhưng do một niệm vọng
động tối sơ, bất giác huân thành vô minh, mà sinh cái thấy
hư vọng cùng cảnh giới hư vọng. CÁI THẤY HƯ VỌNG, chỉ
cho cái thấy hiện nay của mình. CẢNH GIỚI HƯ VỌNG, chỉ
cho thân và thế giới mà một chúng sanh đang thọ nhận. Trên
những thứ hư vọng ấy lại sinh phân biệt, chấp thủ, rồi
tạo nghiệp. Tùy nghiệp lực thiện ác mà biến hiện ra thân
tâm và thế giới của 6 đường. Như khi người mệt hay bệnh
thì mơ thấy đi trên những đoạn đường dốc với những
bước đi nặng nhọc. Khi tâm thức yên ổn an lạc thì mơ
thấy rừng núi bao la xanh ngát với tâm trạng thanh thản nhẹ
nhàng hay yên ả giữa quang cảnh chùa chiềng vắng lặng. Tùy
trạng thái của tâm thức mà cảnh giới có sai khác, còn cảnh
giới ấy vốn không có.
Thế
gian, niết bàn hay địa ngục đều chỉ do sự huân tập [25]
các chủng tử thiện ác trong thức tạng biến hiện ra. Tùy
sự huân tập chủng tử thiện ác của từng người mà mỗi
người có cảnh giới khác nhau. Ta gặp nhau đây, cùng tổ
quốc Việt nam, cùng chung một thành phố, là do ta đã huân
tập một số chủng tử giống nhau, Phật gọi là ĐỒNG NGHIỆP.
Chung tổ quốc, chung thành phố mà không ai giống ai, kẻ đau
ốm, người mạnh khoẻ, kẻ giàu sang, người nghèo hèn, trên
cùng chuyến xe mà người gặp nạn, kẻ lại không … là do
chủng tử thiện ác của từng người không giống nhau. Những
chủng tử khác nhau ấy, đủ duyên cho ra các cảnh giới khác
nhau. Phật gọi những cái riêng ấy là BIỆT NGHIỆP. Chúng
sanh ai cũng đầy đủ hai thứ đồng và biệt nghiệp này.
Cảnh
giới có là do sự HUÂN và BIẾN của các chủng tử lưu giữ
trong thức tạng mà ra, không huân thì không có nhân để biến
thành cảnh giới ... Tất cả đều không lìa tâm, nên nói
DUY TÂM. Duy tâm thì bản thân pháp không có tự tánh của riêng
nó, mà “Tâm chân thật chính là tánh của tất cả pháp”,
nên nói HƯ VỌNG. Nói hư vọng là so với chân mà nói. Nếu
nhận ra cái hư vọng đó, thì tất cả pháp đều là chân.
Do
hư vọng mà nói KHÔNG THỰC. Song đang trong mê thì những thứ
hư vọng ấy đối với chúng sanh đều như THỰC. Như ngủ
rồi mộng, chỉ khi tỉnh giấc mới biết những vui buồn trong
mộng là do ngủ mà ra, không thực, nhưng khi đang mộng thì
mọi thứ đều là thực.
Như
hiện nay mình thấy nhà cửa và tất cả mọi thứ đều có
hình tướng, tính chất rõ ràng. Đi mà đụng đầu vào tường
thì ê ẩm đau nhức. Những thứ đó cho mình cảm giác cái
gì cũng THỰC. Song đau nhức thì đau nhức mà thấy cái đau
nhức ấy chẳng liên quan đến mình, ta sẽ nhận ra được
ít nhiều cái KHÔNG THỰC mà Phật Tổ đã nói. Một thoáng
nào đó, ta rơi vào tình trạng yên tịnh hoàn toàn, chiếc
thân mấy chục ký lô bỗng như một chiếc bóng đứng lặng
không thể chất, ta sẽ thấy cái không thực này rõ hơn chút
nữa. Tùy mức độ thanh tịnh của tâm, cái hư huyễn này
sẽ hiển rõ ít hay nhiều, trường viễn hay như sốt rét cách
ngày.
