Phá BUỘC
MỞ
Giải
thích sơ toàn phẩm
Với
người tu Phật, khi vượt qua được hành ấm, xem như chấm
dứt được ‘Phần đoạn sanh tử’ của chúng sanh và gọi
là ‘giải thoát’. Vì vậy nói đến ‘trói buộc’ là nói
đến ‘sanh tử’. Nói đến ‘sanh tử’ là nói đến ‘hành’
và ‘chúng sanh’. Hành là chỉ cho sự lưu chuyển. Chúng sanh
là chỉ cho tất cả, trừ Phật. Đây là lý do vì sao các từ
HÀNH, CHÚNG SANH được đề cập trong phẩm này.
Thực
ra, không có sanh tử trói buộc để ra, cũng không có niết
bàn giải thoát để vào. Chẳng qua chỉ do MÊ và NGỘ mà thấy
có trói buộc, có giải thoát. Mê nên thấy cõi này cõi kia.
Ngộ thì biết “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”, không
hề có đi đứng tới lui. Thiền sư Hàm Thị nói “Do tâm
không có mé trước, phàm có hiện ra đều bởi mê mà sanh.
Thức không có duyên sau, chỉ rõ được tướng ban đầu [24]
thì thảy đồng huyễn hóa”.
Cũng
như những phẩm khác, Luận chủ sẽ luận để ta thấy sự
bất hợp lý khi cho SANH TỬ, HÀNH và CHÚNG SANH là thực có.
LUẬN
GIẢI TOÀN PHẨM
諸行往來者
Nếu các hành qua lại
常不應往來
Thường không thể qua lại
無常亦不應
Vô thường cũng không thể
眾生亦復然
Chúng sanh cũng như vậy (1)
Luận
để thấy HÀNH và CHÚNG SANH “không thường cũng không vô
thường”.
QUA
LẠI là chỉ cho sự sanh diệt nối tiếp của hành và chúng
sanh. Nếu vạn pháp thường thì không có diệt, để có sanh
mà nói qua lại. Nếu vạn pháp vô thường, tức khi diệt là
mất hẳn, cũng không có sự nối tiếp của hành và chúng
sanh.
若眾生往來
Nếu chúng sanh qua lại
陰界諸入中
Trong ấm giới các nhập
五種求盡無
Năm thứ tìm đều không
誰有往來者
Vậy ai có qua lại? (2)
ẤM
là 5 ấm : Sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
GIỚI
là 18 giới : 6 căn, 6 trần, 6 thức.
NHẬP
là 12 nhập : 6 căn và 6 trần.
NĂM
THỨ : Lìa ấm giới nhập có chúng sanh. Lìa chúng sanh có ấm
giới nhập. Trong ấm giới nhập có chúng sanh. Trong chúng sanh
có ấm giới nhập. Ấm giới nhập là chúng sanh. 5 trường
hợp này là những chấp thủ được ghi trong kinh điển Tiểu
thừa. Phật nói 5 thứ ấy không. Đã không thì cũng không
có chúng sanh để nói là qua lại trong sanh tử.
若從身至身
Nếu từ thân đến thân
往來即無身
Qua lại tức không thân
若其無有身
Nếu có thân không thân
則無有往來
Thì không có qua lại (3)
Nếu
có chúng sanh qua lại trong sanh tử thì thân nó lưu chuyển
ra sao?
NẾU
TỪ THÂN ĐẾN THÂN : Nếu có sự lưu chuyển trong sanh tử,
thì thân sau là nhân duyên của thân trước. Hình thành theo
quan hệ Nhân duyên nên tánh chúng là không, tức sanh mà vô
sanh, thân mà không thân, nên nói QUA LẠI TỨC KHÔNG THÂN.
NẾU
CÓ THÂN, là cho thân này có, tức thân này có tự tánh. Có
tự tánh thì thường. Thường, thì không có thân sau, tức
không có sự lưu chuyển sanh tử.
NẾU
KHÔNG CÓ THÂN : Đương nhiên không có sự lưu chuyển sanh tử.
Trong
cả hai trường hợp đều không có sanh tử, nên nói THÌ KHÔNG
CÓ QUA LẠI.
諸行若滅者
Các hành nếu có diệt
是事終不然
Việc ấy là không đúng
眾生若滅者
Chúng sanh nếu có diệt
是事亦不然
Việc ấy cũng không đúng (4)
Cho
HÀNH và CHÚNG SANH có diệt là không đúng. Đây phá cái chấp
niết bàn của hàng La-hán.