Bởi
tùy duyên mà có mọi thứ, không có thứ nào mang tính chân
lý trùm khắp, nên tuy mọi thứ hư vọng, nhưng không thể
lấy tướng hư vọng ấy làm tánh [26] của pháp. Nếu lấy
hư vọng làm tánh của pháp. Tức cho cái hư vọng ấy là thứ
cố định, không bao giờ bị điều kiện hóa, ta sẽ gặp
nghịch lý đối với hoàn cảnh của người còn đang mê như
mình hiện nay, thứ gì cũng như thực. Nên phải biết, tánh
của pháp là không, không thuộc thực hay không thực. BÁT BẤT,
ứng vào trường hợp này là KHÔNG THỰC CŨNG KHÔNG KHÔNG THỰC.
THỰC
hay KHÔNG THỰC chỉ là hai mặt duyên khởi của một cái KHÔNG
chưa từng sanh chưa từng diệt, mà ta hay gọi là TÁNH KHÔNG
hay CHÂN KHÔNG DIỆU HỮU.[27] Trong kinh Trung Bộ, Phật
nói “Ai thấy được pháp, người ấy thấy duyên khởi. Ai
thấy được duyên khởi, người ấy thấy được pháp”.
PHÁP là chỉ cho thể tánh KHÔNG của vạn pháp. Nó không phải
là tướng không đối với có mà ta đang thấy đây. DUYÊN
KHỞI là mặt hiện tượng của vạn pháp, do bất giác động
niệm mà có. Thể tánh của pháp là không, mới có tình trạng
duyên khởi. Thấy pháp duyên khởi, thì biết tánh của pháp
là không.
Cho
nên, một khi nhìn thế gian bằng cái nhìn khẳng định hoặc
THỰC hoặc KHÔNG THỰC, tức cho THỰC hay KHÔNG THỰC là tánh
của pháp, thì lọt ngay vào tứ cú của ngoại đạo. Còn nhìn
vạn pháp theo từng cặp đối đãi duyên khởi như ‘thực
- không thực’, ‘vừa thực vừa không thực - không thực
không không thực’, hay thấy vạn pháp đều là duyên sanh
không tánh, duy tâm, hư vọng, thì tất cả pháp đều là Phật
pháp. Gọi là Phật pháp vì vạn pháp hiện đúng bản chất
của nó.
Hỏi
: Tùy duyên mà pháp có thể có cũng có thể không, vì sao thực
tướng của pháp không phải là ‘vừa có vừa không’ mà
là ‘không có cũng không không’?
Đáp
: Không thể “vừa có vừa không” vì “không có cũng không
không” là chỉ cho chỗ thực chứng thực tánh của vạn pháp,
chính là tánh không (Luận sẽ đề cập đến ở phân đoạn
sau). Cái không này không thuộc phạm trù CÓ của phàm phu,
cũng không thuộc niết bàn KHÔNG của Nhị thừa. Là chỗ không
còn một chút chấp trước, nên nói “không có cũng không
không”. Nó không phải là “không có không không” của tứ
cú. “Không có cũng không không” là để chúng sanh buông
cả CÓ lẫn KHÔNG mà thể nhập thực tướng của vạn pháp.
Vì pháp vốn không phải CÓ mà nói có, nên Phật nói KHÔNG.
Song nghe KHÔNG lại chấp vào KHÔNG, nên Phật nói KHÔNG KHÔNG.
Chỉ phủ định mà không chỉ thẳng, vì thực tướng của
vạn pháp không phải là vật tướng có thể diễn tả. Chỉ
cần tâm không trụ trước vào CÓ hay KHÔNG thì thực tướng
vạn pháp hiển bày. Còn “Không có cũng không không” của
tứ cú là một loại kiến chấp phủ định. Nghe nói “không
có cũng không không” lại chấp có một cái “không có cũng
không không”. Từ đó hình thành nên một loại kiến chấp
mới. Đó là chỗ khác nhau giữa BÁT BẤT và TỨ CÚ. Cái khác
ấy nằm ở chỗ CHẤP hay BUÔNG.