Thực
tánh của HÀNH và CHÚNG SANH là ‘sanh mà vô sanh’. Vô sanh
thì vô diệt. Vô diệt là ‘diệt mà vô diệt’. Cho nên,
nếu nói hành và chúng sanh diệt mà cho cái diệt này là có,
tức cho cái diệt đó là cứu cánh, thì VIỆC ẤY LÀ KHÔNG
ĐÚNG. Nghĩa là, cái diệt mà hàng La-hán chứng dược chỉ
mới là hóa thành, chưa phải bảo sở.
諸行生滅相
Các hành tướng sanh diệt
不縛亦不解
Không buộc cũng không mở
眾生如先說
Chúng sanh như trước nói
不縛亦不解
Không buộc cũng không mở (5)
Nêu
bày thực tướng của HÀNH cũng như của VẠN PHÁP trong đó
có buộc và mở. KHÔNG BUỘC CŨNG KHÔNG MỞ là một dạng của
BÁT BẤT.
若身名為縛
Nếu thân gọi là buộc
有身則不縛
Có thân thì không buộc
無身亦不縛
Không thân cũng không buộc
於何而有縛
Sao mà nói có buộc? (6)
Luận
để hiểu vì sao nói ‘không buộc’.
Đưa
ra KHÔNG THÂN và CÓ THÂN, vì nếu có sự trói buộc thì chỉ
có hai trường hợp để xét :
. Nếu
có thân thì thân này có tự tánh, tức sự trói buộc là thường.
Trói buộc là thường, thì không có giải thoát. Thực tế
thì có giải thoát. Nên một khi nói có thân, thì biết là
không có thân. Không có thân thì không có buộc. Nên nói CÓ
THÂN THÌ KHÔNG BUỘC.
. Nếu
không thân, thì cũng không có buộc, nên nói KHÔNG THÂN CŨNG
KHÔNG BUỘC.
Trong
cả hai trường hợp đều không tìm thấy có buộc, nên nói
SAO MÀ NÓI CÓ BUỘC?
若可縛先縛
Nếu bị buộc trước buộc
則應縛可縛
Ắt nên nói có buộc
而先實無縛
Mà trước thực không buộc
餘如去來答
Còn lại ‘Đến - Đi’ đáp (7)
Phá
sự trói buộc ở một khía cạnh khác.
Nói
đến trói buộc thì phải có cái BUỘC và cái BỊ BUỘC. Như
nói buộc gà thì có sự buộc và cái bị buộc là gà. Nếu
cho sự buộc là thực, thì sự buộc này có tự tánh. Tính
chất của tự tánh là độc lập. Độc lập thì SỰ BUỘC
có thể có trước, có sau hoặc có đồng thời với BỊ BUỘC.
Thực tế thì BỊ BUỘC không thể có trước SỰ BUỘC. Vì
thế biết sự buộc không có tự tánh. ĐẾN - ĐI là chỉ
cho phẩm Phá Đi Đến. Phần này phẩm Phá Đi Đến không chỉ
phá một trường hợp như đây, mà còn phá thêm nhiều trường
hợp khác, nên nói CÒN LẠI ĐẾN ĐI ĐÁP.
縛者無有解
Buộc ấy không có mở
無縛亦無解
Không buộc cũng không mở
縛時有解者
Khi buộc lại có mở
縛解則一時
Buộc mở ắt một lúc (8)
Đây
nêu bày BUỘC và MỞ không phải là pháp có tự tánh, nhằm
phá bỏ cái MỞ.
BUỘC
là chỉ cho sự trói buộc, MỞ là chỉ cho sự giải thoát.
Trong cả hai trường hợp CÓ BUỘC hay KHÔNG BUỘC đều không
có mở. Vì : Nếu BUỘC có tự tánh thì BUỘC này thường.
Thường thì không bao giờ có MỞ, nên nói BUỘC ẤY KHÔNG
CÓ MỞ. Nếu KHÔNG BUỘC thì cũng không có gì để MỞ, nên
nói KHÔNG BUỘC CŨNG KHÔNG MỞ.