DUYÊN
KHỞI - KHÔNG TÁNH là qui luật chi phối toàn bộ vạn pháp
ở thế gian về tất cả mọi phương diện. Từ những sự
kiện nhỏ nhặt tầm thường trong đời sống cho đến các
sự kiện lớn ở các lãnh vực như khoa học, triết học,
xã hội v.v… đều không thoát khỏi qui luật này. Như ở
lãnh vực triết học, khi xuất hiện học thuyết Duy tâm thì
học thuyết Duy vật cũng thành hình. Hôm nay báo khen cà phê
tốt cho sức khoẻ. Ngày mai cũng báo chê cà phê phá hủy gan,
tác hại không nhỏ đến sức khoẻ. Trong Phật pháp, vẫn
thường thấy các pháp môn và tông phái xuất hiện mang tính
đối nhau. Người sau không hiểu, lại cho chư Tổ vì nhân
ngã xuất hiện mà chọi nhau. Hiểu vậy, vì không nắm được
mặt DUYÊN KHỞI - KHÔNG TÁNH của vạn pháp. Không tánh, nên
pháp không có tướng duy nhất. Luôn có mặt đối đãi của
nó xuất hiện khi đủ duyên. Như cà phê, đã thấy nó tốt
thì khi đủ duyên sẽ thấy nó hại. Nếu không có tướng
HẠI xuất hiện, thì tướng TỐT kia sẽ thành tánh của cà
phê. Song cà phê vốn không tánh, chỉ tùy duyên mà hiển
tướng. Vì thế, một khi đã thấy cà phê TỐT, thì sẽ có
lúc thấy cà phê hại khi đủ duyên. Chỉ cần tăng lượng
cà phê lên thay cơm, thì sẽ thấy cái hại ấy xuất hiện
ở một số người. Duyên đối đãi ấy là thứ giữ vững
mặt không tánh của vạn pháp. Lục Tổ dạy 36 phép đối
là muốn hiển bày ý này. Đã giải thích ở phẩm Phá Ngũ
Ấm.
DUYÊN
là thứ quyết định pháp thế này hay thế kia, chứ bản thân
pháp không có tánh cố định. Vì duyên quyết định, nên nói
DUYÊN KHỞI. Không có tánh đó, nên nói KHÔNG TÁNH. Pháp Duyên
khởi là vậy. Cứ nghiệm từng sự từng vật quanh đây, sẽ
thấy cái duyên khởi không tánh này len lõi qua từng sự, từng
việc, từng con người v.v… Vì thế không có gì cố định
để ta chấp nhất hay an trụ. Không chấp nhất và an trụ,
ta mới nhận ra được TÁNH KHÔNG của vạn pháp.
自知不隨他
Tự biết không do ai
寂滅無戲論
Tịch diệt không hí luận
無異無分別
Không khác không phân biệt
是則名實相
Ấy gọi là thực tướng (9)
Đây
là nói đến TÁNH KHÔNG của vạn pháp, là phần thực nghiệm
‘ngũ ấm giai không’ của kinh Bát Nhã. Chứng được cái
không này là thâm nhập được thực tướng của vạn pháp.
Nói
về THỨC thì phần THỨC được nói trong các kinh Nguyên thủy
chỉ có 6, đến Ý THỨC là hết. Tịnh được 6 thức này
là có niết bàn. Vì thế, cái định của La-hán có tên là
‘Diệt thọ tưởng định’, là nói về HÀNH mà chưa đề
cập gì đến THỨC. Nói ‘diệt thọ tưởng’ mà không nói
‘diệt hành’ vì THỨC còn, thì HÀNH vi tế vẫn còn.
Phần
THỨC thuộc kinh Đại thừa có đến 8. Ngoài 6 thức còn có
thức MATNA và ALAIDA. Phải thấu được thực tướng của 8
thức này mới có niết bàn. Ngài Nam Tuyền sợ người tu lầm
lẫn giữa cái không của Nhị thừa và Đại thừa, đã phải
mở bày phương tiện một câu “Không biết là vô ký. Biết
là vọng giác”. Khó hay dễ, hiểu hay không hiểu, đơn giản
hay phức tạp … chỉ ở một chữ NGỘ. Đây là điều đòi
hỏi người tu phải có sự thực chứng, không phải trên ngôn
từ sách vở mà có thể hiểu được, nên nói TỰ BIẾT KHÔNG
DO AI. Chỗ này kinh Duy Ma nói “Không thể dùng trí mà hiểu
được, không thể dùng thức mà biết được”. Không thể
dùng trí cũng không thể dùng thức, thì không thể suy
nghĩ hay nói năng gì ở đó, nên nói TỊCH DIỆT KHÔNG HÍ LUẬN.
Khi
có năng biết thì có sở biết. Năng sở đã lập thì lập
tức có ta, có người, có khác, có phân biệt … Năng vốn
không, sở cũng chẳng lập, chỉ là nhất chân pháp giới,
nên nói KHÔNG KHÁC KHÔNG PHÂN BIỆT. Nghiên cứu 9 tướng bất
giác trong luận Đại Thừa Khởi Tín sẽ hiểu được ít nhiều
về phần này.