KHI
BUỘC LẠI CÓ MỞ là chỉ cho trường hợp ‘vừa buộc vừa
mở’. Nếu đều có tự tánh mà trái nhau, thì không thể
xảy ra cùng lúc. Nên cũng không có mở.
Trong
mọi trường hợp đều không tìm thấy mở và buộc đi với
nhau khi cho chúng có thực tánh.
若不受諸法
Nếu chẳng thọ chư pháp
我當得涅槃
Ta sẽ đạt niết bàn
若人如是者
Nếu người nói như vậy
還為受所縛
Lại lệ thuộc bởi thọ (9)
THỌ
nói đây là ‘thọ nhận’. Nếu không thọ các pháp thì đạt
niết bàn. Nhưng cái ‘không thọ’ ấy là do mình đang thọ
nhận câu ‘Nếu chẳng thọ …’ nên nói LẠI LỆ THUỘC
BỞI THỌ.
Kiến
chấp là đầu mối của mọi trói buộc. Còn kiến chấp là
còn thọ, còn thọ là còn trói buộc. Chấp CÓ thì bị CÓ
trói. Chấp KHÔNG thì bị KHÔNG trói. Chấp sanh tử thì bị
sanh tử trói. Chấp niết bàn thì bị niết bàn trói. Vì sao?
Vì cái CHẤP đó là giới hạn trói buộc mình.
Như
việc buông vọng niệm chẳng hạn. Mình lấy việc ‘tâm không
có vọng niệm’ làm mục đích của đời tu. Mục đích ấy
hoàn toàn chính đáng. Nhưng nếu chấp vào đó thì phiền não
sẽ xuất hiện. Vì một khi đã chấp, thì mình sẽ có thái
độ lưu giữ trạng thái không niệm của tâm. Vì thế, khi
không có niệm thì yên, mà có niệm thì mình đâm hoảng hay
bực. Cái hoảng hay bực đó là dấu hiệu cho thấy phiền
não đang trói buộc mình. Đây là do chấp việc “Tâm phải
vô niệm” mà sinh chuyện.
Nếu
không có thái độ chấp thủ, thì khi không niệm tốt đã
đành, mà có niệm cũng vẫn tốt. Có niệm thì buông, không
có gì để phiền não. Buông là việc mình có thể làm và
làm rất tốt. Nhưng hết niệm hay không là việc của nó.
Mình không thể tính, cũng không thể giữ cho nó không, khi
mà gốc rễ nó còn đó. Nắm cái không thể nắm, muốn cái
không thể muốn, là đầu mối của mọi khổ não và trói
buộc. Đều do chấp mà ra.
Giải
theo 9 tướng bất giác của luận Đại Thừa Khởi Tín thì
một khi chưa nhận ra được tính huyễn mộng của vạn pháp
- trong đó có thế gian và niết bàn - thì vẫn chưa qua được
trí phân biệt, là tướng đầu của lục thô, nên vẫn bị
sự sanh diệt vi tế của tâm chi phối. Nghĩa là, mình vẫn
còn bị sự thọ nhận vi tế : Thọ nhận cảnh giới niết
bàn. Cho nên, trong việc tu hành, cái chính là phải trừ cho
hết chấp. Hết chấp thì dù đang trong sanh tử vẫn là giải
thoát. Kinh Duy Ma nói “Bồ-tát trừ chấp chẳng trừ sự”
là vậy.
不離於生死
Chẳng lìa nơi sanh tử
而別有涅槃
Mà riêng có niết bàn
實相義如是
Thực tướng nghĩa như vậy
云何有分別
Vì sao có phân biệt? (10)
Thế
gian ba cõi đều là pháp duyên khởi không tánh. Không tánh
nên không, không thì không thể thủ, không thủ ấy là niết
bàn. THỦ nói đây tương đương với từ CHẤP đã nói trên,
đều mang nghĩa ‘ôm giữ’. Chúng sanh và Phật, sanh tử và
niết bàn, trói buộc và giải thoát đều nhơn nơi mê và ngộ.
Lục Tổ nói “Niệm trước mê là chúng sanh. Niệm sau giác
là Phật”. Chúng sanh thì trói buộc. Phật thì giải thoát.
Mê thì thấy có tướng sai biệt. Ngộ thì biết một thể
không hai. Ngay thế gian mà không trụ trước pháp thế gian,
chính là niết bàn. Không phải có một niết bàn nào ngoài
sanh tử để trú ẩn.