若法從緣生
Nếu pháp từ duyên sanh
不即不異因
Không phải, không khác nhân
是故名實相
Thế nên gọi thực tướng
不斷亦不常
Không đoạn cũng không thường (10)
Đây
là nêu bày thực tướng của vạn pháp thông qua dạng luận
lý.
PHÁP
TỪ DUYÊN SANH là chỉ cho quả. KHÔNG PHẢI, là muốn nói quả
không phải là nhân. Đây là điều tất nhiên. Vì phải có
thêm duyên, nhân mới thành quả, nên quả không thể là nhân.
Mầm lúa phải có thêm các điều kiện khác mới thành cây
lúa. Cây lúa không phải là mầm lúa. Tuy không phải là mầm
lúa nhưng cây lúa từ mầm lúa mà có, nên nói không khác.
KHÔNG KHÁC, là muốn nói quả không khác nhân. Vì từ nhân
mới có quả. Cây lúa phải từ mầm lúa mà ra. Không khác
là như vậy.
Quả
nếu khác nhân thì mầm lúa có thể cho ra mít, heo có thể
cho ra gà. Điều này không đúng. Vì thế, phải biết quả
không khác nhân. Cái KHÔNG PHẢI CŨNG KHÔNG KHÁC này là dạng
“Không một cũng không khác” của BÁT BẤT.
NHÂN
sanh ra QUẢ nhưng không phải quả, nên không thường. Không
thường nhưng không đoạn, vì QUẢ không thể lìa NHÂN mà
có. KHÔNG THƯỜNG CŨNG KHÔNG ĐOẠN là một dạng nữa của
BÁT BẤT.
SANH
đồng nghĩa với KHỞI. Duyên sanh không khác duyên khởi. Thứ
gì là duyên sanh, thì thực tướng của chúng đều có dạng
của BÁT BẤT. Như chữ SANH và chữ KHỞI đây. SANH đồng
nghĩa với KHỞI, nên chúng ‘không khác’. Song SANH viết khác
KHỞI, nên chúng ‘không một’. Đó là thực tướng của
SANH và KHỞI.
Tất
cả vạn pháp ở thế gian đều như thế.
不一亦不異
Không một cũng không khác
不常亦不斷
Không thường cũng không đoạn
是名諸世尊
Ấy là vị cam lộ
教化甘露味
Giáo hóa của Thế Tôn (11)
Hai
câu đầu chỉ cho thực tướng của vạn pháp. Thấu được
thực tướng thì không còn lầm mê. Không lầm mê thì thoát
khỏi mọi khổ đau như người bịnh uống được thuốc tiên.
Đó là nghĩa của từ CAM LỘ.
若佛不出世
Nếu Phật không ra đời
佛法已滅盡
Phật pháp đã diệt tận
諸辟支佛智
Trí của Bích Chi Phật
從於遠離生
Từ nơi xa lìa sanh (12)
Hai
câu đầu chỉ cho lúc không có Phật và khi Phật pháp không
còn. Như nay Phật không còn ở thế gian và những nơi mà điều
kiện Phật pháp không đến được.
BÍCH
CHI PHẬT : Thời không Phật, do nhân duyên tu hành đời trước
nên trí tuệ của chư vị tự phát. Do không theo người khác
mà nghe, tự do trí tuệ của mình hiển phát mà được đắc
đạo, nên gọi là Bích Chi Phật. Trí tuệ của các ngài cũng
như Thanh văn nhưng vào sâu hơn. Có sáu thần thông, các thiền
định, lực trí tuệ, thực tế được chứng … làm phước
điền cho chúng sanh.
Trí
của các ngài là do xa lìa ái nhiễm mà có, nên nói TỪ NƠI
XA LÌA SANH. Theo đây thì thấy, rốt ráo của việc tu hành
cũng chỉ ở một chữ LY. Ly ái dục, ly niệm … Kinh Viên
Giác nói “Biết huyễn tức ly, ly huyễn tức giác”. Thấp
hay cao, thô hay tế … việc tu hành cũng không ngoài một chữ
LY. LY những thô động của thân tâm để nhận ra cái không
thô động. Chính là cội nguồn chân thật nhất tâm, cũng
là cội nguồn của vạn pháp. Ngay nơi thô động mà không
thô động, chính là LY.